THƠ CA 1975 ĐẾN NAY NGUYỄN DUY THANH THẢO LƯU QUANG VŨ MỞ ĐẦU Sau những thành tựu vang dội của thơ ca 30 năm kháng chiến đã khẳng định vị trí vững vàng của mình trong lịch sử thơ ca, cho đến hôm nay nó vẫn tồn tại như một vầng trăng sáng, như một tầm cao trong thơ Việt Nam. Tiếp nối cho những thành công đó, sau 1975, thế hệ các nhà thơ làm nên tên tuổi của một dòng văn học thời kỳ mới ra đời. Bên cạnh những gương mặt thơ xuất hiện từ trước Cách mạng, trải qua hai cuộc kháng chiến như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh,… hoặc thành danh từ thời chống Mĩ như Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Thanh Thảo, Nguyễn Duy,… đã xuất hiện nhiều gương mặt mới: Đỗ Trung Quân, Hoàng Trần Cường, Nguyễn Quang Thiều, Phan Thị Vàng Anh, Mai Văn Phấn,… Tất cả đã làm nên một dòng thơ bốn thế hệ trong sự chuyển giọng bắt nhịp vào một giai đoạn mới của thơ ca dân tộc. Trong bài tiểu luận này, chúng tôi xin được nghiên cứu về thơ ca sau 1975 của 3 tác giả Nguyễn Duy, Thanh Thảo và Lưu Quang Vũ. Qua đề tài tiểu luận, chúng tôi mong rằng có thể đóng góp một phần nghiên cứu của mình vào việc khái quát tìm hiểu thơ ca sau 1975 đến nay. Đề tài xoay quanh thơ ca của 3 tác giả Nguyễn Duy, Thanh Thảo và Lưu Quang Vũ qua hai bình diện nội dung và nghệ thuật. Từ đó cùng điểm lại và có cái nhìn khách quan về nền văn học 1975 đến nay.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
- -
ĐỀ TÀI:
THƠ CA 1975 ĐẾN NAY NGUYỄN DUY
THANH THẢO
LƯU QUANG VŨ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 11 NĂM 2017
Trang 3BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC NHÓM 7
STT Họ và tên MSSV Công việc được giao Đánh giá Xếp
- Phân công công việc cho các thành viên
- Tìm hiểu về đặc điểm thơ ca sau
1975 và so sánh thơ
ca sau 1975 với gia đoạn 1945-1975
- Tổng hợp tất cả bài word của nhóm
- Thuyết trình chính
Hoàn thành tốt công việc
(Tự đánh giá)
nỗ lực
A
Trang 4nhóm tìm hiểu về thơ
ca Nguyễn Duy
- Viết kịch bản cho chương trình buổi thuyết trình
đóng góp ý kiến cho nhóm
Hoàn thành tốt nhiệm
Nộp bài đúng hạn Nhiệt tình,
nỗ lực đóng góp ý kiến cho nhóm
Hoàn thành tốt nhiệm
- Thuyết trình chính
Nộp bài đúng hạn Nhiệt tình,
nỗ lực đóng góp ý kiến cho nhóm
Hoàn thành tốt nhiệm
A
Trang 5Hoàn thành tốt nhiệm
nỗ lực đóng góp ý kiến cho nhóm
Hoàn thành tốt nhiệm
- Chịu trách
Nộp bài đúng hạn Nhiệt tình,
nỗ lực đóng góp ý kiến cho nhóm
A
Trang 6nhiệm âm thanh, hình ảnh, các khâu kĩ thuật
- Tổng hợp bài word nhóm tìm hiểu thơ ca Thanh Thảo
- Thuyết trình chính
Hoàn thành tốt nhiệm
- Tổng hợp bài word nhóm tìm hiểu thơ ca Thanh Thảo
- Thuyết trình chính
Nộp bài đúng hạn Nhiệt tình,
nỗ lực đóng góp ý kiến cho nhóm Hoàn thành tốt nhiệm
A
Trang 7(chủ đề) hạn
Hoàn thành tôt nhiệm
Hoàn thành tôt nhiệm
Hoàn thành tôt nhiệm
Hoàn thành tôt nhiệm
vụ
A
Trang 814 Cao Thúy
Duyên
ca Lưu Quang Vũ (hình ảnh)
trình thuyết trình
Nộp bài đúng thời hạn
Hoàn thành tôt nhiệm
Nộp bài đúng thời hạn
Hoàn thành tôt nhiệm
Hoàn thành tôt nhiệm
Hoàn thành tôt nhiệm
vụ
A
Trang 9Kiều giả Thanh Thảo
- Thực hiện ppt cho buổi thuyết trình
đúng hạn
Nhiệt tình,
nỗ lực đóng góp ý kiến cho nhóm
Hoàn thành tốt nhiệm
Nộp bài đúng thời hạn
Hoàn thành tôt nhiệm
Nộp bài đúng thời hạn
Hoàn thành tôt nhiệm
vụ
A
Trang 10MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: THƠ CA VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY NHÌN TỪ PHƯƠNG
DIỆN NỘI DUNG 15
1.1 Thơ Nguyễn Duy nhìn từ phương diện nội dung 15
1.1.1.Đôi nét về tác giả Nguyễn Duy 15
1.2.1.1 Cuộc sống đời thường 18
1.2.1.2 Tình cảm gia đình 26
1.2 Thơ Thanh Thảo nhìn từ phương diện nội dung 30
1.2.1 Đôi nét về nhà thơ Thanh Thảo 30
1.2.1.1 Cuộc đời 30
1.2.1.2.Sự nghiệp 31
1.2.1.3.Quan điểm thơ ca 32
1.2.2.Chủ đề thơ Thanh Thảo 36
1.2.2.1.Những suy tư của bản thân trong cuộc chiến tranh chống Mỹ 37
1.2.2.2.“Chất người” của những con người lấy “nghĩa khí” làm lẽ sống 41
1.2.2.3.Những trăn trở về con người và những vấn đề nóng hổi của cuộc sống 46
1.3 Thơ Lưu Quang Vũ nhìn từ phương diện nội dung 52
1.3.1 Đôi nét về tác giả Lưu Quang Vũ 52
1.3.1.1 Cuộc đời 52
1.3.1.2 Sự nghiệp 53
1.3.1.3 Quan niệm văn chương 54
1.3.2 Chủ đề thơ Lưu Quang Vũ 58
Trang 111.3.2.1 Tình yêu là đau khổ lẫn hạnh phúc ở đời 58
1.3.2.2 Đất nước nghèo khó, đau thương do chiến tranh 64
1.3.2.3 Những đau đớn, chiệm nghiệm về bản thân 69
1.3.2.4 Cuộc sống hạnh phúc đời thường 72
CHƯƠNG 2: THƠ CA VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 76
2.1 Thơ Nguyễn Duy nhìn từ phương diện nghệ thuật 76
2.1.1 Hình ảnh 76
2.1.1.1 Hình ảnh làng quê 76
2.1.1.1.1 Vẻ đẹp làng quê Việt Nam 76
2.1.1.1.2 Lễ hội 86
2.1.1.2 Hình ảnh con người 88
2.1.2.Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy 93
2.1.2.1.Sử dụng thành công biện pháp tu từ so sánh ẩn dụ 93
2.1.2.2 Sáng tạo khi sử dụng phương pháp trùng điệp 96
2.1.2.3 “Thơ hóa” ngôn ngữ đời thường 97
2.1.3 Thể thơ 100
2.2 Thơ Thanh Thảo nhìn từ phương diện nghệ thuật 108
2.2.1.Hình ảnh thơ 109
2.2.1.1.Hình ảnh mang tính biểu tượng: lý tưởng và sự sống 110
2.2.1.1.1 Hình ảnh cỏ 110
2.2.1.1.2 Hình ảnh lửa 115
Trang 122.2.1.1.3 Hình ảnh biển, sóng 120
2.2.1.1.4 Hình ảnh nụ mầm 122
2.2.1.1.5 Hình ảnh người mẹ 125
2.2.1.2.Hình ảnh mang biểu tượng về sự sáng tạo 128
2.2.2.1.Ngôn ngữ đậm chất đời thường 132
2.2.2.2.Ngôn ngữ thơ nhiều “khoảng trống” 136
2.2.3.Thể thơ 141
2.3 Thơ Lưu Quang Vũ nhìn từ phương diện nghệ thuật 146
2.3.1 Hình ảnh trong thơ Lưu Quang Vũ 146
2.3.1.1 Hình ảnh ngọn gió 147
2.3.1.2 Hình ảnh mưa 151
2.3.1.3 Hình ảnh ngọn lửa 155
2.3.1.4 Hình ảnh con tàu, bức tường, quả chuông 159
2.3.2 Ngôn ngữ 162
2.3.2.1.Vần và nhịp 162
2.3.2.1.1 Vần 162
2.3.2.1.2 Nhịp 164
2.3.2.2.Từ ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ 167
2.3.2.2.1 Sử dụng từ láy mang lại hiệu quả nghệ thuật 167
2.3.2.2.2 Sử dụng lớp từ chỉ màu sắc 169
2.3.2.2.3 Sử dụng lớp từ chỉ không gian 171
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM THƠ CA VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY 175
Trang 133.1 Hai chặng đường lớn trong đổi mới thơ ca sau 1975 175
3.1.1 Những chuyển đổi về tư duy nghệ thuật trong thơ giai đoạn 1975-1985 175
3.1.2 Giai đoạn sau 1986 và ý thức “cởi trói” để xác lập một quan niệm mới về nghệ thuật 177
3.2 Các khuynh hướng nổi bật 179
3.2.1 Xu hướng viết về chiến tranh qua những khúc ca bi tráng về số phận của dân tộc 179
3.1.2 Xu hướng trở về với cái tôi cá nhân, những âu lo của đời sống thường nhật .184
3.1.3 Xu hướng đi sâu vào những vùng mờ tâm linh đậm chất tượng trưng siêu thực 188
3.2 Sự biến đổi về thể loại 189
3.2.1 Sự nới lỏng cấu trúc các thể thơ truyền thống 189
3.2.2 Thơ tự do và thơ văn xuôi 190
3.2.3 Sự nở rộ của trường ca 192
3.3 Những động hình ngôn ngữ mới trong thơ 192
3.3.1 Ngôn ngữ đậm chất đời thường 193
3.3.2 Ngôn ngữ giàu chất tượng trưng 194
3.3.3 Những “trò chơi” ngữ nghĩa trong thơ 194
PHẦN MỞ RỘNG: SO SÁNH THƠ CA SAU 1975 VỚI THƠ CA 1945-1975 198 TÀI LIỆU THAM KHẢO 202
Trang 14MỞ ĐẦU
Sau những thành tựu vang dội của thơ ca 30 năm kháng chiến đã khẳng định
vị trí vững vàng của mình trong lịch sử thơ ca, cho đến hôm nay nó vẫn tồn tại như một vầng trăng sáng, như một tầm cao trong thơ Việt Nam Tiếp nối cho những thành công đó, sau 1975, thế hệ các nhà thơ làm nên tên tuổi của một dòng văn học thời kỳ mới ra đời Bên cạnh những gương mặt thơ xuất hiện từ trước Cách mạng, trải qua hai cuộc kháng chiến như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh,… hoặc thành danh từ thời chống Mĩ như Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Thanh Thảo, Nguyễn Duy,… đã xuất hiện nhiều gương mặt mới: Đỗ Trung Quân, Hoàng Trần Cường, Nguyễn Quang Thiều, Phan Thị Vàng Anh, Mai Văn Phấn,… Tất cả đã làm nên một dòng thơ bốn thế hệ trong sự chuyển giọng bắt nhịp vào một giai đoạn mới của thơ ca dân tộc
Trong bài tiểu luận này, chúng tôi xin được nghiên cứu về thơ ca sau 1975
của 3 tác giả Nguyễn Duy, Thanh Thảo và Lưu Quang Vũ Qua đề tài tiểu luận,
chúng tôi mong rằng có thể đóng góp một phần nghiên cứu của mình vào việc khái quát tìm hiểu thơ ca sau 1975 đến nay Đề tài xoay quanh thơ ca của 3 tác giả Nguyễn Duy, Thanh Thảo và Lưu Quang Vũ qua hai bình diện nội dung và nghệ thuật Từ đó cùng điểm lại và có cái nhìn khách quan về nền văn học 1975 đến nay
Trang 15CHƯƠNG 1: THƠ CA VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
1.1 Thơ Nguyễn Duy nhìn từ phương diện nội dung
1.1.1.Đôi nét về tác giả Nguyễn Duy
Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa Năm 1965, từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh Việt Nam Năm 1966 ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc (năm 1979) Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và là Trưởng Đại diện của báo này tại phía Nam
Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh trường cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với
chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt nam trong tập Cát trắng Ngoài
thơ, ông cũng viết tiểu thuyết, bút ký Năm 1997 ông tuyên bố “gác bút” để chiêm nghiệm lại bản thân rồi tập trung vào làm lịch thơ, in thơ lên các chất liệu tranh, tre, nứa, lá, thậm chí bao tải Từ năm 2001, ông in nhiều thơ trên giấy
dó Ông đã biên tập và năm 2005 cho ra mắt tập thơ thiền in trên giấy dó (gồm 30 bài thơ thiền thời Lý, Trần do ông chọn lọc) khổ 81 cm x 111 cm có nguyên bản tiếng Hán, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Việt, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Anh với ảnh nền và ảnh minh họa của ông
Nguyễn Duy được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007
Trang 16“Cát trắng” là tập thơ đầu tay của Nguyễn Duy Có thể nói đó là bước đi ban đầu, lự khẳng định mình trong quá trình tìm tòi sáng tạo của một thi sĩ trẻ Từ “Cát Trắng” Nguyễn Duy được chú ý đến như một gương mặt thơ có hồn sắc Hoài
Thanh đã phác họa “Đọc thơ Nguyễn Duy, thấy anh thường bộc lộ cảm xúc và suy
nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình Cái điều ở người khác chỉ
là chuyện thoáng qua thì ở anh nó lắng sâu và dường như đọng lại.” (Hoài Thanh, Báo Văn nghệ, ngày 14.4.1972)
Nguyễn Duy viết rất nhiều, nhiều tác phẩm và nhiều thể loại, bao gồm bút
kí, tiểu thuyết, kịch, trong đó thơ là thể loại nhiều nhất và nhiều thành tựu nhất Một số tác phẩm tiêu biểu
Trang 17 Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký - 1986)
Sau nhiều tập đơn lẻ, thơ Nguyễn Duy được tuyển chọn lại thành một cuốn hơn 400 trang, do NXB Hội Nhà Văn và công ty Nhã Nam ấn hành, giúp độc giả khái quát được ba yếu tố làm nên danh tiếng Nguyễn Duy: Thứ nhất, vần điệu nhịp nhàng, dễ đọc dễ thuộc Thứ hai, tác giả có khả năng trình diễn để tiếp cận công chúng Thứ ba, năng lực thẩm mỹ của người viết có nét tương đồng với không khí
xã hội nên được hiệu ứng đám đông đẩy lên cao
Sự nghiệp thi ca của Nguyễn Duy khởi động từ cuộc thi thơ năm 1972-1973
do báo Văn nghệ tổ chức Giải nhất đồng hạng cùng Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm và Nguyễn Đức Mậu, bốn bài thơ của Nguyễn Duy là Bầu trời vuông, Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười được xem như một phát hiện mới lạ ở giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ
Suốt 30 năm làm thơ, viết văn, thành quả của ông là gần 20 tập thơ, 3 tập bút
ký và 1 tiểu thuyết Trong đó có Cát trắng, Đường xa, Quà tặng, Ánh trăng… (thơ); Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký), Khoảng cách (tiểu thuyết)
Ba mươi năm viết liền không ngừng nghỉ, 1967-1997 Mười ba tập thơ và ba tập văn xuôi Vài giải thưởng, mấy cuộc bày thơ triển lãm
1.1.1 Chủ đề chính trong thơ Nguyễn Duy
Cũng như các nhà thơ khác nếu như ở giai đoạn trước 1975 chủ đề chính trong thơ cảu ông là về chiến tranh, về sự khốc liệt cũng như sự hy sinh oanh liệt của các chiến sĩ thì sau 1975 những sáng tác của Nguyễn Duy là những chiêm nghiệm về cuộc đời, về con người, về những ý niệm sâu xa mà con người đang trải qua trong cuộc sống thường ngày Hoặc là những trăn trở, suy nghĩ của ông về tương lai đất nước, tương lai của con người và cuộc sống mưu sinh Nói về con
người và thơ Nguyễn Duy, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nhận xét: “Hình hài Nguyễn
Trang 18Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó.” Nguyễn Duy viết nhiều và thơ anh gắn với cuộc đời và con người
Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy hiện lên làm cái nền cho con người hiện ra, bọc lộc Con người trong thơ anh là người bà, người mẹ, người cha, người nông dân lam lũ và đồng đội anh - những người lính Hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ thay đổi
vì thế chủ đề trong thơ ông cũng thay đổi Ở giai đoạn này ông thường viết về cuộc sống ở làng quê, lấy chất liệu đời thường ông không chỉ miêu tả vẻ đẹp làng quê nhưng ông còn khắc họa sự đói nghèo, cuộc sống cơ cực của con người cùng những tình cảm gia đình thân thuộc của mình
1.2.1.1 Cuộc sống đời thường
Sau năm 1986, phương châm: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” của đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tạo nên sự chuyển động mói của văn học Việt Nam, trong sự kiện ấy thơ Nguyễn Duy càng lại
là cây chổi không mệt mỏi Bài thơ Nhìn từ xa Tổ quốc của ông thực sự là những
câu thơ tuẫn tiết vì đã tháo tung mọi ràng buộc, để sự thật đắng cay phơi bày trần trụi trước mặt mọi người:
“Xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày
Xứ sở nhân tình sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng
Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma
ma quái - ma cô - ma tà - ma mãnh
Xứ sở linh thiêng sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh
Trang 19Xứ sở thông minh sao thật lắm trẻ con thất học lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
Tuổi thơ oằn vai mồ hôi, nước mắt tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp tuổi thơ bay như lá ngã tư đường”
(Nhìn từ xa Tổ quốc)
Có thể nói tập thơ đầu tay Cát Trắng, những bài thơ hay nhất của ông thể
hiện lối sống gần gũi, chan hòa với với dân, vừa cụ thể sinh động, vừa có sức khái
quát giàu ý nghĩa nhân sinh, trong bài thơ Khúc dân sinh nhà thơ thể hiện rõ:
“Nghìn năm trên dải đất này
Cũ sao được cánh cò bay la đà
Cũ sao được sắc mây xa
Cũ sao được khúc dân ca quê mình!
Cò bay bằng cánh trắng tinh Lúa thơm bằng phấn hương lành ai ơi Mây trôi bằng gió của trời
Là ta, ta hát những lời của ta!”
Như thế quan điểm nhân sinh của nhà thơ là hướng về cội nguồn của nhân dân và dân tộc Đến thập niên 90 của thế kỷ XX, sau gần hai thập kỉ của đất nước thống nhất và có nhiều thay đổi, nhà thơ vẫn giữ quan niệm như thế, nhắc lại và nhấn mạnh như một tuyên ngôn đầy xác tính
“Cứ chìm nổi với đám đông Riêng ta xác định ta không là gì
Cứ là rượu của chúng sinh
Trang 20Cho ai nhắm nháp cho mình say sưa”
Và trong nhiều bài thơ Nguyễn Duy chân thật thổ lộ:
“Tôi sinh ra nơi làng quê nghèo Quen cái thói hay nói về gian khổ
Dễ chạnh lòng trước những cảnh thương tâm”
(Đánh thức tiềm lực)
“Trọn kiếp người ta chập chờn nguồn cội
Có một miền quê trong đi đứng nói cười”
(Tuổi thơ) Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấm đẫm cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt “Ánh trăng” là một bài thơ như vậy Trăng đối với nhà thơ có ý nghĩa đặc biệt: đó là vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh Nó như một hồi chuông cảnh tỉnh cho mỗi con người có lối sống quên đi quá khứ
Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức thuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh:
“Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ”
Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của tuổi thơ Hai câu thơ với vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vận động cả cuộc sống con người Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấu thơ mà khó có thể quên được
Trang 21Cũng chính nơi đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng Với cách gieo vần lưng “đồng”,
“sông” và điệp từ “ với” đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúc ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên của tác giả Tuổi thơ như thế không phải ai cũng có được Khi lớn lên, vầng trăng đã tho tác giả vào chiến trường để “chờ giặc tới’ Trăng luôn sát cách bên người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốc liệt của bom đạn kẻ thù Người lính hành quân dưới ánh trăng dát vàng con đường, ngủ dưới ánh trăng, và cũng dưới ánh trăng sáng đù, tâm sự của những người lính lại mở ra để vơi đi bớt nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà Trăng đã thật sự trở thành “tri kỉ” của người lính trong nhưng năm tháng máu lửa
Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị Vầng trăng đó, người bạn tri kỉ đó, ngỡ như sẽ không bao giờ quên được:
“Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa”
Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ đã tô đậm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong nhữnh năm tháng ở rừng Cái vầng trăng mộc mạc
và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông, của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy Thế rồi cái tâm hồn - vầng trăng ấy
sẽ phài làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ:
“Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương
Trang 22vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường”
Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn
ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa gương” Và rồi trong chính sự
xa hoa đó, người lính đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không biết Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự
có cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người Cũng chính phép nhân hoá đó làm cho người đọc cảm thương cho một
“người bạn” bị chính người bạn thân một thời của mình lãng quên Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con người ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản của cuộc sống, đó chình là tình cảm con người Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy ra buộc người lính phải đối mặt:
“Thình lình đèn điện tắt phòng buyn - đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn”
Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ
về vật chất, người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm Trong cái “thình lình”, “đột ngột” ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì
đó Đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa của mình đây hay
Trang 23sao? Con người ấy không hề biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình nghĩa, người bạn đã bị anh ta lãng quên luôn ở ngoài kia để chờ đợi anh ta “Người bạn ấy” không bao giờ bỏ rơi con người, không bao giờ oán giận hay trách móc con người
vì họ đã quên đi mình Vầng trăng ấy vẫn rất vị tha và khoan dung, nó cũng sẵn sàng đón nhận tấm lòng của một con người biết sám hối, biết vươn lên hoàn thiện mình Cuộc đời mỗi con người không ai có thể đoán biết trước được Không ai mãi sống trong một cuộc sống yên bình mà không có khó khăn, thử thách Cũng như một dòng sông, đời người là một chuỗi dài với những quanh co, uốn khúc Và chính trong những khúc quanh ấy, những biến cố ấy, con người mới thật sự hiểu được cái gì là quan trọng, cái gì sẽ gắn bó với họ trong suốt hành trình dài và rộng của cuộc đời Dường như người lính trong bài thơ đã hiểu được điều đó
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng”
Khi người đối mặt với trăng, có cái gì đó khiến cho người lính áy náy dù cho không bị quở trách một lời nào Hai từ “mặt” trong cùng một dòng thô: mặt trăng
và mặt người đang cùng nhau trò chuyệ Người lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong tận đáy lòng và dường như nước mắt đang muốn trào ra vì xúc động trước lòng vị tha của người bạn “tri kỉ” của mình Đối mặt với vầng trăng, bỗng người lính cảm thấy như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình ngày nào, nơi có “sông” và có “bể” Chính những thước phim quay chậm ấy làm người lính trào dâng nhưng nỗi niềm và ngững giọt nước mắt tuôn ra tự nhiên, không chút gượng ép nào Những giọt nước mắt ấy đã phần nào làm cho người lính trở nên thanh thản hơn, làm tâm hồn anh trong sáng lại Một lần nữa những hình
Trang 24tượng trong tuổi thơ và chiến tranh được lấy lại làm sáng tỏ những điều mà con người cảm nhận được Cái tâm hồn ấy, cái vẻ đẹp mộc mạc ấy không bao giờ bị mất đi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên tiếng khi con người bị tổn thương Đoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía, những hình ảnh đi vào lòng người
Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con người:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kề chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”
Khổ thơ cuối cùng mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới chiều sâu tư tưởng
và triết lí “Trăng tròn vành vạnh” là vẻ đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng không nói gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn đó đủ khiến cho con người giật mình Ánh trăng như một tấm gương để cho con người soi mình qua
đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm hồn anh ta Nhưng dù gì đi nữa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chở cho con người
Ánh trăng đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với
mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìm lại những giá trị đó còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn Bài thơ không chỉ hay về mắt nội dung mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc liền mạch của nhà thơ Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâm tình đã gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc
Trang 25Đến những năm 1978 - 1979, khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, Nguyễn Duy cũng có mặt ghi lại hình ảnh những người lính băng rừng, lội suối, ngủ bưng, ngủ hầm:
“…Hiếm hoi cái giấc yên lành Hàng quân xa lại tiếp hành quân xa
Bao anh lính trẻ đã già Chưa sang hết suối qua hết rừng
Ngủ hầm, ngủ võng, ngủ bưng Gối đầu tay ngủ cầm chừng mỗi đêm
Có người ngủ thế thành quen
Đã nghe sợ tóc bạc trên tay mình…”
(Lời ru đồng đội) Chuyển sang thời bình, nhà thơ lại đối mặt với một thử thách, đó là sự ngổn ngang phúc tạp, bề bộn của cuộc sống đời thường Những câu thơ của Nguyễn Duy một phần nào đã ghi lại sự đau khổ đấy
“Lương tháng thoảng qua một chút hương trời Đồng nhuận bút hiếm hoi gió lọt vào nhà trống
Vợ chồng ngủ với nhau đắn đo như vụng trộm Không cái sợ nào bằng cái sợ sinh con.”
(Bán vàng)
Thời chiến chinh là vậy, trở về với đời thường của những lo âu mắm, muối, tương, cà… Nguyễn Duy vẫn giữ được cái nết cũ ấy là nhìn ra cái giá trị cốt lõi lành lặn trong cái vỏ ngoài dẫu có nhàu nát, nhếch nhác của thiếu thốn lo toan:
“Áo mưa vợ dương cánh buồm giữa phố
Trang 26chồng với con mấp mé một thuyền đầy năm tháng bão giông sang sông lũ đổ một tay em chèo chống ngày ngày ngày
Con chữ vụn rụng rời tơi tả tuốt ngoảnh lại còn ta con nít đến già rồi một ngày mẹ Đốp cười móm mém
em vẫn nguồn nhuận bút suốt đời ta”
(Nợ nhuận bút) Giống ông Tú xưa ở cái điểm trực diện với hiện thực, vượt qua những định kiến vị thế xã hội mà phác thảo một diện mạo cuộc sống Nhưng với Nguyễn Duy, giá trị nhân văn không đơn giản chỉ có tôn vinh mà còn là sự chua chát: chồng con nít đến già, còn người vợ đã già tự lúc nào chẳng hay; ở cách nói tếu táo suốt đời
nợ nhuận bút vợ, người làm thơ, người viết nên chính cuộc đời này bằng cơm áo suốt ngày ngày khó nhọc chứ đâu bông phèng như chữ nghĩa.Có nỗi khổ nào bằng cái khổ khi nhà không còn tiền, đồng lương ít ỏi của người nghệ sĩ không đủ để ông có thể vun vén cho gia đình Đến cả viên thuốc phòng khi con ốm cũng không
có để lo, nhà hết gạo, vợ u sầu, đó là cái bất lực của một người đàn ông khi không thể lo cho vợ con mình cuộc sống đầy đủ Cơn gió lạnh như là, ông giật mình, ông nhận ra cuộc sống gia đình đã đến nông nỗi này rồi sao Khốn thay, đến cả việc sinh con, vợ chồng ông cũng sợ, sợ không có điều kiện để nuôi chúng dù rằng có con là ước mong, là hạnh phúc mà bất kì cặp đôi nào cũng mong ngóng
1.2.1.2 Tình cảm gia đình
Dù mẹ không còn trên cõi đời, nhưng trong tâm tưởng của con cái luôn khắc ghi tính cách tảo tần của người mẹ Trong tận cùng cõi tâm linh, con cái vẫn tin có
Trang 27bóng hình mẹ mình đang hiển hiện dõi theo mỗi bước chân cùng tổ tiên nâng đỡ phù hộ cho mình Và đối với Nguyễn Duy cũng vậy Tình cảm gia đình cũng thường được ông nhắc đến trong các sáng tác của mình:
“Bần thần hương huệ thơm đêm khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn chân nhang lấm láp tro tàn xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào
Mẹ ta không có yếm đào nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa Cái cò sung chát đào chua
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người cũng không đi hết mấy lời mẹ ru Bao giờ cho tới mùa thu trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao Ngân hà chảy ngược lên cao quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm
bờ ao đom đóm chập chờn trong leo lẻo những vui buồn xa xôi
Mẹ ru cái lẽ ở đời sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ mẹ ru con liệu mai sau các con còn nhớ chăng
Trang 28Nhìn về quê mẹ xa xăm lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương.”
(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa) Điều quý giá nhất đối với mỗi người có thể khác nhau, song quan trọng nhất
là ta biết trân trọng và gìn giữ giá trị ấy như thế nào Thật vậy, đối với Nguyễn Duy, tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cảm bà cháu luôn là một ký ức đẹp trong tim Qua Đò Lèn, tác giả đã bộc lộ những suy nghĩ sâu lắng về bà gắn liền với sự tỉnh ngộ, nhận ra được tình thương vô bờ mà bà dành cho cháu….Những suy nghĩ, niềm hối tiếc muộn màng khi tác giả đi lính chưa kịp về thăm ngoại thì ngoại đã đi xa:
“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm
…
Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi Khi tôi biết thương bà thì đã muộn
Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”
( Đò Lèn) Người lính đi chiến đấu xa nhà, không có thời gian về thăm ngoại của mình,
cứ ngỡ mọi thứ vẫn y nguyên đó, dòng sông bến cũ cảnh vật không thay đổi nhưng
bà tôi, tôi đã quên mất bà tôi đã già rồi, đã đến lúc phải gần bà nhiều hơn nhưng bộn bề cuộc sống đã khiến nhân vật tôi quên đi mất dù thuở nhỏ đã gắn bó với bà như thế nào, níu váy bà vòi vĩnh theo đi chợ, bà yêu thương bà hiền dịu như một bà tiên Thời gian thấm thoát trôi qua, đến lúc chợt nhận ra, biết thương bà thì chuyện
Trang 29đã quá trễ, lúc ấy tiếc rằng bà chỉ còn một nấm cỏ, dù bây giờ có muốn được bù đắp, được sửa sai thì tất cả cũng không được nữa rồi
Những người vợ tảo tần, kham khổ là thế, nhưng trái tim lại chứa đầy niềm
vị tha, yêu chồng thương con:
“Nghìn tay nghìn việc không tên Mình em làm cõi bình yên nhẹ nhàng.”
(Vợ ốm)
Có lẽ phần tha thiết lắng sâu nhất trong tập thơ này là những bài thơ ông viết tặng riêng vợ Trong thơ ca Việt Nam những bài yêu chồng và thương chồng khá nhiều, thơ yêu vợ và thương vợ chỉ thoảng như cầu vồng sau mưa Cho nên nếu ta bắt gặp được sự cảm thông sâu sắc, tình yêu thương sâu nặng và sự biết yêu thương vô cùng đối với vợ như Trần Tế Xương thuở trước thì nay lại thấy niềm yêu thương vợ đó trong thơ Nguyễn Duy :
“Áo mưa vợ giương cách buồm giữa phố Chồng với con mấp mé một thuyền đầy Năm tháng bão giông sang sông lũ đổ Một tay em chèo chống ngày ngày…”
Trang 30Liêu xiêu lều quán lèo tèo ven đê Cánh buồm mây tướp chiều quê
Ruỗng Tênh hênh Bịch Rơi
Về Cõi em”
(Cõi về) Những câu thơ được viết lên từ sự hối hận của nhà thơ khi mãi mê với chân trời lạ đến hút chiều ngẫm lại thảng thốt giật mình Nhưng dường như đây chỉ là một cách “nịnh vợ” vì có bao giờ thơ ông thể hiện niềm mê đắm đến “ruỗng” cả hình ảnh lẫn nhân cách đâu? Một chút tự hào ấy là để cho cảm xúc về người vợ thêm phần ý nhị, sâu sắc và thắm thiết hơn
Khác với giai đoạn trước, ở giai đoạn này tình cảm gia đình có lẽ là một chủ
đề khá nổi bật trong thơ Nguyễn Duy Qua những bài thơ ông như muốn nói lên tiếng lòng của mình, những tình cảm chân thành và giản đơn ấy nhưng qua ngòi bút của Nguyễn Duy lại chân thành và tha thiết đến lạ thường
1.2 Thơ Thanh Thảo nhìn từ phương diện nội dung
1.2.1 Đôi nét về nhà thơ Thanh Thảo
1.2.1.1 Cuộc đời
Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công, sinh năm 1946 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi Ngay sau khi tốt nghiệp đại học ở Hà Nội, Thanh Thảo xung phong trở về miền Nam chiến đấu góp phần giải phóng quê hương Ở chiến trường miền Nam, Thanh Thảo làm phóng viên, công tác tại đài phát thanh Giải Phóng Sau ngày đất nước thống nhất, Thanh Thảo chuyên hoạt động trên lĩnh
Trang 31vực văn học nghệ thuật và báo chí Hiện nay ông là Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Quãng Ngãi, phó chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam
1.2.1.2 Sự nghiệp
Thanh Thảo luôn luôn tìm tòi sáng tạo, đổi mới về hình thức, nghệ thuật, mở rộng biên độ sáng tác thơ Luôn luôn mới mẻ trong thơ, Thanh Thảo sáng tạo một cách phong phú, đầy tài hoa Chúng ta vô cùng kinh ngạc đến khâm phục về sức làm việc, sức viết của Thanh Thảo
Từ năm 1977 đến năm 2002, chưa kể những tác phẩm thơ lẻ, báo chí, văn học khác, chỉ tính riêng trường ca Thanh Thảo đã viết và xuất bản 12 tập trường ca gồm: Những người đi tới biển (1977), Trẻ con ở Sơn Mỹ (1978), Dấu chân qua trảng cỏ (1980); Nghĩa sĩ Cần Giuộc (1980), Bùng nổ mùa xuân (1982), Đêm trên cát (1983), Khối vuông rubic (1985) Một trăm mảnh gỗ vuông (1988), Từ một đến một trăm (1988), Những ngọn sóng mặt trời (1994), Trò chuyện với nhân vật mình (2002), Cỏ vẫn mọc (2002)
Mỗi tập trường ca của Thanh Thảo là một khám phá mới Nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình văn học đã gọi: Thanh Thảo là ông vua trường ca Đối với thơ nói riêng và trường ca của Thanh Thảo nói chung, chúng ta càng đọc nhiều lần càng thấy hay, thấm đẫm, đầy chất thơ Như những vì sao trong đêm, chúng ta càng nhìn càng thấy sáng và rực sáng hơn Khác với những tác giả cùng thời, trường ca của Thanh Thảo là những bản giao hưởng hoành tráng với nhiều cung bậc, ngữ nghĩa đa dạng, độc đáo và đầy thông minh Thanh Thảo đã đưa hơi thở thời đại, hơi thở Việt Nam vào trường ca của mình Và anh đã thành công Thanh Thảo đã xác lập, khẳng định vị trí của mình trong nền thi ca Việt Nam Năm 1979 Thanh Thảo nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, năm 1995 nhận giải thưởng văn học của Hội nhà văn Việt Nam, năm 2001 được trao giải thưởng Nhà
Trang 32nước về văn học nghệ thuật Thơ của Thanh Thảo đã trở thành tác phẩm kinh điển, được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy trong trường học
Ngoài sáng tác, hơn mười năm trở lại đây, Thanh Thảo còn xuất hiện với tư cách là một người viết tiểu luận - phê bình được bạn đọc rất chú ý bởi giọng văn sắc sảo với những phát hiện độc đáo, mới mẻ Nhìn chung, phong cách viết tiểu luận - phê bình của Thanh Thảo khá nhất quán nhằm mục đích tìm ra cái hay cái độc đáo của tác phẩm văn học mà không ồn ào tranh luận, không nặng nề về lý thuyết nhưng có độ bền về tính triết lý
Mỗi bài viết của anh đều in đậm cá tính riêng của anh Trong bài viết như một lời bạt ở cuối cuốn tiểu luận - phê bình “Ngón thứ sáu của bàn tay”, nhà thơ Nguyễn Đỗ cho rằng: “Điều mà Thanh Thảo có được trong tập sách này - cái thành công nhất - chính là anh đã được sáng tác, anh viết tiểu luận như là một hối thúc bên trong, giống khi làm thơ”
1.2.1.3 Quan điểm thơ ca
Quan niệm thơ được Thanh Thảo phát biểu khá đa dạng độc đáo theo cách cảm, cách nghĩ, cách nói riêng của mình: “Thơ là cái lặng lẽ của con hổ Ngay con
hổ cũng có lúc giật mình vì một tiếng lá rụng Thơ đi giữa can trường và hoảng hốt, đi giữa cái liều và nỗi sợ Thơ là con dao găm “Tôi ném vào khoảng trống” (Văn Cao), nhưng người bị thương lại chính là tôi” (Ngón thứ sáu của bàn ta) Chỗ khác Thanh Thảo phát biểu: “Thơ là chữ nghĩa cũng không là chữ nghĩa, là ý thức
mà không phải ý thức, là vô thức mà không hẳn vô thức Thơ đúng nghĩa là sự bộc
lộ tận cùng của nhà thơ” (Sự đồng cảm trong phê bình thơ)
Về bản chất của thơ, Thanh Thảo quan niệm: “Bản chất của thơ là thơ ngây,
là bất thường, là xuất kỳ bất ý”, “là tiếng nói của tâm linh, tiếng nói của sự chiêm nghiệm nhiều khi là cả đời người, của nhiều đời người” Những tập thơ có giá trị
Trang 33thực sự, chúng có thể là “Kinh thánh của tâm hồn”, là thứ “không thể mua và không thể bán Nhưng lại không thể thiếu cho con người” Nhưng “Thơ khác kinh cầu Nó không tạo ra những cơn mê tập thể Nó không ru rín” mà nó mê hoặc con người bằng “sự thức tỉnh” “Thơ chỉ dành cho từng người một Và khi một người đọc thơ cho mình, là người ấy đã đồng hiện với một giáo đường Vì vậy, có thể coi một người đọc thơ như nghìn người đọc kinh”
Về chức năng giáo dục của thơ, Thanh Thảo có một quan niệm khá mới lạ:
“Thơ có ích không chỉ vì thơ giáo huấn ai, giáo dục ai, cải tạo ai, mà vì thơ thức tỉnh con người trước cái “trăm năm”, thơ đặt con người đối diện với nghìn năm, thơ cho con người một thoáng nhìn lại chính mình một cách bình thản” Chỗ khác, anh thổ lộ “Thơ đích thực không nhằm giáo dục ai, cải tạo ai, nhưng nó lại giúp thanh lọc tâm hồn con người” Thơ còn là “đôi nạn” giúp người tàn tật “đứng dậy, bước đến với mọi người, là đôi bàn tay chìa ra với mọi người”, vâng, chính là thơ,
và đôi bàn tay thơ “như đôi lá xanh dung dị, gần gũi”
Về sức sống của thơ trong cơ chế thị trường hiện nay, Thanh Thảo khẳng định: Nó “vẫn là thứ dây leo khó bảo mà những lưỡi rìu thực dụng chặt đứt chỗ này nó lại mọc lên chỗ khác” Nhân bàn về sự “bền lòng” của Đường thi, Thanh Thảo đã khái quát về sức sống vĩnh cửu của thơ Từ chỗ so sánh: thơ Đường “có tuổi thọ hơn cả tuổi thọ của Tề Thiên Đại Thánh, dầu nó không hề được ăn đào tiên”, anh bắc cầu dòng suy tưởng của mình sang: cái mà thơ “được ăn chỉ là nỗi đau đớn, tủi nhục, là tình yêu vô hạn của con người Và ánh trăng, và hoa, và cây
cỏ Cái nó ăn, là cảm giác Cái cảm giác của một con người như một vũ trụ và của
cả vũ trụ như một con người, như một hạt cát, như cái chớp mắt của thời gian”
“Thơ có trước Thiên Chúa giáo, có trước Phật giáo, có trước Hồi giáo Nhưng cho đến thời đại hiện này, thơ vẫn sống mà không có tín đồ” (Tản mạn về thơ)
Trang 34Về mối quan hệ giữa người đọc, dân tộc và thơ, Thanh Thảo có một cái nhìn khá nhất quán: Thơ “phải được đồng bào mình chấp nhận, dù không phải là toàn
bộ, trước khi có thể được thế giới công nhận Bởi không gì hạnh phúc cho bằng được đồng bào mình đồng cảm mến yêu” “Người làm thơ ngày thường cũng nói nhỏ, họ chỉ nói to hơn trong thơ Họ “nói về những dự cảm”, “hướng đến một cộng đồng, một dân tộc, một đất nước, nó hướng đến Con Người, đến toàn nhân loại” nhưng “thơ vốn âm thầm, tìm được một người tri âm đã mừng hết lớn, đâu dám ước ao mê hoặc được hàng vạn hàng triệu người”
Về quan hệ giữa thơ và cuộc sống, đặc biệt là hiện thực chiến tranh, là người nằm ngay trong cuộc chiến, anh tâm sự: “Chiến tranh là một trải nghiệm khốc liệt” không ai mong muốn, “nhưng rồi khi phải đối đầu với nó, phải ngập chìm trong nó,
và may mắn cuối cùng thoát ra khỏi nó” Lúc đó, “người ta có thể coi những bài
thơ rất bình thường mình viết được trong chiến tranh như những vắt cơm đã nuôi mình khi đói, như hớp nước cuối cùng trong bi-đông mà mình sẻ chia với đồng đội, lại như một ân sủng mà mình nhận được”
Thanh Thảo cũng quan niệm: nói đến thơ là nói đến sự sáng tạo, nhưng cách nói của anh cũng độc đáo như thơ anh: “Hơn ai hết, người làm thơ phải là người bình tĩnh khi buông dây câu về vô định mong giật được con -cá - bặt - tăm Nghĩa
là khi làm thơ, nhà thơ biết mình sống trong lòng sự sáng tạo Đó là niềm tự hào và điều an ủi lớn nhất đối với một nhà thơ” Thách thức của thơ mà cũng là sự quyến
rũ của thơ là: “Thơ chẳng ai giống ai, chẳng ai mong muốn giống ai, và không có lối đi nào chung cho hai nhà thơ cả”
Về ngôn ngữ, hình tượng, biểu tượng thơ, Thanh Thảo quan niệm: chớ nên tưởng rằng “ngôn ngữ thơ là làm phong phú ngôn ngữ con người”, mà “nó chỉ chắt lọc tinh túy của ngôn ngữ con người” Cũng đừng nghĩ rằng: những hình ảnh,
Trang 35những biểu tượng thơ chỉ có kích thích trí tưởng tượng của con người, mà “nó còn khiến con người vững tin rằng ngoài những hình ảnh thế giới mà mình thấy được, cảm nhận được còn những hình ảnh mà mình chưa thấy nhưng sẽ thấy, chưa cảm được nhưng sẽ cảm được Có những giấc mơ mình sẽ mơ, và có những cuộc đời mình sẽ sống cùng với cuộc đời chính mình đang sống”
Thanh Thảo quan niệm: Tư duy thơ hiện đại là kiểu tư duy có bước nhảy
cấu tứ thơ đầy khoảng lặng tạo nên rất nhiều “không gian rỗng” trong thơ:
“Chính ở khoảng giữa của những câu thơ độc lập tương đối, đã ẩn hiện cái không gian rỗng của bài thơ, là cái thoạt nhìn, mới đọc cứ ngỡ như không thấy gì, không nói lên điều gì Cái kỳ lạ của thơ là ở đó: chữ nương tựa vào không - chữ, chỗ dày rậm cậy nhờ chỗ trắng trong, không - gian - đặc được cấu trúc lên nhờ không - gian - rỗng” Anh cho rằng: khác với thơ cổ điển, thơ hiện đại “không nhằm vào từng câu thơ” mà nhằm vào “từng mảng thơ”, “những mảng tối, mảng sáng trong bài thơ đan xen nhau, những mảng có nghĩa và vô nghĩa đan xen nhau… buộc tiềm thức, vô thức của ta phải làm việc, buộc ta phải ngụp lặn xuống lòng nước tối, ngụp lặn vào chính những giấc mơ của ta” Chính cái “lòng nước tối”, “những
giấc mơ” ấy đã tạo nên độ mờ nhòe nghĩa lý câu thơ của Thanh Thảo
Đánh giá sự vận động của thơ Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX, Thanh
Thảo nhận xét: “Mười năm thơ Việt cuối thế kỷ là mười năm có những chuyển
động ngầm, như những khối sóng dưới lòng sông sâu, những chuyển động có một
bề nổi hòa hoãn, nhưng một bề chìm quyết liệt, nhiều lúc không khoan nhượng”
(Mười năm cõng thơ leo núi)
Trong bài trả lời phỏng có tựa đề “Thơ chẳng là gì nhưng cũng có thể là
tất cả”, Thanh Thảo tóm lại quan niệm thơ của mình: “Quan niệm của tôi về thơ
vẫn thế, chẳng có gì mới hoặc cũ hơn” Có thể có người “thay đổi hẳn quan niệm
Trang 36của mình” hoặc “ngộ” được thơ sau khi đọc một bài thơ Nhưng cũng có người chỉ để “khẳng định thêm những điều mình đã nghĩ” Còn theo anh, “thơ phải hiện đại, bởi chúng ta đang sống thời hiện đại nhưng muôn đời, thơ vẫn là chuyện rút ruột rút gan mình ra mà thôi” Về cái đẹp trong thơ, đặc biệt là thơ hiện đại, anh
cho rằng: đây là vấn đề không đơn giản, nhưng anh khẳng định: “Cái đẹp của thơ
bây giờ phải khác thôi có thể “tục”(vulgarism), có thể “bẩn” (dirty) mà vẫn đẹp đấy Bởi chỉ có Đức Mẹ Đồng Trinh mới sinh con mà hoàn toàn sạch sẽ, tinh khiết thôi Các cuộc sinh nở bình thường khác, những cuộc sinh nở của con người, đều
có phần “vulgarism” và “dirty” Thơ cũng vậy thôi Có điều, cái cuối cùng là
“đứa con”, là “bài thơ” như một sản phẩm tự nhiên, sống”
Là một nhà thơ có một giọng điệu thơ “lạ” ngay từ những ngày đầu cầm bút, sau những thành công ban đầu, Thanh Thảo không “chững lại” mà luôn tự vượt lên mình Là một người say mê nghiên cứu các lý thuyết, các trào lưu văn học hiện đại phương Tây kết hợp với thực tiễn sáng tác của mình, Thanh Thảo đã có những
quan niện thơ đáng để ta ghi nhận
1.2.2 Chủ đề thơ Thanh Thảo
Cũng như một số cây bút cùng thời với mình như Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Thanh Thảo vừa tham gia chiến đấu vừa sáng tác văn học Và ông cũng sớm khẳng định được vị trí của mình trên thi đàn thơ ca chống
Mỹ Từ bài thơ đầu tay ra đời trong không khí rát bỏng của chiến trường cho tới nay, thơ Thanh Thảo đã đi trọn chặng đường của mình Trong suốt thời gian ấy, Thanh Thảo đã trải qua không ít thăng trầm, nhưng nhà thơ vẫn luôn luôn chung thuỷ với cái nghiệp mà mình đã chọn
Điều đáng trân trọng ở Thanh Thảo là ông đã đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều nét mới mẻ trên con đường hội nhập Không ngừng lao động sáng tạo, không
Trang 37ngừng tìm tòi đổi mới thơ ca, Thanh Thảo đã thực sự chinh phục được bạn đọc nhiều thế hệ với nhiều chủ đề khác nhau, thay đổi qua từng giai đoạn khác nhau
1.2.2.1 Những suy tư của bản thân trong cuộc chiến tranh
chống Mỹ
Hiện thực chiến tranh cùng với những vấn đề nhân sinh được đặt ra trong đó nhận được sự quan tâm không chỉ của riêng Thanh Thảo mà còn là của cả văn học thời đại Tuy nhiên, điều mà Thanh Thảo không nhoà lẫn với bất cứ một nhà thơ nào là cách phản ánh hiện thực với một cái nhìn, một giọng điệu rất riêng Là một người nghĩa khí, trung thực, yêu thiết tha quê hương đất nước và quý trọng vô ngần mạng sống của nhân dân, của đồng đội mình, Thanh Thảo đã chọn cho mình một
giọng thơ trữ tình đằm thắm, giàu ”chất thực” và ”chất nghĩ” (Chu Văn Sơn) Thơ Thanh Thảo giàu chất suy tư, chất triết lí và rất trí tuệ Nói như Thiếu Mai: ”Thơ
Thanh Thảo có dáng riêng Đọc anh, dù chỉ mới một lần, thấy ngay dáng ấy… Thơ Thanh Thảo có khả năng gợi dậy những suy nghĩ của người đọc bởi vì thơ ấy là
thơ của một tâm hồn giàu suy tưởng, giàu trí tuệ” Nhiều vần thơ của Thanh Thảo
thấm thía chất suy tư trăn trở Bởi thế, thay vì phản ánh hiện thực chiến tranh một cách sôi động và hoành tráng như một số cây bút khác, Thanh Thảo đã viết những vần thơ về chiến tranh và bày tỏ những suy tư của bản thân về số phận của nhân dân, Tổ quốc, thế hệ những người lính với mình trong cuộc chiến khốc liệt ấy
Trong Thử nói về hạnh phúc, Thanh Thảo đã bộc bạch rất thật những trăn trở của
mình và của cả thế hệ:
“chúng tôi không muốn chết vì hư danh
không thể chết vì tiền bạc chúng tôi xa lạ với những tin tưởng điên cuồng
những liều thân vô ích
Trang 38đất nước đẹp mênh mang đất nước thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt chỉ riêng cho Người chúng tôi dám chết ! đêm nay ai cầm tay nhau vào tiệc cưới
ai thức trắng lội sình
ai trầm ngâm viết những câu thơ thông minh
ai trả nghĩa đời mình bằng máu”
Đây không phải là bài thơ đầu tay của Thanh Thảo nhưng có thể coi đó là
bài thơ đầu lòng nhiều ”duyên may phận rủi” của nhà thơ-lính Thanh Thảo Tuy
nhiên, đọc bài thơ còn rất “trẻ” ấy của Thanh Thảo, ta có thể nhận thấy Thanh Thảo không bồng bột, nông nổi Trái lại, bài thơ lại thấm đẫm tinh thần mới của thời đại cùng với những suy nghĩ chân thành của ý thức cái tôi cá thể nhà thơ Người chiến sĩ ý thức rất rõ về giá trị cuộc sống và sinh mệnh của bản thân nhưng vẫn sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng:
chúng tôi đã đi không tiếc đời mình (nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc) nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc
(Những người đi tới biển)
Đó là lời tuyên ngôn cho sự lựa chọn của cả thế hệ mình Một sự chấp nhận rất dứt khoát nhưng không hề đơn giản, một sự hi sinh lặng lẽ mà cao đẹp Anh và
những người lính với anh ”không chết vì hư danh”, “không chết vì tiền bạc”, “xa
lạ với những tin tưởng điên cuồng”, “những liều thân vô ích” Sự lựa chọn của các
anh là sự lựa chọn cho Tổ quốc: ”đất nước đẹp mênh mang/ đất nước thấm sâu
đến tận cùng máu thịt/… chỉ riêng cho Người chúng tôi dám chết!” (Thử nói về hạnh phúc) Và một khi đã lựa chọn như vậy, những băn khoăn chung – riêng sẽ
không còn nữa, những gian khổ hi sinh cũng trở nên bình thường trong suy nghĩ
Trang 39các anh Và trong cái khốc liệt của chiến tranh, người lính đã tìm được những giây phút riêng cho mình:
“tôi gặp thằng bạn thân trong một chuyến bất ngờ
đêm Mỹ Long hai đứa nằm lộ đất trải dưới trời một tấm ni lông nơi khi chiều B52 bừa ba đợt nơi mấy năm rồi hố bom không đếm hết nơi tôi chợt thốt niềm mơ giản dị của mình
… chừng nào thật hoà bình
ra lộ Bốn trải ni lông nằm một đêm cho thoả thích
thằng bạn tôi đăm đăm nhìn một ngôi sao mọc trong hố bom nhoè nước
đôi mắt nó lạ lùng mà tôi thấy được chứa đầy một hố bom và một ngôi sao…”
(Một người lính nói về thế hệ mình)
Rõ ràng Thanh Thảo đã nói về những gian khổ, những hi sinh trong chiến
tranh một cách giản dị Một ”niềm mơ giản dị” của người lính nhưng lại nói lên
được một khát vọng tự do đến cháy bỏng của cả dân tộc Đọc những dòng thơ trên,
nhà thơ Boey Kim Cheng từng viết: ”Đây là giây phút cảm động, là phút giải
khuây đầy nhân bản trong sự kinh hoàng của chiến tranh, khi bản thân vượt ra ngoài giới hạn của sự chịu đựng để chia sẻ nỗi đau và hi vọng với người khác Ở mức độ cùng cực nhất, cái tôi không thu mình trong những mất mát của chính nó
mà hướng tới những người khác, và đó là giọng điệu mong manh nhưng quả quyết trong thơ chiến tranh của Thanh Thảo”
Viết về chiến tranh, Thanh Thảo cũng không thể lảng tránh cái chết Tuy nhiên, cách nhìn về sự ra đi của đồng đội ở Thanh Thảo có phần khác với những nhà thơ khác:
Trang 40“với người chết bình thường thời gian không quý nữa nhưng tôi biết các anh
đã cháy ruột cháy gan khi phải giữa đường nằm lại”
Anh đọc được trong sự hi sinh của đồng đội mình sự ra đi không thanh thản
Bởi cuộc đời họ là cuộc đời chưa bao giờ yên nghỉ:
“Nếu một ngày ta dựng những hàng bia xin hãy đề “nơi đây những cuộc đời chưa bao giờ yên nghỉ”
(Những người đi tới biển)
Trong thâm tâm nhà thơ – lính Thanh Thảo, đồng đội vẫn dõi theo bước
hành quân của các anh: ”soi lối cho chúng tôi/ bằng ánh tân linh trong đêm tối”
Và với Thanh Thảo, cuộc hành quân của những người lính hôm nay như được tiếp thêm sức mạnh từ những người đi trước và là niềm tin cho mai sau
Nhìn những dấu chân qua trảng cỏ mà nhà thơ hình dung được sức mạnh đó
trên từng gương mặt người:
ai đi gần ai đi xa những gì gửi lại chỉ là dấu chân vùi trong trảng cỏ thời gian vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta vẫn đằm hơi ấm thiết tha cho người sau biết đường ra chiến trường…
(Dấu chân qua trảng cỏ)
Cách nhìn hiện thực chiến tranh như thế đã làm nên nét độc đáo trong thơ
Thanh Thảo, nói như nhà thơ Paul Hoover: ”Thanh Thảo đã xử lí một cách tuyệt