1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ chữ hán trên điện thái hòa một di sản tư liệu có giá trị khi nghiên cứu thời nguyễn 1802 1945 ở việt nam

18 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 10,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có khi, các ô chữ là một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt; có khi chỉ là hai câu của một bài thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú thường được thể hiện nối tiếp, muốn có một tài hoàn chỉnh phải

Trang 1

THƠ CHŨ HÁN TRÊN ĐIỆN THÁI HÒA, MỘT DI SẢN T ư LIỆU CÓ GIÁ TRỊ

(1802- 1945) Ở VIỆT NAM

Nguyễn Phước Hải Trung*

1 Tổng quan về th ơ trên công trình kiến trú c triều Nguyễn ở Huế và điện Thái Hoà

1.1 Thơ trên công trình kiến trúc Nguyễn ở Huế

So với các loại kiến trúc cung đình của các nước đồng văn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, kiến trúc cung đình triều Nguyễn ở Huế có một đặc trưng riêng biệt, đó là hiện tượng khắc chìm, chạm nổi, sơn son, thếp vàng, cẩn xà cừ, viết trên nền pháp lam các bài thơ chữ Hán lên công trình kiến trúc Hầu hết các công trinh quan trọng như cung điện, lăng tẩm, gác tạ v.v đều có thơ chữ Hán Hiện nay, trên hệ thống kiến trúc này ở Huế có trên 3.500 đơn vị ô thơ chữ Hán

Thơ được thể hiện trên các di tích cung đình Huế khá đa dạng về phương thức,

về chất liệu, về kiểu dáng và về cả vị trí tồn tại Thơ được khắc chìm, chạm nổi trên các liên ba1, đố bản bằng gỗ tại các công trình kiến trúc, được thếp vàng chữ, sơn son nền như ở nội thất điện Thái Hòa, Hưng Miếu, Ngọ Môn (Đại N ội) được thếp vàng chữ, nền sơn các màu như ở nội thất điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng) Thơ được viết trên nền đồng rồi tráng men (pháp lam) với nhiều màu sắc (chủ yếu chữ màu đen hoặc xanh) như ở cổ diêm2, bờ nóc, bờ quyết lầu Ngũ Phụng, điện Thái

' ThS Ngôn ngữ học, Giám đốc Bảo tàng c ổ vật Cung đình Huế.

1 Cồ diêm ( í Mí): Dải nối giữa hai tầng mái trong một kiến trúc truyền thống.

2 Liên ba ( S ffi): Dải ván (hoặc vôi vữa^) nổi giữa hệ thống cột trong một kiến trúc truyền thống Trong các tài liệu chừ Hán về triêu Nguyễn, liên ba vôn là xuyên hoa (Jl| ) hoặc

xuyên hoa (JI|?È ) dân gian vẫn quen gọi là liên ba. ơ đây, chữ ba (IÈ) thực chất là chữ hoa (?Ê), do kỵ húy tên bà Hồ Thị Hoa (mẹ cùa vua Thiệu Trị) nên các chừ hoa trong cách viêt

và nói từ triều Thiệu Trị trở về sau đều đổi là ba hoặc đổi bằng chừ khác (chợ Đông Hoa đổi thành Đông Ba, tinh Thanh Hoa đồi thành Thanh Hóa, củi hoa đổi thành cái bỏng, cái ba: bông ba hoa quả. Vua Thiệu Trị có câu thơ thơ: Đạn phi âu lộ vũ tàn ba: Đạn bay, chim âu, chim lộ như cánh hoa tàn tạ trong mưa).

571

Trang 2

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T Ư

Hòa, điện Ngưng Hy (lăng Đồng Khánh), Bi Đình (lăng Minh M ạng) Có khi, các

ô chữ là một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt; có khi chỉ là hai câu của một bài thất ngôn

tứ tuyệt, thất ngôn bát cú thường được thể hiện nối tiếp, muốn có một tài hoàn chỉnh phải ghép lại mà thành; có khi cả ô chỉ là một đại tự, nhiều ô liên tục ihư vậy

mà ghép thành một bài thơ, cũng có khi một ô lại là một “rừng chữ” với sự xếp đặt cầu kỳ (như hai bài thơ hồi văn kiêm liên hoàn của vua Thiệu Trị ở đố làn điện Long An)

Bên cạnh đó, các ô thơ tại di tích Huế còn thể hiện khá rõ về tính ia dạng trong hình thức thể hiện qua các lối thư pháp chân, thảo, triện, lệ, đã tạo nên sự sinh động giàu tính thẩm mỹ qua nét chữ tượng hình Chính tất cả những đặc điển mang tính hình thức này đã phản ảnh trình độ nhận thức văn hóa, nhận thức thẩm mỹ cao trong hoạt động sáng tạo thời bấy giờ

Tiêu biểu nhất thuộc hệ thống thơ trên kiến trúc Nguyễn ở Huế là các tài được chạm khắc trên điện Thái Hoà - một biểu tượng tối cao của thể chế quân chủ thời bấy giờ

1.2 Điện Thái Hoà và thơ trên điện Thải Hoà

1.2.1 Điện Thải Hoà

Điện Thái Hòa (À ÍO P Ỉ) là công trình quan trọng nhất trong Hoàng Thành ( J Ê $ ) Huế, làm nơi đặt ngai vua và tổ chức các lễ đại triều từ năm 1805 (từ khi xây dựng) đến năm 1945 (từ khi chấm dứt chế độ quân chủ ở Việt Nam) Trải qia nhiều thời kỳ tu sửa, trùng tu, nhưng về cơ bản, ngôi điện này vẫn còn bảo tồn được những giá trị, nhất là về các chi tiết trang trí giàu tính thẩm mỹ và nhân văn của nỏ Điện Thái Hòa nằm trên trục chính của Hoàng Thành, có kết cấu theo kiểu

“trùng diêm trùng lương” 1, là một kết cấu gồm hai phần nhà trước và nhà sau (đều

7 gian 2 chái) được nối với nhau bằng một hệ thống trần thừa lưu2 Ngôi dện này được xây dựng trên mặt bằng có chiều dài hơn 40m, chiều rộng hơn 30m với diện tích ước tính trên 1.200m2 Nóc nhà trước cao hơn 8m, nóc nhà sau cao hơn lOm Toàn bộ công trình được kết cấu có tính kỹ thuật từ 80 cột gỗ liên kết với nhíu bằng một thống vì kèo, xuyên, trến rất vững chắc 80 cột gỗ này đều được sơn íon thếp vàng, trang trí bằng mô-tip long vân thủy ba (rồng ẩn vân và sóng nước)

1 Trùng diêm trùng lương ( M M %&): trùng mái, trùng xà Phần cuối mái sau cùa nhà trước, phần đầu mái trước của nhà sau và hệ thống xà đỡ có độ cao trùng với nhai, nối kết bằng trần thừa lưu.

2 Trần thừa lưu 3ÍĨ ): Là hệ thống máng xối với hai phần: phần đỡ phía dưới thiờng làm bằng gồ, phần máng xối bên trên thường làm bằng đồng, còn gọi là trần vỏ cua vì độ cong của trần có hình như một cái vỏ cua.

Trang 3

TH Ơ C H Ữ HÁN TRÊN Đ IỆN THÁI HÒA.

Dệc biệt, ở nội thất cũng như ngoại thất, ở tiền điện cũng như hậu điện tại các

vị trí ìhư bờ nóc, cổ diêm, liên ba điện Thái Hòa đều thể hiện mô-tip trang trí nhất thi nhất họa (một bài thơ, một họa tiết) ở hai dạng chất liệu chủ yểu là viết trên nền pháp an và chạm khắc trên gỗ, sơn son thếp vàng Nếu cho ràng, các hoạ tiết mang tính hội họa là biểu hiện vật thể cùa đặc điểm thẩm mỹ thì cũng có thể cho rằng các bài tíư à những biểu hiện phi vật thể của đặc điểm thẩm mỹ của ngôi điện này Tất nhiên hnh thức của chừ viết cũng đã tự thân bộc lộ ra bên ngoài những đặc điểm

thẩm Tìj cùa nó, như ng quan trọ n g hơn vẫn là nhữ ng n ộ i d u n g tư tưởng sau những

câu ciừđược đề cập đến

3ài thân điện Thái Hoà và không gian tồn tại của nó là nơi tổ chức các lễ triều nghi, nci đặt ngai vua, biểu tượng quyền lực cao nhất của nhà nước quân chủ Do

đó cũigcó thể ví ngôi điện này như một bộ mặt hành chính của triều Nguyễn, đó là nơi gac tiếp chính thức của triều đình trong đối nội cũng như đổi ngoại, đó cũng là nơi b ểt hiện cao nhất, rõ ràng nhất tính chất trật tự, tôn ti xã hội Vì vậy, cũng có thể clo ràng, thơ chạm khắc trên điện Thái Hoà vừa thực hiện chức năng trang trí, vừa tìực hiện “chức năng giao tiếp”: giao tiếp giữa vua và quần thần; giao tiếp giữa triều lìrh với hệ thống quan lại; giao tiếp giữa triều đình với các nước; và rộng hơn

về sai u giao tiếp giữa thế hệ này với thế hệ khác Đây là một tác tố làm ảnh hưởng sâu sic đến việc lựa chọn ngôn ngừ trong “giao tiếp”, trong “phạm vi giao tiếp”, trong “cuá trình giao tiếp” Đặc điểm này đã tạo nên một hoàn cảnh giao tiếp có tính <áci nghi thức Từ một góc nhìn có tính suy luận như thế, nên có thể xem thơ trên dệi Thái Hòa như là hiện tượng “giao tiếp” một cách gián tiếp, một hiện tượng

“giaotiép đặc biệt”

1.1.2 Thơ trên điện Thải Hoà

■ tề hiện trạng, sổ lượng, sự phân bổ

z \ũ Hán trên điện Thái Hoà được phân bổ tại nhiều vị trí trên tất cả 297 ô

hộc1 1 t*ong và ngoài điện Quá trình nghiên cứu cho thấy, trong tổng số 297 ô hộc,

có 34 ôhộc là nội dung các câu đổi (thể thất ngôn), còn lại 263 ô hộc là nội dung các bii h ơ (thể ngũ ngôn), có khi một bài được thể hiện hoàn chỉnh trên một ô; có khi rrộtbài lại được thể hiện trên 02 ô liên tục (mỗi ô gồm 02 đoạn, mỗi đoạn gồm

02 câi) căn cứ vào lô-gic nghĩa và vần để ghép thành một bài

rỉeo điều tra của chúng tôi, tổng cộng số lượng thơ ở điện Thái Hòa nguyên thuỳ ;ó201 bài Hiện nay, có 179 bài đủ chữ; cỏ 03 bài bị mất một chữ; có 08 đoạn khôn' >ác định được (trong đó có 2 đoạn, mỗi đoạn bị mất 1 chữ); có 10 bài bị mất

\ Ô lộc Là một thuật ngữ cùa ngành nghiên cứu lịch sử kiến trúc, chi hiện tượng chia nhỏ các

hệ tiốig liên ba, bờ nóc, cổ diêm trên công trình thành các ô để trang trí.

573

Trang 4

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ T ư

toàn bộ; có 01 bài bị mất nhiều chữ Do đó, tư liệu đợc xác định ở đây là số các bài thơ hiện còn với tổng số là 191 bài (trong đó, có 179 bài nguyên vẹn, 12 không nguyên vẹn)

Một vấn đề đáng quan tâm khác là sự phân bố đề tài thơ trang trí tại vị trí nội

và ngoại thất cũng thể hiện một quan điểm khá đặc biệt Quan sát bước đầu cho thấy, trên hệ thống mái, các bài thơ (gồm 43 bài hiện còn tại vị trí bờ nóc, bờ mái,

cổ diêm) đều mang nội dung tập trung chủ yếu là bày tỏ hoài bão đối với đời sống nhân dân, tự hào về đất nước Trên các chi tiết gỗ ở điện tập trung nhiều tại các vị trí trong nội thất (gồm 148 bài hiện còn trên các liên ba), các bài thơ đều mang nội dung chủ yếu là khẳng định ngôi vua, khẳng định triều đại, khẳng định về vị thế đất nước Những điều này cho thấy tính chất trang trí ở đây đã tạo nên một ý nghĩa có

sự đối lập, thể hiện một mục đích khá rõ: thơ ở ngoại thất điện có'xu hướng hướng

ra bên ngoài, hướng về việc tổ chức đất nước, quan tâm đến đời sống nhân dân; thơ

ở nội thất điện có xu hướng hướng vào bên trong, hướng vào triều thần, quan lại, hướng vào việc tổ chức bộ máy, chế độ Nhưng cả hai xu hướng này đều được thống nhất trong mục đích “ngôn chí” của chủ thể sáng tạo mà chúng tôi sẽ đề cập ở phần tiếp theo

- v ề loại t h ể và vẩn đ ề tác g iả

Toàn bộ hệ thống thơ trên điện Thái Hoà đều được cấu trúc bằng thể ngũ ngôn

tuyệt cú (tứ tuyệt) Đây là loại thơ gồm 4 câu, 5 chừ có nguồn gốc từ thể thơ cổ

phong Thể thơ này chỉ cần có vần (vần bằng hoặc vần trắc), không câu nệ vào

những quy định của hệ thống niêm luật, đổi ngẫu như ở thơ Đường luật Trong 191 bài ngũ ngôn tuyệt cú trên điện Thái Hoà chỉ có 4 bài là vần trác, còn lại tất cả đều

là vần bằng Ưu thế của thể loại ngũ ngôn tuyệt cú là ngắn gọn súc tích, dễ nhớ, dễ chuyển tải những nội dung như bày tỏ quan điểm, công bố những nội dung mang tính tuyên ngôn

Hiện nay, mặc dù đã có nhiều năm nghiên cứu về hệ thống thơ trên di tích Huế nói chung cũng như thơ trên điện Thái Hòa nói riêng, song người viết chưa tìm thấy được một tư liệu đáng tin cậy nào để có thể làm rõ về vấn đề tác giả Ngoài trường

hợp bài thơ Vũ trung sơn thủy và Phước viên văn hội lương dạ mạn ngâm chạm

khảm xà cừ trên điện Long An là có ghi rõ do vua Thiệu Trị làm (í6§ 5p í® ẫlỊ

Thiệu Trị ngự chế thi), hầu như không có trường hợp nào đề cập thơ chạm khắc trên

kiến trúc cung đình Nguyễn là của tác giả nào1 Trên điện Thái Hòa, tại bờ nóc

1 Việc xác định tác giả của những bài thơ trên di tích có thể căn cứ vào hệ thống các văn bản Hán Nôm là thơ của các vua đang lưu trữ ở nhiều nơi Nhung đây là một việc hết sức công phu, đòi hòi rất nhiều thời gian và công sức, phải đối chiếu toàn bộ hệ thống tư liệu với hệ thống thơ trên di tích mới có thể có kết quả Hiện nay, chưa có nhà nghiên cứu nào lưu tâm vào việc này.

Trang 5

THƠ CHỮ HÁN TRÊN ĐIỆN THÁI HÒA.

ngoại thất, ở trên một tấm pháp lam đề thơ dã đề cập đến vấn đề tác giả một cách

mơ hồ như sau: thơ vua làm, mười ba bài (fêp fệ + E M ngự chế thi thập tam

thủ) Điều này rất khó để xác định: thơ vua làm, vua ở đây là vua nào, khi mà ngôi

điện này đã trải qua cả một quá trình xây dựng, cải tạo dưới nhiều triều vua (?); rồi

mười ba bài, thế các bài còn lại không của vua làm (?) Điều đáng nói nừa là, tại vị

trí xác định “ngự chế thi thập tam thủ ” vừa nêu, dù ghi là mười ba bài, nhưng thực

tế chi có mười hai bài (kể cả một bài bị mất toàn bộ), điều này cũng rất khó hiểu1

Nhìn chung, thơ trên điện Thái Hòa là mơ hồ về tác giả, người viết tạm xác định tác giả của nó là triều Nguyễn

2 T ừ một sổ đặc điểm ngôn ngữ đến đặc điểm nội dung chủ đề của thơ

trên điện T hái Hoà

Nhin một cách khái quát, điện Thái Hòa là một kiến trúc truyền thống có giá trị về lịnh sử và nghệ thuật Thơ trên điện Thái Hòa với số lượng hiện còn là 191 bài (kể gộp cả những bài bị mất chữ và các đoạn 02 câu) tồn tại ở nhiều vị trí khác nhau tại ngôi điện này đã tạo nên một “chỉnh thể văn bản” có những giá trị gắn kết với những nội dung tư tưởng nhất định

2.1 C hừ và các chủ đề

Thơ trên điện Thái Hòa như đã trình bày là điển hình cho loại thơ suy lý, dĩ nhiên vẫn có nhừng bài mang tính chất tự tình, tả cảnh nhưng cũng không nằm ngoài nội dung ngôn chí, bày tỏ chí hướng trong sự nghiệp, bày tỏ hoài bão về đời

nguyên lưu viễn/ Xuân sơn khỉ tượng hùng/Đế vương hồi cựu chỉ/ Nam Bắc nhập tân phong Nghĩa là: Dòng xuân bắt nhánh chốn xa/ Non xuân hùng vĩ bao la khí

trời/ Đế vương về lại đây rồi/ Nam Bắc hoà gió xuân tươi thái bình) Thơ văn trên điện Thái Hoà mực thước về chữ nghĩa, có khi chúng xuất hiện như một thông điệp, ngắn gọn và khúc chiết với hàm ngôn có tính chất nghiêm trang, nặng tính tuyên ngôn, giáo huấn

Đề cập đến ngôn ngữ thơ trên điện Thái Hòa, điểm nổi bật trên hết mà trong khuôn khổ một tham luận mà người viết muốn đề cập là: cách dùng chữ trong các bài thơ, để từ đó có thể khái quát nên những nội dung chủ đề của hệ thống thơ ở đây

Hiện nay, tổng sổ các bài thơ trên điện Thái Hòa hiện còn 191 bài (thể ngũ ngôn

tứ tuyệt), trong đó: có 179 bài đầy đủ chữ (có 3.580 lượt chừ); 03 bài bị mất một chừ

1 Điều này chẳc chắn là không liên quan gì đến kết quả cùa việc trùng tu vào các giai đoạn sau này (từ 1960 - 1992) Bởi lẽ thơ được viết trên các tấm pháp lam, đã được đánh dấu định vị trong quá trình trùng tu Hơn nữa, dù cố tình làm sai lệch cũng không thể, vì tính chất bố cục theo mô-tip nhất thi nhắt họa và kích thước cùa các tấm pháp lam đều có những số đo xác định, chi có thể phân bố đù trên một diện tích đã xác định.

57 5

Trang 6

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư

(còn lại 57 lượt chữ); 08 đoạn 2 câu, có 2 đoạn bị mất 1 chữ (còn lại 78 lượt chữ); 01 bài bị mất 5 chữ (còn lại 15 lượt chữ) Như vậy, tổng số chữ có hiện có được là 3.730 lượt chữ, hay chính xác là 3.730 vị trí (hoặc gọi là lượt chữ hiện tồn)

Theo thống kê, chúng tôi xác định tổng số chữ thực tế là 1.096 chữ, là số lượng chữ được sử dụng (vì có nhiều trường hợp dùng nhiều lần, trên 2 lần, cá biệt

từ 30 đến 50 lần) Lấy tổng số 3.730 vị trí chia cho 1.096 chữ ta sẽ được con số 3,4:

đó là tần số xuất hiện trung bình của mỗi chữ

Trong hệ thống thơ trên điện Thái Hòa có khoảng 75% số chữ xuất hiện với tần số 3 lần trở xuống, thấp hơn mức trung bình; 25% còn lại xuất hiện với tần số 4 lần trở lên, cao hơn mức trung bình, trong đó có nhiều chữ xuất hiện ở rất nhiều bài với tần số rất cao Diễn biến cụ thể như sau:

- Số chữ sử dụng dưới mức trung bình: 497 chữ sử dụng 1 lần; 211 chừ sử

dụng 2 lần; 114 chữ sử dụng 3 lần

- Số chữ sử dụng trên mức trung bình: 66 chữ sử dụng 4 lần; 36 chữ sử đụng 5

lần; 28 chữ sử dụng 6 lần; 25 chữ sử dụng 7 lần; 9 chữ sử dụng 8 lần; 13 chừ sử dụng 9 lần

- Số chữ sử dụng trên mức trung bình, đặc biệt trên 10 lần: 12 chữ sử dụng 10

lần; 6 chữ sử dụng 11 lần; 7 chữ sử dụng 12 lần; 7 chữ sử dụng 13 lần; 12 chữ sử dụng 14 lần; 4 chữ sử dụng 15 lần, 4 chữ sử dụng 16 lần; 3 chữ sử dụng 17 lần; 4 chữ sử dụng 18 lần; 5 chữ sử dụng 19 lần; 3 chữ sử dụng 20 lần; 3 chữ sử dụng 21 lần; 2 chữ sử dụng 22 lần; 3 chữ sử dụng 23 lần; 3 chữ sử dụng 24 lần; 2 chữ sử dụng 26 lần; 1 chữ sử dụng 31 lần; 3 chữ sử dụng 34 lần; 1 chữ sử dụng 35 lần; 1 chữ sử dụng 44 lần; 1 chữ sử dụng 50 lần

“Theo phương pháp thống kẽ ngôn ngữ học, nếu tỳ lệ giữa sổ lượng các từ khác nhau và độ dài văn bản mà càng lớn thì điểu đó chứng tỏ rằng việc sử dụng kho từ vốn có cùa tác giả là phong p h ử '\ Do đó, ở đây có thể cho rằng, 75% sổ chữ

xuất hiện dưới mức trung bình đã phản ảnh vốn từ ngữ được sử dụng trong thơ trên điện Thái Hòa là phong phủ (từ dùng đa dạng, không trùng lắp) 75% sổ lượng chữ được sử dụng dưới mức trung bình thể hiện độ phân tích tính cao của lớp từ vựng,

nó thể hiện vốn từ vựng được sử dụng là khá lớn, có hiện tượng đồng nghĩa từ vựng, nhiều chữ nhưng diễn đạt cho một nghĩa trong một nội dung, chủ đề có tính tập trung Điều này thể hiện sự uyên bác của chủ thể sáng tạo

25% số chữ xuất hiện trên mức trung bình phàn ánh một đặc điểm khá đặc biệt, đối lập hoàn toàn với con số 75% trên Xét ở góc độ dùng chữ, trước hết có

1 Nguyễn Tài c ẩ n (2003), Một số chứng tích về ngón ngữ, văn tự và văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, trang 197.

Trang 7

THƠ CHỮ HÁN TRÉN ĐIỆN THÁI HÒA

thể khái quát nên những đặc diổiĩi về nội dung chủ dò của thư trên điện Thái Hòa như sau:

+ Thơ trên điện Thái Hòa rất quan tâm đến những vấn dề chính trị, xã hội, nói nhiều về vua, về tổ chức bộ máy nhà nước thuở “bình minh'’ thiết lập, về giang sơn

gấm vóc: quốc (19): đất nước (16 lần); triều (fẵ): triều dinh, triều đại, buổi chiều (10); đế (■$): vua (22), vương ( ĩ ) : vua (11); thảnh (II): vua, bậc thánh (18); hoàng

( M ): v u a (1 9 ); đô ( f P ) : k in h đ ô (5); đò ( i S ) : c ơ đ ồ (8); trị (/P ): cai trị (1 0); c ư ( I I ) :

ỏ, sinh sống (15); sơn (UÜ): núi (24); hà ()'ÕJ): sông (34) v.v

+ Thơ trên điện Thái Hòa thể hiện hoài bão, ước mơ vò một xã hội lý tưởng, một đất nước hưng thịnh, ước mơ vươn tới một xã hội kiểu mẫu theo lý tưởng Nho

gia như thời của: Nghiêu (H ): vua Nghiêu (14 lần); Thuấn (fậ): vua Thuấn (12); như các thời đại: Đường ( 0 ) : tHời Đường (4); Chu (JỊ1): nhà Chu, khắp cùng (10); ước mơ về một đất nước thái bình muôn thuở: bình ( ¥ ) : hòa bình (22); thải (À ): thái hòa, to lớn, tốt đẹp (18); hòa (#]): hòa hiếu, hòa thuận (13) v.v

+ Thơ trên điện Thái Hòa nói nhiều đến tạo hóa đất trời, vũ trụ, thời gian, thời

tiết: thiên (3^): trời (44 lần); càn (I&): trời, tên một quẻ trong Dịch học (16); khôn (iậ): đất, tên một quẻ trong Dịch học (7); nhật (B ): ngày, mặt trời (50); nguyệt ( ^ ) : tháng, mặt trăng (15); thời (Bệ): mùa, thời gian (23); hóa tạo hóa, giáo

hóa (16); vũ (M ): mưa (7); vân ( it) : mây (31); sương (la): sương, móc(5);phong (ML): gió (35), tinh (M ): sao trời (12); tình (0f ): tạnh, mưa tạnh (4) v.v

Ngoài ra, đặc điểm dùng chừ cũng đă chỉ ra những nét liên quan đến tính chất của chủ đề được nói đến, đến những đặc điểm của chủ đề, thậm chí cả những nét rất khu biệt của người sử dụng ngôn ngữ, của chủ thể sáng tạo:

+ Thơ trên điện Thái Hòa chù yếu tập trung màng đề tài liên quan đến không gian của đời sống cung đình triều Nguyễn, tần số các chữ liên quan đến không gian

của cung đình như, những vật thể chiếm vị trí trone không gian: đình ( 0 ) : sân triều (10 lần); điện (1$): cung điện (9); đường ( it) : nhà lớn (13); các (K ): gác (6); vũ ( ^ ) : mái hiên lớn (8); môn (F^): cửa (7) ; bệ (í?ê): nơi đặt ngai vua (7); ngự (fêP): chi về vua, vật dụng của vua (11); bên cạnh những vật thể khác: kỳ (ÍH): lá cờ (7);^ ( $ ) : áo (13); quan (H ): mũ (8); thậm chí cả kim (ái): vàng, kim loại vàng (19);

ngọc ( 5 ) : ngọc ngà (20); và với tính chất gắn liền nhĩrnc sinh hoạt vui tươi: hỷ

( § ) : vui (7), hoan hi; ca (ifc): ca hát (12); nhạc, lạc (!ậl): âm nhạc, vui vẻ (21);

khánh ( 0 ) : vui vẻ, hân hoan (6) v.v Hộ thống này rất dối lập với những hình ảnh

về đời sổng bên ngoài chốn Hoàng cung: dân (K ): nhân dân (8); chúng (flẴ): dân chúng (5); sương (Jfë): cái chái nhà nhỏ, dùng làm nơi chứa lương thực (2); thương ( jg): cái bịch đựng thóc (1); dã (I?): chốn hoang dã , dồng nội (3); điền (E3): đong ruộng (1); ngiru ( ^ ) : con trâu ( 1 ) v.v

577

Trang 8

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THÚ TƯ

+ Thơ trên điện Thái Hòa thường đề cập đến những vấn đề lớn, có xu hướng

chỉ về tính thống nhất, sự hòa hợp: thái (như đã nêu); đại (À ): to, lớn (17 lần);

trường, trưởng (fü): dài, lớn lên (10); cộng (& ): cùng chung (14); đồng (Ịạị): đều,

cùng (18); quần (Sặ): hội tụ (11); thường đặt các hiện tượng được nói đến vào tính chất chỉ sự sáng sủa, tốt đẹp, tươi mới trong sự phát triển, trong sự thành công: minh (BE): sáng (23); quang ()£): sáng (23); khai (Hü): mở, mở ra, mở mang (18); “các loại” diệu (BỊi, &Ị?): đẹp đẽ, sáng sủa, kỳ diệu (10); tân (Iff): mới mẻ (16); thành

($,): thành công (10); lệ (M): tráng lệ, đẹp đẽ (6) v.v

+ Thơ trên điện Thái Hòa còn nói đến các giá trị xã hội, các phẩm chất mà xã

hội đề cao, các giá trị văn hóa truyền thống: chính (IE): ngay thẳng (13 lần); trung (4a): không thiên lệch, ở giữa (26); đức (ÍÜ): đạo đức (17); đạo (ÌM): con đường, đạo lý (19); đãng (/ẫ ): không thiên lệch (8); nhân ( t ) : nhân đạo, đức nhân (11);

văn (& ): cái đẹp, văn hóa (14); lễ (ĩẵ): lễ nghĩa, lễ nghi (6) v.v

+ Thơ trên điện Thái Hòa ít giãi bày những tình cảm cụ thể, riêng tư, chủ thể sáng tạo ít nói về mình, chủ thể thẩm mỹ ở đây là “cái ta đại diện” của triều đại nên ít bày tỏ

các tình cảm cá nhân: tư ($ 0 : riêng tư (1 lần); ngô ('ra ): ta (1); ngã (lẽ): ta (1); ái (fẽ): yêu (3); tình (të): tình cảm (2); niệm (&): nhớ lại (1); hoài (tü): nhớ (3); cảm (£&): cảm động, cảm thương (1); ưu (S ) : lo lắng, buồn rầu (2); úy (H ): sợ (2) v.v

e

Trong ngôn ngữ học, các chữ có tần số xuất hiện cao thường là các chữ thuộc vốn từ vựng cơ bản, nhưng ở đây, các chữ có tần số xuất hiện cao với số lượng 25% lại không thuộc vốn từ vựng cơ bản, đa số thuộc lớp từ vựng văn hóa Điều này trước hết cũng nói lên được tính chất ngôn ngữ thơ trên điện Thái Hòa, thể hiện một đặc trưng văn hóa rất rõ nét trong ngôn ngữ thơ với bản chất điển chương, điển chế của nó

2.2 Nhiều trường hợp từ ngữ được tổ hợp nhiều lần

Trong hệ thống ngôn ngữ thơ trên điện Thái Hoà, có nhiều trường hợp từ ngữ được sử dụng trùng lắp, đặc biệt có một số chữ được sử dụng trong tổ hợp với tần

số rất cao Dưới đây, chúng tôi khảo sát một số chữ là những trường hợp khá đặc biệt, thể hiện rõ ý nghĩa sử dụng, điển hình có tần số xuất hiện trên 10 lần, đặc biệt

có trường hợp đến 43 lần trong tổng số thơ các bài thơ trên điện Thái Hoà

Mật độ các chữ đã nêu có tần số xuất hiện tại 191 bài thơ trên điện Thái Hòa nhiều lần ở mức độ khá cao:

+ Chữ Thiên (5Ĩ) có trong 43 bài thơ, trên tổng sổ 191 bài, chiếm tỷ lệ 22,5%,

nghĩa là có 22,5% bài thơ trên điện Thái Hòa có dùng chữ này

+ Tương tự, chữ Đế ( ^ ) có trong 22 bài + chữ Vương (3E) có trong 11 bài -+- chữ Hoàng (M ) có trong 19 bài (chiếm tỷ lệ 27,2%); chữ Thánh (1=) có trong 25

Trang 9

THƠ CHỬ HÁN TRỂN ĐIỆN THÁI HÒA.

bài (chiếm tỷ lệ 13%); chữ Thải (Ằ , ặ l) có trong 18 bài (chiếm tỷ lệ 9,4%); chữ

Đại (À ) có trong 17 bài (chiếm tỷ lệ 8,9%); chừ Quốc ( ũ ) có trong 16 bài (chiếm

tỷ lệ 8,3%); chữ Đức ( Ü ) có trong 17 bài (chiếm tỷ lệ 9,0%); chữ Văn (3t) có trong 14 bài (chiếm tỷ lệ 7,3%); chừ Tứ ( 0 ) có trong 28 bài (chiếm tỷ lệ 14,6%); chữ Thiên ( í ) có trong 20 bài (chiếm tỷ lệ 9,9%); Nghiêu (H ) có trong 14 bài (chiếm tỷ lệ 7,3%); Thuấn (lậ ) có trong 12 bài (chiếm tỷ lệ 6,2%); chữ Xuân ( # )

có trong 35 bài (chiếm tỷ lệ

18,3%)-Việc sử dụng các chữ này đều có những dụng ý khác nhau Hiện tượng xuất hiện các chừ mà chúng tôi đánh giá là “khá đặc biệt” trong bổi cảnh của văn bản nghệ thuật như vậy sẽ nhắm đến những chù đích nghệ thuật khác nhau của người sản sinh ra chúng:

- Chữ Thiên (trời, ông trời): xuất hiện trong các trường hợp thiên (ông trời);

thiên thanh (trời trong), thiên tâm (lòng trời), xuân thiên (trời xuân), thiên ngữ (lời

nói của trời), thiên địa (đất trời), thiên tế (ven trời), thiên đạo (đạo trời), thiên nhạc (nhạc của trời), thiên nữ (cô gái nhà trời), thiên cù (đường trên trời), thiên nhan (dung nhan của trời), thiên phổ (trời rộng), quang thiên (ánh sáng của trời), trung

thiên (giừa trời), cửu thiên (chín tầng trời), thiên chương (văn của trời), thiên tinh

(sao trời), thiên Nam (trời Nam), phổ thiên (khắp trời); thiên đức (đức của trời),

thiên hạ (thiên hạ, mọi người), thiên luân (tơ trời), quân thiên (đấng tối cao, chỉ

trời), thiên kinh (kinh đô của trời), thiên tử (con trời, vua), thiên uy (oai trời).

Ở trên, có thể ngoại trừ trường hợp thiên hạ (đã chuyển nghĩa gốc là “dưới

trời” để hàm nghĩa là con người khắp hành tinh, mọi người trong thiên hạ) thì tất cả

các trường hợp còn lại đều có liên quan đến hình thải nghĩa ban đầu đó là “trời”

(chỉ về một nhân vật siêu nhiên, chỉ về một không gian của tự nhiên)

Chừ Thiên ở đây xuất hiện với tần sổ khá cao ỉà có cơ sở lịch sử và xã hội của

nó, gắn liền với cơ sở tư tưởng của triều Nguyễn lấy học thuyết Nho giáo làm nền tảng chính trị để cai trị đất nước, trong đó thuyết “Thiên mệnh” (mệnh trời) là một trong những nội dung quan trọng Thuyết “Thiên mệnh” có ảnh hưởng rất sâu sắc

trong ý thức hệ của triều Nguyễn, điển hình như: ‘T rờ / sinh ra dân, phải có đặt vua

để cầm đầu và cai trị Vua thừa mệnh trời phải có bầy tôi giúp đỡ chở che” 1 Một

hài thơ ở điện Thái Hoà biểu hiện rất khái quát về thuyết này:

E Í S 5 Xảo tượng gia ngôn lặc,

Ễ R ^ Ằ ® Côn cương danh cửu tri.

1 Tự Đức (1970), Tự Đức thánh chế văn tam tập, tậpl, ủ y ban Dịch thuật Phù Quốc vụ khanh đặc trách xuất bản, Sài Gòn, trang 133.

5 7 9

Trang 10

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẺ LÀN T H Ứ T ư

1$ » Hl Ä « Ầm tiêu dương trưởng hậu,

^ 3M $ ^ Bặ Thiên đạo thải lai thì.

(Người thợ khéo khắc những lời đẹp/ Núi Côn Cương nổi tiếng mãi mãi đều biết vậy/ Âm khí tiêu tan, dương khí nổi lên/ Là lúc đạo trời vận hành thông suốt, Bài A.2.6.CD1)

Gắn liền với quá trình xây dựng và không ngừng hoàn thiện mô thức tổ chúc nhà nước là quá trình xây dựng kỷ cương xã hội theo quan điểm Nho giáo Từ trong nội tại của nhà nước quân chủ, ý thức về việc tăng cường ổn định xã hội luôn là vấn

đề then chốt, khẳng định sự tồn tại của chế độ

Trong quan niệm “7am íàr (thiên, địa, nhân) thì trời là đấng tối cao và tôi linh Trong quan điểm chính trị của chế độ quân chủ, mệnh trời luôn được dùng như một khái niệm để quảng bá cho một quyết tâm lớn, để khẳng định tính tất yếu cùa triều đại nào đó mới được thiết lập hoặc giả là để củng cố cho “giềng mối” chính thống của một dòng vua Quan niệm về mệnh trời của Nho giáo cũng đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong tục lệ cổ truyền, điển hình nhất là lễ Tế Giao (tế trời, cầu mưa thuận gió hoà), chỉ có Thiên tử mới được làm chủ tế v.v Trời được quan niệm với một uy đức mang tính phổ quát, cho nên người đứng đầu đất nước, thay trời để điều hành xã hội, phải thuận lòng trời mới có thể làm cho muôn dân ấm no, hạnh phúc, ngước lại, nếu trái ý trời thì muôn dân sẽ lâm vào kiếp nạn đắng cay, khổ nhục Đó quan niệm có tính tuyệt đối hóa về vai trò quyết định của mệnh trời

Qua 43 lần tồn tại trong 42 bài thơ, chữ thiên có hướng được sử dụng với chù

đích như thế, hoặc chí ít cũng do người sử dụng bị ảnh hưởng nặng về về lỗ trời như

đã trình bày

Bên cạnh việc đề cao thuyết “Thiên mệnh” như đã nêu ở trên, xem vua là con trời, đề cao vai trò của “thiên tử” trong việc “thụ mệnh trời” để cai quản thiên hạ,

1 Cách đánh số các bài thơ do chúng tôi tự đặt Trong đó, ở ngoại thất, phần điện trước đuợc quy ước trình bày có ký hiệu viết tắt là A l; phần điện sau được quy ước trinh bày là A.2 Theo đó, tất cả các bài thơ đều được đánh số chạy từ 1 đến 41 cho phần tiền điện và từ ì đẻn

32 cho phần hậu điện Thơ được trang trí tại các vị trí bờ nóc mái (ký hiệu là N), cổ diêm mái trước (ký hiệu là C D ) , cổ diêm mái trái (ký hiệu là CDT), cổ diêm mái phải (ký hiệu là CDP) Tương tự, đối với nội thất điện, chúng tôi cũng chia sự phân bố thơ làm hai khu vực

chính: điện trước và điện sau Trong đó, phần điện trước được quy ước trình bày là B.l\

phần điện sau đuợc quy ước trình bày là B.2. Tất cả các bài thơ cũng đều được đánh số chạy

từ ỉ đến 90 cho phần tiền điện và 1 đên 28 cho phân hậu điện Thơ được trang trí tại các vị trí liên ba hàng cột 3 dãy trên (ký hiệu là LB3t) và dưới (ký hiệu là LB3d); Hên ba hàng cột

2 dãy trên (ký hiệu là LB2t) và dãy dưới (ký hiệu là LB2d); liên ba hàng cột 1 (ký hiệu là LB1); liên ba hàng cột 8 (LB8); liên ba hàng cột 7 mặt trước (ký hiệu là LB7t); liên ba hàng cột 7 mặt sau (ký hiệu là LB7s); liên ba vách hậu điện (ký hiệu là LBV).

Ngày đăng: 18/03/2021, 12:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w