Ứng dụng công nghệ mở trong kiểm tra, đánh giáTại hội thảo về Quản lý hai giờ tự học của sinh viên ĐHCT năm 2011, nhiều giảng viên đưa ra kiến nghị, giải pháp bằng cách lồng ghép hoạt độ
Trang 1THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN MỞ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Nguyễn Đăng Khoa*1
1 DẪN NHẬP
Năm 2002, Viện Công nghệ Massachusetts - MIT (Mỹ) đưa ra một thuật ngữ mới mang tính lịch sử đối với giáo dục thế giới: “Học liệu mở” – OCW với mục đích đưa toàn bộ nội dung giảng dạy của mình lên web và cho phép người dùng Internet ở mọi nơi trên thế giới truy nhập hoàn toàn miễn phí Việt Nam cùng rất nhiều trường đại học
và viện nghiên cứu trên thế giới đã tham gia phong trào OCW/OER
để chia sẻ nội dung, công cụ cũng như phương thức triển khai học liệu
mở sao cho đạt được hiệu quả cao nhất
Trên thế giới, “Học liệu mở” không còn là một khái niệm, mà đã phát triển sâu và rộng thành một phương pháp giáo dục mới, nghĩa
là đã có những quy định, pháp lý cho phương thức dạy và học này ở các trường đại học, cao đẳng Tuy nhiên, ở Việt Nam “học liệu mở” vẫn còn là một khái niệm dù không mơ hồ, rất dễ hiểu nhưng khó thực hiện Ở bài viết này, tôi mong muốn trình bày những suy nghĩ của mình về vai trò của nguồn mở trước dòng chảy chung của tri thức
* 1 Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần thơ.
Trang 2nhân loại Nguồn mở bao gồm các sản phẩm công nghệ, phần mềm
mã nguồn mở và các sản phẩm tri thức như cơ sở dữ liệu (CSDL), bài giảng, giáo trình, phương thức kiểm tra, đánh giá Bài tham luận này cũng sẽ làm rõ thực trạng sử dụng nguồn mở của hiện nay của Trường ĐHCT (ĐHCT) và một số vấn đề cần trao đổi
2 VAI TRÒ CỦA NGUỒN MỞ TRONG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
2.1 Vai trò của công nghệ thông tin
Vũ Ngọc Hoàng (2015) đã phân tích và khẳng định trong tiến trình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội nói chung, đổi mới giáo dục nói riêng, công nghệ thông tin đóng vai trò then chốt Nghiên cứu của Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thy (2012) kết luận rằng vai trò của công nghệ thông tin luôn được đề cao trong công cuộc đổi mới giáo dục nhằm tạo ra một xã hội học tập sáng tạo, làm giảm khối lượng công việc
và nâng cao chất lượng quản lý Bên cạnh chức năng thông tin liên lạc, công nghệ thông tin còn góp phần giám sát theo dõi, và nghiên cứu giáo dục Trước xu thế “học liệu mở”, công nghệ thông tin trở thành công
cụ hỗ trợ đắc lực giúp người thầy khỏi sự thiếu hụt thời gian, để người thầy có thể tập trung giúp học sinh phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề, tổ chức các hoạt động học tập gắn với thực tiễn nhằm phát triển năng lực của học sinh; giúp người học tự do phát triển, hoàn thiện bản thân vì có thể tự học mà không có rào cản về không gian và thời gian
2.2 Vai trò của nguồn học liệu
Tài liệu truy cập mở là tài liệu số, trực tuyến, miễn phí và đa phần không đòi hỏi về bản quyền và các quy định về cấp phép (Suber, 2012) Nguồn tài liệu học tập này bao gồm bài giảng, lịch học, danh mục tài liệu tham khảo, bài tập về nhà, bài thi, bài thí nghiệm được số hóa, để người dùng có thể tham khảo cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu của mình bằng cách truy cập tại những khóa học miễn phí trên mạng Đối với người học lẫn người dạy, nguồn học liệu mở cung cấp các tư liệu
Trang 3quý có khả năng hỗ trợ tốt cho giáo trình lý thuyết như các phần đọc thêm, bài tập ở nhà… (Phạm Đình Trúc, 2007) Quan trọng hơn là sinh viên có thể tự chủ động theo học một môn học nào đó, tiếp cận phương pháp học mới hiệu quả hơn, kích thích sự năng động sáng tạo của bản thân; và giảng viên có nhiều nguyên liệu để xây dựng giáo trình, bài giảng, thiết kế bài tập, đề thi hoàn chỉnh hơn, tính thời sự cao hơn
3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN MỞ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ 3.1 Ứng dụng công nghệ mở trong giảng dạy
Trường ĐHCT đã triển khai và sử dụng hệ thống Dokeos để xây dựng hệ thống E- Learning cho toàn trường từ năm 2003 Số liệu thống
kê cho thấy hiện nay số lớp hiện có trên hệ thống E-Learning của Trường ĐHCT là 1627, tuy nhiên số lớp đã khóa hoặc yêu cầu mật khẩu đăng nhập chiếm gần 20% so với tổng số lớp có trên hệ thống, số liệu này chưa
kể đến các lớp học dù mở hoàn toàn nhưng không hoạt động Điều này nói lên một thực trạng rằng việc phát triển E-Learning hay xa hơn là học liệu mở không phải là một cuộc chạy đua số lượng, mà cần phải đảm bảo chất lượng và đúng tinh thần “học liệu mở”
Từ năm học 2007-2008, Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông của trường đã xây dựng hệ thống E-Learning độc lập dành riêng cho khoa, chạy trên nền Moodle và đã phát huy tối đa vai trò của công nghệ thông tin trong công tác giáo dục Bằng chứng là những khóa học, tài liệu, lịch thi, kiểm tra được cập nhật một cách hệ thống, liên tục Với lợi thế chuyên môn, các giảng viên áp dụng E-learning tối đa vào phương pháp giảng dạy, đánh giá như tổ chức thi giữa kỳ, kết thúc môn, giao bài tập về nhà, bài tập nhóm và nộp bài trên hệ thống, cũng như tạo diễn đàn thảo luận trên hệ thống
Trang 43.2 Ứng dụng công nghệ mở trong kiểm tra, đánh giá
Tại hội thảo về Quản lý hai giờ tự học của sinh viên ĐHCT năm
2011, nhiều giảng viên đưa ra kiến nghị, giải pháp bằng cách lồng ghép hoạt động học tập thông qua hệ thống E-learning, có điểm số được quy định cụ thể trong kết quả đánh giá cuối kỳ
Việc áp dụng công nghệ thông tin chưa đồng đều ở khác khoa, các ngành do những đặc thù chuyên môn nhưng cá nhân mỗi giảng viên đều cố gắng ứng dụng từng bước một để quen dần vào tạo cho sinh viên thói quen học tập mới Một số giảng viên đưa ra phương pháp đánh giá, kiểm tra thông qua hoạt động trên hệ thống E-learning Từng
là sinh viên của lớp Ngữ pháp tiếng Anh nâng cao do cô Huỳnh Chí Minh Huyên giảng dạy năm 2013, tôi và các bạn cùng lớp phải làm bài tập trên hệ thống E-learning của trường để tích lũy điểm bài tập về nhà (chiếm 20% tổng điểm cuối kỳ) Tương tự, cô Huỳnh Trúc Phương với môn Phương pháp nghiên cứu khoa học – thư viện (2012) thông qua hoạt động thảo luận, góp ý bài tập của các thành viên khác đã nộp trên
hệ thống E-learning lớp học (chiếm 15% tổng điểm); Thầy Nguyễn Hồng Dân (Khoa Công nghệ thông tin) đã tổ chức thi giữa kỳ và cuối
kỳ bằng hình thức trắc nghiệm trực tuyến cho môn Ứng dụng truyền thông đa phương tiện (2012) (chiếm 80% tổng điểm)
Hiện nay, phần mềm thi trắc nghiệm trực tuyến (trên nền Moodle) được áp dụng sâu rộng từ những bài kiểm tra mang tính nhỏ lẻ đến các đợt thi giữa kỳ, cuối kỳ môn học Năm 2015, hình thức thi trực tuyến đã phát triển thành phương pháp kiểm tra chất lượng Anh văn cho hơn 9000 tân sinh viên khóa 41 và thu nhận được nhiều tín hiệu khả quan Các cuộc thi ngoại khóa như Olympic Khoa học Chính trị,
tư tưởng Hồ Chí Minh, tìm hiểu kiến thức pháp luật trong hệ thống Công đoàn Giáo dục Việt Nam - năm 2015… cũng áp dụng hình thức thi trực tuyến này
Trang 53.3 Tình trạng sử dụng tài liệu số tại Trung tâm Học liệu
Học liệu mở không chỉ dừng lại ở việc sử dụng phần mềm mã nguồn
mở, mà đích thị là việc khai thác các cơ sở dữ liệu nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin, tri thức cũng như mục tiêu giáo dục Trang tài liệu số của Trung tâm Học liệu Trường ĐHCT được xây dựng từ năm 2007 nhằm số hóa các tài liệu có giá trị, hòa vào dòng chảy phát triển thư viện trên thế giới và trên hết là tính tiện ích, mở rộng giúp bạn đọc dễ dàng tiếp cận và sử dụng tài nguyên học liệu của trường Gần 10 năm phát triển, trang tài liệu số đặt tại tên miền http://digital.lrc.ctu.edu.vn/digital không ngừng phát huy vai trò
ưu việt của mình, trở thành thương hiệu của Trung tâm Học liệu nói riêng, cũng như là điểm sáng trong sự phát triển giáo dục tổng thể của Trường ĐHCT nói chung Tính đến tháng 8/2015, tổng số tài liệu được cán bộ
số hóa và bổ sung lên đến hơn 40.000 tài liệu; lượt truy cập tính đến tháng 11/2015 đạt 227.300
Bảng 1 Số liệu thống kê bộ sưu tập số của Trung tâm Học liệu
1 Luận văn đại học 19,520
2 Tạp chí khoa học chuyên ngành 8,456
3 Luận văn sau đại học 4,291
4 Bài báo phục vụ chuyên ngành đào tạo 1,534
5 Tài liệu học phần 5,098
10 Phim văn hóa ĐBSCL 60
Nguồn: thu nhận từ phòng Tài nguyên Thông tin
Năm 2013, Trung tâm Học liệu phối hợp với VDOC triển khai thư viện số với tên miền http://lrc.tailieu.vn Kể từ khi đưa vào hoạt động,
Trang 6thư viện số đã nhận được nhiều khen ngợi từ giảng viên, sinh viên và cán bộ nghiên cứu Thư viện số cung cấp nguồn tài liệu cho mọi đối tượng tham khảo học tập và nghiên cứu Ngoài ra, thư viện số cũng cho phép người dùng khai thác nguồn tài nguyên số bất cứ thời gian nào, bất cứ nơi đâu một cách nhanh chóng Tuy số liệu về vốn tài liệu, lượt đăng nhập và download có phần khiêm tốn, song thực tế vẫn cho thấy rằng tình hình sử dụng tài liệu dạng trực tuyến của trường gia tăng qua từng năm, lượt download tài liệu năm 2015 tăng khoảng 65% so với cùng kỳ năm trước Dự báo các con số này vẫn sẽ tăng đều trong những năm tiếp theo
qua các năm (tính từ tháng 10/2013)
Tính đến 10/2014 Tính đến 10/2015
Số lượng tài khoản đã cấp 53.399 74.320
Số lượng đăng nhập TVS 30.335 52.197
Số lượng download tài liệu 84.565 139.583 Tổng tài liệu đã xây dựng 1.657 2.240 Tổng số tài liệu hiện trên TaiLieu.VN 1.007.735 1.220.276 Tổng số tài liệu trong hệ thống
liên kết các trường ĐH- CĐ
144.022 245.998
Nguồn: thu nhận từ phòng Tài nguyên Thông tin
Bên cạnh tự xây dựng và cung cấp các bộ sưu tập số, Trung tâm Học liệu hiện đang duy trì mua quyền sử dụng các CSDL uy tín, có giá trị như Luật Việt Nam, Thư viện Pháp luật, ProQuest, SpringerLink,
bộ ebook SpringerLink Engineering 2013… và tập trung khai thác các
cơ sở dữ liệu mở, miễn phí được nhiều chuyên gia giới thiệu, đánh giá cao như Tổ chức Ngân hàng thế giới World Bank, Quỹ tiền tệ thế giới IMF, Hiện nay, Trung tâm giới thiệu đến người dùng hơn 40 CSDL
có giá trị học thuật cao Thêm vào đó, dịch vụ liên thư viện (hợp tác với Thư viện Đại học Alberta (Canada)) triển khai từ đầu năm 2014 nhằm cung cấp toàn văn các bài báo khoa học; tính đến nay đã thu hút hơn
Trang 71000 lượt yêu cầu, tương đương khoảng 5000 tài liệu (Số liệu thu nhận
từ phòng Dịch vụ Thông tin)
3.4 Một số hạn chế
Khi trao đổi với ThS Nguyễn Huỳnh Mai - Trưởng bộ môn Thông tin học, Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐHCT,
cô cho biết một số tình hình chung hiện nay của Bộ môn: Giảng viên của bộ môn chỉ tự thân vận động để học tập kinh nghiệm, tri thức của các nước khác qua hình thức khai thác các nguồn học liệu mở, song vẫn chưa thể phổ biến và áp dụng hình thức giáo dục này cho sinh viên
vì nhiều lý do chủ quan lẫn khách quan Mặc dù bộ môn vẫn thường xuyên có các buổi báo cáo khoa học để giới thiệu, chia sẻ thông tin khoa học đến giáo viên và học sinh, nhưng vẫn chưa thể hướng dẫn, “cầm tay chỉ việc” cho sinh viên của ngành tiếp cận và sử dụng nguồn một cách thuần thục Cô Mai cho biết thêm, hiện nay bộ môn vẫn duy trì phương pháp đến lớp mỗi tiết để đảm bảo chất lượng dạy và học, bởi
vì sinh viên không chỉ có nhu cầu về kiến thức khoa học, mà còn có nhu cầu giao tiếp xã hội Thế nên việc gói gọn tiết dạy qua công nghệ số vẫn chưa được xem là phương pháp tốt để hướng đến dù nó có nhiều
ưu điểm và tiện ích E-learning vẫn chỉ được xem là kho tài liệu để giúp sinh viên dễ dàng tải xuống, và giúp giảng viên thuận tiện hơn trong việc thông báo đến lớp học
Dù chưa có số liệu cụ thể và kết quả ghi nhận cho nhiều trường hợp khác nhưng những vấn đề cô Mai trình bày được xem là phổ quát nhất hiện nay thông qua phương pháp quan sát trực tiếp và trao đổi với sinh viên, giảng viên các ngành Đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học đã rất nổ lực trong việc giới thiệu và áp dụng các ứng dụng công nghệ mới, nhằm đa dạng hóa phương pháp giảng dạy và tiếp cận với xu hướng giáo dục của thế giới; tuy nhiên, việc tải bài giảng, giáo trình, bài tập, tài liệu tham khảo lên Internet thông qua
Trang 8các phương tiện khác nhau, dù là hệ thống E-Learning của trường, đến những ứng dụng như Google Drive, Dropbox thậm chí đơn giản như qua email, thì xét cho cùng cũng chỉ là hình thức truyền phát tài liệu, thông tin từ một người đến một hay nhiều người khác một cách tiện lợi, nhanh chóng nhất chứ chưa thể nói lên được việc áp dụng phương pháp dạy học mở
Trong khi nhà trường nỗ lực hướng đến sự tiện lợi, nhanh chóng,
mở rộng trong việc tiếp cận tri thức thì một thực trạng vẫn chưa giảm được độ nhạy cảm đó là vấn đề tác quyền và bản quyền Sở dĩ việc
“mở” rất khó khăn trong việc triển khai vì vấn nạn này Các giáo viên vẫn muốn hướng đến tiện ích cho sinh viên và đồng nghiệp, sẵn sàng chia sẻ tài liệu hay mà họ tìm được hoặc các giáo trình do chính họ biên soạn được đúc kết từ quá trình học tập và thực tiễn Thế nhưng vẫn không thể “thả cửa” vì ý thức về vấn đề bản quyền của phần lớn sinh viên, cán bộ chưa cao Họ tiếp cận nguồn, sử dụng một cách tự nhiên
mà không hề mảy may đến việc ghi nhận đóng góp của tác giả, thậm chí có trường hợp biên tập lại công trình của người khác và xuất bản với tên của mình
Bên cạnh đó, lối tư duy thụ động khiến số đông sinh viên không
tự trau dồi kiến thức và kỹ năng Mỗi khi gặp phải vấn đề cần nghiên cứu, sinh viên chỉ nghĩ đến việc tra “Google”, không khai thác triệt để tài nguyên sẵn có, giá trị cao mà Trung tâm vẫn thường xuyên giới thiệu bằng nhiều hình thức Trình độ ngoại ngữ và kỹ năng tin học dù được cải thiện và có nhiều tín hiệu khả quan, song vẫn còn là rào cản trong việc tiếp cận, khai thác và sử dụng nguồn tri thức
4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI
Theo Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục đã nêu rõ danh mục 5 sản phẩm được yêu cầu
Trang 9sử dụng chính thức (gồm có: Phần mềm văn phòng OpenOffice.org,
bộ gõ tiếng Việt Unikey, trình duyệt web Mozila Firefox, phần mềm thư điện tử máy trạm Mozila: Thunderbird và hệ điều hành trên nền Linux) Quy định này là một xuất phát điểm mang tính đột phá để tạo tiền đề cho sự phát triển và chuẩn hóa về mặt công nghệ cho hệ thống giáo dục cả nước trước xu hướng giáo dục mới mà vẫn đảm bảo các vấn
đề về bản quyền Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra liệu nên chăng sử dụng các phần mềm mã nguồn mở miễn phí nhưng khá lạ lẫm trước thị hiếu sử dụng các phần mềm có bản quyền nhưng quen thuộc, dễ sử dụng của đại đa số sinh viên và giảng viên?
Tôi hoàn toàn tán thành và ủng hộ việc sử dụng các phần mềm mã nguồn mở để giảm tải chi phí giáo dục và đòi hỏi những người làm việc trong môi trường giáo dục phải linh hoạt, năng động hơn để thích ứng với sự phát triển công nghệ mới Chúng ta không nên chỉ quẩn quanh với các hệ điều hành cũ, phần mềm văn phòng cũ với phương thức vận hành cũng như phương pháp dạy và học xưa cũ Nhưng việc áp dụng một loạt các phần mềm mã nguồn mở sẽ khiến cho người tiếp cận cảm thấy quá tải và khó tiếp thu
Trong danh sách 05 phần mềm nguồn mở được đề cập thì bộ phần mềm văn phòng OpenOffice, phần mềm thư điện tử Thunder-bird và hệ điều hành trên nền Linux được xem ít phổ biến hơn cả,
đó cũng là điều mà chúng ta nên xem xét lại
Đầu tiên là hệ điều hành, Linux vẫn đang phát triển không ngừng, và tạo ra nhiều phiên bản tùy thuộc vào mục đích sử dụng của từng quốc gia, tổ chức Vậy đâu là những tính năng được yêu cầu và những tiêu chí nào làm chuẩn cho hệ thống giáo dục Việt Nam trước khi chạy theo xu hướng giáo dục mới mà thế giới đã bắt đầu hoạt động cách đây hơn 10 năm Thiết nghĩ Bộ Giáo dục và Đào tạo nên cụ thể hóa và thống nhất đưa ra một gói hệ điều hành
cụ thể, với ngôn ngữ lập trình và những tính năng được tinh chỉnh
Trang 10Thứ hai là phần mềm thư điện tử Thunderbird Nếu không giải trình và cho người dùng thấy được những tính năng vượt trội thì khó lòng thuyết phục họ chuyển sang sử dụng phần mềm này, vì hiện nay Google Mail đã làm rất tốt chức năng thư tín, liên lạc này Các tổ chức giáo dục cũng áp dụng việc dùng Gmail để đặt tên cho địa chỉ mail của trường, ví dụ như ĐHCT vẫn đang sử dụng thư điện tử trên nền Gmail với tên miền @ctu.edu.vn, tương tự Đại học Y Dược Cần Thơ với
@ctump.edu.vn, Đại học Trà Vinh với @tvu.edu.vn Thêm vào đó, Gmail
đã trở thành một ứng dụng “mặc định phải có” nếu một người nào đó sử dụng điện thoại thông minh (Gmail có thể chạy mượt mà trên bất cứ hệ điều hành nào: Android, IOS, Windows phone) Trên trang báo điện
tử usatoday.com: http://www.usatoday.com/story/tech/2015/05/28/ google-inbox-gmail-900-million-users/28016983/ đưa tin, Sundar Pichai – Tổng Giám đốc điều hành Google đã thông báo số tài khoản Gmail đang hoạt động trên toàn thế giới tính đến tháng 5/2015 là 900 triệu, số lượt tải ứng dụng Gmail từ Google Play (chạy trên hệ điều hành Android) là
1 tỷ Điều này minh chứng rằng Gmail đã chiếm lĩnh vị trí hàng đầu khi nói về thư điện tử bởi tính năng và sự linh hoạt
Cuối cùng là bộ phần mềm văn phòng OpenOffice.Org OpenOffice phát huy thế mạnh nguồn mở, miễn phí, nhỏ gọn, nhiều chức năng, đồ họa đẹp, tuy nhiên để sử dụng hiệu quả hết các chức năng hiện có, đòi hỏi người dùng phải biết sử dụng và quen với giao diện cũng như các công cụ hỗ trợ Thực tế cho thấy rằng, OpenOffice vẫn còn là bộ sản phẩm cũ người mới ta Các trung tâm tin học (như Trung tâm Thông tin và Quản trị mạng và Trung tâm Điện tử - Tin học thuộc Trường ĐHCT) vẫn chưa đưa vào chương trình giảng dạy hay giới thiệu như một phần mở rộng, biến thể Thêm vào đó, giáo viên giảng dạy và cố vấn học tập không có đủ thời gian để hướng dẫn sử dụng hay giới thiệu
bộ sản phẩm này đến với sinh viên; sinh viên bên cạnh việc học tập, thi cử còn phải dành thời gian cho công tác xã hội, có khi phải lo cả vấn đề kinh tế sinh hoạt nên chưa nghĩa đến việc khám phá một phần