Trong Chương trình gồm 7 đó của Paul Doumer, việc xây dựng cho Đông Dương một bộ máy chính quyền mạnh được coi là nhiệm vụ trước hết đảm bảo cho sự tồn tại của chế độ thuộc địa chống lại
Trang 1TÒ CHỨC BỌ MÁY CHÍNH QUYÈN CỦA THựC DÂN PHÁP Ỏ VIỆT NAM ĐÀU THÉ KỶ XX
Tạ Tlìị Thúy* - Nguyễn Lan Dung *
1 Những vấn đề đặt ra cho việc cải "cải cách" và củng cố bộ máy chính
quyền thuộc địa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đối với Pháp
Cuối thế kỷ XIX, sau khi hoàn thành về cơ bản công cuộc chiếm đất bằng quân sự, Pháp chuyển sang thời kỳ khai thác về kinh tế và củng cố chế độ thuộc địa
ở Đông Dương Đe đạt được những mục tiêu này, một chương trình mang tính chất
cố kết và đầy tham vọng gồm 7 điểm đã được Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer vạch ra từ khi nhậm chức vào năm 18971 Trong Chương trình gồm 7 đó của Paul Doumer, việc xây dựng cho Đông Dương một bộ máy chính quyền mạnh được coi là nhiệm vụ trước hết đảm bảo cho sự tồn tại của chế độ thuộc địa chống lại phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam đồng thời là chỗ dựa để Pháp từng
* PGS TS„ Viện Sử học
** ThS., Viện Sử học
1 Chương trình 7 điểm c ủ a P a u l D o u m e r c ó n ộ i d u n g là:
"7 Tô chức một chính phủ chung cho toàn Đỏng Dương và tổ chức bộ máy cai trị hành chính riêng cho từng xứ thuộc liên bang.
2 Sửa đổi lại chế độ tài chính ở Đông Dương, thiết lập một hệ thong thuế khóa mới sao cho phù hợp với yêu cầu cùa ngân sách, nhưng phải dựa trên cơ sở xã hội cụ thể ở Đông Dương
và phái chú ỷ khai thác những phong tục tập quán của dân xứ Đông Dương.
3 Chú ý xây dựng thiết bị kinh tế to lớn cho Đông Dương như xây dụng hệ thong đường sắt, đường bộ, đường sông đào, bến càng những thứ cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dương.
4 Đẩy mạnh sản xuất và thương mại của Đông Dương bằng việc phát triển công cuộc thực dân của người Pháp và lao động của người bản xứ.
5 Báo đảm việc phòng thủ Đông Dương bang việc thiết lập nhừng căn cứ của hải quân và phủi tô chức quân đội và hạm đội cho thật vững mạnh.
6 Phải hoàn thành công cuộc bình định xứ Bắc Kỳ, bảo đảm an ninh vùng biên giới Bắc Kỳ.
7 Khuếch trương ánh hướng của nước Pháp; mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng Viễn Đỏng, nhắt là với các nước lân cận với Đông Dương".
Trích trong Paul Doumer: Ư lndochine/ranẹaise (souvenirs), Paris, 1905, tr 286.
Trang 2VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TỂ LẦN THỨ TU
bước thực hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất về kinh tế ở Việt Nam đầu thế
kỷ XX
Cùng với những nhu cầu mang tính chất chủ quan đó, còn có một nguyên nhân khác nằm chính trong sự bất cập, yếu kém của bộ máy chính quyền thuộc địa vào cuối thế kỷ XIX trước những nhiệm vụ được đặt ra cho nó trong tình hình mới đã thúc đẩy Pháp "cải cách" bộ máy chính quyền thuộc địa
Trên thực tế, trước khi Paul Doumer nhậm chức, chính quyền ở Đône Dương
là một bộ máy chưa hoàn chỉnh Tổ chức hành chính của Liên bane Đông Dương cho đến năm 1897 vẫn trong tình trạng phân tán và biệt lập, cả về quvền lực lẫn cấu trúc nhà nước, về mặt thể chế, Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc Kỳ và Truna Kỳ là xứ bảo
hộ Toàn quyền Đông Dương trên danh nghĩa là người đứng đầu của Liên bane; Đông Dương, nắm trong tav quyền lập quy, hành pháp và tư pháp, nhưng trên thực
tế, quyền lực của Toàn quyền chỉ giới hạn tại Bắc Kỳ và gần như khône có vai trò
gì tại Nam Kỳ và Trung Kỳ Với việc lập ra Văn phòng Tổng thư ký Phủ Toàn
q u y ề n tại B ắ c K ỳ n ă m 1 889, T o à n q u y ề n Đ ô n g D ư ơ n g , m à đ ạ i d i ệ n c ủ a n ó là T ổ n g thư ký Phủ toàn quyền đã lấn át quyền lực của Thốnp, sứ Bắc Kỳ trong việc giải
quyết mọi công việc liên quan đến xứ này Trong khi đó, viên Kinh lược sứ trên thực tế không là gì khác ngoài việc phụ trách một Tòa tái thấm và việc thăng cấp hoặc bãi nhiệm Tổng đốc các tỉnh Bắc Kỳ Bởi mọi hoạt động của Kinh lược đều
chịu sự giám sát, chỉ đạo của Thống sứ Bắc Kỳ, và thực dân Pháp muốn thông qua
viên Kinh lược này để tách Bắc Kỳ ra khỏi triều đình Huế
Trone khi đó, Nam Kỳ gần như một xứ tự trị, độc lập với chính quyền trung
ương và nằm trong sự điều khiển của H ộ i đồng thuộc địa Nam Kỳ. Hội đồng này thậm chí đã đệ trình lên Bộ Thuộc địa một dự luật đề nghị trao cho Thống đốc Nam
Kỳ những quyền lực hoàn toàn tách rời với Liên bang T rung K ỳ v à o năm 1897 trên danh nghĩa là xứ bảo Í1Ộ, nhưng trên thực tế “chỉnh quyền An Nam hoạt động gần
giống như nó đã làm trước khi người Pháp xâm lược Toàn bộ hệ thống thứ bậc của
quan lại được duy trì tại các tinh, các hoạt động hành chính cũng váy” 1
Không có được sự thống nhất về quvền lực chung trong toàn liên bang cũng là nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trong cả tổ chức và vận hành của bộ máy hành chính trung ương Nói cách khác, ở Đ ôna Dương cho đến năm 1897 chưa có một
chính phủ chung, đảm bảo việc lãnh đạo cho toàn Liên bang2 và chính phủ ấy thiếu
hầu hết các cơ quan về y tế, giáo dục
1 p Doumer: L 'Indochim francaise, Sđd, tr 163
2, P Doumer: L'Indochine frcmgaise (souvenirs), Sđd tr 285.
Trang 3T ổ C H Ứ C B ộ MÁY C H ÍN H Q U Y Ề N C Ủ A T H Ự C DÂN PH ÁP Ở V IỆ T NAM.
Paul Doumer nhận thức rõ thực trạng đang diễn ra trong bộ máy chính quyền
đó và đã từng nhận xét khi mới lên cầm quyền, rằng:
“Một thuộc địa đô hộ chi có thể tồn tại, và phát triến với một bộ máy chỉnh quyền mạnh Bộ máy chỉnh quyền đó lại không tồn tại ở Đông Dương, nỏ đã thiếu những tổ chức chính của cả chính phủ (Thế nhưng) tô chức (của bộ mảy chính quyền mà Pháp dựng ỉên) là không đầy đủ ở khắp nơi ”1.
Sự không thống nhất trong việc tổ chức hành chính đã dẫn tới những hệ quả trên nhiều lĩnh vực về tài chính, trong năm 1895, Nam Kỳ phải chịu mức thâm hụt ngân sách lên tới 1 triệu piastre Bắc Kỳ và Trung Kỳ phải đối mặt với khoản nợ lớn lần lượt là 2.936.328 francs và 1.260.000 piastre2 Ngân sách cấp xứ không còn đủ khả năng để chi trả cho các công trình công cộng, v ấ n đề khai thác kinh tế - mục tiêu chính của công cuộc thực dân, vẫn chưa chính thức được bắt đầu tại Đông Dương
Vì thế, trone Chương trình 7 điểm của mình, Paul Doumer đã xác định ngay tại mục đầu tiên là:
" To chức m ột chính p h ủ c h u n g cho toàn Đ ô n g D ư ơ n g và to chức bộ m áy cai
trị hành chính riêng cho từng xử thuộc liên bang"3.
Trên thực tế, bộ máy chính quyền đó đã lần đầu tiên được tổ chức lại với một
cơ cấu chặt chẽ cả ở trung ương cũng như ở các địa phương Mặt khác, để có thể nuôi sống bộ máy chính quyền này, cải cách hành chính đã được kết hợp chặt chẽ với việc cải cách tống thể về tài chính và các mặt hoạt động khác trên lĩnh vực văn
hóa - xã hội
Cuộc cải cách bộ máy chính quyền trong những năm đầu thế kỷ XX trải qua
những thời kỳ khác nhau, với những thay đổi ít nhiều quan trọng, từ tư tưởng "trung ương tập quyền" của Paul Doumer sang tư tưởng ''trung ương tản qu yền" hay "địa
phương hóa ph â n quyền" của Paul Beau và Albert Saraut Tuy nhiên, về cơ bản, cơ cấu
của bộ máy chính quyền đó đã tồn tại cho đến cuối thời kỳ thuộc địa, tức là năm 1945
2 Tư tưửng xây dựng bộ máy chính quyền của các viên Toàn quyền Đông Dương, từ Paul Doumer tói Paul Beau và Albert Sarraut
a Paul D oum er xây dựng bộ m áy "trung ương tập quyền "
Vấn đề được Paul Doumer đặt ra trong việc xây dựng bộ máy chính quyền trong nhiệm kỳ của mình ở Đông Dương là: tạo dựng một chính phủ chung cho toàn
1 P.Doumer: L ’ỉndochine/rơncaise, Sđd, tr 287
2 Stephen H.Roberts: The History of French colonial policy 1870-1925, Frank Cass & Co.LTD, 1963, tr 86
3 Paul Doumer: L'Indochine franqaise (souvenirs), Paris, 1905, tr 286
Trang 4VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN TH Ứ T ư
liên bang được gọi là Chính phủ Đông Dương; chấn chỉnh lại cơ cấu bộ máy chính quyền của 5 xứ cho thích ứng với chính quyền chung; xác định nội dung của chế độ
cai trị tại mỗi xứ
v ề Chính phủ Đông Dương , chỉ sau 5 năm giữ chức Toàn quyền, Paul Doumer đã xây dựng ở Đông Dương một chính phủ trune ương mạnh Trước hết, Paul Doumer xác lập vai trò, vị trí của Toàn quyền trên toàn bộ Liên bane Thay vì chỉ là người điều khiển Bẳc Kỳ, bây giờ đây Toàn quyền Đông Dương được tăng cường quyền lực thực sự trên phạm vi thống nhất trên cả 5 xứ theo nguyên tắc “điểu khiến (gouverner) ở khắp nơi và không cai trị (administrer) ở đâu c ả ” 1 Tiếp đó, Doumer cho tái dựng lại Hội đồng Cao cấp Đông Dương với một cơ cấu mới mà ở
đó có sự xuất hiện của những gương mặt đứng đầu chính phủ cũne như những người đang thực hiện kế hoạch khai thác Đông Dương Cuối cùng, Paul Dourner thành lập cho chính quyền trung ương một loạt các cơ quan chuyên môn, được gọi
là các Tổng Nha và thành lập Ngân sách liên bang cùng với hệ thống ngân sách của
c á c x ứ v à c ả i t ổ c h ế đ ộ t h u ế k h ó a
về Chính qu yền cấp xứ và cấp tỉnh, nếu Paul Doumer đã tạo ra một bộ máy chính quyền trung ương mạnh theo hướng tập quyền thì chính viên toàn quyền này
đã "có công" lớn, như nhận xét của một nhà sử học Pháp Jean Chesnaux, là đã:
" bẻ gãy một cách chỉnh thức Việt Nam cũ thành ba đoạn khác lạ nhau Nam Kỳ, đất phụ thuộc từ 1862-1867, Bẳc Kỳ bản bào hộ, Trunọ, Kỳ bảo hộ mỗi xứ có một đời sống riêng, thiết chế riêng Sự chia cắt mang tính chất nhân tạo này hoàn toàn đổi lập với truyền thống thống nhất chặt chẽ trước kia"2
Tuy nhiên, để phá vỡ xu hướng địa phương hóa, đặc biệt ỉà tình trạng biệt lập
về tổ chức bộ máy chính quyền giữa các xứ với chính quyền trung ương, Pau! Doumer đã cùng lúc tiến hành tổ chức lại bộ máy chính quyền cho mỗi xứ, theo mô
hình khác nhau giữa Nam Kỳ thuộc địa với hai xứ bảo hộ còn lại, nhưne cùng theo hướng phụ thuộc vào chính phủ trung ương
Với Nam Kỳ, Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ được tổ chức lại, trở thành một bộ phận của liên bang và nằm trong sự điều khiển của Toàn quyền Cơ cấu tổ chức chính quyền tại Nam Kỳ được phục dựns với các cơ quan của Phủ Thống đốc, các
chủ tỉnh, một nền tư pháp Pháp và ngân sách cấp tỉnh Thừa nhận sự hạn chế của chính sách cai trị trực tiếp nhưng Paul Doumer vẫn tiếp tục chế độ đồng hóa ở Nam
1 Paul Doumer:L 'ỉndochine francciise, Sđd, tr 287
2 Jean Chesnaux: La contribution à Ưhistoire de la nation việtnumieme, Paris, 1955, tr, ] 53
Trang 5T ồ C H Ứ C B ộ MÁY CHÍNH Q U YỀN C Ủ A TH Ự C DÂN PHÁP Ở V IỆ T NAM.
Kỳ, tức là biến Nam Kỳ thành một thuộc địa tách ra khỏi hai xứ bảo hộ Trung Kỳ
và Bắc Kỳ còn lại1
Ở Trưng Kỳ, phương châm của Paul Doumer là vẫn giữ lại chính phủ Nam triều nhưng cải tổ lại nó, bàng cách "phải đem đến cho những đại diện của nước Pháp một ảnh hưởng thực sự hơn là hình thức"2 trong các Bộ và Hội đồng của nó Paul Doumer cho bãi bỏ Hội đồng Phụ chính, chuyển Viện Cơ mật thành Hội đồng
Thượng thư, do Khâm sứ đứng đầu Mặt khác, chính phủ thuộc địa đã chính thức chiếm đoạt quyền sử dụng đối với tài sản công, tức tài sản thuộc khối Công sản từ chính phủ Nam triều để tự ý cấp nhượng cho các công dân Pháp, từ nay được quyền thụ đắc bất động sản ở Trung Kỳ
Tại Bắc Kỳ, bằng việc bãi bỏ Văn phòng Tổng thư ký Phủ toàn quyền tại Bắc
Kỳ và tái lập Tòa Thống sứ Bắc Kỳ theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 8-6-
1897, Paul Doumer đã tự tách Toàn quyền ra khỏi việc điều hành trực tiếp xứ Bắc
Kỳ trước đây và trao cho Thống sứ Bắc Kỳ quyền cai trị trực tiếp xứ này Bên cạnh
đó, chức Kinh lược Bắc Kỳ -người đại diện của Nam triều tại Bắc Kỳ, bị bãi bỏ đồng nghĩa với việc toàn bộ quyền cai trị tại đây đã được trao vào tay người Pháp Bắc Kỳ trở thành một xứ bán bảo hộ Cũng nằm trong xu thế đó, Hội đồng bảo hộ Bắc Kỳ và Hội đồng bảo hộ Trung Kỳ ra đời
Như vậy, Paul Doumer là người đã thiết lập cho Đông Dương thuộc địa một
b ộ m á y c h ín h q u y ề n t h ố n g n h ấ t t h e o h ư ớ n g "trung ương tập quyền", t ứ c tậ p tr u n g
quyền hành vào tay Toàn quyền và chính quyền trung ương
b Paul Beau và Albert Sarraut "cải cách " bộ máy chính quyền theo hướng
"pliì tập trung hóa "
Khác với Paul Doumer, các viên Toàn quyền Paul Beau và Albert Saưaut chủ
trương "hợp tác với người xứ". Đối với bộ máy chính quyền, hai viên toàn quyền này tiến hành "cải cách” theo hướng "giải tập trung hóa”, "trung ương tản quyền".
Paul Beau thực hành việc "hợp tác" trên thực tế bằng việc lập lại các chức
danh Tổng đốc, Tuần phủ và lập ra các Hội đồng hàng tỉnh, Phòng tư vấn bản xứ Bắc Kỳ vào năm 1907 Paul Beau cũng cho tổ chức lại quân đội thuộc địa (do chiến tranh Nga - Nhật đặt ra) để đàn áp các phong trào đấu tranh ở Bắc Kỳ
Tiếp tục chính sách ''phi tậ p trung hóa" bộ máy chính quyền của Paul Beau,
Albert Sarraut chủ trương giành lại cho bộ máy chính quyền thuộc địa nhiều thực quyền hơn trong quan hệ với chính phủ chính quốc Đồng thời, ở Đông Dương,
1 Stephen H.Roberts: The History of French colonial policy 1870-1925, Sđd, tr 456
2 Paul Doumer: L'Indochine/ranẹaise (souvenirs), Sđd, tr 295
Trang 6VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉƯ HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN TH Ử T ư
chính phủ trung ương chuyển giao bớt quyền hành cho chính quyền cấp xứ, cấp
tỉn h , đ ể giảm b ớ t tìn h tr ạ n g q u a n liê u đ ộ c đ o á n ở c ấ p tr ê n v à t ạ o ra s ự đ ộ c lậ p n h iề u
hơn cho chính quyền ở các địa phương Năm 1911, khi Albert Saưaut mới vừa nhậm chức đã có hàng loạt văn bản được ban hành để thực hiện chủ trương này Sắc lệnh ngày 20-10-1911 quy định quyền lực của Toàn quyền Đông Dương, thực chất là mở rộng quyền lực của Toàn quyền, giảm nhẹ tới mức tối đa sự can thiệp của Bộ Thuộc địa vào các quyết định của Toàn quyền Mặt khác, nếu như Paul
Doumer lập ra các Tổng Nha để chống lại tính "riêng biệt” của các xứ thì Albert
Sarraut lại cố gắng làm mất tính độc đoán thái quá của các cơ quan này Không ít
Giám đốc các Tổng nha bị bãi bỏ, trở thành những Thanh tra - cố vấn, giảm bớt
nhiều văn phòng chồng chéo với văn phòng tương tự ở các xứ Việc giảm biên chế này đã bớt cho ngân sách của năm 1913 đến 2,7 triệu francs'
Theo chiều hướng đó, các quan chức đứng đầu các xứ cũng có nhiều thực
quyền hơn sắc lệnh 20-10-1911 quy định rõ chức năng và quyền hạn của Thống
đốc Nam Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Truna Kỳ Là đại diện cho Toàn quyền tại các kỳ, những người này chịu trách nhiệm trước Toàn quyền trone việc điều hành và quản lý mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở các xứ thuộc quyền của mình
Bộ máy cai trị thuộc địa ở Đông Dương còn được Albert Saưaut tiếp tục "cải cách" theo hướng "tản quyền'' và "hợp tác với người bản xứ" khi ông ta được sang
nhậm chức Toàn quyền lần thứ hai sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất để phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa đại quy mô từ 1919 đến 1930 Tuy nhiên, cơ cấu của
bộ máy chính quyền thuộc địa, từ trung ương tới các địa phương về cơ bản đã được xác định sau những cuộc "cài cách" của các viên toàn quyền kể trên, gồm cả một bộ máy hành chính, bộ máy tư pháp và bộ máy đàn áp, với các chức năng nhiệm vụ rõ ràng hơn so với trước
3 Cơ cấu bộ máy chỉnh quvền thuộc địa được xây dựng ở Việt Nam đầu thế kỷ
a Bộ m áy hành chính
Chính quyền thuộc địa cấp trung ương
Chính quyền cấp trung ương hay Chính phủ Đông Dương gồm một người
đứna đầu là Toàn quyền Đông Dương và một hệ thống các cơ quan chuyên môn
giúp việc Toàn quyền hợp thành Phủ Toàn quyền
1 Maspéro: Ưlndochineýranọaise, Paris, 1929-1930 tr 20.
Trang 7T ồ C H Ứ C B ộ M ÁY CH ÍN H Q UYỀN C Ủ A TH Ự C DÂN PHÁP Ở V IỆ T NAM.
Toàn quyển Đông Dương là người đại diện cho nước Pháp tại Đông Dương
với quyền lực, chức trách được quy định trong các sắc lệnh ngày 12-11-1887, 9-5-
1889, 21-1-1891, được sửa đổi bằng sắc lệnh ngày 20-11-1911 Toàn quyền là
người có quyền lập pháp, quyền lập quy, quyền hành pháp và quyền tư pháp, tức là nam quyền kiểm soát, chi đạo, điều hành mọi hoạt động diễn ra tại Đông Dương, chỉ đạo trực tiếp những người đứng đầu các xứ v ề mặt quân sự, Toàn quyền Đông Dương chịu trách nhiệm chung đối với vấn đề quân sự trên toàn Đông Dương: thiết quân luật; thiết lập hoặc bãi bỏ Đạo quan binh; phân bố lực lượng quân đội, ban hành lệnh bắt linh, ấn định mục đích và tính chất chiến tranh Trong mối quan hệ với chính quốc, Toàn quyền được phép liên hệ với các Bộ của chính quốc, thông qua Bộ Thuộc địa, với lãnh sự của Pháp tại Viễn Đông
Trong thời gian từ 1897 đến 1918, Đông Dương đã trải qua 13 đời toàn quyền
và quyền toàn quyền, trong đó có Albert Saưaut được bổ nhiệm giữ chức Toàn quyền 2 nhiệm kỳ
Phủ Toàn quyển gồm các Nha chuyên trách, tùy vào chức năng cố vấn, giúp
việc cho Toàn quyền trên các lĩnh vực khác nhau Đứng đầu mỗi Nha là một viên Giám đổc do Toàn quyền chi' định Đứng đầu và đóng vai trò quan trọng nhất trong
hệ thống các cơ quan trực thuộc Phủ Toàn quyền là Hội đồng cao cấp Đông Dương
và Nha Dân chính
H ộ i đ ồ n g c a o c ấ p Đ ô n g D ư ơ n g được tái thành lập theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 3-7-1897 (năm 1911 đổi tên thành H ộ i đ ồ n g chính p h ủ Đ ô n g
D ư ơng) Hội đồng là nơi quy tụ những viên chức cao nhất trong chế độ thực dân
của Pháp tại Đông Dương Hội đồng có chức năng thảo luận và góp ý kiến cho Toàn quyền về các vấn đề có liên quan đến việc cai trị và khai thác Đông Dương, như: ngân sách, chế độ thuế khóa, xây dựng, quân đội, quy chế lao động tất nhiên, trừ các vấn đề chính trị, tuyệt đổi không được bàn tới
Ban Chỉ đạo các công việc dân sự (còn gọi là Nha Dân chính Đông Dương)
được thành lập ngày 6-11-1899 Nha Dân chính được coi là xương sống của nền hành chính Pháp tại Đông Dương Ngoài việc phụ trách công việc hành chính của toàn Đông Dương, Nha còn có chức năng duyệt ngân sách cấp liên bang và phụ trách hoạt động nghiên cứu khoa học toàn Đông Dương (về mặt hành chính) Đứng đầu trong Nha Dân chính là Toàn quyền Đông Dương, ngoài'ra còn có Thống đốc, Khâm sứ, Thống sứ Giúp việc cho người đứng đầu cấp xứ là một viên thư ký phụ trách việc hành chính và giám sát hoạt động của người đứng đầu mỗi tỉnh
Đứng sau hai cơ quan chủ chốt trên, trong Phủ Toàn quyền Đông Dương còn
có các Nha chuyên môn khác như: Hội đồng tư van về mỏ; Nha Thương chỉnh và
Trang 8VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QƯÔC TÉ LẦN TH Ứ T ư
Độc quyền (1897); Nha Tư pháp Đông Dươnẹ (1898); Nha Công chính Đóng Dương (1898); Nha Địa chất Đông Dương (1899); Nha Lâm nghiệp Đông Dương
(1900); Nha Y tế Đông Dương (1904); Sở Viễn thông điện bảo Đông Dĩĩơng (1909)\ Nha chỉ đạo các công việc chính trị và bản xứ (1915); Sở Tinh báo vò An ninh trung ương ( 1 9 1 7 )
Bộ máy Chính quyền thuộc địa cấp xứ
Cho đến năm 1917, Bộ máy này đã được trao cho nhiều quyền hành hơn so với trước kia Tuy nhiên, do chế độ cai trị khác biệt giữa ba xứ của Việt Nam mà
Paul Doumer là người đã làm cho sự khác biệt đó trở nên quyết liệt hơn, cơ cấu
chính quyền cấp xứ tại ba xứ cũng không hoàn toàn giống nhau
Đứng đầu mỗi xử là một quan chức cao cấp, có cùng chức năng nhiệm vụ
nhưng có các tên gọi khác nhau: Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ Thống sứ Bắc Kỳ Người đứng đầu cấp xứ chịu trách nhiệm đối với địa bàn do mình cai quản trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, vãn hoá, xã hội, an ninh., với những quyền
lực cơ bản là: quyền lập quy, quyền hành pháp, quyền tư pháp Riêng Khâm sứ
Trung Kỳ còn có quyền phê duyệt các đạo Dụ của Nam triều trước khi những vấn bản đó chính thức được ban bố
Giúp việc cho Thống đốc Nam Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ là
các Tòa Thống đôc Nam Kỳ, Phủ Thống sứ Bac Kỳ và Tòa Khâm sứ Trung Kỳ
Tại mỗi xứ, giúp việc cho người đứng đầu còn có các hội đồng Ớ Bắc Kỳ và Trung Kỳ là H ộ i đ ồ n g b ả o hộ B ắ c K ỳ và H ội đ ồ n g b ả o hộ Trung K ỳ, lần lượt thành lập trong các năm 1898 và 1900 với chủ tịch là những người đứng đầu các xứ Chức năng chính của các hội đồng này là thảo luận và quyết nghị các dự thảo nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sử Trung Kỳ Riêng Hội đồng Bảo hộ Bắc Kỳ còn
có nhiệm vụ bàn bạc các ý kiến đóng góp của ủ y han tư vấn bản xứ Bắc Kỳ.
Ở Nam Kỳ, Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ được thành lập trước đó nay bổ sung thêm ủy ban thường trực Hội đồnạ thuộc địa Nam Kỳ (1910) có chức năng bàn và thực hiện các công việc đã được Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ thông qua
Nhằm tăng cường yếu tố bản xứ trong ỉổ chức chính quyền theo tinh thần chính sách "hợp tác", các Hội đồng đại diện mana tính chất tham vấn cũng được cơ
cấu lại Theo sắc lệnh 4-9-1905, thành phần H ộ i đ ồ n g tư vấn N am K ỳ được bổ sung thêm 2 thành viên bản xứ Năm 1907, P h òn g tư vấn hán x ứ B ắ c K ỳ được tái lập và năm 1913, chức năng, tổ chức của phòng này được nghị định thêm lần nữa là góp ý kiến về các vẩn đề thu chi của ngân sách cấp xứ, hành chính, kinh tế, đặc biệt là về những vấn đề liên quan đến thuế Chỉ những cá nhân có tài sản, có bằng cấp và chức
vụ trong tổ chức chính quyền mới được ứng cử vào Hội đồng
Trang 9TỔ C H Ứ C B ộ M ÁY CHÍNH Q U Y Ề N C Ủ A TH Ự C DÂN PHÁP Ở V IỆ T NAM.
Phòng Thương mại ở Đông Dương, Phỏng Canh nồng Băc Kỳ, Phòng Canh nông Nam Kỳ, Phòng Tư vấn hon hợp Thương mại - Canh nông Trung Kỳ cũng được tổ chức và cơ cấu lại Nhiệm vụ của các phòng này là nghiên cứu về các vấn
đề thương mại, nông nghiệp và đóng góp ý kiến cho Toàn quyền
Chính quyền thuộc địa cấp tỉnh
Hệ thống chính quyền cấp tỉnh tại Nam Kỳ được hình thành trong những năm cuối thế kỷ XIX tiếp tục được duy trì và củng cố Quyền quản lý và điều hành thuộc
về những quan chức người Pháp và vận hành theo quy chế của Pháp, v ề tổ chức hành chính, Nam Kỳ được tổ chức thành 4 khu vực hành chính lớn, mỗi khu vực thuộc quyền cai trị của 3 viên chức phụ trách hành chính, tư pháp, thuế khóa Dưới Khu vực hành chính lớn là các Tiểu khu hành chính (từ năm 1900 gọi là tỉnh) do Chủ tỉnh người Pháp đứng đầu, hoặc Trung tâm hành chính, do Đốc phủ sứ, Tri phủ hoặc Tri huyện người Việt nắm quyền Các viên chức người Việt này đều nằm dưới quyền của Chủ tỉnh
Trong khi đó, tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, bên cạnh chính quyền bản xứ, đứng đầu là Tổng đốc hay Tuần phủ - giải quyết các vấn đề liên quạn đến người Việt, thực dân Pháp duy trì chính quyền Pháp, đứng đầu là Công sứ và Tòa công sứ Tuy tồn tại song song hai hệ thống chính quyền như vậy, nhưng Công sứ vẫn là người thay mặt cho Khâm sứ, Thống sứ nắm quyền điều hành, giám sát toàn bộ hoạt động của các tỉnh đó, đồng thời có quyền chỉ đạo các Tổng đốc, Tuần phủ Riêng chức vụ
án sát - ngạch quan chuyên về tư pháp, thì vẫn do quan bản xứ nằm giữ Tòa Công
sứ là “vân phòng” của Công sứ với chức năng là cơ quan tổng hợp, hành pháp và tư pháp cấp tỉnh” 1
Hội đồng Kỳ mục hàng tinh bản xứ ở Bắc Kỳ và Hội đồng kỳ mục bản xứ hàng tỉnh ở Trung Kỳ đều được thành lập năm 1913 Nhiệm vụ của Hội đồng là bàn góp ý kiến về ngân sách, quy hoạch địa giới các cấp hành chính, xây dựng Tuy nhiên, những đóng góp của Hội đồng chỉ mang tính chất tham khảo chứ không có tính quyết định tới các hoạt động của chính quyền cấp tỉnh
Đạo quan binh là một hình thức tổ chức khu vực hành chính - quân sự đặc
biệt chỉ có tại Bắc Kỳ Các đạo Quan binh này được tổ chức tại các tỉnh miền núi phía Bắc - tiếp giáp với biên giới Việt - Trung như: Hải Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái
v ề tổ chức lực lượng, từ năm 1905 đến 1916, Toàn quyền Đông Dương đã ra
các nghị định bãi bỏ Đạo quan binh số 1, Đạo Quan binh số 4, thành lập mới Đạo quan binh số 1 Hải Ninh, Đạo quan binh 5 Thượng Lào
1 Dương Kinh Quốc: Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng thảng Tám 1945.
Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội, 1988, tr 135
Trang 10VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUÓC TÉ LẦN T H Ứ T ư
v ề hoạt động, từ ngày 16-4-1908, các Đạo Quan binh được tổ chức hoạt động theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương Đứng đầu Đạo quan binh là Tư lệnh Đạo quan binh mang hàm cấp tá Viên Tư lệnh này có quyền hành chính và tư pháp giống như Công sứ và chịu trách nhiệm trước Thống sứ Bắc Kỳ Tư lệnh Đạo quan binh chịu sự chỉ đạo của Tổng chỉ huy lực lượng đóng chiếm Bắc Kỳ v ề tổ chức hành chính, Đạo quan binh được tổ chức như một đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh (có các đơn vị hành chính nhỏ hơn: tổng, xã ), với ngân sách riêng, Hội đồng hàng tỉnh riêng
Chính quyền cấp xã
Cho đến những năm đầu thế kỷ XX, chính quyền cấp xã là cấp hành chính duy nhất mà người Pháp không muốn đụng tới, bởi mối !o ngại rằng việc biến đổi ngay lập tức bộ máy hành chính đầy phức tạp này có thể làm đảo lộn đột ngột đời sống xã thôn, gây ra sự phản ứng của tầng lớp cựu học tans, lớp cựu quan viên, kéo theo đó
là tâm lý hoảng loạn trong dân chúng, cũne có nghĩa là sẽ eây ra phản cảm, phản ứng trong khối quần chúng đông đảo - lực lượng lật đố chế độ thuộc địa Paul Doumer cũng cảm nhận được điều này:
"Tôi cho rằng tôt nhât là duy trì toàn vẹn, và ngay cả tăng cường tô chức cũ như chủng ta đã thấy Đó là một tổ chức rất chặt chẽ, rất có kv luật và rất có trách nhiệm đổi với chính quyền cấp trên, về những cá nhân thành viên của nó, những cá
nhân mà chỉnh quyền cấp trên có thể không cần biết tới, điều đó rất thuận lợi cho
cô n g việc của chính quyền ”
Do đó, chính quyền thực dân chủ trương duy trì thiết chế tự trị của iàng xã trên
cơ sở bảo đảm cho chế độ cai trị của mình những lợi ích cơ bản Vì điều này, loay hoay từng bước một, vừa thực hiện vừa thăm dò phản ứng từ phía xã thôn, bằng những cuộc “cả/ htơng hương chỉnh”, chính quyền thuộc địa thử tìm cách nắm lấy
bộ máy hành chính xã thôn, cải sửa nó theo hướng ngày càng gắn với chính quyền thuộc địa, thích ứng với vai trò là trợ thủ cho chính quốc trong việc khai thác kinh
tể, nô dịch về văn hoá, đàn áp về chính trị, cúng cố chế độ thuộc địa Và bước đi thử nghiệm đầu tiên được tiến hành tại Nam Kỳ vào năm 1904
Nghị định 27- 8-1904 - văn bản chính thức đầu tiên của nhà nước thực dân về
việc can thiệp vào việc cai trị làng xã, quv định việc tổ chức bộ máy hành chính làng xã được ban hành Mục tiêu của cuộc "cải lương hương chính" ở Nam Kỳ là đưa tầng lóp địa chủ vào vị trí thống trị ở dơn vị hành chính cấp thấp nhất, trên cơ
sở “tinh giản bộ máy quản lý truyền thong" và tăne cường sự giám sát, chi phối của
1 Paul Doumer: L'Indochinefranqaise (souvenirs),Sđd, tr 142.