1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TRUYỆN NGẮN 1945 – 1975 (NGUYỄN QUANG SÁNG, NGUYỄN THI, NGUYỄN KHẢI, NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYÊN NGỌC)

145 379 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 617,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRUYỆN NGẮN 1945 – 1975 (NGUYỄN QUANG SÁNG, NGUYỄN THI, NGUYỄN KHẢI, NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYÊN NGỌC) MỞ ĐẦU Sau 1975, một quá trình văn học đã được khép lại. So với văn học trước và sau đó, văn học 19451975 có diện mạo riêng, với những đặc điểm và quy luật vận động riêng có thể được hình dung qua hệ thống thể loại của nó. Bởi vì thể loại văn học vừa là hiện tượng lịch sử, vừa là nhân tố loại hình. Văn học Việt Nam 19451975 rất đa dạng và phong phú về thể loại. Ngay từ thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, thơ đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể. Qua sáng tác của những cây bút tiêu biểu như Tố Hữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Thôi Hữu, Hữu Loan…, thơ cách mạng đã tạo ra được một nội dung và hình thức thể loại khác xa với thơ trữ tình của những năm ba mươi. Diện mạo của nền văn xuôi kiểu mới cũng được hình thành qua những trang bút kí, kí sự, truyện ngắn của Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Tô Hoài, Kim Lân, Hồ Phương. Nhưng phải sau hoà bình lập lại, nhất là từ những năm sáu mươi, các thể loại văn học mới phát triển rực rỡ. Có được sự phát triển rực rỡ ấy là nhờ công sức của nhiều thế hệ cầm bút. Giai đoạn từ năm 1958 đến 1964 được gọi là thời kì hồi sinh của hàng loạt nhà thơ “tiền chiến” như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh… Văn xuôi phát triển mạnh mẽ với nhiều cây bút thuộc các thế hệ khác nhau: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Thế Phương, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Lê Khâm, Hữu Mai, Nguyễn Kiên, Đào Vũ, Vũ Thị Thường… Từ 1965 đến 1975, một cao trào sáng tác phục vụ cuộc kháng chiến chống Mĩ được phát động. Đây là thời kì xuất hiện hàng loạt nhà thơ trẻ có giọng điệu riêng của một thế hệ mới: Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Thu Bồn, Bùi Minh Quốc, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mĩ Dạ… Về văn xuôi, bên cạnh Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Lê Khâm (Phan Tứ), nổi lên Nguyễn Minh Châu, Chu Văn, Đỗ Chu, Ma Văn Kháng (ngoài Bắc) và Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức (trong Nam). Có thể nói, ở giai đoạn 19451975, nền văn học Việt Nam không thiếu một thể loại nào: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, các loại kí, bao gồm kí sự, bút kí, tuỳ bút, truyện kí, các thể thơ: thơ trữ tình, thơ trào phúng, truyện thơ, trường ca… Chỉ có phóng sự là thể loại từng phát triển mạnh mẽ từ thời trước Cách mạng, nay bỗng thấy thiếu vắng trên văn đàn.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NGỮ VĂN

o0o

TIỂU LUẬN GIỮA KỲ

Môn: Văn học Việt Nam từ 1945 đến nay

Đề tài:

TRUYỆN NGẮN 1945 – 1975 (NGUYỄN QUANG SÁNG, NGUYỄN THI,

NGUYỄN KHẢI, NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYÊN NGỌC)

GVHD: Cô Lê Huyền Trang

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2017

Trang 2

8 Nguyễn Diễm Quyên K40.601.114

16 Lê Thị Thanh Hương K40.601.048

18 Nguyễn Thị Thúy Ngọc K40.601.092

Trang 3

MỤC LỤC

DANH SÁCH NHÓM 3: 1

MỤC LỤC 2

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội nước ta giai đoạn 1945 - 1975 6

1.1.1 Cách mạng tháng Tám 1945 thành công 6

1.1.2 Đất nước trải qua nhiều sự kiện lớn 6

1.1.3 Nền kinh tế, văn hóa nghèo nàn, lạc hậu 8

1.2 Khái quát về tình hình văn học 1945-1975 9

1.2.1 Tình hình chung 9

1.2.2 Tình hình sáng tác truyện ngắn 11

1.3 Một số nhà viết truyện ngắn tiêu biểu của giai đoạn 1945-1975 12

1.3.1 Nguyễn Quang Sáng 12

1.3.2 Nguyễn Thi 14

1.3.3 Nguyễn Khải 20

1.3.4 Nguyễn Minh Châu 23

1.3.5 Nguyên Ngọc 27

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TIÊU BIỂU CỦA 5 TÁC GIẢ TRONG GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 30

2.1 Một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Quang Sáng 30

2.1.1 Con chim vàng (1956) 30

2.1.2 Chiếc lược ngà (1966) 37

2.1.3 Quán rượu người câm (1967) 43

2.2 Một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Thi 49

2.2.1 Xuống núi (1960) 50

2.2.2 Đôi bạn (1962) 57

2.2.3 Mẹ vắng nhà (1966) 59

2.3 Một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Khải 66

2.3.1 Nằm vạ (1956) 66

Trang 4

2.3.2 Mùa lạc (1959) 78

2.3.3 Bố con (1959) 84

2.4 Một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu 94

2.4.1 Mảnh trăng cuối rừng (1970) 94

2.4.2 Nguồn suối (Trích Những vùng trời khác nhau – 1970) 103

2.4.3 Nhành mai (trích Những vùng trời khác nhau - 1970) 105

2.4 Một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyên Ngọc 112

2.4.1 Rừng xà nu (1965) 112

2.4.2 Đất nước đứng lên 118

2.4.3 Rẻo cao 122

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA TRUYỆN NGẮN 1945 - 1975 127

3.1 Truyện ngắn 1945-1975 phát triển trong điều kiện chiến tranh 127

3.2 Diện mạo chung của truyện ngắn 45-75 127

3.2.1 Khả năng bao quát hiện thực rộng lớn 127

3.2.2 Một giai đoạn sáng tác hướng về đại chúng 129

3.2.3 Một giai đoạn chủ yếu được sáng tác theo cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi 130

3.3 Truyện ngắn có sự xuất hiện của những khuynh hướng thẩm mỹ khác nhau 132

3.3.1 Truyện ngắn trữ tình 132

3.3.2 Truyện ngắn hiện thực 134

3.4 Truyện ngắn vừa kế thừa, vừa tạo nên những đặc điểm thi pháp riêng của thể loại 136

3.4.1 Kết cấu 136

3.4.2 Các loại hình nhân vật 137

3.4.3 Giọng điệu, ngôn ngữ 138

3.5 Một số hạn chế của truyện ngắn giai đoạn 45-75 138

KẾT LUẬN 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 141

Trang 5

MỞ ĐẦU

Sau 1975, một quá trình văn học đã được khép lại So với văn học trước vàsau đó, văn học 1945-1975 có diện mạo riêng, với những đặc điểm và quy luật vậnđộng riêng có thể được hình dung qua hệ thống thể loại của nó Bởi vì thể loại vănhọc vừa là hiện tượng lịch sử, vừa là nhân tố loại hình

Văn học Việt Nam 1945-1975 rất đa dạng và phong phú về thể loại Ngay từthời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, thơ đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng

kể Qua sáng tác của những cây bút tiêu biểu như Tố Hữu, Quang Dũng, HoàngCầm, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Thôi Hữu, Hữu Loan…, thơ cáchmạng đã tạo ra được một nội dung và hình thức thể loại khác xa với thơ trữ tìnhcủa những năm ba mươi Diện mạo của nền văn xuôi kiểu mới cũng được hìnhthành qua những trang bút kí, kí sự, truyện ngắn của Trần Đăng, Nguyễn HuyTưởng, Nam Cao, Tô Hoài, Kim Lân, Hồ Phương Nhưng phải sau hoà bình lậplại, nhất là từ những năm sáu mươi, các thể loại văn học mới phát triển rực rỡ Cóđược sự phát triển rực rỡ ấy là nhờ công sức của nhiều thế hệ cầm bút Giai đoạn từnăm 1958 đến 1964 được gọi là thời kì hồi sinh của hàng loạt nhà thơ “tiền chiến”như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh… Văn xuôi phát triển mạnh mẽvới nhiều cây bút thuộc các thế hệ khác nhau: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bùi Hiển,Nguyễn Thành Long, Nguyễn Thế Phương, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, NguyễnKhải, Lê Khâm, Hữu Mai, Nguyễn Kiên, Đào Vũ, Vũ Thị Thường…

Từ 1965 đến 1975, một cao trào sáng tác phục vụ cuộc kháng chiến chống

Mĩ được phát động Đây là thời kì xuất hiện hàng loạt nhà thơ trẻ có giọng điệuriêng của một thế hệ mới: Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Thu Bồn, Bùi MinhQuốc, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo,Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị

Mĩ Dạ… Về văn xuôi, bên cạnh Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Lê Khâm (Phan Tứ),nổi lên Nguyễn Minh Châu, Chu Văn, Đỗ Chu, Ma Văn Kháng (ngoài Bắc) vàNguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức (trong Nam)

Có thể nói, ở giai đoạn 1945-1975, nền văn học Việt Nam không thiếu mộtthể loại nào: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, các loại kí, bao gồm kí sự, bút kí,tuỳ bút, truyện kí, các thể thơ: thơ trữ tình, thơ trào phúng, truyện thơ, trường ca…Chỉ có phóng sự là thể loại từng phát triển mạnh mẽ từ thời trước Cách mạng, naybỗng thấy thiếu vắng trên văn đàn

Trang 6

Tuy nhiên trong bài tiểu luận này chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu truyện

ngắn vì đây là thể loại xung kích, có nhiều đóng góp, phát triển đều, “ở chặng nào cũng có những truyện hay” Chính vì vậy, từ lâu, truyện ngắn Việt Nam 30 năm

kháng chiến chống xâm lược (1945 – 1975) đã trở thành đối tượng nghiên củanhiều công trình văn học

Trang 7

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội nước ta giai đoạn 1945 - 1975

1.1.1 Cách mạng tháng Tám 1945 thành công

Cách Mạng tháng Tám 1945 là một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộcViệt Nam Cuộc tổng khởi nghĩa vẻ vang này không chỉ có ý nghĩa đánh dấunhững mốc sự kiện cách mạng tiêu biểu mà quan trọng hơn Cách mạng tháng Támcòn là bước chuyển mình trong mọi lĩnh vực của đời sống lịch sử xã hội Sau ngày

Hồ Chủ Tịch đọc bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủcộng hoà, cả quân và dân ta chuyển sang một giai đoạn đấu tranh mới, khốc liệthơn, khó khăn hơn Giai đoạn lịch sử 1945 – 1975 với hai cuộc kháng chiến trườngkì: kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ

Có thể nói Cách mạng tháng Tám không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà nócòn là dấu mốc ghi nhận sự chuyển biến của đời sống văn học dân tộc Cách mạngtháng Tám trở thành cầu nối nhà văn đến với hiện thực cách mạng Giúp cho cácnhà văn trước cách mạng “nhận đường”, sáng tác phục vụ cho nhiệm vụ làm cáchmạng, sáng tác theo quan điểm “sống rồi hãy viết” Chính vì vậy mà bức tranh vănhọc thời kì này có nhiều biến đổi cả về chất và lượng Quan trọng nhất là văn họcthời kì này đã có cùng chung một mục đích sáng tác, một chiến hào chiến đấu,cùng hướng ngòi bút về một tâm điểm của văn học là hiện thực cách mạng

Từ đó dẫn tới các nhân vật trung tâm trong các sáng tác văn học giai đoạnnày cũng có nhiều điểm tương đồng trong các tác phẩm văn học cụ thể Tuy cácnhân vật được xây dựng từ những tiểu tiết khác nhau như quê hương, hoàn cảnh,thành phần xuất thân, các mâu thuẫn và tình huống truyện tạo nên những điểmnhấn trong cuộc đời song tựư chung lại họ vẫn gặp nhau ở một điểm cốt yếu: cácnhân vật ấy đều là những đứa con tinh thần lớn lên và trưởng thành trong chiếc nôicách mạng Và bên cạnh đó là nền văn học mới gắn liền với lí tưởng độc lập tự do

và chủ nghĩa xã hội cũng hình thành Đó là nền văn học của xã hội mới, phát triểndưới sự lãnh đạo của Đảng Đường lối văn nghệ của Đảng đã góp phần tạo ra mộtnền văn học thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, thống nhất về tổ chức và vềquan niệm nhân văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ

1.1.2 Đất nước trải qua nhiều sự kiện lớn

1.1.2.1 Công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, miền Bắc Việt Nam đã được giải, miềnNam cònnằm dưới ách thống trị của đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai Trước sự thay

Trang 8

đổi của tình hình đất nước, Đảng ta kịp thời xác định nhiệm vụ cách mạng cho phùhợp Tháng 9-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ chung của Đảng làđoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện đình chiến, đề phòng và khắcphục mọi âm mưu phá hoại Hiệp định để củng cố hoà bình; ra sức hoàn thành cảicách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhândân để củng cố miền Bắc; giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhândân miền Nam, nhằm củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lậpdân chủn trong toàn quốc.

Như vậy, tuy chưa nêu cụ thể, nhưng Nghị quyết Bộ Chính trị đã xác địnhmỗi miền có một nhiệm vụ khác nhau Miền Bắc phải được củng cố vững chắc đểlàm chỗ dựa cho cách mạng miền Nam Muốn vậy, không thể để miền Bắc trongtình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu và càng không thể đi theo con đườngphát triển tư bản chủ nghĩa

Yêu cầu của cách mạng miền Bắc cũng như của cách mạng cả nước vànguyện vọng của toàn dân đòi hỏi miền Bắc phải đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ quacon đường phát triển tư bản chủ nghĩa Chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới có thể đitới một xã hội công bằng và văn minh, không có người bóc lột người; đồng thờicũng xoá bỏ nguồn gốc sinh ra phương thức bóc lột

1.1.2.2 Hai cuộc chiến đấu yêu nước vĩ đại

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam ta đã phải trải qua rấtnhiều cuộc chiến tranh để xây dựng và giữ gìn đất nước Trong công cuộc xâydựng và giữ gìn đất nước, Việt Nam chúng ta đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến

ác liệt, đặc biệt nhất là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ đầy kiên cường, bấtkhuất và đầy tự hào của dân tộc ta

Hai cuộc chiến tranh với thực dân Pháp và đế quốc Mĩ ấy đã lấy đi của nhândân ta, đồng bào ta biết bao nhiêu xương máu, để lại hậu quả vô cùng nặng nề chodân tộc ta

Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ ngày 19 tháng 12 năm 1946 đã mởđầu cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm với Pháp Trong thời kỳ này, văn học đã đượcxây dựng để phục vụ cho cuộc chiến đấu của người Việt Nam mà hạt nhân là ViệtMinh Văn hóa được định hướng theo phương châm do Đảng Cộng sản Việt Nam

đã xác định từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 là Dân tộc - Khoa học - Đại

Trang 9

chúng còn đối với văn học thì làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng.Trong kháng chiến chống Pháp, khẩu hiệu Kháng chiến hóa văn hóa - Văn hóa hóakháng chiến của Hồ Chí Minh cũng phản ánh mục tiêu và đi kèm với nó là phươngpháp chi phối văn hóa nói chung và văn học nói riêng trong giai đoạn ấy

Về phong cách, để có thể kháng chiến hóa văn hóa, văn học phải nhằm đếnđối tượng quần chúng đông đảo mà chủ yếu là nông dân và do vậy văn học giaiđoạn này được hướng đến phong cách hiện thực, đại chúng Trong bối cảnh đó,những người sáng tác mà trong số họ có rất nhiều nhà thơ của phong trào Thơ mới,những nhà văn hiện thực phê phán với không ít cây bút tài năng băn khoăn với câuhỏi: viết cho ai? viết cái gì? viết như thế nào? Người ta im lặng, hoặc cảm thấy bứtrứt vì không thể viết như cũ, nhưng cũng chưa thể viết được cái mới như ý muốncủa mình Trong thời gian này đã nảy sinh những cuộc tranh luận về nghệ thuật,trong đó người nghệ sỹ băn khoăn; đem nghệ thuật phục vụ chính trị có phải là rẻrúng nghệ thuật không? Quần chúng có khả năng thưởng thức nghệ thuật không?

Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ trường kí suốt 30năm đã tác động sâu sắc, toàn diện tới đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc,trong đó có văn nghệ, tạo nên những đặc điểm riêng biệt của một nền văn học hìnhthành và phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, ác liệt Đặc biệt, truyệnngắn giai đoạn này chịu sự tác động của hai cuộc kháng chiến nên đề tài chủ yếu làxoay quanh cuộc kháng chiến chống Pháp, truyện ngắn thời kì này ra đời chủ yếunhằm phục vụ cho mục đích chính trị Chính vì vậy mà truyện ngắn phong phú hơn

về đề tài, từ người lính và cuộc chiến đấu trên chiến trường đến nông thôn, vùngcao, công nhân, trí thức, người lao động, nhưng đều gắn liền với cuộc chiến tranhchống Pháp

1.1.3 Nền kinh tế, văn hóa nghèo nàn, lạc hậu

Giai đoạn 1945 -1975 là giai đoạn mà đất nước ta phải ghánh chịu hai cuộcchiến tranh do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra Và hậu quả mà hai cuộc chiếntranh phi nghĩa đó mang lại chính là sự tổn thất nặng nề mà nhân dân ta phải gánhchịu

Sau chiến tranh, đất nước chúng ta phải đối diện với vô vàn những khó khăn,thử thách, hai cuộc chiến đấu chống lại giặc đã lấy đi của nhân dân ta biết baonhiêu xương máu và của cải Chiến tranh đã tàn phá làng mạc, ruộng đồng, nhàcửa, làm tiêu tán, tan hoang, cướp đi mọi thứ của nhân dân ta Chính vì thế mà sau

Trang 10

khi chiến tranh kết thúc thì đất nước ta phải đối mặt với một nền kinh tế, kèm theo

đó là một nền kinh tế, văn hóa nghèo nàn, lạc hậu Chính vì vậy mà điều kiện giaolưu văn hóa của người dân cũng bị hạn chế (chủ yếu tiếp xúc và chịu ảnh hưởngvăn hóa các nước xã hội chủ nghĩa, cụ thể là Liên Xô và Trung Quốc…) Tronghoàn cảnh như vậy, văn học giai đoạn 1945- 1975 vẫn phát triển và đạt được nhiềuthành tựu, đóng góp cho lịch sử văn học những giá trị riêng

1.2 Khái quát về tình hình văn học 1945-1975

1.2.1 Tình hình chung

Dưới những biến cố lịch sử của dân tộc, nền văn học của Việt Nam cũng chịu

sự ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh lịch sử nước nhà Giai đoạn 1945 – 1975

là giai đoạn mà chúng ta đang phải đối mặt với hai cuộc chiến tranh tàn khốc và ácliệt Điều này đã ảnh hưởng, tác động sâu sắc, mạnh mẽ đến đời sống vật chất vàtinh thần của toàn dân tộc, và văn học nghệ thuật cũng chịu sự tác động không hềnhỏ

Chính vì sự tác động của tình hình lịch sử văn học giai đoạn 1945 -1975 mangnhững đặc điểm và tính chất riêng của một nền văn học hình thành và phát triểntrong hoàn cảnh chiến tranh lâu dài và ác liệt

Nhìn chung văn học giai đoạn này được chia ra làm ba chặng đường phát triển:

Chặng đường từ 1945 đến 1954:

Đề tài, chủ đề: Không khí hồ hởi, vui sướng đặc biệt của nhân dân khi đất

nước giành được độc lập ; ca ngợi Tổ Quốc và quần chúng cách mạng, kêu gọi tinhthần đoàn kết, cổ vũ phong trào Nam tiến, biểu dương những tấm gương vì nướcquên mình Từ 1946 trở đi văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chốngPháp, thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của cuộckháng chiến

Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch, lí luận, nghiên cứu và phê bình

văn học, đều đạt được những thành tựu mới Có thể kể tên một số tác phẩm tiêubiểu: (Đôi mắt (Nam Cao), Làng (Kim Lân), Vùng mỏ (Vò Huy Tâm), Xung kích(Nguyễn Đình Thi), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), tập truyện Truyện TâyBắc (Tô Hoài), tập thơ Việt Bắc (Tố Hữu), các bài thơ kháng chiến của Hồ ChíMinh: Cảnh khuya, Nguyên tiêu, Báo tiệp Tây tiến (Quang Dũng), Đồng chí

Trang 11

(Chính Hữu), Lí luận phê bình: chưa phát triển lắm nhưng có một số sự kiện và tácphẩm có ý nghĩa quan trọng, như chủ nghĩa Mác và những vấn đề văn hóa(Trường Chinh).

Chặng dường từ 1955 – 1964:

Đề tài, chủ đề: Văn học tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ca ngợi

công cuộc đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đồng thời thể hiện tìnhcảm sâu nặng với miền Nam ruột thịt, nói lên nỗi đau chia cắt và thể hiện ý chíthống nhất đất nước

Thể loại: Truyện ngắn: mở rộng đề tài, mở rộng phạm vi thâm nhập đến

từng ngóc ngách của đời sống xã hội

+ Đề tài kháng chiến chống Pháp: Sống mãi với thủ đô (Nguyễn HuyTưởng), Cao điểm cuối cùng (Hữu Mai), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc)

+ Đề tài hiện thực cuộc sống: Vợ nhặt (Kim Lân), Tranh tối tranh sáng

+ Công cuộc xây dựng CNXH: Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân), Mùalạc (Nguyễn Khải), Cái sân gạch

+ Thơ: có sự kết hợp giữa yếu tố lãng mạn và yếu tố hiện thực: Gió lộng (TốHữu), Ánh sáng và phù sa (Chế Lan Viên), Riêng chung (Xuân Diệu), Trời mỗingày lại sáng, Đất nở hoa (Huy Cận)

+ Kịch đã có những tác phẩm được dư luận chú ý như: Một đảng viên (HọcPhi), Ngọn lửa (Nguyễn Vũ), Quẫn (Lộng Chương), Chị Nhàn và Nổi gió (ĐàoHồng Cẩm)

Chặng đường từ 1965 – 1975:

Đề tài, chủ đề: Toàn bộ nền văn học của cả hai miền Nam, Bắc tập trung vào

cuộc chiến đấu chống Mĩ cứu nước với chủ đề bao trùm là ca ngợi tinh thần yêunước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng

Thể loại: Phát triển mạnh mẽ các thể loại truyện kí, thơ, kịch…

Trang 12

+ Về văn xuôi: Viết ngay tại miền Nam chiến đấu: Sống như anh (Trần ĐìnhVăn), Hòn Đất (Anh Đức), Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Mẫn và tôi (PhanTứ) Viết ở miền bắc: Vào lửa (Nguyễn Đình Thi), Dấu chân người tình (NguyễnMinh Châu) Vùng trời (Hữu Mai)…

+ Về thơ ca: đạt được nhiều thành tựu đặc biệt Những nhà thơ thế hệ trướcnhư: Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,… lớp kháng chiến chống Phápnhư: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, những gương mặt trẻnhư: Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Thu Bồn, Phạm Tiến Duật,Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa,… làm thành một dàn hợp xướng âm hưởng hàohùng, chất suy tưởng lắng sâu, chất chính luận sắc sảo

Văn học vùng địch tạm chiến từ 1945 – 1975

Văn học vùng địch tạm chiến từ 1945 – 1975 có hai thời điểm: dưới chế độthực dân Pháp ( 1945 – 1954); dưới chế độ Mỹ - Ngụy (1954 – 1975)

Văn học ở vùng này chủ yếu là những xu hướng văn học tiêu cực phản động

xu hướng chống phá cách mạng, xu hướng đồi trụy

Bên cạnh các xu hướng này cũng có văn học tiến bộ thể hiện lòng yêu nước

và cách mạng Bút máu ( Vũ Hạnh), Thương nhớ mười hai ( Vũ Bằng), Hươngrừng Cà Mau ( Sơn Nam)

Giai đoạn 1945 – 1975 là giai đoạn nhạy cảm, dân tộc ta chịu hai cuộc chiếntranh tàn khốc, vì vậy mà văn học giai đoạn này chịu ảnh hưởng của một nền văn

Trang 13

học hướng đến mục đích phục vụ chính trị Và truyện ngắn cũng không nằm ngoài

sự ảnh hưởng thời cuộc Truyện ngắn giai đoạn này có những đặc điểm chung củavăn học giai đoạn 1945 – 1975, nền văn học gắn với thời đại, văn học hướng về đạichúng, văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 nổi lên với những tác giả tiêubiểu như: Nguyên Hồng, Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, NguyễnQuang Sáng, Nguyên Ngọc ( Nguyễn Trung Thành),…

1.3 Một số nhà viết truyện ngắn tiêu biểu của giai đoạn 1945-1975

1.3.1 Nguyễn Quang Sáng

1.3.1.1 Cuộc đời

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng còn có bút danh Nguyễn Sáng, sinh ngày 12tháng 01 năm 1932, tại xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Từ tháng 4 năm 1946, ông xung phong vào bộ đội, làm liên lạc viên cho đơn

vị Liên Chi 2 Đến năm 1948 được bộ đội cho đi học thêm văn hoá ở Trường trunghọc kháng chiến Nguyễn Văn Tố Năm 1950, về công tác tại phòng chính trị Bộ Tưlệnh phân khu miền Tây Nam Bộ, làm cán bộ nghiên cứu tôn giáo (chủ yếu là Phậtgiáo và Hoà Hảo)

Năm 1955, ông theo đơn vị tập kết ra Bắc, chuyển ngành với cấp bậc chuẩn

úy, về làm cán bộ Phòng Văn nghệ Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam Từ năm

1958, công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam, làm biên tập viên tuần báo Văn nghệ biêntập nhà xuất bản Văn học, cán bộ sáng tác Năm 1966, ông vào chiến trường miềnNam, làm cán bộ sáng tác của Hội Văn nghệ Giải phóng

Năm 1972, trở ra Hà Nội, tiếp tục làm việc ở Hội Nhà văn

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm

1957 Uỷ viên Ban Chấp hành Hội khoá 2, 3 và là Phó tổng thư ký Hội khoá 4

Sau ngày đất nước thống nhất tháng 4.1975, ông về Thành phố Hồ ChíMinh, giữ chức Tổng thư ký (về sau đổi tên gọi thành Chủ tịch) Hội Nhà vănThành phố Hồ Chí Minh các khoá l, 2, 3

Ông mất tại nhà riêng Quận 7 TP.HCM vào lúc 17 giờ ngày 13 tháng 2 năm

2014 Hưởng thọ 82 tuổi Lễ viếng nhà văn Nguyễn Quang Sáng diễn ra vào lúc

Trang 14

10h ngày 14/2 tại Nhà tang lễ TP HCM (25 Lê Quý Đôn, Q.3) Lễ động quan vàhỏa táng được tổ chức tại Nghĩa trang Đa Phước, huyện Bình Chánh lúc 13h30ngày 16/2.

Ông là cha ruột của đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, người hiện đang làmgiám khảo của chương trình truyền hình Vietnam Idol

1.3.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Các tác phẩm đã xuất bản của nhà văn Nguyễn Quang Sáng gồm có: Con chim vàng (1978), Người quê hương (truyện ngắn, 1968), Nhật ký người ở lại (tiểu thuyết, 1961), Đất lửa (tiểu thuyết, 1963), Câu chuyện bên trận địa pháo (truyện vừa, 1966), Chiếc lược ngà (truyện ngắn, 1966), Bông cẩm thạch (truyện ngắn 1969), Mùa gió chướng (tiểu thuyết, 1975), Người con đi xa (truyện ngắn, 1977), Dòng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985), Bàn thờ tổ của một cô đào (truyện ngắn, 1985), Tôi thích làm vua (truyện ngắn, 1988), 25 truyện ngắn (1990), Paris - tiếng hát Trịnh Công Sơn (1990), Con mèo của Foujita (truyện ngắn - 1991), Nhà văn về làng (truyện ngắn, 2008)

Ông còn ghi dấu ấn của mình ở lĩnh vực biên kịch với các kịch bản phim:

Cánh đồng hoang (1978), Pho tượng (1981), Cho đến bao giờ (1982), Mùa nước nổi (1986), Dòng sông hát (1988), Câu nói dối đầu tiên (1988), Thời thơ ấu (1995), Giữa dòng (1995), Như một huyền thoại (1995).

Giải thưởng văn học nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã đặt được gồm có:

- Ông Năm Hạng - truyện ngắn giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống Nhất

- Con mèo của Fujita - tập truyện ngắn, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1994;

- Cánh đồng hoang (kịch bản phim) - bộ phim được tặng Huy chương vàng Liên

hoan Phim toàn quốc (1980), Huy chương vàng Liên hoan Phim quốc tế ở Moskva(1981);

Trang 15

- Mùa gió chướng (kịch bản phim) - Huy chương bạc Liên hoan Phim toàn quốc

Nhưng điều này thể hiện phần nào quan niệm sáng tác của nhà văn Ông chỉ viết vềnhững điều mình hiểu rành rẽ, về những thân phận con người mà mình đồng cảm

Thế nên, gia tài văn chương với chừng 20 tác phẩm chính của ông, phần lớnnói về con người và miền đất Nam bộ, nơi ông sinh ra, lớn lên, chiến đấu, làmviệc; thể hiện bằng giọng văn giản dị, mộc mạc không khác xa gì mấy so với kiểu

ăn nói thường ngày của người Tây Nam bộ, cụ thể hơn là vùng Chợ Mới, AnGiang quê hương ông Ngay từ tác phẩm đầu tay - tiểu thuyết Đất lửa viết năm

1952, Nguyễn Quang Sáng đã ghi ngay dấu ấn

Nhà văn Nguyễn Đình Chính nhận định: “Đất lửa lừng danh không phải vì

kể cái chuyện chi chi miền đất Cao Đài, Hòa Hảo Nó lừng danh vì đó là một thứ văn chương kỳ lạ Nói như mấy nhà phê bình văn học nhiều chữ lâu nay khen ầm

ầm văn chương nghệ thuật thứ thiệt Nam bộ đấy… Đất lửa lừng danh vì nó là văn chương trực cảm phản ánh hiện thực một cách mẫn tiệp mà linh hoạt, sâu sắc mà lại hồn nhiên lạ thường” Xung đột của các nhân vật, các phe cánh trong bối cảnh

đấu tranh chống Pháp ở một cái làng miền Tây được tác giả miêu tả chân thực, ấntượng Không thể không nhắc đến truyện ngắn Chiếc lược ngà nổi tiếng Ít ai từngđọc tác phẩm này trong sách giáo khoa thời đi học mà có thể quên câu chuyện cảmđộng về tình cha con trong bối cảnh miền Tây Nam bộ thời chống Mỹ Chiếc lượcđược người cha tỉ mẩn làm từ ngà voi gửi cho con gái, đã trở thành biểu tượng củatình cha con, là chứng nhân của tình yêu, niềm tin, hy vọng, sự kiên cường khicùng hai cha con bé Thu đi qua cuộc chiến đầy đau thương mất mát

1.3.2 Nguyễn Thi

1.3.2.1 Cuộc đời

Nguyễn Thi tên thật là Nguyễn Hoàng Ca, bút danh khác là Nguyễn NgọcTấn, Nguyễn Thi, Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1928, tại xã Hải Anh, huyện Hải

Trang 16

Hậu, tỉnh Nam Định Mất ngày 9 tháng 5 năm 1968 Cha là hương sư Nguyễn BộiQuỳnh – ông từng tham gia vào phong trào cách mạng do Đảng Cộng Sản ĐôngDương lãnh đạo, mẹ là Thành Thị Du (vợ hai) Từ bé, cậu bé Hoàng Ca phải sốngtrong cảnh nơm nớp lo sợ những trận đòn ghen của người vợ cả, chịu nhiều bấthạnh, tủi nhục.

Khi 9 tuổi, mồ côi cha mẹ đi bước nữa, ông sống với người anh con mẹ cả

và sau đó sống nương nhờ vào những người họ hàng Năm 14 tuổi, ông đi theogánh hát đồng ấu Nam Hoa do bầu Phi Sơn Hải lập ra Một năm sau, Tấn trở về vàtheo ảnh cả vào Sài Gòn kiếm sống

Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ông tham gia quân đội làm công

tác tuyên huấn, đội trưởng Văn công sư đoàn 330, sau đó về tạp chí Văn nghệ Quân đội (1957) biên tập văn xuôi Ông còn là đội viên đội Cảm Tử quân trong

những ngày tổng khởi nghĩa ở Sài Gòn; được kết nạp Đảng năm 1947 (19 tuổi)

Tháng 5 - 1962: Nguyễn Ngọc Tấn xung phong vào chiến trường miền Nam

và đổi bút danh thành Nguyễn Thi, công tác tại Cục Chính trị Quân giải phóng

miền Nam, là thành viên sáng lập và tham gia phụ trách tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Ông từng có mặt ở nhiều nơi gian khổ, ác liệt như Bến Tre, Đồng Tháp

Mười,… Trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968: đi theo một mũi tấn côngcủa quân giải phóng đánh chiếm Sài Gòn và hi sinh Nơi ông hi sinh nay đượcmang tên ông – đường Nguyễn Thi, Thành phố Hố Chí Minh

Giải thưởng văn học: Giải thưởng Văn nghệ Cửu Long giang (Nam Bộ,

1949 – 1950) với tập thơ Hương đồng nội Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu năm 1965 với tập truyện ký Người mẹ cầm súng Nguyễn Thi là một nhà văn

Việt Nam nổi tiếng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam và được truy tặng Giảithưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật đợt II năm 2000

Nhắc đến Nguyễn Thi, người ta không quên nhắc đến một nhà văn đã sống,chiến đấu và sáng tác như một người chiến sĩ, nghệ sĩ Nguyễn Thi là một nhà văn

có ý thức trách nhiệm rất cao đối với ngòi bút Mặc dù cuộc đời riêng gặp nhiều éo

le, trắc trở nhưng không bao giờ khuất phục trước hoàn cảnh, ông như con trai biếtnén nước mắt, phong kín nỗi đau vào trong làm nên hạt ngọc cho đời Nhà văn

Nguyễn Thi từng bày tỏ quan niệm người cầm bút của mình: “Trước khi trở thành nhà văn, tôi đã là người lính, nếu gặp lúc gay go tôi có thể cho cây bút vào túi áo, tay cầm súng và bóp cò Tôi cần cái không khí của chiến dịch, những cái mà mắt tôi nhìn được, tai tôi nghe được Trước sự kiện lịch sử trọng đại như thế này, nhà văn không thể đứng ngoài mà ngó…”.

Trang 17

1.3.2.2 Sự nghiệp sáng tác

Có thể tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thi theo hai thời kỳ chính:

- Từ 1950 đến 1962: sáng tác trên miền Bắc, với bút danh Nguyễn Ngọc Tấn Các

tác phẩm tiêu biểu: tập thơ Hương đồng nội, hai tập truyện ngắn: Trăng sáng, Ðôi bạn.

- Từ 1963 đến 1968: sáng tác ở miền Nam, với bút danh Nguyễn Thi Những tácphẩm tiêu biểu ở các thể loại: ký, truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết được tập hợp

trong Truyện và ký Nguyễn Thi.

Ở chặng đầu sáng tác, ông vừa làm thơ vừa viết truyện với bút danh Nguyễn Ngọc Tấn

Ðầu 1950, tập thơ Hương đồng nội ra đời, gồm 20 bài Ðây là tiếng lòng của

một người đang chập chững trên bước đường văn chương, tập quan sát, miêu tả và

tự thể hiện - như một cậu học trò tập làm luận- nên giá trị nghệ thuật chưa cao

Hai tập truyện ngắn Trăng sáng, Ðôi bạn tập trung vào ba mảng đề tài khá

quen thuộc bấy giờ: tấm lòng Nam - Bắc trong chia cắt, tình nghĩa quân dân (giữađồng bào miền Bắc với bộ đội miền Nam đi tập kết), tội ác của Mỹ Ngụy Mỗi tậpgồm 07 truyện:

+ Trăng sáng (1960): Quê hương, Làm việc, Xuống núi, Lao động quang vinh, Trăng sáng, Về Nam, Món quà tết.

+ Đôi bạn (1962): Mặt trận, Đôi bạn, Cậu Huân, Tự do, Một chuyến về phép, Hai cha con người chính ủy, Ngày về.

Thời kỳ này, truyện của Nguyễn Ngọc Tấn không có gì đặc biệt về đề tài Sựkiện được phản ánh cũng chưa mang tầm vóc lớn lao của lịch sử Nhà văn chưa có

ý định, chưa đủ sức vẽ những bức hoành tráng về dân tộc và kháng chiến Tuynhiên, những trang viết ban đầu ấy vẫn mang sức hấp dẫn, thuyết phục riêng cóđược từ những đặc sắc nghệ thuật

Nguyễn Ngọc Tấn đặc biệt chú ý thể hiện nội tâm nhân vật và nội tâm củachính mình Nhiều chi tiết có ý nghĩa tự truyện Hiện thực chủ yếu là hiện thực tâmhồn, rất chân thực, gần gũi

Văn phong giàu chất trữ tình, chất thơ; ít hành động, sự việc, giàu tâm tình.Kết hợp với những hình ảnh so sánh thông minh, độc đáo tạo nên những hứng thúthẩm mỹ bất ngờ: Sự nóng ruột giấu ở trong đôi mắt đảo lia đảo lịa của cô tưởng có

thể tóm ra mà đặt xuống bàn được (Một chuyến về phép); Tin ấy như con rắn luồn

từ ngõ này sang ngách khác (Về Nam).

Trang 18

Với bút danh Nguyễn Ngọc Tấn, ông còn có một số tác phẩm đăng báo: Chưa nói (truyện ngắn) – Văn nghệ quân đội, số 3 – 1957; Trong rừng (bút ký) – Văn nghệ quân đội, số 6 – 1959; Tặng một con người (thơ) trong tập Bóng dừa xanh (tập truyện và thơ), 1957…

Tuy chưa phản ánh được thật đầy đủ những phương diện chủ yếu của hiệnthực đời sống với tầm khái quát cao, truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tấn đã lànhững dấu hiệu tốt đẹp của một tài năng đầy triển vọng, là những nét cơ bản đãđịnh hình về một phong cách nghệ thuật lớn Phong cách ấy sẽ được hoàn thiện vàkhẳng định trong thực tế sáng tác, thực tế chiến đấu ác liệt ở miền Nam những năm

về sau

 Giai đoạn sau: Truyện và ký Nguyễn Thi

Ðây là một trong những thành tựu xuất sắc của nền văn học Cách mạngmiền Nam, gồm 11 tác phẩm (4 truyện ngắn, 1 tiểu thuyết, 2 ký, 1 ghi chép và 3tùy bút)

Truyện: Nguyễn Thi viết truyện ngắn không nhiều nhưng truyện nào cũng

có giá trị, đặc biệt: truyện về những nhân vật thanh thiếu niên và người phụ nữ Bốicảnh là nông thôn Nam Bộ những năm tháng ngột ngạt trước xuân Mậu Thân

1968 Ở đó, một khi tội ác giặc càng chồng chất thì lòng căm thù và quyết tâm trảthù càng ngùn ngụt bốc cao

Chuyện xóm tôi (1964): Sáng tác đầu tiên với bút danh Nguyễn Thi Nhân vật

chính là hai đứa trẻ tên Ðực và Bỉnh, sống chung trong một xóm nhỏ vùng MỏCày, Bến Tre Cả hai có chung mối thâm thù: hai người cha đều bị tên ác ôn TổngPhòng giết cùng một ngày Qua câu chuyện giữa hai đứa trẻ, tác giả muốn đi tìmcăn nguyên sâu xa sức mạnh quật khởi của người Việt Nam; tất cả bắt đầu từ lòngcăm thù và quyết tâm trả thù nhà, đền nợ nước

Mùa xuân (1964): Như viết tiếp Chuyện xóm tôi, vẫn những nhân vật và bối

cảnh cũ nhưng không khí khởi nghĩa đã khẩn trương hơn nhiều với cảnh bộ đội vềlàng, thanh niên nô nức lên đường tòng quân Truyện có cái nhìn bao quát hơn vềtình thế Cách mạng, về vai trò và khả năng của quần chúng

Những đứa con trong gia đình (1966): Chuyện về hai chị em Chiến và Việt

-tiêu biểu cho thế hệ trẻ miền Nam - trong cuộc đối đầu tưởng chừng không cân sứcvới giặc Mỹ và bọn tay sai ác ôn Nặng thù nhà nợ nước, cả hai tranh nhau lênđường tòng quân và đã trở thành những anh hùng trẻ tuổi Truyện có nhiều trangchân thực, cảm động (đêm trước ngày hai chị em lên đường; lúc Việt bị trọng

Trang 19

thương, một mình trên chiến trường; cảnh chị em khiêng bàn thờ Ba Má qua gửinhà chú Năm ) Kết cấu, ngôn ngữ khá tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Thi.

Mẹ vắng nhà : Viết sau khi Người mẹ cầm súng ra đời, vẫn dựa trên những

tính cách của đám con chị Út Tịch Nguyễn Thi muốn bổ sung thêm việc miêu tảtính cách, sinh hoạt của chúng để cắt nghĩa những băn khoăn của độc giảí: vì saomột người mẹ đông con như vậy lại có thể rảnh rang, bình tỉnh theo du kích đánhgiặc suốt ngày đêm? Truyện cho thấy: những đứa trẻ đã sống thật ấm áp trong sựđùm bọc, cưu mang đầy tình nghĩa và trách nhiệm của bà con lối xóm, dù Ba Máchúng luôn vắng nhà

Ký: được viết dưới nhiều dạng: ghi chép, tùy bút, truyện ký.

+ Tùy bút: thường ngắn gọn, súc tích chứ không tài hoa uyên bác nhưNguyễn Tuân, cũng không rắn rỏi hào hùng như Nguyễn Trung Thành Câu vănbình dị, thân mật, khiêm tốn; giọng điệu thiết tha; có sức vang vọng sâu xa trongtâm hồn người đọc: Chúng phải chết trên những hố bom do chúng gây ra, trên

những căn hầm chúng lùa hơi độc, trên những vòm cây chúng làm trụi lá, trên những bờ kinh xanh biếc này.

Tùy bút Nguyễn Thi đề cập và giải quyết hàng loạt mối quan hệ thuộc về thếgiới quan, nhân sinh quan thời chiến: sống - chết; riêng - chung; sướng - khổ; thểhiện tấm lòng yêu nước và thủy chung của đồng bào Nam bộ; khẳng định sức sốngmãnh liệt của dân tộc Việt Nam Sức sống ấy bắt nguồn từ truyền thống nhân

nghĩa, vì: Khi nhân nghĩa bị xúc phạm thì nhân nghĩa lại mang sức quật khởi ghê gớm Một sự đổ nát trỗi dậy trăm vạn niềm tin

Những tùy bút tiêu biểu: Ðại hội anh hùng, Những câu nói trong đại hội, Dòng kinh quê hương.

+ Bút ký tiêu biểu: Những sự tích ở đất thép tập trung thể hiện sự bình tỉnh,

gan dạ của chúng ta giữa sự lồng lộn tuyệt vọng của kẻ thù ở đất thép Củ Chi Nhàvăn hình như không bằng lòng với thuyết lý chung chung về chủ nghĩa anh hùngCách mạng, nên đã xông xáo đi tìm hiểu và thể hiện thật cụ thể, sinh động nhậnthức của chính mình bằng hình tượng nghệ thuật

+ Truyện ký tiêu biểu: Người mẹ cầm súng, Uớc mơ của đất.

Người mẹ cầm súng: tác phẩm được Hội đồng Văn học nghệ thuật của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tặng giải chính thức giải thưởng văn học

Nguyễn Ðình Chiểu năm 1960-1965 Nguyễn Thi viết tác phẩm này nhằm hai mụcđích Thứ nhất, tập trung lý giải mối quan hệ giữa tư cách công dân (phải đảm bảochức năng xã hội) với tư cách người mẹ, người vợ (phải đảm bảo chức năng gia

Trang 20

đình) Thứ hai, lý giải nguồn gốc tạo nên người anh hùng và quá trình phát triểnhợp lý những tính cách anh hùng: từ tự phát đến tự giác Ðặc sắc nghệ thuật của tácphẩm là điển hình hóa với chất Út Tịch - điển hình tính cách Nam bộ, tức là sứcmãnh liệt đến hồn nhiên của cá tính, thể hiện ở những hoàn cảnh, việc làm, câu nóikhông lẫn với ai khác.

Ước mơ của đất: những trang viết cuối cùng của nhà văn, kể lại cuộc đời

người nữ anh hùng Nguyễn Thị Hạnh Tác phẩm còn ở dạng bản thảo

+ Tiểu thuyết: Nguyễn Thi thường viết nhiều tác phẩm cùng một lúc nênhầu hết đều dở dang khi nhà văn hy sinh Tuy nhiên, với dung lượng hiện thựcngồn ngộn phong phú, tươi rói sức sống cộng với tài năng đang độ sung sức củatác giả- những tác phẩm dở dang ấy vẫn mang giá trị văn học to lớn Các tác phẩm

tiêu biểu: Ở xã Trung Nghĩa, Sen trong đồng, Cô gái đất Ba Dừa.

Ở xã Trung Nghĩa viết về vùng đất sẽ là chiếc nôi cho phong trào Ðồng

Khởi sau này Tác phẩm tuy mới 3 chương, chưa có đầu đề, nhưng chiếm vị trí đặcbiệt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thi Nó đánh dấu một chặngđường mới, khi mà nhà văn tích lũy dồi dào vốn sống, thuộc lòng tính cách Nam

bộ, bắt đầu triển khai những chất liệu ấy trong một hình thức, một thể loại quy mô

hơn Ở xã Trung Nghĩa thể hiện tính hoành tráng của cả một giai đoạn lịch sử.

Nhân vật truyện gồm nhiều tuyến tương phản nhau, rất đa dạng Những nhân vậtchính được chạm khắc thành hình tượng khó quên Nhà nghiên cứu Vũ Ðức Phúc

có nhận xét: “Cuốn tiểu thuyết viết dở Ở xã Trung Nghĩa có thể so sánh với Tắt đèn Lời văn của anh nhẹ nhàng, giàu chất thơ mà rất sâu sắc, mỗi trang đều lôi cuốn người đọc”.

Sen trong đồng cũng là một truyện dài dở dang Cô Sáu, từ trong mất mát, tù

đày và những khắc nghiệt của hoàn cảnh, trên con đường gian khổ tìm đến vớiCách mạng - phẩm chất anh hùng, bất khuất của người phụ nữ Nam bộ được khẳngđịnh

Cô gái đất Ba Dừa tập trung khắc họa phẩm chất trung hậu, đảm đang của

người phụ nữ Việt Nam Bằng tính cách mạnh mẽ và tinh thần của người Ðảngviên, cô Ba đã vượt qua những khó khăn lớn trong cuộc sống gia đình để hoànthành xuất sắc nhiệm vụ

 Truyện và ký của Nguyễn Thi là bản án đanh thép tố cáo chế độ Mỹ Ngụy dã

man, một dự báo của cuộc Cách mạng tất yếu xảy đến Hình ảnh người nông dânNam bộ, đặc biệt là phụ nữ, được khắc họa bằng những nét điển hình đẹp đẽ; dân

Trang 21

tộc mà rất hiện đại, phù hợp với yêu cầu mới của Cách mạng Trang viết NguyễnThi góp vào văn học Cách mạng miền Nam một hương sắc riêng, độc đáo

1.3.2.3 Đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Thi

Ở Nguyễn Thi, có sự hài hòa tuyệt vời giữa sống - chiến đấu - sáng tác.Khuynh hướng sử thi ảnh hưởng quyết định, tạo nên nét gần gũi giữa phong cáchNguyễn Thi với phong cách thời đại Suốt đời, nhà văn tự nguyện sáng tác bằng

mồ hôi, nước mắt và cả máu từ trái tim mình để ngợi ca chủ nghĩa anh hùng Cáchmạng miền Nam Trang viết Nguyễn Thi thể hiện thái độ dứt khoát, lập trường tưtưởng vững vàng: tất cả vì nhân dân, vì tổ quốc Nguyễn Thi thành công nổi bật khixây dựng những điển hình nông dân Nam bộ, đặc biệt là nhân vật trẻ con và phụ

nữ Hình như ở đó luôn gửi gắm thật nhiều tâm sự, tâm huyết của nhà văn

Sắc thái đặc biệt trong phong cách Nguyễn Thi còn là sự hài hòa giữa nhiềumặt đối lập về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật Luôn có sự cân đối, phùhợp giữa chất thơ trong sáng trữ tình với một hiện thực đồ sộ, có tính sử thi, giữahình thức bên ngoài ngắn gọn với nội dung bên trong phong phú, dồi dào

Nguyễn Thi có sở trường về phân tích tâm lý, nội tâm nhân vật - như mộtnhà văn hiện thực Mỗi nhân vật của ông mang một thế giới nội tâm mênh mông,hấp dẫn người đọc, ông có khả năng phân tích thâm nhập sâu vào thế giới nội tâmnhân vật nên ông đã tạo ra được những trang viết không chỉ giàu chất trữ tình màcòn mang hơi thở của cuộc sống Tính cách nhân vật càng phong phú hơn khi đượckhảo sát giữa nhiều mối quan hệ phức tạp (địch-ta, bạn bè, làng xóm, vợ chồng, mẹcon, ) Hệ thống chi tiết trong tác phẩm Nguyễn Thi rất đa dạng, độc đáo, nhiềusáng tạo nghệ thuật; thể hiện năng lực quan sát sắc sảo

1.3.3 Nguyễn Khải

1.3.3.1 Cuộc đời

Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 tháng 12 năm 1930tại Hà Nội Quê nội ở thành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiều nơi Đanghọc trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám Trong Kháng chiến chống Pháp,Nguyễn Khải gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào bộ đội, làm y

tá rồi làm báo Bắt đầu viết văn từ những năm 1950, được chú ý từ tiểu thuyếtXung đột (phần I năm 1959, phần II năm 1962)

Sau năm 1975 Nguyễn Khải chuyển vào sinh sống tại thành phố Hồ ChíMinh Ông rời quân đội năm 1988 với quân hàm đại tá để về làm việc tại Hội Nhàvăn Việt Nam Nguyễn Khải từng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt

Trang 22

Nam các khóa 2, 3 và là Phó tổng thư ký khóa 3 Ông là Đại biểu Quốc hội khóaVII.

Nguyễn Khải mất ngày 15 tháng 1 năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh dobệnh tim

1.3.3.2 Sự nghiệp sáng tác

Nguyễn Khải là một nhà văn Việt Nam được trao tặng Giải thưởng Hồ ChíMinh và là một trong những gương mặt nổi bật của thế hệ nhà văn trưởng thànhsau cách mạng tháng 8 năm 1945 Nguyễn Khải là đại biểu Quốc hội khóa VII;Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn VN khóa IIIChủ đề các tác phẩm của Nguyễn Khảikhá phong phú: về nông thôn trong quá trình xây dựng cuộc sống mới, về bộ độitrong những năm chiến tranh chống Mỹ, về những vấn đề xã hội-chính trị có tínhthời sự và đời sống tư tưởng, tinh thần của con người hiện nay trước những biếnđộng phức tạp của đời sống

Sáng tác của Nguyễn Khải thể hiện sự nhạy bén và cách khám phá riêng củanhà văn với các vấn đề xã hội, năng lực phân tích tâm lý sắc sảo, sức mạnh của lýtrí tỉnh táo Năm 1982, Nguyễn Khải nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam vớitiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm Năm 2000, nhà văn được phong tặng Giải thưởng HồChí Minh đợt II về Văn học nghệ thuật

Tác phẩm Mùa lạc của Nguyễn Khải thường được trích dạy trong sách giáo

khoa phổ thông môn Văn học nhiều năm qua

Ông sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký sự, kịch Trong đó,

Nguyễn Khải để dấu ấn qua nhiều tác phẩm như: Mùa xuân ở Chương – Mỹ (1954), Người con gái quang vinh (1956), Xung đột (truyện, 1959), Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960), Hãy đi xa hơn nữa (truyện vừa, 1963), Người trở về (tập truyện vừa, 1964), Họ sống và chiến đấu (ký sự, 1966), Hoà – Vang (bút ký, 1967), Đường trong mây (tiểu thuyết, 1970), Thời gian của người (1985)… Tác phẩm tiểu thuyết Thượng đế thì cười (2003), mang giọng văn hồi ký về cuộc đời viết lách của ông.Tác phẩm cuối cùng của ông là tuỳ bút Đi tìm cái tôi đã mất

(2006) ghi lại những trăn trở của Nguyễn Khải vào những năm cuối đời

Trong suốt sự nghiệp, Nguyễn Khải đã nhận nhiều giải thưởng văn họcnhư:Giải thưởng Văn học Lê Thanh Nghị (Liên khu III, 1951), Giải thưởng Vănnghệ VN (1951-1952), Giải thưởng Hội Nhà văn VN (1982),Giải thưởng Văn họcĐông Nam Á (2000) Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt II -2000) và Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng

Trang 23

1.3.3.3 Quan điểm sáng tác

Trước đổi mới, những vấn đề mà nhà văn quan tâm thường là thuộc về đờisống cách mạng, tư tưởng chính trị, bởi thế những nhân vật của ông cũng chủ yếuđược soi ngắm, thể hiện trên bình diện con người chính trị hơn là trong tư cách conngười cá nhân trong đời thường, con người của đời sống thế sự Trong một thờigian dài Nguyễn Khải cũng như phần lớn các cây bút thời ấy, đã tin và ra sức cổ vũcho cái quan niệm rằng: viết về cách mạng, về cái tiên tiến, viết về những conngười mới, đó mới là văn học mới, văn học cách mạng; còn viết về sinh hoạt đờithường, về những điều vụn vặt của đời sống riêng tư là thứ văn học cũ Nhiềungười, trong đó có cả Nguyễn Khải, còn tự huyễn hoặc mình với cái sứ mệnh củanhững nhà văn đặt nền móng cho một nền văn học mới, nền văn học xã hội chủnghĩa, vượt lên mọi nền văn học của quá khứ Những nhân vật lí tưởng của

Nguyễn Khải hồi ấy, từ Môn (Xung đột), đến Nam (Hãy đi xa hơn nữa), Biền (Tầm nhìn xa), Huân (Mùa lạc) đều rất hào hứng say sưa nói về niềm tin vào lí

tưởng, tương lai, tin ở sức mạnh vĩ đại của cách mạng Sau này nhìn lại chặngđường sáng tác ấy của mình và của nhiều người viết khác, Nguyễn Khải đã gọi

đúng đó là "cái thời lãng mạn"

Vào thời kì đổi mới, Nguyễn Khải đã có những chuyển biến ngày càng mạnh

mẽ triệt để trong tư tưởng và nghệ thuật của mình Ngòi bút của ông hướng nhiềuvào đời sống thế sự với sự chiêm nghiệm và triết lí về nhân sinh, tìm kiếm nhữnggiá trị bền vững vĩnh hằng của con người và đời sống Thế giới nhân vật củaNguyễn Khải vì thế cũng được mở rộng, thay đổi, với nhiều kiểu loại nhân vật mới

và nhất là được soi ngắm, định giá từ những thang bậc giá trị khác - những giá trịbền vững về nhân cách, về lối sống Giờ đây những nhân vật ưa thích của NguyễnKhải phải là những con người có bản lĩnh, có niềm tin vào chính mình, biết lựachọn sáng suốt và kiên định với sự lựa chọn lối sống của mình dù có thể phải chịunhững thiệt thòi hay sự đơn độc trên đường đời Những nhân vật ấy tuy rất khácvới các nhân vật lí tưởng của Nguyễn Khải hồi trước đổi mới nhưng giữa họ lại cónhững nét chung, đó là bản lĩnh, niềm tin vào điều mình đã lựa chọn, là sự sắc sảo,

thông minh, có tài ăn nói Bà Hiền trong Một người Hà Nội là một nhân vật rất tiêu

biểu cho một mẫu người được tác giả ưa thích, say mê trong sáng tác của ông ởthời kì đổi mới

Nguyễn Khải quan niệm rằng một nhà văn phải có một hệ tư tưởng triết họcriêng, có một thế giới quan riêng, từ đó anh ta sẽ xây dựng cái thế giới nghệ thuật

Trang 24

của mình với một hệ thống nhân vật, tư tưởng, ngôn ngữ và cách kết cấu của riêngmình Họ sẽ đi đến cùng trong cái thế giới nghệ thuật của mình, trong niềm tinkhông thay đổi của mình Còn họ đúng hay sai, cái sự nghiệp văn chương của họ làtích cực hay tiêu cực là tùy thuộc sự đánh giá của bạn đọc ở mỗi thời…

Ông còn cho rằng: “Văn chương do con người làm ra để trao tặng cho con người một cách tự do nhất, ít bị ép buộc nhất Chỉ có văn chương mới tôn trọng mọi giá trị của cá nhân, tôn trọng mọi lựa chọn của cá nhân kể cả những thành kiến phi lý của họ Họ có quyền yêu mình hoặc ghét mình , tôn vinh mình hoặc nguyền rủa mình, chả sao cả Người viết cứ viết người ghét cứ ghét kể cả cái quyền ném sách vào lửa Cái mục đích “tải đạo”, “giáo dục” của văn chương không bao giờ lộ liễu, lộ liễu là văn chương tồi Vả lại chính người viết cũng không có ý định ấy, họ viết bằng tâm sự thành thật của mình, những trải nghiệm đau đớn của mình, họ viết cho họ trước rồi cho độc giả sau, có khi họ cũng chả nghĩ đến những người sẽ đọc họ, viết mà chơi thôi, viết để giải sầu rồi tự mình ngậm ngùi với mình, ứa lệ với riêng mình Chả trách ai cả, chả giận ai cả, cũng chả lên án một ai Vì không có vật cản nào nảy sinh trong ta khi đọc nên chữ nghĩa của tác phẩm cứ mặc nhiên trôi vào tận những kẽ ngách trong cái tâm sự u uẩn, những khát vọng thầm kín của riêng ta, đọng lại trong ấy, rồi cứ thẩm thấu dần dần vào cái thế giới tinh thần của ta một cách vô thức, giúp ta nhận ra một vùng sáng mới lạ nào đó, gột rửa một vài thành kiến, thay đổi một vài quan niệm, và ta vẫn nghĩ một cách khoan khoái là chính tự ta đã chủ động thay đổi, tuyệt nhiên không theo lời chỉ bảo của một ai cả, của một học thuyết nào cả, hoặc nhập vào một cách bất chợt một phong trào thời thượng nào cả Bất cứ cái gì xa lạ với bản tính của mình, với thói quen của mình, nói một câu, với những gì làm nên lai lịch của mình, chả sớm thì muộn đều bị đào thải để mình lại được trở về với cái nguyên gốc.”

Nguyễn Khải là một cây bút trí tuệ, luôn luôn suy nghĩ sâu lắng về nhữngvấn đề mà cuộc sống đặt ra và cố gắng tìm một lời giải đáp thuyết phục theo cáchriêng của mình Cho nên trong các tác phẩm của nhà văn, thông qua sự kiện xã hội,chính trị có tính thời sự nóng hổi, bao giờ cũng nổi lên những vấn đề khái quát có ýnghĩa triết học và đạo đức nhân sinh

Ông đã là một trong những nhà văn dẫn đầu của thời đại Sáng tác của ôngluôn luôn đánh dấu những biến chuyển của xã hội Giai đoạn 1945-1975 với nhữngnăm tháng đấu tranh gian khổ, tác phẩm của ông là một bằng chứng một tài liệutham khảo thực sự Và đọc tác phẩm Nguyễn Khải chúng ta sẽ hiểu con người thời

Trang 25

đại, với tất cả những cái hay cái dở của họ, nhất là cách nghĩ của họ, đời sống tinhthần của họ.

1.3.4 Nguyễn Minh Châu

1.3.4.1 Cuộc đời

Nguyễn Minh Châu sinh ngày 23 tháng 10 năm 1930 trong một gia đìnhnông dân khá giả, ở làng Thơi thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Là con úttrong gia đình có sáu anh chị em Nguyễn Minh Châu học hành khá chu đáo.Ônghọc ở quê rồi sau đó chuyển vào Huế học, đến đầu năm 1945 Nhật đảo chính Phápthì ông trở về quê và đã thi đỗ bằng thành chung Những năm đầu kháng chiếnchống Pháp Nguyễn Minh Châu tiếp tục học trung học trong vùng kháng chiến

Đầu năm 1950, Nguyễn Minh Châu khi đang là học sinh chuyên khoatrường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ An ông đã tình nguyện vào quân đội Sau mộtkhóa đào tạo ngắn của trường Lục quân, ông đã chuyển về sư đoàn 320 làm cán bộtrung đội Trong những năm 1950 - 1954 Nguyễn Minh Châu cùng đơn vị chiếnđấu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Sau năm 1954, ông tiếp tục phục vụ trong quân độilàm cán bộ tuyên huấn tiểu đoàn Năm 1959, Nguyễn Minh Châu đi dự Hội nghịBạn viết toàn quân, năm 1960 ông được điều về cục văn hóa quân đội, sau đó vềTạp chí quân đội vừa làm biên tập vừa làm phóng viên Tại đây, Nguyễn MinhChâu bắt đầu viết văn và cho in những truyện ngắn đầu tay nhưng chưa gây được

sự chú ý trong giới văn nghệ sĩ

Về đặc điểm con người Nguyễn Minh Châu, những bạn bè quen biết Ôngđều thấy dưới cái bề ngoài không có gì nổi bật, thậm chí hơi dè dặt, ngần ngại nóitrước đám đông nhưng ở bên trong là một con người nhiều ưu tư trăn trở, có niềmtin vững chắc vào sự lựa chọn của mình và một ý chí kiên định con đường đã lựachọn, dám chấp nhận mọi sự khó khăn, thử thách, có người gọi đó là “sự dũng cảmrất điềm đạm” Nguyễn Minh Châu là một nhà văn luôn suy nghĩ về chính côngviệc viết văn của mình, với ý thức trách nhiệm của ngòi bút trước thời đại, trướcdân tộc và trước bạn đọc Nhưng số phận nghiệt ngã với căn bệnh hiểm nghèo ungthư máu đã khiến hành trình sáng tác của Nguyễn Minh Châu phải đột ngột dừnglại khi vừa đạt tới độ chín của tài năng

Ngày 23 tháng 1 năm 1989 Nguyễn Minh Châu trút hơi thở cuối cùng tạibệnh viện quân y 108 Hà Nội Sau gần một năm chống chọi với bao bệnh, để lạinhiều dự định sáng tác còn đang ấp ủ

Trang 26

1.3.4.2 Sự nghiệp sáng tác

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu chia thành hai giai đoạn đó làtrước và sau năm 1975:

- Trước năm 1975:

Trước kháng chiến chống Mĩ bùng nổ trong cả nước, Nguyễn Minh Châu đã

có hơn 10 truyện ngắn và bút ký in trên tạp chí văn nghệ quân đội Nhưng phải đến

tiểu thuyết “Cửa sông” (1967) thì con đường sáng tác văn học của Nguyễn Minh Châu mới thực sự định hình Tiếp đó, tập truyện ngắn “Những vùng trời khác nhau” (1970) và nhất là tiểu thuyết “Dấu chân người lính” (1972) đã đưa Nguyễn

Minh Châu vào trong số những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn học chống Mĩ

“Cửa sông” là cuốn tiểu thuyết in đậm dấu ấn thời sự của những ngày đầu đất

nước bước vào cuộc chiến tranh chống Mĩ

- Sau năm 1975:

Ngay sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những hạn chế củanền văn học thời chiến tranh và thầm lặng nhưng dũng cảm và kiên định tìm kiếmcon đường đổi mới sáng tác của chính mình Hai cuốn tiểu thuyết xuất bản năm

1977: Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà đã đem lại những sắc diện mới trong

sáng tác của nhà văn Những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ra mắt bạn đọc ởnữa đầu những năm 1980 thực sự là những tìm tòi mới, với cái nhìn mới về hiệnthực và con người, khiến Nguyễn Minh Châu Đã trở thành một trong những người

mở đường tinh anh và tài năng nhất của công cuộc đổi mới văn học

Khi công cuộc đổi mới đất nước được chính thức phát động, Nguyễn MinhChâu đã nhiệt thành và tâm huyết với công cuộc đổi mới nền văn học nước nhà,vừa bằng những phát biểu trực tiếp, mạnh mẽ, vừa bằng những sáng tác đã đạt đến

độ sâu sắc của tư tưởng và sự kết tinh nghệ thuật cao Con đường đến với nghề văncủa Nguyễn Minh Châu cũng giống với nhiều cây bút cùng thế hệ của Ông như:Nguyễn Thi, Hồ Phương, Xuân Thiều, Lê Khâm…đó là một thế hệ đã cầm súngtrước khi cầm bút và chính sự trải nghiệm cuộc đời của người lính trong sự gắn bóvới nhân dân qua những năm tháng chiến tranh đã dẫn họ đến với con đường nghệthuật Nguyễn Minh Châu đến với con đường văn học khá muộn, truyện ngắn đầutay được in khi Ông đã 30 tuổi và đã có mười năm trong quân ngũ Nhưng chính

Trang 27

chặng đường 10 năm là sự chuẩn bị cần thiết cho sự bắt đầu con đường sáng táccủa nhà văn

số phận cá nhân và khát vọng hạnh phúc của con người là sự hòa nhập với tập thể,

cách mạng và cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa; thì con người trong văn học ViệtNam chặng 1965 - 1975 là mang vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng, của khuynhhướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc tatuy vô cùng ác liệt, dữ dội nhưng đã khơi dậy được sức sống tiềm tàng, ý chí đấutranh, tinh thần đoàn kết của con người Việt Nam Tất cả kề vai, sát cánh để phục

vụ tiền tuyến, hướng đến chiến thắng Văn học chặng này đã nhanh chóng “nhập cuộc”, khai thác và thể hiện con người “trên phương diện con người chính trị, con người công dân, nhưng mỗi cá nhân như là biểu hiện tập trung của ý chí, khát vọng và sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, thậm chí của thời đại, của nhân loại” Một số hình mẫu nhân vật mang đậm cảm quan nghệ thuật của nhà văn chúng ta có thể thấy như: cô giáo Thùy trong Cửa sông (1966), những người lính trong Dấu chân người lính (1972)… Có thể nói nhà văn Nguyễn Minh Châu đã

dành gần hai thập kỉ để khám phá và ngợi ca vẻ đẹp lung linh, kì ảo của cuộc sống

và tâm hồn con người trong chiến tranh với tâm niệm tất cả vì sự sống còn của dântộc, của đất nước

 Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975

Thời kì hậu chiến, Nguyễn Minh Châu đã có những tìm tòi và đổi mới sâusắc trong quan niệm nghệ thuật về con người Ông đã chú trọng khai thác nhiềukhía cạnh khác nhau trong tính lưỡng diện, đa diện và luôn biến đổi của con người

Trang 28

Trong tiểu thuyết Miền cháy (1977), hình ảnh người anh hùng trở về từ

chiến tranh hiện lên đầy tâm trạng Đó là sự khắc khổ, dằn vặt, bất an trước mảnhđất miền Trung xác xơ sau khói bom lửa đạn Người anh hùng kiên cường trongchiến đấu thì cũng phải bản lĩnh để đối mặt với ngổn ngang đổ nát, với bộn bề lotoan để quê hương nhanh chóng được hồi sinh

Tiểu thuyết Lửa từ những ngôi nhà (1977) của Nguyễn Minh Châu là sự phát triển của nguồn cảm hứng đã được khơi từ Miền cháy, vẫn là bộ mặt khắc khổ

của những người lính từng là anh hùng nơi chiến trường nhưng xa lạ với lo toanđời thường sau chiến tranh, sống bất an trong hoà bình

Phải đến với truyện ngắn Bức tranh (1987), sự thay đổi quan niệm nghệ

thuật về con người của Nguyễn Minh Châu mới được thể hiện trực tiếp, đầy đủ

Nhân vật người họa sĩ tự nhận thức “trong con người tôi đang sống lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ” Con người trong sáng

tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975 đã được đặt ra ngoài bầu không khí vô trùngvốn có, vừa đi vừa vấp ngã trước thế giới đa chiều đầy biến động Con người phảiđối diện với chính mình, với số phận của mình, với tư cách là một con người riêng

lẻ, không nhân danh ai, không dựa vào ai Hàng loạt những thể nghiệm sau Bức

tranh như Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Cỏ lau, Phiên chợ Giát đã làm cho quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh

Châu càng thêm vẹn đầy và sự biểu hiện quan niệm nghệ thuật đó càng thêm đadạng, phong phú

Điều cần phải khẳng định là con người trong sáng tác của Nguyễn MinhChâu sau 1975 vẫn tiếp nối đạo lí truyền thống của dân tộc, vẫn nuôi dưỡng hoàibão xây dựng quê hương giàu đẹp nhưng đã biết bám rễ trên mảnh đất hiện thực.Chúng ta có thể dễ dàng thấy điều này thông qua một số nhân vật như: Lực trong

truyện Cỏ lau, Hòa và Qùy trong truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành…

Đọc các tác phẩm Nguyễn Minh Châu viết trong thời kì đổi mới, độc giả dễdàng nhận thấy con người hiện lên qua mỗi trang văn của ông không phải là conngười nhất phiến mà là con người đa chiều và phức tạp, một con người được khámphá sâu đến cả đời sống riêng tư của họ Điều đó chũng ta có thể thấy rõ qua nhân

vật người đàn bà làng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa hay Hòa trong

Trang 29

truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành… Họ được xem là những hình

mẫu hoàn toàn mới khác hẳn với những con người trong tiểu thuyết, truyện ngắncủa Nguyễn Minh Châu trước 1975

Như vậy có thể nói, tiểu thuyết và đặc biệt là truyện ngắn của Nguyễn MinhChâu viết sau 1975 đã có sự thay đổi mạnh mẽ về quan niệm nghệ thuật về conngười, khẳng định những thành tựu nghệ thuật đặc sắc được hình thành từ sự dồnnén những trăn trở của nhà văn và những đóng góp của ông trong công cuộc đổimới văn học nước nhà Tìm hiểu sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước và sau

1975, chúng ta thấy quan niệm nghệ thuật về con người đã chi phối sự nghiệp sángtác của mỗi tác giả nói chung và của nhà văn Nguyễn Minh Châu nói riêng Sựbiến đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người là trung tâm mọi biến đổi củanền văn học, là tiêu chí để đánh giá sự đổi mới của một cây bứt hay của một thời

Năm 1950 , Ông gia nhập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, chủ yếu hoạt động

ở Tây Nguyên- chiến trường chính của Liên Khu V bấy giờ.Sau một thời gian ởđơn vị chiến đấu , ông chuyển sang làm phóng viên báo Quân đội nhân dân liênkhu V và lấy bút danh là Nguyên Ngọc

Ông được xem là một nhà văn quân đội , gắn bó mật thiết với chiến trườngTây Nguyên, từng được phong hàm Đại tá Quân Đội Nhân dân Việt Nam

Ông được xem là một chuyên gia về Tây Nguyên

Ngày 12/5/2015, trong một lá đơn được đăng tải trên mạng xã hội , nhà vănNguyên Ngọc cùng 19 nhà văn nhà thơ khác tuyên bố từ bỏ Hội nhà văn Việt Nam

kể từ ngày 11/5/2015

1.3.5.2 Sự nghiệp sáng tác

Trang 30

Từ năm 1954 - 1955, ông tập kết ra Bắc và viết tiểu thuyết Đất Nước Đứng lên, kể về cuộc kháng chiến chống Pháp của người BaNa, tiêu biểu là anh hùng

Núp và dân làng Kông- Hoa, dựa trên câu chuyện có thật của anh hùng Đinh Núp

Năm 1962 ông trở lại miền Nam, lấy bí danh là Nguyễn Trung Thành, hoạtđộng ở khu V, là chủ tịch chi hội văn nghệ giải phóng miền trung trung bộ.Phụtrách Tạp Chí Văn Nghệ Quân giải phóng của quân khu V Thời gian này ông sáng

tác truyện Rừng Xà Nu.

Năm 1965, ông đạt giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu với Rừng Xà

Nu Gải thưởng Hoa Sen của hội nhà văn Á Phi

Sau chiến tranh, ông có thời gian làm phó tổng thư kí Hội Nhà Văn ViệtNam, Tổng biên tập báo Văn Nghệ

Các tác phẩm chính của ông như: Đất Nước Đứng Lên, Đường Chúng Ta

Đi, Rừng Xà Nu, Cát Cháy, Lắng Nghe Cuộc Sống (Nhà xuất bản văn nghệ TPHCM , 2005), Các bạn tôi ở trên ấy (Nhà xuất bản trẻ 2013).

Bút Ký Các bạn tôi ở trên ấy viết về Tây Nguyên của ông được giải thưởngvăn xuôi năm 2013 của Hội Nhà Văn Hà Nội

Trang 31

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TIÊU BIỂU CỦA 5 TÁC GIẢ

TRONG GIAI ĐOẠN 1945-1975 2.1 Một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Quang Sáng

2.1.1 Con chim vàng (1956)

2.1.1.1 Tóm tắt

Đây được xem là truyện ngắn đầu tay của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.Năm 1956, tác phẩm này được in trên tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn ViệtNam Lúc đó nhà văn 24 tuổi Hai năm sau, tập truyện ngắn đầu tiên cùng tên Conchim vàng được Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành

Truyện kể về cậu bé nghèo tên là Bào mười hai tuổi phải đi bắt con chimvàng cho cậu bé con bà chủ tên là Quyên kém cậu hai tuổi Quyên là con nhà chủnên có cuộc sống ấm êm hơn Bào nhiều, mỗi lần nó nhìn thấy con chim vàng làBào vô cùng thích thú có hôm nó nằm mơ thấy bắt được con chim và nhốt vàolồng đút mồi cho ăn nó mừng tới nỗi cười hít cả mắt Còn ngược lại với Bào làthằng Quyên nó là là đứa ở chăn trâu cho nhà này Mỗi đêm Quyên phải trằn trọctìm cách bắt được con chim cho con bà chủ Nếu nó không bắt được thì sẽ khôngđược ăn cơm Nên Bào rất ghét con chim vàng Dù Bào có nghĩ ra cách gì thì cũngđều không bắt được con chim vàng một cách nguyên vẹn và ngược lại đều bịnhững trận roi đánh đập Trải qua nhiều vất vả, không còn cách nào hơn nữa, Bàoquấn cây lá đầy mình, trèo sẵn lên cây từ sáng sớm Nhánh cây trứng cá mềm quằnxuống Bào thụt vô, dựa lưng vào cành to.Sự cố gắng của Bào ngớ được đền đápkhi cậu chụp dính được con chim nhưng không, Bào có cảm giác như khi mìnhđuổi theo trâu bị sụp những hầm giếng cạn, ruột thót lên Hai chân Bào sụp vàokhông khí, tay bơi bơi mặt Bào tối đen Bào rơi xuống như trái thị Mặt Bào đậpvào gốc cây, máu, nước mắt đầm đía cả mặt Sau cú ngã dập vào gốc cây, saunhững giận dỗi của cậu chủ, cậu bé Bào đành xót xa đau đớn khi nghe tiếng tắc

lưỡi của bà mẹ thằng Quyên: "Trời! Con chim vàng của con tôi chết rồi!".

2.1.1.2 Chủ đề

Tác phẩm là một câu chuyện mang tính nhân văn sâu sắc rất cao trong mọithời đại Truyện gợi cho người đọc những suy nghĩ sâu lắng về các vấn đề thiếtthân trong cuộc sống Ta có cảm giác truyện không hẳn là truyện mà nó còn như

Trang 32

một lá thư, một lời tâm sự ông muốn gửi đến người đọc về những suy ngẫm củaông đối với con người và cuộc sống ngày hôm qua và cả ngày hôm nay.

2.1.1.3 Hình tượng nhân vật

Mang tiếng là truyện ngắn mà nội dung thì không ngắn, đó là vấn đề kháphổ biến Viết về những nhân vật có thực trong xã hội bấy giờ một tầng lớp giaicấp thống trị có tiếng nói có quyền lợi và một giai cấp bị trị không có tiếng nóikhông có được sự tự do Một cậu bé mười hai tuổi phải đi ở đợ vì mắc nợ nhà nàythằng Quyên hai thúng thóc Đều là con người như nhau chỉ khác ở xuất thânnhưng hai con người đã có sự đối lập rõ rệt một người thì được nuông chiều muốn

gì được đó, còn người kia phải lao động chăn trâu rồi còn phải tìm cách thỏa mãn

sự vui chơi thích thú của con chủ, có nhưng cái vô lý đến khó có thể chấp nhậnđược nhưng Bào nhân vật trong truyện vẫn phải làm Nguyễn Quang Sáng đã khéoléo đi vào từng mảng nhỏ của đời sống, ngòi bút của ông đã phát hiện ra vẻ đẹptrong cuộc sống và trong sức mạnh tinh thần của nhân vật dù bao lần bị đòn roinhưng cậu bé Bào không nản, cậu vẫn luôn tìm cách bắt con chim vàng cho thằngQuyên Qua đó ta thấy được tâm hồn trong sáng của cậu, cho đến kết thúc truyện

cậu vẫn hy vọng rằng đôi tay cậu giơ lên sẽ có người vớ lấy “Mắt bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng vớ được ai” Chính trên bối cảnh của cuộc sống ấy nhà văn đã giúp ta

đi tới khám phá một cách đúng đắn và sâu sắc về con người vô cảm, nhẫn tâmtrước những gì mình nhìn thấy ngay trước mắt

Chính vì lẽ đó mà truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng không phải là thứ trangsức mỏng mảnh mà thời gian dễ làm phai mờ Đó là hiện thực cuộc sống tự biểuhiện trong cái phần sâu lắng nhưng trữ tình, mãnh liệt và kì diệu Nhìn chung, bútpháp Nguyễn Quang Sáng thể hiện qua các truyện ngắn là một bút pháp giàu tínhtrữ tình và có một tầm khái quát cao

2.1.1.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

- Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật:

Ở trong truyện ngắn này ta có thể thấy ngoại hình nhân vật không được nóiđến nhiều chỉ là nói về tuổi và thân thế còn ngoài hình thì chỉ là miêu tả sơ qua về

chú chim vàng “Mấy hôm nay có con chim cánh vàng như nghệ, mỏ đỏ như son, ngày nào cũng sà cánh đáp xuống đây Hai chân nó quấn chặt vào cành, thòng

Trang 33

mình xuống, nghểnh cổ lên, đưa mỏ đỏ gắp lấy sâu Ăn no, nó rũ cánh rỉa lông Nó nhảy nhót, hót líu lo” Có lẽ là một truyện ngắn mang tính nhân văn nên nhà văn ít

trau chuốt về nghệ thuật miêu tả ngoại hình hay nhà văn có dụng ý khác là mìnhđừng quan tâm tới dáng vẻ bề ngoài mà hãy tập trung vào nhân cách cũng như làhành động của nhân vật trong truyện Ngoại hình nhân vật không nói lên được tínhcách và phẩm chất con người

- Nghệ thuật khắc họa nội tâm nhân vật:

Trong Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975) một công trình có giá trị, nhữngthành tưạ trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng được xếp ngang hàng với các

"bậc đàn anh": Kim Lân, Tô Hoài, Hồ Phương " nhiều truyện ngắn tập trung côđúc, chứa đựng một dung lượng lớn cuộc sống được dồn nén Với những tìnhhuống điển hình, những chi tiết sinh động, nhiều truyện ngắn có cốt truyện hấpdẫn, xây dựng được nhiều nhân vật và cuộc đời có số phận riêng, có tâm hồn vàtình cảm tinh tế

Trong truyện dài, người viết có thể dừng lại khá lâu nhân nhá để miêu tảcảnh vật thiên nhiên để thể hiện tâm trạng nhân vật, Còn trong truyện ngắn thể

loại mà chính Nguyễn Quang Sáng nhận định: "Nó đòi hỏi nhà văn phải có khả năng thể hiện một cách tập trung và cô đọng phải biết chọn những điển hình, những chi tiết thật đắc, tự nó chống lại cái bệnh lan man và rề rà." Trong truyện ngắn “Con chim vàng” tác giả cũng không nói cụ thể lời độc thoại của nhân vật Bào mà tác giả chỉ nói “Có lúc nghĩ thấy con chim bị bắn nát đầu, rơi xuống, vài sợi lông vàng bay theo, Bào hả dạ lắm !” hay:

“Đêm nằm Bào có ngủ được đâu Bên mái nhà lụp sụp, tiếng võng kẽo kẹt, giọng hát ru em văng vẳng:

Ầu ơ Chim chuyền nhành ớt líu lo,

Mảnh sầu con bạn ốm o gầy mòn

Thằng Quyên nằm trên nệm, thiêm thiếp Nghe hát đến chim, nó nhào dậy, khóc: "bắt chim cho con, má!".

Bào nghe Quyên khóc, lại lo ngày mai không có con chim vàng Bào ngồi dậy, dựa lưng vào chuồng trâu, nhìn ra Trời mênh mông, trăng sáng vằng vặc Bào rón rén bước ra cây trứng cá, nhìn lên Lá khẽ xao động như bầy chim mê

Trang 34

ngủ Bào lấy đất vụt lên Đất rơi tòm xuống ao cá Con chim vàng không có ngủ ở đây, nó đâu rồi kìa! Bào ngồi xuống gốc trứng cá, xoa xoa mái đầu trọc hếu như

sọ dừa Bào đã tìm ra kế Nhân lúc chăn trâu, Bào chặt nhánh ổi, lấy mảnh vỏ ốc chuốc thành nạng Bào buộc dây thun vào, giương, buông, bắn vù vù Bào vò luôn

10 viên đạn Được rồi, nhất định bắn rơi con chim vàng.”

Trong truyện ta thấy có rất ít những câu thoại tự nói với bản thân mình haycòn gọi là độc thoại nội tâm cái mà tác giả Nguyễn Quang Sáng đưa ra ở đây lànhững suy nghĩ rồi mới dẫn tới hành động

- Nghệ thuật miêu tả hành động

Có thể nói, tâm lý nhân vật Bào đi đôi với hành động trong những lúc nóichuyện với mẹ thằng Quyên thì Bào luôn có một nỗi sợ nên cậu luôn luôn phảiphòng thủ dù cậu nhận thức rõ vai vế của mình là bề dưới Cậu sợ cậu lại bị đánhnên tâm lý của cậu cũng giống như bao đứa trẻ bình thường là vì sợ mà phải chạy

“Bào định năn nỉ, mẹ nó đã chõ vào:

- Con tao chơi chim sống chớ giỗ cha mày đâu mà bắn chim cho chết!

Bào trả lời:

- Nó có cánh không bắn làm sao bắt được.

Mẹ thằng Quyên xấn tới, giận dữ:

- Tao không cấm mày bắn, mày muốn bắn mấy cái thì bắn, miễn đừng chết, đừng què, đừng gãy cánh chim của con tao thì thôi.

Bào tức quá:

- Không trúng làm sao bắt được.

Mẹ thằng Quyên nổi lửa lên, nó giận đứa ở dám cãi lại, nó bảo:

- Mày bắn cho nó giật mình, chết giấc té xuống không được hả!

Mái đầu Bào cúi xuống, nhè nhẹ lui một bước Môi Bào mím lại, mắt liếc mẹ thằng Quyên, tay run run nắm chặt vạt áo trì xuống Bào giận sôi lên, quên mình là đứa

ở, liệng giàn thun trước mặt nó, cự lại:

- Bà giỏi bà bắn đi!

Trang 35

Nó quơ cây rượt theo Bào, liệng vun vút.”

Hay còn một đoạn đối thoại nữa: “- Mày gạt con tao ăn cắp chuối hả?

Bào lui luôn mấy bước, nép mình vô tường, mặt lấm lét:

- Dạ thưa bà, con xin chuối chín làm mồi bắt chim cho cậu.

- Chuối tao cúng thổ thần, chuối tiền chuối bạc, chuối gì chuối cho chim ăn Mày trèo lên cây bắt sống nó cho tao.

Mẹ thằng Quyên vừa chửi vừa nhìn quanh quất kiếm cây Bào liệng cái bẫy, chạy mất ”

Hành động của nhân vật chính là yếu tố để bộc lộ quá trình phát triển tínhcách nhân vật; hơn thế nữa, nó còn góp phần thúc đẩy diễn biến cốt truyện Cũngthế, người ta nhận xét truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng nhiều kịch tính bởi các

"nhân vật thường được đặt trong các biến cố, tăng tiến theo trôn ốc, để qui tụ vềđiểm cơ bản của tính cách" như đoạn vừa nêu lên ta cũng thấy được điều đó

- Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ nhân vật:

Ngôn ngữ, đó chính là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặctrưng của văn học Không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm văn học, bởi vìchính ngôn ngữ chứ không phải cái gì khác đã cụ thể hóa và vật chất hoá sự biểuhiện của chủ đề và tư tưởng, tính cách và cốt truyện" Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên

mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác phẩm; nó cũng là yếu

tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của người đọc với tác phẩm: có lẽ vì thế M

Gorki đã viết: "Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và

- cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống - là chất liệu của văn học".

Trong tác phẩm ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện

cá tính sáng tạo, phóng cách, tài năng của nhà văn Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữtrong tác phẩm trước hết là nghệ nhuật sử dụng từ ngữ Trong những truyện ngắn

của Nguyễn Quang Sáng theo như lời tâm sự của chính nhà văn: "Văn tôi không có câu nào thật hay, đều đều như vậy cả thôi” Nhưng trong nghệ thuật ngôn từ nhà

văn tỏ ra khá sắc sảo trong việc thể hiện nhân vật, do trọng tâm của đề tài là tìmhiểu nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng nên cũng chỉ tập trung vàocác khía cạnh: ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật và giọng điệu kể.Như trong truyện “Con chim vàng” ngôn ngữ được sử dụng một cách linh hoạt gần

Trang 36

gũi với phong cách sinh hoạt thường ngày của người dân, mang âm điệu sắc thái tựnhiên

“- Mày đừng rung chớ!

Mẹ thằng Quyên nhìn theo con chim mình vàng như nghệ mỏ đỏ như son không chớp mắt:

- Bào! " con" nín thở cho êm con Ráng con!

Con chim bay qua nhảy nhót trước mặt Bào vừa thò tay, nó nhảy ra nhánh Thằng Quyên há mồm hồi hộp:

- Bắt mau, mau!

- Đó, đó! Nó nhảy vô đó con, chụp, chụp!”

Phải tìm kiếm một cách công phu, lựa chọn một cách nghiêm khắc trongbiển từ ngữ để đặt vào miệng, nhân vật của mình lời ăn tiếng nói phù hợp TheoSedrin: "Từ cửa miệng một người nói ra không hề có lấy một câu nào mà lại khôngthể truy nguyên lên đến cái hoàn cảnh đã khiến cho nó xuất hiện Trong cuộcsống không thể có những hành động, những câu nói mà đằng sau lại không có mộtlịch sử riêng" Nhân vật của Nguyễn Quang Sáng đa dạng, ngôn ngữ nhân vậtNguyễn Quang Sáng vì thế cũng phong phú, nhiều giọng điệu, nhưng đều thốngnhất ở chỗ nhân vật dùng nhiều khẩu ngữ Nam bộ văn nói, nên ngắn, gọn, dí dỏm,đối thoại chiếm ưu thế hơn độc thoại nội tâm

- Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện

Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là

sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên

cơ sở đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định Nói đếnkết cấu nghệ thuật là nói đến toàn bộ những yếu tố, thành phần được sắp xếp gắnliền với nhau theo một kiểu tổ chức nhất định Tìm hiểu kết cấu của tác phẩm làtìm hiểu bước đi của nội dung và bước đi của hình thức Kết cấu là một trongnhững nhân tố quan trọng tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm Nhà văn phải tổchức tác phẩm sao cho cái chính yếu được nổi bật, cái quan trọng gây được ấntượng mạnh mẽ Kết cấu tác phẩm thể hiện quá trình vật lộn của nhà văn với tàiliệu sống, để biển hiện một chân lí khái quát Kết cấu cũng thể hiện tư tưởng củanhà văn

Trang 37

Tình huống trong truyện ngắn “Con chim vàng” hết sức gần gũi nhưng ít ai

lại quan tâm và có tầm nhìn bao quát như tác giả Lấy cái thú vui ham muốn của trẻcon mà lại làm gánh nặng cho người khác, bắt người khác phải làm theo nhưngđiều mình mong muốn, ép buộc con người ta phải “Không còn cách nào hơn nữa,Bào quấn cây lá đầy mình, trèo sẵn lên cây từ sáng sớm Nhánh cây trứng cá mềmquằn xuống Bào thụt vô, dựa lưng vào cành to.” Và khi cậu bé bị té xuống gốc câythì lại không bằng một cái xác của một con chim, đôi tay đó giơ ra thì lại không ainắm mà lại đi thương tiếc cho một chú chim bất hạnh Chính lẽ ra con người đangnằm chỗ gốc cây đó mới đáng được quan tâm vậy mà tình nghĩa con người lạikhông hề tồn tại chính trong câu chuyện đó

Nhìn chung, các tác giả của các bài viết đều nhất trí đánh giá cao truyệnngắn của Nguyễn Quang Sáng : đặc sắc trong lựa chọn chi tiế, linh hoạt trong kiếntạo cốt truyện, nhiều rẽ ngoặt bất ngờ, lôi cuốn, kịch tính cao nhưng cũng rất đậmmàu sắc trữ tình cũng như sự đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Tuyđược đánh giá cao, nhung vẫn chưa có một công trình "dài hơi" nào về NguyễnQuang Sáng để tìm hiểu cũng như đánh giá thỏa đáng về ông

2.1.1.5 Điểm nổi bật của nghệ thuật trần thuật

Kiểu kết cấu tái hiện và hồi cố của Nguyễn Quang Sáng rất cần một giọng

kể mượt mà nhịp điệu sâu lắng, để làm cho người đọc đủ kiên nhẫn lần theo đườngdẫn

M Gorki nói: "Trong tiểu thuyết; trong truyện, những con người được tác giảthể hiện, đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả; Tác giả luôn luôn ở bên họ,mách cho người đọc biết rõ cần phải hiểu họ như thế nào, giải thích cho người đọchiểu những ý nghĩ thầm kín, những động cơ bí ẩn ở phía sau hành động của cácnhân vật, tô đậm thêm cho tâm trạng của họ bằng các đoạn mô tả thiên nhiên, trìnhbày hoàn cảnh, và nói chung là luôn luôn điều khiển họ theo mục đích của mình,chỉ huy một cách tự do và khéo léo Mặc dù người đọc không nhận thấy nhữnghành động, những lời lẽ những việc làm những mối tương quan của họ? Ngôn ngữngười kể chuyện cũng bộc lộ dưới nhiều hình thái khác nhau

“Thằng Quyên quen tính được mẹ nuông chiều, không vừa ý cái gì là nógiãy nảy lên Nó đưa chân đạp nhẹp mấy con trâu đất, khóc ré lên Nó khóc mà

Trang 38

không chảy nước mắt Bào không khóc mà nước mắt cứ tuôn ra Bào tức, sợ vàtiếc Bào lượm lại từng cục đất, nắn nót lại cái đầu cái chân.

Thằng Quyên vẫn khóc, nó nhào tới chụp lấy đất liệng tới tấp vào mặt Bào,rồi nhào lăn ra thềm, đập chân đành đạch, gào lên: "mày bắt con chim vàng chotao, má ơi !"

Mẹ nó tới, hầm hầm như bị ai giết con, nó quơ cả trâu đất, cả chiếc nón lárách đội giữ trâu của Bào liệng tung ra sân, rồi xỉa xói mặt Bào.”

Người kể chuyện từ ngôi thứ ba - đây là kiểu kể chuyện phổ biến nhất màcác nhà văn thường sử dụng trong sáng tác của họ Hình tượng tác giả và người kểchuyện hòa làm một và tác giả là người kể chuyện vô nhân xưng đứng ngoài tácphẩm của mình Tuy nhiên bóng dáng của người kể chuyện vẫn tháp thoáng tronggiọng kể, qua những từ ngữ, chi tiết mà tác giả sử dụng để truyền đến cho ngườiđọc thái độ yêu ghét của họ

2.1.2 Chiếc lược ngà (1966)

2.1.2.1 Tóm tắt

Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến từ khi con gái ông vừa tròn tuổi Sau hiệpđịnh kí kết lập lại hoà bình cho đất nước ông được về phép thăm con gái và giađình Với lòng mong mỏi được gặp con của mình, ông khát khao được nhận congái

Nhưng bé Thu, con gái ông không nhận ông là cha chỉ vì vết sẹo trên mặtkhông giống với bức ảnh ông chụp với vợ ông lúc cưới Không những thế, bé Thucòn đối xử với ông như người xa lạ, luôn xa lánh anh Sáu Anh khổ tâm vô cùng.Trong suốt ba ngày nghỉ phép, ông không đi chơi đâu, chỉ quanh quẩn ở nhà chămsóc con, mong được gần gũi và được con gái mình gọi một tiếng cha thiêng liêng ýnghĩa Cho đến tận giây phút cuối cùng chia tay mọi người để ông trở lại chiếnkhu, thì bất ngờ bé Thu thét gọi cha mình trong niềm xúc động mãnh liệt

Trở lại chiến trường, ông mang theo lời hứa sẽ mua cho con chiếc lược.Tháng ngày ở chiến khu, với lòng nhớ con khôn nguôi, ông dồn toàn bộ tâm sức,tình thương của mình vào việc khắc tặng con một chiếc lược bằng ngà voi, mongngày chiến thắng trở về yêu tặng con mình Nhưng thật không may, trong một trậncàn quét của địch, ông Sáu bị thương nặng

Trang 39

Trước lúc nhắm mắt, ông chỉ kịp trao lại cho ngưòi bạn của mình là ông Bachiếc lược với lời nhắn hãy trao tận tay con gái bé bỏng của ông món quà thiêngthiêng này Thực hiện nguyện ước của bạn mình như đã hứa, ông Ba đã trao tận tay

bé Thu chiếc lược khi cô đã là cô giao liên giỏi giang, dũng cảm mưu trí

2.1.2.2 Chủ đề

Chủ đề nổi bật của “Chiếc lược ngà” đó là tình cảm cha con sâu nặng và

cảm động của người chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâmlược, bảo vệ Tổ quốc

2.1.2.3 Hình tượng nhân vật

Ông Sáu – người chiến sĩ cách mạng, người cha với tình yêu thương con vô bờ bến

Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến, mãi đến khi con gái ông lên 8 tuổi, ông mới

có dịp về thăm nhà, thăm con Bé Thu không chịu nhận cha vì vết thẹo trên mặtlàm ba em không giống với người chụp chung với má trong bức ảnh mà em đãbiết.Thu đối xử với ba như người xa lạ, đến lúc hiểu ra, tình cha con thức dậymãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải lên đường Ở khu căn cứ, bao nỗithương nhớ con, ông dồn vào việc làm cho con cây lược Ông hi sinh trong mộttrận càn của Mỹ ngụy Trước lúc nhắm mắt, ông còn kịp trao cây lược cho mộtngười bạn Tình đồng đội, tình cha con của ông Sáu được miêu tả thật cảmđộng,làm sáng ngời vẻ đẹp của người lính Cách mạng, của người cha yêu con

- Vẻ đẹp người lính Cách mạng:

Vẻ đẹp của nhân vật ông Sáu mà người đọc cảm nhận trước hết là vẻ đẹpcủa người lính Cách mạng Kháng chiến bùng nổ, ông Sáu từ giã những gì thânthương nhất: con thơ, vợ trẻ lên đường làm Cách mạng Khi ông ra đi, bé Thu, congái đầu lòng, cũng là đứa con gái duy nhất của ông chưa đầy một tuổi.Vậy mà,đằng đẵng suốt những năm kháng chiến, ông không một lần về thăm con,bởi vớinhững người lính “đâu có giặc là ta phải đi” Họ đã gác tình riêng, vì nghĩa lớn đểrồi ngày kháng chiến thắng lợi, ông được nghỉ phép về thăm nhà, thăm con Tronglợi to lớn của dân tộc, có phần xương máu mà ông Sáu đóng góp

- Vẻ đẹp của người cha với tình yêu thương con vô bờ bến:

Cảm động nhất, để lại ấn tượng nhiều nhất cho người đọc không chỉ là hìnhảnh người chiến sĩ cách mạng mà đó còn là tình phụ tử thiêng liêng, sâu đậm –tìnhyêu thương mà ông Sáu dành cho đứa con gái

Trang 40

Được về thăm nhà sau bao năm ở chiến khu, khao khát đốt lòng ông Sáu làđược gặp con, được nghe con gọi tiếng ba, được sống trong tình cha con mà bấylâu nay ông chưa được sống Vì thế, về gần tới nhà, thoáng thấy bóng con, khôngchờ xuồng cập bến, ông nhón chân nhảy thót lên xô chiếc xuồng tạt ra Ông bướcvội vàng những bước dài Cái tiếng gọi ông phải kìm nén bao lâu nay bỗng bật rathật cảm động, làm người đọc thấy nghẹn ngào: -“Thu! Con” Ngược lại với điềuông mong muốn, đứa con gái ngơ ngác, hốt hoảng rồi vụt chạy và kêu thét lênkhiến người cha đau khổ, hai tay buông thõng như bị gãy Rồi suốt ba ngày nghỉphép, ông không dám đi đâu xa, chỉ quanh quẩn gần con Song, ông càng xích lạigần nó càng lùi xa; ông càng khao khát được nghe tiếng “ba” từ lòng con, nó càngkhông gọi Bị con cự tuyệt, ông Sáu đau khổ không khóc được phải cười.

Trước giờ phút lên đường chia tay con, ông muốn ôm con, nhưng lại sợ conkhông nhận đành chỉ nhìn Song chính trong lúc này, tình cảm dành cho người cha

ở bé Thu òa ra mãnh liệt Nó cất tiếng gọi “ba”, ông xúc động đến phát khóc và

“không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khănlau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc của con”.Người chiến sĩ ấy nước mắt đã khô cạnnơi chiến trường, giờ đây là những giọt nước mắt hiếm hoi – nước mắt của niềmhạnh phúc và tình cha con Thương con, chia tay con, ông Sáu hứa sẽ mua cho concây lược

Tình cảm của ông Sáu đối với con còn được nhà văn thể hiện rất cảm độngkhi ông ở khu căn cứ Nỗi day dứt, ân hận ám ảnh ông suốt nhiều ngày là việc ông

đã đánh con khi nóng giận Rồi lời dặn của con: “Ba về ba mua cho con một câylược nghe ba” đã thôi thúc ông nghĩ đến việc làm cho con một cây lược bằng ngà

Làm cây lược trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩncủa tình yêu thương con Kiếm được khúc ngà voi, ông Sáu hớn hở như một đứatrẻ được quà và ông dành hết tâm trí, công sức vào việc làm ra cây lược Hãy ngheđồng đội của ông kể lại: “Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng,

tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc” Phải chăng, bao nhiêu tình yêu thương conông dồn vào việc làm cây lược ấy? Rồi ông gò lưng tỉ mẩn, khắc từng nét chữ lênsống lưng lược: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” Cây lược ấy, dòng chữ ấy là tìnhyêu, là nỗi nhớ thương, sự ân hận của ông đối với đứa con gái Những lúc rỗi cũngnhư đêm đêm nhớ con ông thường lấy cây lược ra ngắm ngía, rồi mài lên tóc chocây lược thêm bóng, thêm mượt Làm như vậy, có lẽ ông không muốn con ông bịđau khi chải lược lên tóc Yêu con, ông Sáu yêu từng sợi tóc của con Người đọccảm động trước tấm lòng của người cha ấy Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ

Ngày đăng: 18/03/2021, 12:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w