Tiến triển về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân số Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 3 ở Đông Nam Á về quy mô dân số với 85,7 triệu người tính tại thời điể
Trang 1401 TÀI LIỆU HỘI THẢO
TREND OF GENDER DIFFERENCES IN POPULATION, EDUCATION AND EMPLOYMENT IN VIETNAM LOOKED FROM RESULTS OF POPULATION CENSUS 1989, 1999, 2009
TIẾN TRIỂN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM SAU 20 NĂM ĐỔI MỚI (MỘT PHÂN TÍCH TỪ CÁC SỐ LIỆU TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ 1989, 1999, 2009)
TS Lưu Bích Ngọc 1
Abstract
Gender equality is considered as a priority target in the development of contemporary society
It is one of 10 Millennium Development Goals (MDGs) which international community, including Vietnam has commitmented to reach In Vietnam, gender equality is set out right from the socialist regime was established (1946 Constitution) After 25 years of Doi Moi policy, Vietnam’s economy, society has made many positive changes Gender equality has also achieved much progress Women increasingly have the opportunities to develop the capability themselves, participate in the decision making process in the family and in society Overall, the gender differences in economic and social areas trends are narrowing, particularly in the fields of education and employment The results came from the Population Census in Vietnam during the past 20 years shows that girls' educational opportunities have been similar to boys Women are more and more equal to men in higher education That women increasingly active, involved in the process of migration and in the social labor force is similar to men Life expectancy of women is increasingly dominant than that of men However, in the context of implementation on Family Planning policy to go along with strong economic development, tend to unbalance in sex ratio at birth of the child reappeared in Vietnam's population This could be considered a "negative" result coming from positive policies which have been actively implemented in recent years This paper aims to clarify the trend of gender differences in the field of population, education and employment in Vietnam after 25 years of Doi Moi by analysing data obtained from the Population Census in 1989, 1999, 2009
Tóm tắt
Bình đẳng giới được đánh giá là một chỉ tiêu ưu tiên trong phát triển xã hội hiện nay Nó là một trong mười Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) mà các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã cam kết thực hiện Ở Việt Nam, bình đẳng giới được đề ra ngay từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa được thiết lập, khi Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam được ban hành lần đầu tiên năm 1946 Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách Đổi Mới, kinh tế - xã hội Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực Bình đẳng giới cũng đã đạt được nhiều tiến bộ
1 Viện Dân số & CVĐXH - Đại học Kinh tế quốc dân
Trang 2402 TÀI LIỆU HỘI THẢO
Xuất phát điểm từ một xã hội nông nghiệp mang bản chất văn hoá Á Đông truyền thống, dưới ảnh hưởng mạnh của Nho giáo (tính gia trưởng và phụ quyền), người phụ nữ Việt Nam trước kia luôn
có địa vị thấp kém hơn người đàn ông trong gia đình lẫn ngoài xã hội (Đỗ Thái Đồng, 1991; Pham Van Bich, 1999; Belanger et al, 2003) Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây đã kết luận Đổi Mới đã
có những tác động mạnh mẽ đến vị thế của người phụ nữ (Volkmann, 2005) Việc sinh ít con đã trở nên phổ biến trong các gia đình Việt Nam ở cả nông thôn, thành thị Điều này giúp phụ nữ có nhiều thời gian và cơ hội tham gia vào các công việc xã hội, có điều kiện học tập để nâng cao trình độ (Lê Ngọc Anh, 2000) Với những thay đổi dần theo chiều hướng tích cực trong các định kiến giới, phụ nữ ngày càng có cơ hội phát triển các năng lực bản thân, tham gia vào các quá trình ra quyết định trong gia đình và ngoài xã hội (John Knodel et al, 2005; Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý, 2007) Bài tham luận này có mục đích chỉ ra những tiến triển về bình đẳng giới được thể hiện trong lĩnh vực dân số, giáo dục và việc làm ở Việt Nam qua 20 năm Đổi Mới bằng các phân tích thu nhận được từ kết quả các Tổng điều tra dân số năm 1989, 1999, 2009 (TĐT 1989; TĐT 1999; TĐT 2009)
1 Tiến triển về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân số
Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 3 ở Đông Nam Á về quy mô dân số với 85,7 triệu người tính tại thời điểm Tổng điều tra dân số ngày 1.4.2009 Bình đẳng giới trong lĩnh vực dân số có thể đo lường bằng một số chỉ báo cụ thể như sự cân đối của cơ cấu dân số theo giới tính; mức độ tương đồng về tuổi kết hôn, về triển vọng sống bình quân của nam giới và phụ nữ; mức sinh của người phụ nữ Phân tích kết quả các các Tổng điều tra dân số năm 1989,1999,2009 đã cho thấy một số khác biệt về giới trong lĩnh vực dân số như sau:
+ Cơ cấu dân số theo giới tính đã cân bằng song tình trạng mất cân bằng cơ cấu giới tính của trẻ em khi sinh lại gia tăng
Cơ cấu dân số theo giới tính là sự phân chia tổng số dân thành số nam và số nữ Cơ cấu dân số theo giới tính thường được biểu diễn bằng thước đo Tỷ lệ nam (nữ) trong tổng số dân Ví dụ, năm
2009, tỷ lệ nữ trong dân số Việt Nam là 50,5% (tức là cứ 1.000 người dân thì có 505 phụ nữ), tỷ lệ này thể hiện cơ cấu dân số theo giới tính tương đối cân bằng Thước đo thứ hai thường được dùng để biểu diễn cơ cấu dân số theo giới tính là Tỷ số giới tính, đó là số nam tương ứng 100 nữ Biểu 1 dưới đây cho thấy sự mất cân đối trong cơ cấu dân số theo giới tính trong những năm Chiến tranh đã dần bị thu hẹp lại để nhường chỗ cho sự cân đối giữa số lượng nam giới và phụ nữ trong dân số ở giai đoạn sau Đổi Mới
Biểu 1 Tỷ số giới tính của dân số Việt Nam qua các Điều tra và Tổng điều tra
Trang 3403 TÀI LIỆU HỘI THẢO
95.9
94.7
94.2
94.7
96.4
98.1
92 93 94 95 96 97 98 99
Năm 1960 Năm 1970 Năm 1979 Năm 1989 Năm 1999 Năm 2009
Thực tế, tỷ số giới tính của Việt Nam thấp trong những năm 1960-1979 do bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, nhiều nam thanh niên ra trận và hy sinh Những năm sau này tỷ số giới tính của dân số Việt Nam bắt đầu tăng dần lên Trong TĐT 1989, tuơng ứng với 100 phụ nữ có 94 nam giới Đến TĐT
1999, tỷ số giới tính đạt mức 96,4 và đến TĐT 2009, tương ứng với 100 nữ thì có 98 nam Với chỉ báo này, dân số Việt Nam được coi là có cơ cấu theo giới tính tương đối hợp lý
Tuy nhiên, một nguy cơ đối với cơ cấu dân số theo giới tính của Việt Nam trong tương lai chính
là sự mất cân đối về cơ cấu giới tính của trẻ sơ sinh hiện mang những dấu hiệu rất nghiêm trọng Một cách tự nhiên, không phân biệt chủng tộc, nguồn gen, xác suất sinh con gái luôn ở khoảng 0,488 so với xác suất sinh con trai là 0,512 Quy luật này giúp tạo ra tỷ số giới tính của trẻ em khi sinh ở mọi nhóm dân số luôn nằm trong khoảng 105-107 (105-107 bé trai được sinh ra tương ứng với 100 bé gái được sinh ra) Vậy mà, tỷ số giới tính của trẻ em Việt Nam khi sinh liên tục tăng trong những năm qua và đã đến ngưỡng báo động Tỷ số giới tính của trẻ em khi sinh tại TĐT 1979 là 105, tại TĐT 1989 là 106, tại TĐT 1999 là 107 và tại TĐT 2009, nó đã tăng tới ngưỡng “bất thường” – 110,6 Cũng theo kết quả xử
lý số liệu mẫu của TĐT 2009, tỷ số giới tính của trẻ em khi sinh ở nhiều tỉnh rất cao, như: Hưng Yên 130,7; Hải Dương: 120,2; Bắc Ninh: 119,4; Nam Định: 116,4; Hải Phòng: 115,3…
Sự mất cân bằng cơ cấu giới tính ở trẻ sơ sinh thuộc loại mất cân bằng vật chất - nền tảng của
sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội, tất yếu sẽ dẫn tới nhiều hậu quả Với chế độ hôn nhân
“một vợ, một chồng”, trong dân số, số lượng nam giới nhiều hơn phụ nữ, việc kết hôn của cả 2 giới đều
bị ảnh hưởng Tình trạng “tranh giành” trong hôn nhân, kết hôn muộn hoặc thậm chí không thể kết hôn hay phải ra nước ngoài để kết hôn sẽ diễn ra Các nguy cơ quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục và HIV/AIDS tăng lên Do khan hiếm phụ nữ nên các loại tội
phạm buôn bán trẻ em gái và phụ nữ, tệ nạn mại dâm có thể tăng lên (Nguyễn Đình Cử, 2010) Kinh
nghiệm của Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc đã cho thấy, tỷ số giới tính trẻ em khi sinh vượt quá 113 trong những năm trước đây đã để lại những hậu quả xã hội nghiêm trọng ngày nay Năm 2020, khoảng
30 triệu đàn ông Trung Quốc bước vào tuổi kết hôn mà không thể lấy được vợ vì đây là số lượng bé trai
được sinh ra chênh lệch so với số bé gái được sinh ra trong những năm trước đây (VnEpress ngày
Trang 4404 TÀI LIỆU HỘI THẢO
9.4.2009 2 ) Chỉ trong 10 năm từ 1/1995 – 10/2004, Đài Loan đã cấp 84.479 visa cho các cô dâu Việt
Nam và hàng chục nghìn visa cho cô dâu các nước Đông Nam Á khác (Nguyễn Đình Cử, 2010)
Phân tích tỷ số giới tính của các nhóm tuổi trong dân số Việt Nam tại TĐT 1999 và TĐT 2009 cho thấy tỷ số giới tính của các nhóm 0-4, 5-9, 10-14 tăng cao từ TĐT 1999 và tiếp tục tăng trong TĐT
2009 Tỷ số giới tính của nhóm tuổi 15-19, 20-24 trong TĐT 2009 lại cao hơn nhiều tỷ số giới tính của những nhóm này đo tại thời điểm TĐT 1999 (Biểu 2) Điều này cho thấy rất có thể lựa chọn giới tính của trẻ khi sinh con đã xuất hiện ngay từ những năm 90, khi bắt đầu có chính sách dân số - KHHGĐ (Nghị quyết 4 – TW Đảng khoá 7 năm 1993) nhằm hạn chế quy mô gia đình nhỏ chỉ với 1-2 con
Biểu 2 Tỷ số giới tính của các nhóm tuổi trong dân số Việt Nam TĐT 1999, 2009
0.0 20.0 40.0 60.0 80.0 100.0 120.0
0- 4 5- 9
10 -1 4
15 -1 9
20 -2 4
25 -2 9
30 -3 4
35 -3 9
40 -4 4
45 -4 9
50 -5 4
55 -5 9
60 -6
4 65+
SR 1999 SR 2009
Biểu 2 còn cho thấy tỷ số giới tính ở những nhóm tuổi ngoài 40 tại TĐT 2009 cao hơn tại TĐT
1999 Điều này dễ hiểu vì do ảnh hưởng của chiến tranh, dân số nam bị mất đi nhiều hơn dân số nữ Đối với nhóm tuổi 65 trở lên, tỷ số giới tính tại TĐT 2009 nhỏ hơn tại TĐT 1999 đã chứng tỏ rằng khoảng cách chênh lệch tuổi thọ giữa nam và nữ đang ngày càng giãn rộng hơn
Phân tích sự biến đổi tỷ số giới tính theo các vùng lãnh thổ của Việt Nam cũng cho thấy một số dấu hiệu khác về bình đẳng giới trong phát triển So sánh tỷ số giới tính của dân số các vùng miền giữa TĐT 1999 và TĐT 2009, biểu 3 cho thấy chỉ có Tây Nguyên là tỷ số giới tính không thay đổi, còn tất
cả các vùng khác đều có sự biến đổi Đông Nam bộ là vùng duy nhất có tỷ số giới tính giảm Nguyên nhân của thực trạng này được giải thích bằng việc nhập cư ngày càng nhiều của các lao động nữ đến vùng này để làm việc trong các khu công nghiệp Các vùng còn lại, tỷ số giới tính chung của dân số có
xu hướng tăng Điểm chênh lệch lớn nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long (3,4 điểm), Bắc trung bộ (2,3 điểm) và Đồng bằng sông Hồng (2,2 điểm) Khảo sát số liệu di dân cho thấy đây cũng là 3 vùng có
2
Truy cập tại http://www.baomoi.com/Home/TinhYeu/vnexpress.net/Pha-thai-chon-loc-khien-Trung-Quoc-thua-32-trieu-dan-ong/2622731.epi)
Trang 5405 TÀI LIỆU HỘI THẢO
mức độ xuất cư lớn (Nguyễn Đình Cử, 2010) Như vậy, có 2 khả năng đã xảy ra ở những vùng địa lý này : Thứ nhất, phụ nữ đã ngày một năng động và xuất cư đi các vùng khác nhiều, đặc biệt là xuất cư đến Đông Nam bộ để làm việc; Thứ hai, mất cân đối tỷ số giới tính khi sinh của trẻ em ở những vùng này đã diễn ra từ khoảng 10 năm trước Nhiều trẻ em nam được sinh ra trong thập niên trước khiến cho
số lượng nam giới trong dân số ở 3 vùng lãnh thổ nói trên tăng lên
Biểu 3 Tỷ số giới tính của dân số các vùng của Việt Nam qua TĐT 1999, 2009
99.1 95.0
95.9
102.4 96.0
95.6
99.9 97.2
98.2
102.4 95.3
99.0
Trung du và miền núi phía Bắc Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung
Tây Nguyên Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Tỷ số giới tính 1999 Tỷ số giới tính 2009
+ Nữ giới kết hôn sớm hơn nam giới song tỷ lệ sống độc thân 3 lại cao hơn
Ở Việt Nam, hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu, bình đẳng, tự quyết định đã dần thay thế cho hôn nhân theo kiểu “môn đăng hộ đối” và “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” Quan hệ bạn bè, đồng nghiệp
đã trở thành môi trường thuận lợi để đi tới quan hệ hôn nhân chung cho cả nam và nữ thanh niên trong
khi quan hệ gia đình, họ hàng không còn đóng vai trò là môi trường quan trọng (Vũ Tuấn Huy,1996;
Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý, 2007) Theo kết quả TĐT 2009, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nữ
thấp hơn của nam 3,4 năm (22,8 tuổi so với 26,2 tuổi) Tuy nhiên, qua các TĐT 1989, 1999, 2009, tuổi kết kôn trung bình lần đầu của nữ có xu hướng giảm chút ít (tương ứng là 23,2 – 22,8 – 22,8 tuổi), ngược lại tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam giới có xu hướng tăng lên (tương ứng là 24,4 – 25,4 – 26,2 tuổi) Vì vậy, trong hơn 20 năm qua, khoảng cách chênh lệch tuổi kết hôn giữa nam giới và phụ
nữ cho xu hướng giãn rộng hơn (1,2 – 2,6 – 3,4 năm)
Tại thời điểm TĐT 2009, đến nhóm tuổi 50-54, chỉ có 1% nam giới chưa từng kết hôn trong khi
đó 6% nữ giới ở nhóm tuổi này chưa từng kết hôn Tỷ trọng nữ trưởng thành ly hôn cao hơn so với nam giới (1,4% so với 0,6%) Nhiều phụ nữ phải sống trong cảnh goá bụa hơn nam giới (10,8% so với
3 Sống độc thân bao gồm những người chưa từng kết hôn, những người ly hôn và những người goá chồng
Trang 6406 TÀI LIỆU HỘI THẢO
1,8%), phụ nữ chịu cảnh goá bụa ở độ tuổi thấp hơn nhiều so với nam giới (17% nam giới trên 55 tuổi goá vợ nhưng có tới 73% phụ nữ trên 55 tuổi đã goá chồng) Các dẫn chứng này cho thấy tỷ lệ phụ nữ hiện sống độc thân cao hơn nhiều so với nam giới
+ Mức sinh giảm thấp thể hiện vị thế của phụ nữ được cải thiện
Sinh ít con là một trong những điều kiện tiên quyết để “giải phóng” phụ nữ Khi đó, phụ nữ có nhiều thời gian và cơ hội tham gia vào các công việc xã hội Quy mô gia đình nhỏ, trẻ em gái, phụ nữ
có điều kiện học tập để nâng cao trình độ, bình đẳng hơn với nam giới Số con mà trung bình một phụ
nữ có được trong suốt cuộc đời sinh sản của mình thể hiện mức sinh của dân số Nó được biểu diễn bằng thước đo Tổng tỷ suất sinh (TFR) Kết quả từ các Tổng điều tra dân số qua các năm cho thấy, mức sinh của phụ nữ Việt Nam đã giảm mạnh và thậm chí đã xuống thấp hơn ngưỡng “mức sinh thay thế”4 vào TĐT 2009 Tại TĐT 1989, trung bình mỗi phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) có 3,8 con nhưng đến TĐT 1999, trung bình một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chỉ có 2,3 con, và đến TĐT
2009, chỉ còn 2,03 con Các thống kê dân số hàng năm cho thấy mức sinh thay thế của phụ nữ Việt Nam (2,1 con/ phụ nữ) đã đạt được vào năm 2005 (Biểu 4)
Biểu 4 Tổng tỷ suất sinh (TFR) qua các năm 1999-2009
Việc xem xét mức sinh theo từng khoảng tuổi của người phụ nữ cũng giúp đánh giá thêm những
cơ hội về bình đẳng giới cho phụ nữ Biểu 5 biểu diễn mức sinh đặt trưng theo nhóm tuổi 5
của phụ nữ
4 Trung bình mỗi người phụ nữ trong suốt cuộc đời sinh đẻ của mình có 2,1 con, có nghĩa là có thể có 1 người con gái sẽ thay thế bà mẹ tham gia vào quá trình tái sản xuất dân số
5 Số trẻ được sinh ra bởi những phụ nữ thuộc nhóm tuổi x – x+n tính trên 1000 phụ nữ trong nhóm tuổi đó
Trang 7407 TÀI LIỆU HỘI THẢO
Việt Nam đo tại các thời điểm Tổng điều tra dân số Một nhận xét chung được rút ra là mức sinh đặc trưng theo nhóm tuổi của mọi nhóm tuổi của phụ nữ giảm qua các lần Tổng điều tra
Biểu 5 cũng cho thấy ở TĐT 1989, mức sinh theo nhóm tuổi của người phụ nữ cao nhất rơi vào nhóm tuổi 25-29 Điều này thể hiện người phụ nữ thường sinh con sớm, có nhiều con (>2 con) và khoảng cách giữa các lần sinh ngắn (thể hiện chất lượng thấp) Tại TĐT 1999, mức sinh theo nhóm tuổi của người phụ nữ cao nhất rơi vào nhóm tuổi 20-24 Điều này cho thấy tuy đã sinh ít con hơn so với năm 1989, khoảng cách giữa các lần sinh đã dài hơn song còn nhiều phụ nữ sinh con ở độ tuổi sớm
Ở TĐT 2009, mức sinh rất thấp, đỉnh cao nhất rơi vào nhóm tuổi 25-29, chứng tỏ phụ nữ kết hôn muộn hơn, sinh ít con hơn và khoảng cách sinh có thể dài hơn (thể hiện chất lượng cao) Nói cách khác, phụ
nữ đã chuyển từ mô hình sinh SỚM sang mô hình sinh MUỘN (Tổng cục thống kê, 2010, tr 57)
Những biến chuyển trong mức sinh được phân tích cho thấy vị thế của người phụ nữ ngày càng được cải thiện cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội
Biểu 5 Tỷ suất sinh đặc trưng theo nhóm tuổi qua các TĐT 1989, 1999, 2009
0 50 100 150 200 250
15 - 19 20 - 24 25 - 29 30 - 34 35 - 39 40 - 44 45 - 49
TĐT 1989 TĐT 1999 TĐT 2009
+ Triển vọng sống trung bình của phụ nữ tiếp tục được cải thiện
Triển vọng sống trung bình là một chỉ báo mang đặc tính hiển thị tổng hợp Nó là thước đo liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào mức độ chết của dân cư Nếu tỷ suất chết, đặc biệt tỷ suất chết của trẻ
em càng thấp thì triển vọng sống trung bình càng cao và ngược lại Nó là một trong những chỉ tiêu cơ bản phản ánh mức độ chết của dân cư đi kèm với trình độ phát triển kinh tế-xã hội, các thành tựu y học, mức sống của người dân và hiệu quả của các chính sách của Nhà nước Vì vậy, triển vọng sống trung bình được chọn làm một trong ba chỉ báo thành phần trong tính toán chỉ số phát triển con người (HDI) Sự khác biệt giữa triển vọng sống trung bình của nam giới và phụ nữ cũng là một chỉ báo đánh giá mức độ bình đẳng giới mang tính tổng hợp
Bảng 1 Triển vọng sống của nam giới và phụ nữ Việt Nam qua các năm
Trang 8408 TÀI LIỆU HỘI THẢO
Mặc dù thu nhập bình quân đầu người còn thấp, song nhờ những tiến bộ trong chăm sóc y tế, triển vọng sống của người dân Việt Nam vẫn luôn được cải thiện qua các năm (xem Bảng 1) Vào năm
1970, một người dân Việt Nam trung bình có thể sống được 50,2 năm Con số này đã tăng thành 64,6 năm trong TĐT 1989, thành 68,2 năm trong TĐT 1999 và thành 72,8 năm trong TĐT 2009 Đặc biệt, triển vọng sống trung bình của phụ nữ được cải thiện mạnh mẽ hơn so với của nam giới Khoảng cách chênh lệch giữa chỉ số này của phụ nữ và nam giới ngày càng giãn ra (0,3 năm vào 1970; 4,5 năm vào TĐT 1989; 4,6 năm vào TĐT 1999 và 5,4 năm vào TĐT 2009) Nói cách khác, triển vọng sống trung bình của nam giới đang ngày một yếu thế so với của phụ nữ
Triển vọng sống trung bình của phụ nữ cao hơn của nam giới đồng nghĩa với mức chết của nam giới cao hơn của phụ nữ Tính yếu thế ở đây thể hiện ở chỗ hiện nam giới có nhiều nguy cơ chết trong các tai nạn cao hơn, đặc biệt là tai nạn giao thông và tai nạn lao động Kết quả TĐT 2009 cho thấy 6,5% các trường hợp chết của nam giới trong năm trước điều tra là do tai nạn giao thông so với 2,1% các trường hợp chết của phụ nữ Tỷ lệ chết do tai nạn lao động ở nam giới và phụ nữ tương ứng là
1,6% so với 0,3% (Tổng cục thống kê, 2010) Mặt khác, triển vọng sống của phụ nữ ngày được cải
thiện là do tỷ lệ phụ nữ chết do nguyên nhân mang thai, sinh đẻ đã giảm mạnh so với trước đây Tỷ số chết mẹ đã giảm từ 233/100.000 trẻ sinh sống năm 1990 xuống còn 69/100.000 trẻ sinh sống năm 2009
nhờ vào trình độ phát triển của y tế và giảm sinh (Tổng cục thống kê, 2010)
1 Tiến triển về bình đẳng giới trong giáo dục
Tình trạng đi học và trình độ học vấn của trẻ em nói chung và trẻ em nữ nói riêng chịu ảnh hưởng mạnh từ những yếu tố như mức sống của hộ gia đình, số con của mỗi cặp vợ chồng, các chính
sách xã hội và các yếu tố hạ tầng khác (Vũ Hoàng Linh và cộng sự, 2010) Bên cạnh những đổi mới
trong phát triển kinh tế, những đổi mới trong hệ thống giáo dục cũng đang diễn ra Mức sinh giảm, mức sống liên tục được cải thiện trong những năm qua là những tiền đề giúp cải thiện tình trạng học vấn của người dân Việt Nam Chỉ số HDI của Việt Nam trong giai đoạn 1999-2009 liên tục được cải thiện từ
0,682 lên 0,725 (UNDP, 2000; UNDP, 2010) một phần nhờ vào sự tiến bộ của chỉ số về giáo dục (tỷ lệ
dân số trên 5 tuổi biết đọc, biết viết và tỷ lệ nhập học bình quân của dân số trong khoảng 5-24 tuổi)
Trang 9409 TÀI LIỆU HỘI THẢO
Phân tích kết quả thu được từ Tổng điều tra dân số 2009 đã có thể thấy được những tiến bộ về bình đẳng giới trong giáo dục:
+ Khác biệt về giới trong giáo dục đang ngày càng thu hẹp
Phân tích tỷ trọng dân số từ 10 tuổi trở lên chưa bao giờ đến trường và tỷ lệ biết chữ của dân số nam và nữ từ 15 tuổi trở lên trong TĐT 2009 khẳng định tình hình đi học trong quá khứ kém hơn nhiều
so với những năm gần đây Tình hình đi học của nữ kém hơn của nam Điều này thể hiện ở chỗ tỷ lệ phụ nữ thất học trong những đoàn hệ sinh trước đây rất cao Khoảng cách giữa tỷ lệ nam và nữ không được đi học rất lớn ở những nhóm tuổi lớn và thu hẹp dần ở những nhóm tuổi nhỏ (Biểu 6) Tuy vậy, tại TĐT 2009, tỷ lệ nữ trên 5 tuổi chưa từng đến trường vẫn lớn gấp đôi nam giới, dù tính chung cả nước hay cho thành thị và nông thôn (tương ứng là 6,7% so với 3,5%; 3,3% so với 1,8%; 8,1% so với 4,2%)
Ngược lại với tình trạng không đi học, tỷ lệ biết chữ trong những đoàn hệ cao tuổi (trên 60) thấp hơn nhiều so với những đoàn hệ được sinh ra sau này Khoảng cách chênh lệch về tỷ lệ biết chữ của dân số nam và nữ trên 15 tuổi ngày càng được thu hẹp Với những thế hệ sinh ra trong những năm
1990, việc tiếp cận giáo dục và tỷ lệ đã từng đến trường của nam và nữ đã gần như không có sự khác biệt (Biểu 7)
Biểu 6 Tỷ trọng dân số nam và nữ từ 10 tuổi trở lên chưa bao giờ đến trường, TĐT 2009
Biểu 7 Tỷ lệ biết chữ của dân số nam và nữ 15 tuổi trở lên, TĐT 2009
Trang 10410 TÀI LIỆU HỘI THẢO
Các phân tích đã cho thấy hai khuynh hướng đồng hành của giáo dục là sự cải thiện chung về mức độ đi học và sự thu hẹp những khác biệt giới trong giáo dục Trong báo cáo năm 2011, Cơ quan Liên hợp quốc cũng đã nhận định Việt Nam đã gần xoá bỏ được bất bình đẳng giới trong giáo dục phổ
thông (United Nation, 2011)
+ Ngày càng có nhiều phụ nữ vươn tới những bậc học cao
Kết quả TĐT 2009 cho thấy sự mất cân đối trong cơ cấu đào tạo chuyên môn hoàn toàn tương ứng với tình trạng mất cân đối trong cơ cấu lao động của Việt Nam những năm qua Nó được thể hiện ở chỗ trong số những người 15 tuổi trở lên đang theo học ở các trường chuyên nghiệp, có tới 80% đang
học cao đẳng và đại học Điều này dẫn tới tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” (Nguyễn Thị Minh Hoà,
2010) Tuy nhiên, xét ở góc độ bình đẳng giới, khác biệt giới trong đào tạo ở cấp học này hiện tại
không thể hiện rõ (Biểu 8) Thậm chí ở bậc học cao đẳng, tỷ trọng nữ đi học còn cao hơn nam (26,3%
so với 22,7%)
Biểu 8 Tỷ trọng dân số nam và nữ trên 15 tuổi đang đi học
chia theo trình độ chuyên môn, TĐT 2009