Tất cả những tác phẩm này được v iết dưới những g k nhìn khác nhau trong bối cảnh văn hóa lịch sử đặc thù của xã hội V iệt N a n dương thời, còn trước những phẩm chất tốt đẹp của người
Trang 1TÌNH CẢM V Ă N H ÓA NHO G IÁO T R O N G SÁ N G TÁ C CỦA TÁ C G IA VĂN HỌC H IỆN ĐẠI V IỆ T N A M
-NG Ô TẤT TỐ
H oàng K hả H ư n g (H uang Kexinỵ) '
Ngô Tất Tố là m ột trong những tác gia văn học nổi tiến g nhất của chủ nghĩa hiện thực phê phán trong dòng chảy văn học sử V iệt N am , với nhữ ng sáng tác
trước và sau những năm 30, 40 của thế kỷ XX bao gồm tiểu thuyết Tắt đèn, phóng sự tiểu thuyết L eu chõng, phóng sự văn học Việc là n g , Tập án cái đìrJĩ, truyện ký lịch sử như Trong rừng nho, Vua Hàm N ghi v ớ i việc kinh thành thất thủ, Lịch sử Đề T h ả m , Tất cả những tác phẩm này được v iết dưới những g k
nhìn khác nhau trong bối cảnh văn hóa lịch sử đặc thù của xã hội V iệt N a n dương thời, còn trước những phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động thì ngòi bút của ông lại hết lời ngợi ca, còn trước cái xấu xa của x ã hội thống trị thực dìn phong kiến thì ngòi bút ấy cũng kịch liệt đả kích, phê phán, chính điều đó iã
m ang lại rất nhiều ý nghĩa hiện thực xã hội vô cùng sâu sắc N gô T ất Tố cìng với các cây bút khác như N guyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, N guyên H ồrg, Nam Cao đã thực sự là những người tiên phong trong việc khơi thông đ ò ig chảy của chủ nghĩa văn học hiện thực phê phán - m ột tro n g những trào lưu sáig tác chiếm vị trí không nhỏ trong lịch sử phát triển của văn học V iệt Nam Ngô Tất Tố được coi là nhà văn hàng đầu của trào lưu hiện thực phê phán có ảih hưởng và hiểu biết rất sâu sắc đối với văn hóa N ho giáo V iệt N am , ông k h ô ig chi có m ột thời gian tìm hiểu, nghiên cứu m ột cách bao quát toàn bộ văn hỏa Nho giáo trong truyền thống văn hóa cổ Trung Quốc, m à còn lấy văn hóa Nho giáo làm cảm hứng, đề tài cho hàng loạt tác phẩm văn học, đã phát triển tất cà các diện mạo của văn hóa Nho giáo trong lòng xã hội th ự c dân phong kiến V ệt Nam, thể hiện được tinh thần thái độ chú ý quan sát nghiêm ngặt, cao độ đối 'ớ i văn hóa N ho giáo Bài viết xuất phát từ góc độ nhận thức tư ơng đồng trong văn hóa truyền thống m ang tính ưu việt của N ho giáo để tiến hành luận giải n h ữ ig giá trị độc đáo trong sáng tác văn học của Ngô Tất Tố
* Viện Văn học, Đại học Dân tộc Quảng Tây
Trang 2TỈNH c ả m v ă n h ó a n h o g i á o t r o n g s á n g t á c
1 Thổ nhưỡng văn hóa Nho giáo trong lòng đòi sống, thời kỳ dài thẩm
th ấu , nghiêm khắc giáo d ụ c theo văn hóa N ho giáo
Ngay từ rất sớm, văn hóa Nho giáo đã được truyền bá, du nhập vào Việt Nam Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất vùng núi Lĩnh Nam, cùng với việc người Hán Trung Nguyên không ngừng chuyển nhập vào, không những mang theo những công
cụ sản xuất và khoa học kỹ thuật đầu tiên, mà dần dần còn truyền bá, du nhập cả tư tưởng quan niệm, luân lý đạo đức, lễ nghĩa lễ tiết của N ho giáo vào Việt Nam Từ sau thời kỳ Tam Quốc, N ho học bắt đầu được truyền bá rộng rãi ở Việt Nam Nhà
sử học nổi tiếng của V iệt N am Trần Trọng Kim đã từng nói: "Thái thú Gĩao Chi thời
l am Quốc rất hồ hời trong việc xây dựng trường học, khiến cho N ho giáo càng thịnh hành hơn trước Cuối cùng lại trải qua lịch sử các triều đại là Lưỡng Tần, Tống Tề, Lương, Trần, Tùy, Đường, giống với Trung Quốc, nước chúng ta cũng đều tồn tại "Tam giáo đồng nguyên" gồm Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo"1
Sau năm 968, V iệt N am độc lập, thông qua sự m ở rộng phát triển của triều đại nhà Lê, nhà Lý thì văn hóa Nho học được truyền bá ở Việt N am đã tiến thêm một bước, đến cuối nhà Trần, Nho học thực sự đã thực sự phát triển rực rỡ nhất, chiếm
vị trí chủ đạo thay thế Phật giáo Đến thế kỷ XV, Nho học rất được chú trọng phát triển, được tôn lên là quốc học Thời Hậu Lê (năm 1740) đã ban bố 24 điều, đề ra việc đối với gia đình, dòng tộc, quan hệ láng giềng, tất cả đều phải hành xử thông qua nhân, tín, lễ, nghĩa, hiếu, tru n g , tức nhân dân phải hành xử tuân thủ quy phạm luân lý đạo đức của N ho gia, bởi vậy những tư tưởng của Nho học dần được truyền rộng N ào trong dân gian Đây được coi là triều đại phong kiến N ho giáo Việt Nam phát triển hưng thịnh nhất trong lịch sử, "Nho giáo hậu Lê hưng thịnh, đã giành lấy địa vị độc tôn, trở thành tư tưởng chính thống chi phối toàn xã hội Cho đến đầu và giữa triều Nguyễn, N ho học vẫn giữ vị trí hưng thịnh Từ thế kỷ XV đến giữa thế kỳ XIX, Tam cương Ngũ thường của Nho giáo đã trở thành kim chỉ nam, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong xã hội phong kiến Việt Nam "2
Đến nửa cuối thế kỷ XIX, sau khi Việt Nam bị chủ nghĩa đế quốc Pháp xâm lược, sự phát triển của N ho giáo ở Việt Nam cũng phải chịu sự áp chế Thực dân Pháp dã tăng cường sự thống trị đối với Việt Nam, năm 1897, đế quốc Pháp đã cho xây đưng hàng loạt trường học Pháp - Việt ở tất cả các trung tâm thành phố lớn, phát triển hộ thổng tiếng Pháp và chữ quốc ngữ, dần thu hẹp phạm vi sử dụng tiếng
1 Trầr Trọng Kim, Nho giáo (xuất bản lần đầu tiên năm 1930), tái bản năm 2003, Nxb Văn học, Hà N ội, tr 648.
2 Đồ Viễn Hòa, Việc mô phỏng tư tưởng Nho giáo và sự phát triển xã hội Ả Đông, Nam Ninh,
N xbN hân dân Quảng Tây, 9/2002, tr 269.
959
Trang 3VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ
Hán, bởi vậy đã dần cắt đứt mối liên hệ giữa văn hóa V iệt Nam và Trung Quốc Năm 1898 còn quy định sử dụng Pháp ngữ và Quốc ngữ để tiến hành thi Hương Năm 1906, thực dân Pháp lại tiến hành cải cách giáo dục ở 3 cấp, giúp địa vị Pháp ngữ và Quốc ngữ tiến thêm một bước Nho giáo V iệt N am trong những năm đầu thể
kỷ XX có thể ví với hình ảnh "Nhật lạc Tây sơn" (M ặt trời lặn ở rặng núi phía Tây), bởi ảnh hường của nó đối với kinh tế, chính trị ngày càng bị hạ thấp Tuy nhiên, xét đến cùng thì Nho giáo cũng đã tồn tại trong lịch sử V iệt N am hơn hai nghìn năm, đã thực sự trở thành một bộ phận hữu cơ trong truyền thống văn hóa Việt Nam, nó hoàn toàn không thể n ít lui một cách triệt để khỏi vũ đài lịch sử Do vậy, thực dân Pháp đã không ngừng tăng cường sự thống trị đổi với V iệt Nam, hòng biến Việt Nam trở thành thuộc địa cung ứng nguyên liệu dồi dào và thị trường tiêu thụ thương phẩm cho Pháp, một m ặt hạn chế Việt Nam phát triển theo con đường kinh tế tư bản chủ nghĩa, mặt khác lại duy trì sự thống trị của văn hóa phong kiến ở các vùng nông thôn Chính vì lí do đó m à văn hóa N ho giáo vẫn chiếm vị trí quan trọng nhất định trong quảng đại quần chúng ở các vùng nông thôn V iệt N am đương thời
Ngô Tất Tố m ặc dù được sinh ra khi N ho giáo đang bị suy yếu (năm 1893) nhưng gia đình ông lại có truyền thống N ho học nổi tiếng trong lịch sử của làng Lộc Hà, tổng Hội Phủ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc N inh (làng này tên nôm xưa gọi là
Kẻ Cói, thuộc xứ Đông N gàn, tỉnh Bắc Ninh) D ựa vào các tư liệu đã ghi chép lại
ta biết được đây là ngôi làng đã từng có 130 người từ ng đỗ Tiến sĩ, "Đông ngàn trong lịch sứ rõ ràng là đất của những Tiến sĩ, Trạng nguyên, nơi p h á t tích của nhiều đống họ khoa bảng"] Đ ây là vùng đất địa linh nhân kiệt, vùng đất phát về
học thức Ông nội của N gô Tất Tố đã từng 7 lần tham gia khoa cử, cuối cùng đồ tú tài; thân phụ ông cũng là người ham học kinh thư, cũng không thể giành được hàm tước gì, cuối cùng đành an phận đảm nhận chức phận là ông đồ dạy chữ Hán và văn hóa Nho giáo Trung Quốc cho con em trong thôn xóm Dưới ảnh hường của
xã hội và truyền thống gia đình, N gô Tất Tố từ nhỏ đã được hấp thu một nền giáo dục văn hóa Nho giáo Ô ng cũng giống như đại đa số những đứa trẻ trong các gia đình Nho giáo khác, khi nhỏ cũng được học tập và tiếp nhận lễ nghĩa Nho giáo từ
bố mẹ Sau tiểu học qua hệ thống học tập với H iểu kinh, Tam tự kinh, đã nắm
được cơ bản thế nào là hiếu đạo, lễ nghĩa và sửa mình Suy cho cùng thì ông đã dần dần từng bước học tập hệ thống Tứ thư, N gũ kinh, cổ văn, đường thi, lịch sử, văn hỏa của Trung Quốc, các điển tích và các danh sĩ nổi tiếng trong lịch sử Việl Nam Ngoài chuyên môn là nẳm chẳc kỹ thuật viêt văn, ông còn thành thạo các phương pháp làm thơ, phú, viết báo, kịch và các phương pháp lí giải, cảm thụ ý nghĩa văn chương Để đỗ trong các kỳ khoa cử, thuộc lòng tất cả các chương, mục
Trang 4TÌNH CẢM VĂN HÓA NHO GIÁO TRONG SÁNG TÁC
hoặc tất cả các đoạn, các câu là một trong những yêu cầu quan trọng nhất trong kinh điển Nho gia, thầy giáo đều yêu cầu học sinh của m ình học thuộc lòng tất cả những thứ đó, bởi thế các sĩ tử thông qua tất cả những gì được luyện tập thông thường đều nhất loạt nắm tương đối sâu sắc những điều cơ bản nhất của văn hóa Nho giáo Năm 1912, Ngô Tất Tố bắt đầu bước chân vào con đường khoa cử, năm
1925, ông lại tham gia và đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tinh Bắc N inh, nên được gọi
là "đầu xứ Tổ", rồi thi Hương lần thứ hai, khoa Ất M ão, cũng là khoa thi Hương cuối cùng ờ Bắc Kỳ Ông qua được kỳ đệ nhất, nhưng hỏng ở kỳ đệ nhị, đệ tam
N gô Tất Tố trưởng thành trong môi trường giáo dục và văn hóa N ho giáo, tất cả những yếu tố đó đã trở thành nguồn đề tài nghiên cứu và cảm hứng sáng tạo văn chương của ông
2 Mối nhân duyên đặc biệt đối với văn hóa Nho giáo, tích cực nghiền cứu văn hóa Nho giáo, lấy Nho giáo làm đề tài sáng tạo nghệ thuật
Trên văn đàn văn học Việt Nam những năm đầu thể kỷ XX, cùng với các tác già chịu tác động của vãn hóa Nho giáo, nổi tiếng trong khoảng đầu những năm 20
có các tác giả như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Học, Tàn Đà, nhưng đến cuối những năm 20 lại dần dần lùi lại phía sau hậu trường trên văn đàn, nhường lại chỗ cho các tác gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Tây học,
và các nhà Tây học dần chiếm vị trí thống trị trên bầu trời văn học, ví dụ như đầu những năm 30 có các cây bút như: Nhất Linh, Khái Hưng, Tam Lang, Lan Khai, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, N guyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Thạch L am , Trong số đó hoặc từ Pháp du học quay về, hoặc đã từng theo học và tốt nghiệp ở các trường Pháp - Việt nổi tiếng Tất cả đều chịu ảnh hưởng của nền văn học phương Tây, mô phỏng các sáng tác của văn học phương Tây, sử dụng thành thục chữ quốc ngữ Việt Nam trong việc sáng tác văn học Trong các tác giả của nền văn học mới đương thời khi đó, chi có rất ít người cùng kiêm nhiệm cả Nho học và Tây học như Ngô Tất Tố và Nguyễn Công Hoan Tuy nhiên, Ngô Tất Tố do
từ nhỏ đã được thụ hưởng nền giáo dục và văn hóa tốt đẹp của N ho giáo, nên đã nảy sinh mối lương cảm rất đặc biệt đối với văn hóa Nho giáo Từ năm 1923 đến đầu những năm 1940, ông đã tiến hành nghiên cứu bao quát nền văn hóa cổ đại Trung Quốc trong nội tại văn hóa Nho giáo, tiến hành dịch chú giải kinh điển Nho học
Trung Quốc Kinh dịch, cho xuất bản Lão Tử, Mặc Từ, tiến hành phê phán một số quan diểm sai lầm trong Nho Giáo của Trần Trọng Kim, đồng thời ông còn lấy văn hóa Nho giáo làm đề tài, sáng tác Lều chõng,, Việc làng, Tập án cải đình, Trong rừng nho, đây cũng là hướng thường thấy trên văn đàn của những năm 30, 40 tại
Việt Nam đó là đồng thời cùng dịch, nghiên cứu nội dung văn hóa Nho giáo và lấy ctó làm đề tài sáng tạo văn học
961
Trang 5VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ TƯ
2.1 Chỉnh lí, dịch thuật, nghiên cứu văn hóa truyền thống Trung Quốc và Việt Nam, ph á t triển sâu rộng Hảtt học và nuôi dưỡng văn hóa N ho học
Trong một thời kỳ dài V iệt Nam đã sử dụng văn tự Hán và N ôm làm công cụ
để học tập và sáng tác văn học, cùng với việc phổ cập văn tự Quốc ngữ vào đầu thế
kỷ XX, thì văn tự Hán, Nôm đã dần vắng bóng trên vũ đài chính trị, kinh tế, văn hóa Việt Nam, văn hóa Việt Nam sắp đối mặt với nguy cơ bị gián đoạn Ngô Tất Tố luôn trăn trở, suy nghĩ về sử mệnh của văn hóa truyền thống dân tộc, đối với văn học Hán và văn học Nôm của Việt Nam thời kỳ trung đại, ông tiến hành chỉnh lí,
dịch, nghiên cứu, sau đó cho xuất bản hai bộ sách nổi tiếng Văn học đời Lý, Văn học đời Trần, tiến hành giới thiệu, địch, bình chú và phân biệt văn học của hai triều
đại Lý và Trần; tiếp đến ông còn tiến hành biên tập, khảo cứu từ tác giả đến tác phẩm của toàn bộ nền văn học từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX, dịch và xuất bản
Thi văn bình chú, thể hiện tâm huyết vô cùng sâu sắc đối với Hán học và tinh thần
nuôi dưỡng văn học V à thể hiện sự nuôi dưỡng văn hóa của Nho gia đã bám rễ rất
sâu vào nền văn hóa V iệt Nam , là việc phê phán Nho giáo của Tràn Trọng Kim và việc dịch Kinh dịch.
Trần Trọng Kim - một học giả có tiếng của Việt N am năm 1932 đã cho xuất
bản bộ sách nghiên cứu nổi tiếng trong lịch sử V iệt N am - Nho giáo, sau khi xuất bản, Nho giảo đã thực sự gây tiếng vang lớn và khẳng định tên tuổi của Trần Trọng
Kim trong bối cảnh văn hóa đương thời, ông tuyên bố "Dân An N am đều phải thắp hương mà đọc"1 Tuy nhiên, sau khi Ngô Tất Tố đọc xong, phát hiện thấy cuốn sách
còn tồn tại nhiều sai sót, năm 1940 ông đã cho đăng bài tiểu luận dài Phê phản cuốn Nho giáo của Trần Trọng K im , tiến hành bình giá, vạch trần một cách khoa học những vấn đề còn tồn đọng trong Nho giáo của Trần Trọng Kim Tác giả cho rằng, khuyết điểm lớn nhất tồn tại trong Nho giảo của Trần Trọng Kim chính là tài liệu
dẫn dùng không nghiêm ngặt, chặt chẽ, ông phân biệt các tài liệu dẫn ngôn luận của
Khổng Từ từ K hổng Tử gia ngữ, Thư kinh, Le kinh, Dịch kinh, X uân thu, Đ ại học, Trung dung, Mạnh Tử, Luận n g ữ , Mặc dù Ngô Tất Tổ nhìn thấy và chi ra "Trong bấy nhiêu sách, trừ ra mấy cuốn Luận ngữ, M ạnh Tử, Kinh Xuân Thu và Kinh Thi,
còn thì đều là những sách đáng ngờ, hoặc không thể tin"2, nhưng Trần Trong Kim tuyệt nhiên không xem xét khảo sát đánh giá lại, dẫn đến làm tăng thêm mối nghi ngờ cho cuốn sách, tạo thành nhiều thiếu sót, nhầm lẫn Do vậy, N gô Tất Tố càng khẳng định luận chứng của mình về những tài liệu được dẫn là "đáng hoài nghi, hoặc không đáng tin cậy", bằng những phán đoán minh chứng có sức thuyết phục mang tính khoa học của chính mình; tiếp đó Ngô Tất Tố còn chỉ ra trong nội dung
1, 2 Ngô Tất Tố, Phê phán cuốn Nho giáo cùa Trần Trọng Kim, Hà Nội, Nxb Mai Lĩnh, 1940.
Trang 6TlNH CẢM VẢN HÓA NHO GIÁO TRONG SÁNG TÁC
cuốn Nho giáo cũng tồn tại sai sót, Trần Trọng Kim đã lấy tư tưởng các học trò của
K hổng Tử hoặc các Nho sĩ nhà Hán coi như là tư tưởng của K hổng Tử để tiến hành giiản thuật; ngoài ra, Trần Trọng Kim còn lí giải theo kiểu "vọng văn sinh ý" (Trông miặt bắt hình dong, nhìn vào bề ngoài mà đoán ý bên trong) chữ "Nho", giải thích tư
tư ở ng dân chù hiện đại có liên quan đến "trung quân", có liên quan đến Khổng Tử,
d o vậy dẫn đến những sai lầm do chù quan duy ý trí, sai sót trong giản thuật, sai lầm trong cách dịch thuật câu chừ và ngữ pháp, những vấn đề tồn tại trong phương pháp nghiên cứ u, Ngô Tất Tố đều nhất nhất chỉ ra Những phê phán đó không những thiể hiện sự nuôi dưỡng văn hóa Nho giáo rất sâu rộng của Ngô Tất Tố, mà còn thể
hi ện dụng tâm chịu khổ để bảo vệ sự chính thống của văn hóa N ho giáo và trách nhiệm mạnh mẽ của tâm hồn Ngô Tất Tố ô n g đã từng nói: "Rồi đây Hán học sẽ
đ ẽn tiêu diệt, muốn khảo cứu Nho giáo, người ta cũng làm như ông Hoàng Đạo, chỉ tìm ở bộ Nho giáo mà thôi Nếu như những chỗ sai lầm của sách ấy không được đíinh chính, thì với những người đẻ sau vài chục năm nữa, N ho giáo sẽ là "Trần Tìrọng Kim giáo", không phải đạo giáo của Khổng Tử và tiên nho rồ i"1
Ngô Tất Tố quý trọng văn hóa Nho giáo không chỉ thể hiện ở việc ông Phê pỉhán cuốn Nho giáo của Trần Trọng Kim, mà đồng thời còn tìm, phát hiện ra các lỗii sai trong Kinh dịch của Trẩn Trọng Rim sáng tác năm 1943 N gô Tất tố lấy Kinh dịich là tư tưởng triết học chính thống cùa Nho học, do vậy ông dành rất nhiều tâm
hiuyết để tiến hành dịch thuật và chú giải một cách nghiêm túc và ti mỉ Ông cho
rằing "Kinh dịch là một cuốn sách lạ trong văn học giới của nhân loại Thể tài sách
nàìy không giống một cuốn sách nào Bởi vì cái gốc của nó chỉ là một nét vạch ngang, do một nét vạch ngang, đảo điên xoay xỏa thành một bộ sách, vậy mà hầu
h ẽ t chi tiết ở trong, đều có thể thống luật lệ nhất định"2 Từ trong cách nói của tác giiả, ta đã có thể cảm nhận dược tình cảm đặc biệt mà tác giả dành cho văn hóa Nho giiáo là sâu sắc đến nhường nào
2.2 Chọn lọc nhữ ng nét độc đáo của văn hóa N ho giáo làm đề tài sáng tác, pỉháí triển bầu kh ô n g k h í N ho giáo đậm đà bản sắc dân tộc Việt N a m
Trong lịch sử văn học Việt Nam những năm 30, 40 của thế kỷ XX, lấy văn hóa
Nỉho giáo làm đề tài sáng tác, niĩoại trừ Ngô Tất Tố ra, còn có Bút nghiên (1942), Níhà Nho (1943) và Thanh đạm của Nguyễn Công Hoan N hưng những tác phẩm
N g ô Tất Tổ viết xoay quanh văn hóa Nho giáo không những có số lượng nhiều nhất, thể tài bao quát rộng, mà tư tường cũng sâu sắc hon N hững tiểu thuyết cùa
ô n g có Tắt đèn, Leu chõng, phóng sự văn học có Việc làng, Tập án cái Đình, tiểu
1 Ngô Tất Tố, Sđd.
2 Ngô Tất Tố, Ngô Tất Tố toàn tập, tập 2, Hà Nội, Nxb Văn học Hà Nội, 1996.
963
Trang 7VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỬ TƯ
thuyết lịch sử cỏ Trong rừng nho, Vua Hàm N ghi với việc kinh thành thất thù, Lịch
sử Đ ề Thảm, đều xuất phát từ các góc độ phát triển khác nhau của xã hội để phản
ảnh bầu không khí văn hóa Nho giáo đậm đà bản sắc dân tộc V iệt Nam
Lều chõng và Trong rừng nho là hai bộ tiểu thuyết trực tiếp được văn hóa
khoa cử Nho gia gợi cảm hứng sáng tác, tác phẩm đã tái hiện chân thực chế độ giáo
dục mục nát của chế độ khoa cử dưới triều Nguyễn V iệt Nam Leu chõng đã vận
dụng vốn sống phong phú, sâu sắc, bút pháp kí sự, N gô Tất Tố đã m iêu tả một cách chân thực toàn bộ quá trình thi cử của chế độ khoa cử phong kiến V iệt Nam Tác giả dùng Đào Vân Hạc tham gia vào khoa thi làm đầu mối, toàn bộ quá trình thi cử Việt Nam từ thi Hương, thi Hội, thi Đình đều xoay quanh nhân vật chủ chốt này Tác phẩm không những miêu tả một cách tỉ mỉ con đường học vấn khắc khổ, gian nan, lận đận, giống như con đường trèo núi rất vất vả phải kinh qua hết thác nọ đến ghềnh kia, lấy sự m ừng rỡ trong giờ phút thành công và tâm trạng thống khổ trong giây phút thất bại của họ, mà ông còn miêu tả một loạt các trình tự phức tạp từ phát
đề, làm bài, bình quyển; từ đó vạch trần sự hắc ám và bảo thủ trong chế độ khoa cử,
đã thể hiện chủ đề sâu sắc của xã hội; hơn nữa, tác giả còn đặt quá trình thi cử đó được bao bọc quanh bởi bối cảnh văn hóa Nho giáo rất điển hình, đây cũng là một
trong những yếu tố tạo nên sự thành công của Lều chõng Tiểu thuyết từ khi bắt đầu
đã cho ta chứng kiến cảnh trên đường vinh quy bái tổ của Trạng nguyên Trần Đăng Long, miêu tả cô gái tên Ngọc - vợ chàng, với khát vọng, m ong m uốn thiết tha được làm bà nghè bà cử, sự trông đợi của họ hàng và thầy giáo Đ ào Vân Hạc, vạch trần các quy cách thi cử lạc h ậ u , tất cả đều tập trung tái hiện lại bầu không khí văn
hóa phong tục N ho gia trong bối cảnh xã hội V iệt Nam Trong rừng nho lại lấy
nhân vật chính là Hồ Xuân Hương với quá trình phản kháng lại văn hóa N ho giáo, thông qua số mệnh "gập ghềnh" của Hồ Xuân Hương để tập trung m iêu tả với đủ
mọi hình sắc của nhân vật Trong rùrtg nho, đơn cử như các nhân vật chính diện với
đủ các phần tử tri thức Nho gia như Đàm Chinh Trung, Bảy Chiêu, Tám Chiêu và các nhân vật phản diện như Đặng Tiến Sĩ, Hoàng Tiến Sĩ cùng các học trò của họ, Tác giả đã phân biệt hai tuyến nhân vật chính - phản bằng việc triển khai bề mặt cuộc sống và phẩm chất đạo đức của họ, đã tái hiện mọt cách chân thực diện mạo của xã hội Nho gia Việt Nam trong thế kỷ XVIII
Các tác phẩm khác của Ngô Tất Tổ, mặc dù không trực tiếp lấy đời sống Nho học làm đề tài, nhưng trong mồi tác phẩm của ông, hoàn cảnh xã hội bao quanh cuộc sống mỗi nhân vật dường như đều mang đậm màu sắc văn hóa của Nho giáo
Hai phóng sự văn học Lều chõng và Việc làng đã tập trung lột tả những hủ tục tồn
tại ở nông thôn Việt Nam, hơn nữa tất cả những hủ tục lạc hậu này đều cho thấy
những dấu vết văn hóa Nho gia để lại là rất đậm nét, tiểu thuyết Tắt đèn phản ánh sự
Trang 8TlNH CẢM VĂN HÓA NHO GIÁO TRONG SÁNG TÁC
đàn áp, bóc lột của bọn thống trị phong kiến thực dân Việt Nam ; tố cáo sự tàn ác cùa bọn chúa đất, địa chù; đồng thời khắc họa hình ảnh những người phụ nữ với phẩm chất tính cách tốt đẹp như dịu hiền, lương thiện, chịu thương chịu khó, thương chồng thương con, giữ mình như ngọc mà chị Dậu là đại diện, đã lưu giữ
được phong diện đạo đức của xã hội Nho học; các tiểu thuyết lịch sử như Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ, Lịch sử Đề Thám, thì lại trực tiếp miêu tả lại
những biểu hiện về phẩm chất tinh thần Nho gia "Xả thân vì nghĩa" của các tướng sĩ
ái quốc hợp thành từ các phần tử tri thức Nho gia trong "Phong trào c ầ n Vương"
Có thể nói, trong các tác gia Việt Nam những năm 30, 40 của thế kỷ XX, chi
cỏ Ngô Tất Tổ là người dành nhiều tâm huyết nhất để nghiên cứu vãn hóa Nho gia,
và trong những tác phẩm của ông, bất luận là tiểu thuyết hiện thực, phóng sự tiểu thuyết hay tiểu thuyết lịch sử đều mang đậm dấu ẩn của văn hóa N ho gia, đều thể hiện tình cảm đặc biệt của chính tác giả dành cho văn hóa N ho gia
3 Phơi bày sự phong phú, đa dạng của hiện thực xã hội Việt Nam, thể hiện nhận thức tích cực đối với tinh hoa văn hóa Nho gia
Ngô Tất Tổ dưới ảnh hưởng của tư tưởng hiện đại phương Tây, đã thức tỉnh nhận thức khi so sánh với bàn chất văn hóa Nho gia, trong phóng sự văn học Lều
chõng, Việc làng, ông đã phê phán gay gắt sức lây lan, ảnh hưởng và phồn thịnh của
văn hóa Nho gia trong tác phẩm; và đồng thời đối mặt với hiện thực đen tối của xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của đế quốc Pháp, Ngô Tất Tố đã tận dụng những điểm tích cực trong tư tường văn hóa Nho gia để tiến hành phê phán sự vô tình, vô nhân đạo của hiện thực xã hội, thể hiện những nhận thức tích cực cùa tác giả đối với những ưu điểm của văn hóa Nho giáo
3.1 Tổ cảo những hành vi tàn bạo, vô nhân đạo của bọn thống trị thực dãn phong kiến, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người p h ụ n ữ tao động Việt Nam Từ đỏ, tích cực khẳng định li tưởng "Nhân nghĩa " của Nho gia
"Nhân" là hạt nhân cùa văn hóa Nho gia, trong sáng tác của mình, Ngô Tất Tố hoặc vô tình hoặc cố ý đã lấy chữ "nhân" để cân nhắc, đánh giá đời sống hiện thực
xã hội Một mặt phê phán sự vô nhân tỉnh trong hiện thực xã hội của giai cấp địa chù và bọn thống trị thực dân phong kiến thiếu đi sự chính nhân, nhân đạo, một mặt lại phát triển một cách có ý thức những phẩm chất cao quý của người phụ nữ lao động Việt Nam, với những phẩm chất dân tộc dịu hiền lương thiện, thủy chung son sấc, thủ tiết như ngọc
Tiểu thuyết Tắt đèn đã cho chúng ta biết hiện thực vô nhân đạo của xã hội
thực dân phong kiến Việt Nam Trong tác phẩm, tác giả tập trung đả kích chính sách sưu cao thuế nặng tàn hạo bóc lột nhân dân đến tận xương tùy của thực dân
9 6 5
Trang 9VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ
Pháp, thông qua việc tự ý đề ra các loại thuế hòng vơ vét của cải vật chất, chúng đã khiến nhân dân Việt Nam rơi vào tình cảnh nước sôi lửa bỏng N hà thơ yêu nước
của Việt Nam Nguyễn Thượng Hiền trong tản văn R ơi N ước m ắt mà bàn về cuộc bể dâu đã nói: "Tóm lại ở trên mặt đất, một ngọn cỏ, m ột gốc cây, m ột viên ngói hòn
đá, nếu có thể dùng được việc cho người, đều ghi vào trong sổ thuế của chúng cả"1, đây chính là tình cảnh đen tối của xâ hội thực dân Việt N am đương thời Ngô Tất
Tố còn đi sâu vào khắc họa bản chất hung ác của bọn thống trị thực dân và sự tham lam của giai cấp địa chủ: trong một thời gian dài mà đại diện là chính quyền cấp cơ
sở nông thôn đã lợi dụng chính sách thu thuế để vơ vét của cải, bóc lột, đàn áp nhân nhân Nguyễn Văn Dậu chỉ vì đau ốm không có tiền nộp thuế, nên bị đánh đập đến chết đi sống lại, không còn cách nào khác, cuối cùng đành phải bán con bán c á i; quan lại địa phương mà đại diện là tri phủ đại nhân tự cho mình cái quyền đi đàn áp người dân thấp cổ bé họng, nhất là phụ nữ lương thiện; giai cấp địa chủ mà đại diện
là vợ chồng Nghị Quế gian ác, chèn ép người dân phải bán con với giá bèo bọt, hom nữa còn nhẫn tâm để chị Dậu đau xót chứng kiến cảnh cái Tí bốc cơm thừa của chỏ dưới đất để ăn , qua đỏ tác giả đã lột tả bản chất vô nhân đạo của xã hội phong kiến thực dân Việt Nam , đồng thời cũng thể hiện thái độ phủ định hiện thực xã hội đen tối đương thời
Hơn thế nữa, N gô Tất Tố còn cho chúng ta thấy những phẩm chất dân tộc tố t đẹp, cao thượng của phụ nữ nông thôn Việt Nam Dưới ngòi bút của tác giả, nhân vật chính - chị Dậu hiện lên trước mắt người đọc là người phụ nữ đại diện cho những người phụ nữ thủy chung, giữ nguyên những truyền thống văn hóa tốt đẹp của Nho giáo Chị Dậu là một người phụ nữ hiền dịu, lương thiện, cần cù, dũng cảm, nghĩa tình, luôn đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, gánh vác trách nhiệm việc nhà cho người chồng luôn đau ốm Trong tiểu thuyết chủng ta thấy, do trong nhà liên tiếp có hai người thân mất đi, lại thêm người chồng luôn bệnh tật đau ốm , nên chị Dậu trở thành một trong những hộ nghèo nhất Trong hoàn cảnh khó khăn, vất vả đó, chị Dậu vẫn thể hiện phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ nông thôn V iệt Nam, đó là trước khó khăn chị không thể buông xuôi, mà dũng cảm đứng lên gánh vác tất cả trách nhiệm trong nhà, chị làm việc quần quật cả ngày, chăm sóc ngưcri chồng đau ốm và ba con nhỏ dại, nhưng chị không m ột lời oán thán; để có tiền nộ'p sưu cho chồng, chị chạy đôn chạy đáo vay tiền cho chồng, nhẫn nhục chịu dựng; khi chồng bị đánh, chị đã dũng cảm đứng dậy, xin được thay chồng chịu tội; khi khôn g thể nhẫn nại thêm được nữa, chị đã vùng dậy phản kháng chổng trả lại hai tên sai nha, thể hiện sự kiên cường, quả cảm kỳ lạ nhưng sau cùng, chị lại giải thích biện
minh hành động của mình với bà cụ hàng xóm: "Cháu cũng biết rằng đàn bà hàn h
1 Nguyễn Tuân (1962), Lời nói đầu trong tiểu thuyết"Tắt đèn", Nxb Văn học, Hà Nội.
Trang 10t I n h c ả m v ả n h ó a n h o g i á o t r o n g s á n g t á c
hung như thế là hư thân lắm, chứ không hay gì N huvg mà chúng nó đè én chúng cháu tệ quả, cháu đã cổ nhịn mà không nhịn được Cụ tính nhà cháu đau ốm như thế, mà cà hai đứa cứ xông vào đánh thì phỏng còn gì là người! Vì thế cháu phả i liều với chủng nó" Trong câu nói của chị Dậu thể hiện phẩm chất lương thiện luôn
tồn tại trong chị; nhung sau cùng đó chính là phẩm chất N ho giáo luôn tiềm ẩn trong con người chị, trước những cám giỗ của đồng tiền m à tên Tri phủ đại nhân và tên Tư Ấn mua chuộc, chị đã kiên quyết bảo vệ phẩm tiết của mình Nhà phê bình
Hà Minh Đức - một Giáo sư nổi tiếng trong giới phê bình của Việt Nam đã nói rằng: "Chị còn bị tên Tri phủ Tư Ân tìm cánh mua chuộc bàng tiền tài Người phụ
nừ nghèo khổ phải vất vả để kiếm lấy từng đồng cho đủ suất sưu nhưng sẵn sàng vứt tọt nắm bạc xuống đất trước con mắt ngạc nhiên của tên quan vô đạo đức"1 Những chi tiết trên chính là sự khẳng định tích cực những phẩm chất trắng trong như ngọc của người phụ nữ lao động trong xã hội Nho gia N hà phê bình Việt Nam
Phú Hưng Tăng đã từng nói: "Trong Tắt đèn, hình như tác giả không nỡ để người
đàn bà bị ô nhục: hai lần bị lôi kéo, hai lần chạy thoát được Người ta sẽ nói ông Tố
"giữ trinh" cho nhân vật của ông quá, mà chính là đặc điểm của phái Nho học xưa này Họ đã bị luân lý Nho giáo ảnh hưởng nhiều nên họ muốn cho câu chuyện được trong sạch Nếu gặp phải một văn sĩ Tây học khác, có lẽ câu chuyện sẽ được kết cấu một cách đột ngột hơn, người đọc sẽ không hiểu thân "chị Dậu" trong bóng tối sẽ ra thể nào)" Đây chính là những lời đánh giá thể hiện sự ảnh hưởng của Nho giáo đến ngòi bút của Ngô Tất Tố là quá lớn
Ngoài Tẳt đèn, Hoàng Thị Ngọc trong Lều chõng cũng là m ột người phụ nữ
mang đầy đù những phẩm chất đặc trưng của truyền thống văn hóa Nho gia, cô Cling hiền dịu, xinh đẹp, cần cù, chịu khó, lương thiện, có tinh thần giữ mình trong
sạch, còn Hồ Xuân Hương trong tác phẩm Trong rừng nho cũng giữ gìn nhiều
phẩm chất đạo đức lương thiện, nữ tính của Nho gia, trên người cô luôn phát ra những ánh hào quang làm say lòng không biết bao đấng mày râu, từ tiến sĩ, nho sinh đến những bậc quan viên đạo đức giả Tất cả những hình tượng nhân vật nữ dưới ngòi bút của Ngô Tất Tố đều là những người đại diện cho văn hóa truyền thống tốt đẹp của Nho giáo
Thòng qua những điều đã nêu ra ở trên, chúng ta có thể thấy rõ rằng, Ngô Tất Tố đã sáng tạo ra hai tuyến nhân vật hoàn toàn đổi chọi với nhau: mộí tuyến là quan lại thực dân phong kiến vô nhân đạo, tàn ác và địa chủ phong kiến gian tham
vô độ, tất cả bọn chúng dưới sự ảnh hưởng của chủ nghĩa kim tiền phương Tây, đã hoàn toàn đánh mất lý tường "nhân ái" của Nho giáo truyền thống, trở thành
1 Hà Minh Đức (1999), Văn học Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội.
9 6 7