Bài viết này cố gắng tập trung làm rõ những nhân tố chính chi phối sự phát triển đó của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh, theo tác giả, đó là: Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sau C
Trang 1NHỮNG NHÂN TỐ C HÍNH CHI PHỐI sụ PHÁT TRIẺN
CỦA QUAN HỆ V IỆ T NAM - ẤN Đ ộ SAU CHIÉN TRANH LẠNH
Nguyễn Cảnh H uệ*
Trên cơ sở của mối quan hệ truyền thống, hữu nghị từ lâu đời, từ sau Chiến tranh lạnh, quan hệ Việt Nam - Ắn Độ tiếp tục phát triển một cách mạnh mẽ Vậy, những nhân tổ nào đã chi phối đến sự phát triển đó? Bài viết này cố gắng tập trung làm rõ những nhân tố chính chi phối sự phát triển đó của quan hệ Việt Nam - Ấn
Độ sau Chiến tranh lạnh, theo tác giả, đó là: Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh được kế thừa mối quan hệ truyền thống hữu nghị lâu đời, đã kinh qua thử thách của của lịch sử; chính sách tăng cường quan hệ với Đông Nam Á nói chung
và Việt Nam nói riêng của một số cường quốc, nhất là Trung Quốc và Nhật Bản như là nhân tổ khách quan thúc đẩy Án Độ đẩy mạnh quan hệ với Việt Nam; nhân
tố Trung Quốc; sự quyết tâm mạnh mẽ của chính phủ và các tầng lớp nhân dân hai nước trong việc củng cố và tăng cường quan hệ Việt Nam - Án Độ; công cuộc đổi mới, cải cách của Việt Nam, Ấn Độ tạo thêm những động lực mới thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển; chính sách hướng Đông của Ắn Độ; cùng là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương đã tạo thêm nhiều “kênh” để quan hệ hai nước phát triển
1 Mối quan hệ truyền thống, hữu nghị lâu đời, đã kinh qua thử thách của lịch sử
Việt Nam và Ẩn Độ có quan hệ hữu nghị từ lâu đời Văn hóa Án Độ đã được truyền vào Việt Nam từ rất sớm và một cách hòa bình, để lại dấu ấn sâu đậm trong nền văn hóa Việt Nam Sang thời kỳ hiện đại, Hồ Chí Minh, Mahátma Ganđi và J.Nêru ỉà những người đặt nền tảng cho việc xây dựng quan hệ Việt Nam - Ấn Độ
và sự nghiệp đó được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước về sau dày công vun đắp Tù năm 1975, sau khi khi Việt Nam độc lập và thống nhất, quan hệ hai nước phát triển ngày càng mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, nhất là quan hệ chính trị Vượt qua những thử thách của thời gian, cùa những khó khăn từ tình hình trong nước cũng
* PGS.TS., Khoa Lịch sử, Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
171
Trang 2VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ
như thế giới và khu vực, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ phát triển ngày càng tốt đẹp Đây là cơ sở vững chắc mà ít có mối quan hệ nào có được để quan hệ hai nước ph;tt triển nhanh chóng sau Chiến tranh lạnh
2 Chính sách tăng cường quan hệ với Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng của một số cường quốc, nhất là Trung Quốc và Nhật Bản
Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Nga rút khỏi căn cứ Cam Ranh của Việt Nam, Mỹ rút khỏi căn cứ ở Philippin đã tạo nên một “khoảng trống quyền lực” ở Đông Nam Á Sự phát triển với tốc độ cao và rất năng động của nền kinh tế ở đáy
đã có sức hấp dẫn đối với nhiều nước trên thế giới Vì vậy, nhiều nước, nhất là những nước lớn đã có sự điều chỉnh chính sách và đẩy mạnh quan hệ với các nước Đông Nam Á, tăng cường ảnh hưởng của mình ở khu vực có vị trí chiến lược rất quan trọng này Trong khi đó, nhiều nước ở Đông Nam Á cũng muốn tăng cường quan hệ với những nước lớn để tạo ra một sự “cân bằng” quyền lực giữa các nước lớn ở khu vực này với mong muốn khu vực này không biến thành “bãi chiến trường” - khu vực tranh giành quyền lực của các cường quốc như trước đây Tình hình trên đây, về khách quan đã tác động đến mổi quan hệ ASEAN - Ẩn Độ, một mối quan hệ có truyền thống từ lâu đời Là một nước lớn trong khu vực, Án Độ không muốn chậm hơn so với những nước khác trong quan hệ kinh tế nói riêng và các quan hệ khác nói chung đối với ASEAN Ấn Độ cho rằng, Châu Á - Thái Bình Dương là bàn đạp của mình để vươn ra thế giới và Đông Nam Á là bàn đạp để Ẩn
Độ tiến ra khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Chính sách tăng cường quan hệ cùa một số cường quốc đối với khu vực Đông Nam Á đã làm tăng thêm quyết tâm của
Ấn Độ trong việc thực hiện chủ trương này Trong sổ những nước lớn đẩy mạnh quan hệ với các nước ASEAN thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, có hai nước, theo chúng tôi đáng chú ý là Trung Quốc và Nhật Bản Đây là những nhân tố khách quan góp phần thúc đẩy Ấn Độ tăng cường quan hệ với ASEAN thời kỳ sau Chiến tranh lạnh
Với Trung Quốc, kể từ sau khi bình thường hoá quan hệ giữa hai nước năm
1991, quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt - Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực
về quan hệ chính trị, các cuộc gặp gỡ giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước được duy trì thường xuyên Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tháng 2/1999, Lãnh đạo cấp cao hai nước đã xác định phương châm 16 chừ
thúc đẩy quan hệ hai nước trong thế kỷ XXI là "lảng giềng hữu nghị, hợp tác tocin
diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" Trong chuyến thăm Trung Quốc tháng
12-2000 của Chủ tịch nước Trần Đức Lương, hai bên đã ký Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, cụ thể hoá phương châm 16 chữ đó thành những
Trang 3NHỮNG NHÂN T ố CHÍNH CHI PHỐI s ự PHÁT TRIỂN.
b iện p h á p p h á t triển quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực Hai ben cũng đã thoả thuận đưa hai nước trở thành “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” Hai b ê n đ ã có nhiều nồ lực lớn trong việc giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ; tuy nhicn, quan điểm hai nước còn khác xa về vấn đề biển Đông - cả hai đều khẳng định chủ quyền toàn bộ đối với Hoàng Sa, Trường Sa Từ những năm đầu thể kỷ
X X I, trong b ố i cảnh quan hệ ASEAN - Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, quan hệ Trung Quốc - Việt Nam dù vẫn còn bất đồng lớn về vấn đề biển Đông, nhưng nhìn chung vẫn không ngừng được tăng cường, nhất là quan hệ kinh tế
về thương mại, năm 2002 tổng kim ngạch thương mại hai nước đạt 3,65 tỷ
U S D , năm 2003 đạt 4,87 tỷ USD Từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc liên tục là một trong những bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam Năm 2007, kim ngạch thương mại hai nước đạt gần 16 tỷ USD, năm 2008 đạt trên 20 tỷ USD
về đầu tư trực tiếp, đến giữa tháng 11/2009, Trung Quốc có 661 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt 2,6 tỷ USD, đứng thứ 15/89 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp vào Việt Nam1
C ó thể nói, Trung Quốc đã vượt xa Ấn Độ trong việc phát triển quan hệ với ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng về quan hệ kinh tế - thương mại (kỉm ngạch thương mại Việt Nam - Ấn Độ năm 2011 mới chỉ đạt 3,5 tỷ USD mặc dầu hai nước đã rất cố gắng trong nhiều nam qua) Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc - một nước lớn và iuôn luôn là đối thủ cạnh tranh về nhiều mặt, nhất là trong việc tranh giành ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á - là nhân tố khách quan quan trọng thúc đẩy Án Độ đẩy mạnh quan hệ với Việt Nam
Với Nhật Bản, tháng 9-1973, Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Nhưng, do sự tác động tiêu cực của vấn đề Campuchia nên trong suốt thập niên 80, quan hệ hai nước ở trong tình trạng lạnh nhạt Từ đầu thập niên 90 trở đi, khi vấn đề Campuchia được giải quyết, tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến chuyển thuận lợi, quan hệ hai nước phát triển nhanh chóng và ngày càng tốt đẹp
về quan hệ chính trị, hàng năm, hai bên đều có các cuộc gặp cấp cao và thăm viếng lẫn nhau Bước sang thập niên đầu thế kỷ XXI, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản phát triển mạnh mẽ Năm 2002, lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất xây dựng quan hệ Việt Nam - Nhật Bản theo phương châm "đối tác tin cậy, ổn định lâu dài"
I Theo: Nguyễn Duy Quý (Chủ biên), Tiến trình hợp tác Á-Âu và những đóng góp cùa Việt Nam Nxb Khoa học xã hội, 2006, tr.4 13, 414,-Tài liệu cơ bản về Trung Quốc và quan hệ
Trung Quốc-Việt Nam , http://ww w m ofa.gov.vn/vi/cn_vakv/ca_tbd/nr0408l8094447/ns09 0216152122#D 55Jtutlm 6X6
173
Trang 4VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỔC TÉ LÂN THỨ TƯ
Tiếp đó, trong chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dùng tháng 10-2006, Chính phủ hai nước quyết tâm tăng cường và thúc đẩy hơn nữa quan
hệ song phương với tư cách là đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu
Ả 1 Tháng 4/2009, nhân chuyến thăm Nhật Bản của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, hai nước đã ký Tuyên bố chung về “Quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” Tháng 10/2010, Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan đến thăm Việt Nam, hai bên đã ra “Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản về phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” Tiếp đó, vào tháng 10/2011, trong chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hai bên đã
ra “Tuyên bố chung triển khai hành động trong khuôn khổ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á giữa Việt Nam và Nhật Bản"
Quan hệ chính trị tốt đẹp đã tạo đà cho các mối quan hệ khác phát triển mạnh mẽ
Nhật Bản cho đến nay là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên các lĩnh vực: thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển (ODA), du lịch, hợp tác lao động
về thương mại, tổng kim ngạch xuất- nhập khẩu giữa hai nước trong hơn 10
năm lại đây như sau: 2,950 tỷ USD (năm 1998); 3,263 tỷ USD (năm 1999); 4,871 tỷ USD (năm 2000); 5,902 tỷ USD (năm 2003); 9,9 tỷ USD (năm 2006); 21,181 ty USD (2011) Hai bên đặt mục tiêu tăng ít nhất gấp đôi kim ngạch thương mại song phương đến năm 2020, dự kiến 40 tỷ USD
Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản sang Việt Nam được bắt đầu từ năm 1989 So
với nhiều nước khác, Nhật Bản là nước đầu tư vào Việt Nam chậm hơn nhưng tăng nhanh và luôn đứng vào nhóm những nước có đầu tư lớn Năm 1990 chỉ mới có 1
dự án với sổ vốn là 1 triệu USD, song đầu tư của Nhật đã tăng lên nhanh chóng, nhất là từ sau khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam tháng 2-1994 Đến tháng 7-1999, Nhật Bản đã vươn lên đứng hàng thứ ba trong số các nước đầu tư vào Việt Nam Tính đến 20/4/2010, Nhật Bản cỏ 1.211 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 19,34 tỷ USD, vẫn giữ vị trí thứ 3/84 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, sau Đài Loan, Hàn Quốc2
về viện trợ phát triển (ODA), Nhật Bản cũng là một trong những nhà viện trợ phát triển hàng đầu cho Việt Nam Từ năm 1992 đến năm 2005, ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam đạt khoảng 11 tỷ USD, chiếm khoảng 30% tổng số khổi lượng
1 Tuyên bố chung V iệt Nam - N hật Bản, http://www.vnanet.vn.
2 Thông tin cơ bản về N hật Bản và quan hệ Việt Nam - N hật Bản, http://www.mofa.gov.vn/
v i/c n _ v ak v /c ajb d /n r0 4 0 8 18111106/ns090316152922.
Trang 5NHỮNG NHÂN T ố CHÍNH CHI PHỐI s ự PHÁT TRIỂN.
O D A c ủ a c ộ n g đ ồ n g quốc tế cam kết dành cho Việt Nam, trong đó có viện trợ
k h ô n g hoàn lại là 1,4 tỷ USD Năm 2011, dù phải khắc phục hậu quả động đất, sóng thần v à sự cố hạt nhân, Nhật Bản vẫn cam kết 2,7 tỷ USD vổn vay ODA cho Việt Nam, là mức cao nhất từ trước tới nay1 Nhật Bản đã cam kết giúp Việt Nam xây dựng những công trình lớn - trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa rất quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước như: Khu công nghệ cao Hoà Lạc, tuyến đường sắt, đường bộ cao tốc Bắc - Nam
Hợp tác giáo dục giữa hai nước cũng phát triển mạnh mẽ s ố lượng lao động
và thực tập sinh Việt Nam sang Nhật Bản đạt 30.000 người trong giai đoạn 2006-
2011 Hiện có khoảng 4000 lưu học sinh Việt Nam tại Nhật Bản Ước tính trong 4 tháng đầu năm 2012, có 2.137 thực tập sinh Việt Nam nhập cảnh Nhật Bản
về hợp tác văn hóa, Nhật Bản có nhiều dự án giúp Việt Nam nghiên cứu bảo tồn, tôn tạo các ngôi nhà ở dân gian truyền thống tiêu biểu ở cả ba miền Bắc - Trung
- Na m Chính phủ Nhật Bản bắt đầu hợp tác và hỗ trợ cho việc bảo tồn di tích Hoàng Thành Thăng Long vào năm 2004 Năm 2006, ủ y ban hỗn hợp Việt - Nhật bảo tồn di tích Hoàng Thành Thăng Long đã được thành lập Nhiều đoàn sang thăm, làm việc, biểu diễn nghệ thuật, tham dự triển lãm, liên hoan phim, tổ chức lễ hội tại mỗi nước
về du lịch, những năm gần đây, Nhật Bản luôn là một trong năm nước có số khách du lịch đến Việt Nam nhiều nhất
Hai bên cũng đang thúc đẩy hợp tác triển khai nhiều dự án quan trọng như: Xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2, khai thác, chế biến đất hiếm, các
dự án cơ sở hạ tầng, năng lượng quy mô lớn 2
Những trình bày ở trên cho thấy, từ đầu những năm 90 trở đi nói chung và từ đầu thế kỷ XXI đến nay nói riêng, Nhật Bản rất coi trọng việc phát triển quan hệ với Việt Nam và quan hệ Nhật Bản - Việt Nam phát triển mạnh mẽ
Ngoài Trung Quốc, Nhật Bản thì các nước khác như Nga, EƯ, Hàn Quốc, từ sau Chiến tranh lạnh nói chung và từ đầu thế kỷ XXI trở đi nói riêng cũng tích cực đẩy mạnh quan hệ với Việt Nam Mỹ, E ư, Hàn Quốc đến nay là những đối tác hàng đầu của Việt Nam về thương mại và đầu tư, còn Nga là đổi tác quan trọng của Việt Nam về chính trị - quân sự
1 Thông tin cơ bản về Nhật Bản và quan hệ Việt Nam - N hật Bản, http://w w w m ofa.gov.vn.
2 Theo: - Phương Giang, Tăng cường quan hệ đối tác chiến lược V iệt Nam - Nhật Bản, liUp://dangcongsan.vn/cpv/M odules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30106&cn_id=542991
- Thông tin cơ bàn về Nhật Bản và quan hệ Việt Nam - N hật Bản, http://www.m ofa.gov.vn
1 7 5
Trang 6VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư
Như vậy, sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, do tình hình mới của thế giới cung như của Việt Nam: sự gặp nhau về lợi ích, quan hệ giừa những nước lớn, trước hết là Trung Quốc, Nhật Bản với Đông Nam Á mà Việt Nam là một mắt xích quan trọng được đẩy mạnh Là một nước lớn trong khu vực, lại có quan hệ lâu đời và gắn bó với các nước Đông Nam Á, nhất là với Việt Nam, Ẩn Độ không muốn là nước chậm chân trong việc giành ảnh hưởng đổi với khu vực rất quan trọng này Sự tăng cưòng quan hệ của các nước lớn, nhất là Trung Quốc, Nhật Bản với Việt Nam là nhân tố khách quan quan trọng thúc đẩy Án Độ tăng cường quan hệ với Việt Nam, từ đó dưa quan hệ hai nước phát triển lên một bước mới ở thời kỳ sau Chiến tranh lạnh
3 Nhân tố Trung Quốc
Trung Quốc là một nước lớn trên thế giới, là ủ y viên thường trực HĐBA Liên hợp quốc Từ năm 1978, thực hiện công cuộc cải cách và mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc phát triển hết sức mạnh mẽ, trong hàng chục năm có tốc độ tăng trường trên dưới 10%/năm, dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng Sau hơn 30 năm cải cách và
mở cửa, Trung Quốc đã giành được những thành tựu to lớn về nhiều mặt và đến nay
đã thành cường quốc kinh tế thứ 2 thế giới Sự phát triển của Trung Quốc, về mặt tích cực là đã đưa đến cho các nước nhiều cơ hội để phát triển trên các lĩnh vực: thương mại, đầu tư, du lịch Nhưng, mặt tiêu cực là do tham vọng quá lớn của Trung Quốc về lãnh thổ đã đe dọa nghiêm trọng đến sự toàn vẹn lãnh thổ của nhiều nước, nhất là những nước láng giềng, trong đó có Việt Nam và Ẩn Độ
Việt Nam và Trung Quốc có tranh chẩp về chủ quyền ở biển Đông Trung Quốc ngày càng leo thang và có hành động quyết đoán, ngang ngược trong tham vọng độc chiếm biển Đông Việc Trung Quốc yêu sách về chủ quyền 80% biển Đông, trong đó có Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam; cắt cáp tàu thăm dò khoáng sản, bắt nhiều ngư dân và tàu cá Việt Nam khi họ đang hoạt động trong hải phận của mình, thành lập “thành phổ Tam Sa”, đưa lực lượng bán quân sự xuổng biển Đông, mời thầu quốc tế tại chín lô nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tể và thềm lục địa của Việt N am đã đe dọa nghiêm trọng đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam và làm cho quan hệ Việt - Trung những năm gần đây rất căng thẳng
Ấn Độ và Trung Quốc có đường biên giới chung dài trên 3000km và luôn tranh chấp về biên giới, lãnh thổ Bên cạnh đó, hai nước còn cạnh tranh ảnh hưởng ở khu vực Nam Á, Ấn Độ Dương và nhiều nơi khác trên thế giới Từ thập niên 60 cùa thế
kỷ XX đến nay, cả Ấn Độ và Việt Nam đều xảy ra chiến tranh với Trung Quốc
Một Trung Quốc như vậy không phải “Trung Quốc trỗi dậy hòa bình” như giới lãnh đạo nước này tuyên bố, mà theo chúng tôi là “sự trỗi dậy không hòa bình” Điều đó đã làm cho Ấn Độ và Việt Nam, hai nước vổn có quan hệ hữu nghị từ láu
Trang 7NHỮNG NHẨN T ố CHÍNH CHI PHỐI s ự PHÁT TRIỂN.
déu lo ngại Trung Quốc và xích lại gần nhau hơn như một lẽ tự nhiên để tự vệ, để
bao vệ to à n vẹn lãnh thổ cùa mình Đây là nguyên nhân khách quan thúc đẩy quan
hộ V iệt N am - Ấn Độ phát triển trong những thập niên qua
4 Sự quyết tâm mạnh mẽ của chính phủ và các tầng lóp nhân dân hai nưóc trong việc củng cố và tăng cường quan hệ Việt Nam - Án Độ
Có thể nói, không ngừng tăng cường quan hệ hai nước không chỉ là chủ trương nhất quán của chính phủ mà còn của nhân dân hai nước Chủ trương này đã
đ ư ợ c các nhà lãnh đạo hai nước nhiều lần khẳng định trong các cuộc gặp cấp cao hay trong những bài trả lời phỏng vấn phóng viên báo chí Một số dẫn chửng: Phát biểu nhân chuyến thăm Ấn Độ vào tháng 9/1992, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đồ Mười khẳng định: Việt Nam quyết tâm làm hết sức mình cùng Án Độ để nàng cao mối quan hệ Việt Nam - Ắn Độ lên tầm cao mới vì hạnh phúc và phồn vinh của nhân dân hai nước1 Trong cuộc hội đàm với Thủ tướng N Rao nhân chuyến thăm của Ngài đến Việt Nam vào tháng 4/1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt khẳng định: Việt Nam luôn dành sự ưu tiên trong việc mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó, đặc biệt chú trọng việc tàng cường quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt với Ấn Độ Thủ tướng N.Rao khẳng định: Ấn Độ coi Việt Nam là đối tác đặc biệt Vì vậy, Ấn Độ mong muốn không ngừng tăng cường hợp tác với Việt Nam trong tất cả những lĩnh vực mà hai bên có tiềm năng Là người bạn cũ của Việt Nam, Ấn Độ không muốn
là người chậm chân trong hợp tác kinh tế, thương mại với Việt Nam Hai bên cũng chỉ ra những cản trở trong hợp tác, đồng thời trao đổi về những phương hướng mới
và những biện pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự hợp tác nhiều mặt giữa hai
nước về kinh tể, thương mại, văn hoá và khoa học kỹ thuật nhằm đưa mối quan hệ
đó lên ngang tầm với quan hệ chính trị tốt đẹp giữa hai nước2 Trong các cuộc hội đàm và hội kiến giữa Chủ tịch nước Trần Đức Lương với các nhà lãnh đạo Ẩn Độ trong khuôn khổ chuyến thăm của Chù tịch đến Án Độ vào tháng 12/1999, hai bên đii trao đổi ý kiến sâu rộng về việc củng cố và tăng cường hom nữa mối quan hệ hừu nghị truyền thống và sự hợp tác nhiều mặt giữa hai nước Chủ tịch nước Trần Đức Lương một lần nữa khẳng định, chính sách trước sau như một của Việt Nam là tăng cường quan hệ hợp tác mọi mặt mang tính chiến lược với Ẩn Độ3 Năm 2003, trong chuyến thăm chính thức Án Độ của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh, hai bên ký Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện
1 Theo Báo Nhân dân, ngày 26, 27/1/1989.
2 Theo Báo Nhân dân, ngày 12/9/1994.
3 Theo Báo Nhân dân, ngàv 3-5/12/1999, Báo Quốc tế số ra từ 6-12/12/1999.
177
Trang 8VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ TƯ
Tuyên bố chung khẳng định: Bước vào thế kỷ XXI, hai bên quyết tâm phát huy mối quan hệ hữu nghị truyền thống và nâng quan hệ hợp tác giữa hai nước lên tầm cao mới nhằm ứng phó với những thách thức mới của toàn cầu hoá, mối đe doạ cùa khủng bố quốc tế và những thách thức to lớn đối với hệ thống quốc tế Hai bên phấn đấu phát triển chiến lược trong quan hệ đổi tác vì lợi ích chung của nhân dân hai nước, góp phần vào hoà bình, ổn định, hợp tác và sự thịnh vượng của khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương và thế giới” Đặc biệt, tháng 7/2007, với chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hai nước đã thiết lập quan hệ đổi tác chiến luợc, cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của chính phủ và nhân dân hai nước trong việc nàng cao hơn nữa quan hệ Việt Nam - Ắn Đ ộ
Chủ trương không ngừng củng cố và tăng cường quan hệ Việt Nam-Án Độ cũng là của các đảng phái ở Ấn Độ Ở Ấn Độ có nhiều đảng phái chính trị và có thể
họ không nhất trí với nhau một số vấn đề, nhưng họ đều thống nhất là ủng hộ chính phủ trong việc tăng cường quan hệ với Việt Nam
5 Công cuộc đổi mới, cái cách của Việt Nam, Án Độ
5.1 Công cuộc đổi mới của Việt Nam
Từ năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đất nước Từ đầu thập niên 90, sau những tháng lợi bước đầu, nước ta thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 do Đại hội lần thứ VI đề
ra Vượt qua khó khăn, thử thách, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn lê n tất cả các lĩnh vực Ở giai đoạn 1991 - 1995, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam là 8,18%/năm Từ 1996 đến 2000, mặc dù bị tác động của cuộc khùng hoảng kinh tế trong khu vực, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của nưóc ta vẫn ở mức cao, đạt 6,94%/năm Đến năm 2000, tổng sản phẩm trong nước đã gấp 2,07 lần so với năm 1990.1 Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch tích cực Từ uộ t nước phải nhập khẩu lương thực mồi năm trên dưới 1 triệu tấn gạo, đến năm 1989 Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu được 1,4 triệu tấn và đến năm 2000, xuất khẩu gin 4 triệu tấn, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, sau Thái Lan
Bước sang thế kỷ XXI, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mớ và giành được nhiều thành tựu quan trọng Đến cuối thập niên đầu thế kỷ XXI, với GDP theo đầu người của nước ta đạt trên 1000 USD/năm, đã vượt qua ngưỡng cửa một nước nghèo, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình NKrng
sự kiện như: Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEM năm 2)04,
1 Tổng cục Thống kê, Tinh hình kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm 1991 - 2000, Nxb.Tiống
kê, H 2001, tr 6, 7.
Trang 9NHỮNG NHÂN T ố CHÍNH CHI PHỐI s ự PHÁT TRIỂN.
APEC năm 2006, gia nhập WTO, ù y viên không thường trực HĐBA LHQ nhiệm
kỳ 2008-2009, Chù tịch ASEAN năm 2010 đã góp phần nâng cao uy tín của Việt Nain ở khu vực và trên thế giới, tạo thêm những cơ hội mới để Việt Nam hội nhập
thế giới.
5.2 Công cuộc cải cách của  n Độ
Sau hơn 40 năm xây dựng đất nước kể từ khi giành được độc lập, Cộng hoà
Ấn Độ đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội Nhưng, từ cuối những năm 80, do những khó khăn ở trong nước và bên ngoài đưa đến, Ấn Độ lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội trầm trọng Trước tình hình đó, từ tháng 7-1991, Chính phủ Ẩn Độ đã tiến hành công cuộc cải cách đất nước toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Vượt qua nhiều thử thách,
Án Độ đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa,
xã hội Nền kinh tế Ấn Độ đã ra khỏi cuộc khủng hoảng trì trệ và đạt tốc độ phát triển khá cao Năm 2000, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt hơn 400 tỷ ƯSD, GNP bình quân đầu người đạt 436 ƯSD/năm Tăng trưởng GDP năm 2000 đạt 5,85%
Ấn Độ được xếp vào hàng thứ 6 trên thế giới về sức hấp dẫn đầu tư nước ngoài và đứng thứ 25 về thu hút vốn đầu tư nước ngoài1
Bước sang thế kỷ XXI, Án Độ đã tiếp tục phát triển một cách mạnh mẽ Ấn
Độ đặc biệt chú trọng đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao làm chỗ dựa vững chắc cho nền kinh tế, trong đó có lĩnh vực chinh phục và khai thác khoảng không vũ trụ, đưa nền kinh tể Ấn Độ phát triển với tốc độ nhanh Trong mười năm qua, GDP cùa Ấn Độ liên tục tăng trưởng trung bình 6%/năm Với nhịp độ tăng trưởng đó, đự báo đến năm 2025, Ấn Độ sẽ trở thành nền kinh tế đứng thứ 3 thế giới, sau Trung Quốc và Mỹ
Công cuộc đổi mới, cải cách của Việt Nam, Án Độ giành được nhiều thành t\ru đã tạo thêm điều kiện thuận lợi cho quan hệ hai nước phát triển, mở rộng thị trường trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư, du lịch, khoa học - công nghệ, an ninh
- quốc phòng
6 Chính sách hướng Đông của Án Độ
Cùng với công cuộc cải cách toàn diện đất nước, Ấn Độ đã điều chỉnh chính sách đối ngoại để phù hợp với tình hình mới Nội dung chủ yếu của sự điều chinh chính sách đối ngoại là đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hoá quan hệ Một trong những điểm nổi bật của chính sách đổi ngoại Ấn Độ từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
XX là việc thực hiện chính sách "hướng Đông” với phạm vi không gian bao gồm
1 Theo TTTL, TTXVN ngày 6-1 -2001, tr 17.
179
Trang 10VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ
một khu vực rộng lớn chạy dài từ New Zealand lên Đông Nam Á cho đến tận vùng Đông Bắc Á Trọng tâm của chính sách hướng Đông ở thập kỷ 90 là Ấn Độ tập trung phát triển quan hệ với ASEAN
Án Độ là nước có quan hệ đổi thoại từng lĩnh vực với ASEAN từ năm 1980 và trở thành đối tác đầy đủ vào năm 1995, ký TAC với ASEAN vào năm 2003 Ấn Độ
và ASEAN tổ chức thường xuyên các cuộc gặp thượng đỉnh, đổi thoại, làm việc với các nhóm công tác, các quan chức chính phủ của hai bên Ấn Độ đặc biệt quan tâm đến việc tham gia các dự án như: Dự án nổi sông Hằng với sông Mê Cóng, Sáng kiến vịnh Ben-gan về hợp tác trong lĩnh vực kinh tế và công nghiệp Tháng 11-2004, Ấn Độ và ASEAN đã ký văn kiện Đổi tác Án Độ - ASEAN vì hòa binh, tiến bộ, cùng chia sẻ thịnh vượng Tháng 8-2008, Ấn Độ và ASEAN đã hoàr tất đàm phán về Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ Án Độ đã được mời tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á ngay từ lần thứ nhất (năm 2005) Cho đến nay,
Ẩn Độ đã thiết lập quan hệ chiến lược với một số nước thành viên ASEAN như: Indonexia, Việt Nam, Thái Lan
Từ đầu thế kỷ XXI trở đi, cùng với việc tăng cường quan hệ với ASEAN thì
Ấn Độ mở rộng và đẩy mạnh quan hệ với các nước: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và vì vậy, quan hệ giữa Ấn Độ với các nước này phát triển mạnh mẽ, nhát là quan hệ thương mại Đến nay, Ấn Độ đã thành lập quan hệ đối tác chiến lược với các nước trên
Với Trung Quốc, từ sau Chiến tranh lạnh, cả Ấn Độ và Trung Quốc đều có những nỗ lực để cải thiện quan hệ song phương, nhiều chuyến thăm cấp cao đã được tiến hành để tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau Thời gian gần lây, quan hệ hai nước được xây dựng theo hướng ổn định và hợp tác, tuy nhiên vẫn gặp không ít khó khăn, nhất là vấn đề biên giới-lãnh thổ Thương mại song phuơng giữa hai nước đã tăng nhanh chóng, từ 117 triệu USD vào năm 1978 lên 25 tỉ USD vào năm 2006, đạt tới 37 tỷ USD năm 2007 và trong chuyến thăm Ẩn Độ năm ¡006 của Chủ tịch Hồ cẩm Đào, hai bên đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 40 tỷ USD vào năm 201 o.2 Năm 2006 được chọn là năm Hữu nghị Trung
- Án, và cũng là năm Chủ tịch Trung Quốc Hồ cẩm Đào thăm chính thức Ấn Độ Tháng 7-2006, hai nước đã mở cửa lại con đường qua đèo Nathu La lịch sử, V ( n bị đóng cửa kể từ cuộc chiến tranh năm 1962, một biểu hiện cho sự thông thiơng Trung - Ẩn
1 Theo Hà Mỹ Hương, Sự phát triển quan hệ hợp tác giữa ASEAN với các bên đối thoại,
http://www.tapchicongsan.org.vn
2 http://www.baomoi.com/Home/TheGioi/www.nhandan.com.vn.