1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một vài đặc điểm về thủy lợi ở châu thổ sông hồng thế kỷ xx triều nguyễn trước thời kỳ thực dân

22 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 13,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu trích dẫn đầu tiên đó không có nghĩa rằng đê điều chưa được đắp trong thời gian trước đó: sự tồn tại của những công trình bảo vệ ở hai tỉnh Sơn Tây và Hưng Hóa xưa đã được xác nhận c

Trang 1

MOT VÀI DÀC 01ÉM VÈ THÛY LOI• • •

Ô CHÂU THÔ SÔNG HONG THÉ KŸ XX (TRIÈU NGUYÈN)

TRlTCÎC THÔI KŸ THU'C DÂN

Olivier Tessier*

Ljch sur khai thâc và tu eu trên châu thô sông Hong gàn chat vôi viêc chù dông

vê nircrc và hê thông thûy lçri dirge tao nên mot quâ trinh bôi dàp lâu dài Môi quan tâm chinh dôi vôi viêc dàp dê nhàm bào vê cuôc sông cüa ngirài dân chông nhùng trân lut lôn cùa càc dông sông là mot hàng sô trong lich sù cô dai và hiên dai cüa Viêt Nam, dà gôp phân Ion vào viêc câu truc nên môi quan hê giîra Nhà nuôc và nông dân Chi vi à dât nuôc chü yêu là nông thôn này, sàn xuât nông nghiêp là nguôn thu nhâp quan trçng nhât cüa Nhà nuôc quân chü thông qua sir chiêm hüu dât dai cüa nguôi nông dân (dâ dàng bô) Nhu vây phâi tien hành công viêc trong hàng thé kÿ nhàm bào dàm tôt nhât cho nguôn thu nhâp không thê thiêu dôi vâi su ton tai cüa vuang trièu,

và viêc dô phài làm trong m0t vùng cô dàc diêm là tinh bâp bênh cüa nông nghiçp xày ra triên miên, khi han hân de dç>a vy müa thâng 5, tiêp dên là nguy ca lü lyt tàn phâ vy müa thâng 10 Cô thê rut ra dàc tinh chü yêu cüa châu thô: dây là mot dông bàng phù sa rçng lôn (14.700 km2) bj tê liçt tir lâu trong quâ trinh phât trién do bàn tay con nguài Viçc dàp dê dçc hai con sông chinh là sông Thâi Binh và sông Hong,

dà khiên cho trong hàng thê kÿ dja hinh trà nên không dông dêu, mà thyc ra chi là tam thài, khi phù sa ty nhiên cüa câc trân lü së bôi dàp dân nêu dông sông không bj giori han trong hç thông dê dieu dài hom 2.000 km

Sông Thâi Binh chày phia Dông - Bàc châu thô, là mçt con sông cô chê dç manh nhung dêu, vâi hç thông gôm câc hop luu và chi luu, cô dàc diêm là lü không lôn cô thê kiêin chê bàng viçc dàp dê Hç thông sông Hong hinh nhu là nguac lai, nhüng trân lü duçrc tàng cuàng do nuâc cüa hai hçrp luu chinh (sông Dà và sông Lô) dêu rât du dôi và là nguyên nhân cüa nhùng trân lut Nhung dông sông côn là nguôn tao thành châu thô và là nguôn dem lai phi nhiêu dâu tien nhà lâp phù sa dâng kê làng dong hàng bao thê kÿ mà chiêu dày cüa lâp trâm tich lên dên hàng chuc met1 Luu luçmg cô thê dat dên 28.000 m3/giây vào mùa lü, dâng mue nuâc lên rât cao,

* EFEO, Hà Nôi.

! Lâp phù sa sông Hong, ucrc tinh 130 trièu tàn môi nam, xêp con sông dimg vào hàng thir 8 trên thê gicri vè krong phù sa tài di (Bcthemont, 2000).

499

Trang 2

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI TIIẢO QUÓC TÉ LẦN THÚ TU

lại nằm chênh vênh bên trên dồne, bằng nhưng dòng chày dổ qua các Giồng dát vào lúc thường đã được đê ngăn chặn Cụ thể ra, vào mùa nirức Ihắp mùa đông, mực nước trung bình của đòne sông ở vào khoảng 2,50 mét trên mực nước biển Vào đầu mùa nước cao (tháng sáu-mười), mực nước lên nhanh và có thể dạt dến 10 mét trong vài ngày: cao độ của kinh thành là 5 mét, như vậy Hà Nội sẽ bị con sône

đe dọa trong suốt mùa mưa

M ap 1 - Two main fluvial systems: Red River and Thái Bình River

Source: Atlas Bac Hung Hai, GRET-INSA-UCL

Mối đe dọa định kỳ đó là một thực tế dối với đại bộ phận các khu vực tụ cư và đất đai trên châu thổ, trừ vùng đất cao phía Tây - Bắc Vì vậy, thành phố dirợc cài tên là Hà Nội năm 1831, và nhữnu làng mạc trung du và hạ châu thổ, được tồn tại bền lâu một cách kỳ lạ nhờ vào lao động khỏrm nuừnc, của nhừim người nông dân đắp đê, trổ các cửa cống và đào kênh mương

Mục tiêu của báo cáo này là bàn về chính sách tlniy lợi trôn châu thổ sông Hồng do các vua triều Nguyễn thực hiện, trước và dầu cuộc can thiệp thực dân, dặt trong tính năng động lịch sử lâu dài Ngoài những ntihi nuại vè dưừng lối theo đuổi công trinh dap đê rất tổn kcin mà vẫn khôntỉ dem lại một sự bao vệ thỏa mãn dù chống lại lũ lụt và sự đôi dòne dột ngột của các con sônu elnìim tôi cố chứnc, minh ràng các vua của triều đại này trên một vài khía cạnh n à o dỏ vần là nlũrim người đi đầu trong lĩnh vực làm chủ nước và dặt cơ sở CỈ10 một sự qui hoạch hợp lý châu thổ

sông Hồng

5 0 0

Trang 3

MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ THỦY LỢI

Vài môc lịch sử: đăp đê, một ưu tiên lâu đòi

Ở Việt Nam, cũng như ờ Trung Quốc, xây dựng đê điều thường trực tiếp do các vị hoàng đê điều hành Thiên mệnh giao cho một người “quyền uy tối thượng”, nghĩa là quyền hợp pháp cai trị thiên hạ (Cadière L., 1914), dòi hỏi nhà vua phải quan tâm bào vệ các thần dân Song sone với việc đi tìm một sự hồ trợ cùa Trời, được khẳng định hàng năm và dịp lỗ tịch điền (hay hạ điền) mở đầu mỗi mùa canh tác, việc bảo vệ dân chúng và mùa màng cũng đòi hỏi vương triều phải can thiệp trực tiếp vào những công trình thủy lợi để cổ gắng bảo vệ các cánh đồng khỏi bị lũ lụt

Đề cập đầu tiên đến công trình đê điều sau thời gian dài đô hộ của Trung

Quốc, được nhắc đến vào cuối thế kỷ XI trong Cương mục (Chb IV, 6): Tháng hai

năm Mậu Tí, năm thứ 8 (1108) đời vua Lý Nhân Tông, “Mùa hạ đắp đê ờ phường

Cơ Xá”1

Câu trích dẫn đầu tiên đó không có nghĩa rằng đê điều chưa được đắp trong thời gian trước đó: sự tồn tại của những công trình bảo vệ ở hai tỉnh Sơn Tây và Hưng Hóa xưa đã được xác nhận có từ đầu Công nguyên2 và là kết quả sự vay mượn kỹ thuật của Trung Quốc Quả thật, như p Gourou viết: “Khi cư dân châu thổ [sông Hồng] không còn là dân chài nữa, khi họ đã trở nên quá đông để có thể chỉ khai thác vùng đất cao và các giồng dọc sông, họ buộc phải đắp đê” (1936: 83) Nói chung, giả thiết được các tác giả ghi nhận về nguồn gốc của đê điều là tính năng động có nguồn gốc nội sinh: nhầm chổng lại lũ muộn mùa hè hay lũ mùa xuân, nông dân và các làng biệt lập phải đắp đê nhỏ dọc các dòng sông nhỏ bao quanh ruộng đồng của họ Theo thời gian, biện pháp đó được phổ biến và các con đê nhỏ được nổi liền nhau để phác thảo nên một hệ thống không ngừng dày đặc qua thời gian (Rouen, 1915: 10)

Vấn đề còn bỏ ngỏ với giả thiết văn hóa đó là vai trò của Nhà nước và khả năng can thiệp của nó v ề điểm chủ yếu này, nếu lập luận của Karl Wittfogel đưa ra

trong công trình gây tranh cãi Tính chuyên chế phương Đông đã bị phê phán nhiều

từ khi ra đời, thi tác giả đã biết nhắc ràng việc làm chù và kiểm soát nước đã tất yếu đưa đến mối quan hệ quyền lực giữa chính quyền trung ương với xã hội nông dân

Và trên thực tế, từ thế kỷ XIII, nghĩa là khi nhà Trần đặt cơ sở cho sự thành lập một chính quyền mang tính quí tộc và quân sự, biên niên sử hoàng gia mới nói đến việc thực hiện những công trình thủy lợi lớn và yết lộ từng mẩu sự phác thảo một tổ

1 Việt sử thông giám cương mục tiết yểu, Nxb KHXFI, Hà Nội, 2000, tr 118.

2 Được dẫn trong công trình cùa Cao Xuân Dục, Đại Nam dư địa chí ước biên, q 6, dẫn theo Hậu Hán thư.

501

Trang 4

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉƯ HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T ư

chức hành chính và quân sự chuyên biệt Sau trận lụt do com lũ lớn làm vỡ đê Long Đàm (thành phổ Hà Nội ngày nay) tháng mười 12451, sự kiện cho thấy đê sông

Hồng ít ra cũng đã được xây đắp một phần Sách Đại Việt sử ký viết: “Đời Thái Tôn

Hoàng đế (1225-1258) - Triều Thiên ứ n g chính bình [ ] Mậu Thân năm thứ 17 (1248) Tháng 3, sai các lộ đắp đê giữ nước sông, gọi là đê Đỉnh nhĩ (quai vạc), đắp suốt từ đầu nguồn cho đến bờ biển để giữ nước lụt tràn ngập Đặt chức Hà đê chánh phó sứ để trông coi Chỗ đắp thì đo xem đắp vào mất bao nhiêu ruộng đất của dân, theo giá trả lại tiền Đắp đê Đình nhĩ bắt đầu từ đấy [ ] Năm thứ 5 niên hiệu Nguyên Phong cùng triều vua [ ] Mùa hạ tháng 4 (5-1255)chọn các tản quan làm

Hà đê chánh phó sứ các lộ, khi nào rỗi việc làm ruộng thì đốc thúc quân lính đấp bờ

đê đào mương lạch để phòng lụt hạn.”

Quả thật các nguồn sử liệu có được không đồng nhất và thiếu dấu vết hay bằng chứng từ bên dưới ở cấp làng xã, phải chấp nhận nguy cơ một sự thổi phồng khả năng của quyền lực vương triều áp đặt có hiệu quả đối với nông thôn Dù sao, đoạn trích trên cho thấy đối diện với công trình lớn lao phải hoàn thành, việc đắp đê toàn

bộ sông Hồng đã được nhà vua định ra phương hướng cho các tỉnh thực hiện bằng việc sử dụng nguồn nhân lực dễ huy động là quân đội Nhưng mặc cho hình thức tổ chức đầu tiên và quản lý các công trình thủy lợi đỏ, nỗ lực đắp đê thực hiện trong thế kỷ XIII và XIV không được tiến hành theo một qui hoạch tổng thể trên châu thổ

và phải dựa vào các kỹ thuật xây dựng theo kinh nghiệm và có chất lượng không đều từ tỉnh này sang tỉnh khác Hậu quả là sự mong manh của đê điều đắp nên và chỗ tiếp nổi thành hệ thống đôi khi không vững chắc, không đủ để chống lại những trận lũ trung bình của sông Hồng và các chi lưu, chứng cớ là có nhiều ghi chép về

đê vỡ, lụt lội, về gia cố đê điều và những công trình mới

Đen thế kỷ XV, với triều đại nhà Lê, đất nước trải qua một thời kỳ yên ổn và hòa bình tương đối với Trung Quốc và Champa, mà Đại Việt vừa áp đặt thắng lợi quyền uy của mình Đường lối lớn về nông nghiệp của vua Lê Thái Tổ được tiếp tục dưới triều vua Lê Thánh Tông: do việc vỡ đê sông Tô Lịch, Hoàng đế chỉ dụ sửa sang đê điều và đường xá khắp cả nước và đặt các chức quan mới về khuyến nông

và hà đê2 Ý chí đó được tiếp tục đến những năm đầu thế kỷ XVI và không chỉ xây

1 Năm Át Tỵ, năm thứ 14 (1245) “ Mùa thu tháng 7, nước to, vỡ đê Long Đ àm ”, Cương mục, sđd, tr 157.

2 “Át Mùi năm thứ 6 (1475) Tháng 7, mùa thu Có thủy tai lớn, vỡ đê Tô Lịch Đặt chức quan hà đê và quan khuyến nông” “Nhà vua ra sắc lệnh cho trong nước sừa đắp đè điều và đường sá, đặt chức quan hà đê trông coi công việc này: lại đặt chức quan khuyến nông dể đôn đốc về việc cày cây.” Việt sử thông giám cương mục, T XII, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959, tr 1082.

5 0 2

Trang 5

MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ THỦY LỢI.

dựng và gia cố đè điều mà còn khuyến khích các công trình dẫn thủy nhập điền Cho nên năm 1503, dưới triều vua Lê Hiển Tông, Dương Trực Nguyên, Tả thị lang

Bộ Lễ tâu xin: “Đắp đê sông Tô Lịch trên từ càu Trát xuống đến sông cổng để phòng bị thủy hoạn, lại xin khai cừ Yên Phúc xuống đến cừ Thương Phúc để lấy nước tưới ruộng Nhà vua chuần y.”

Không còn nghi ngờ gì, việc thiết lập dưới triều Lê, một Nhà nước Nho giáo trung ương tập quyền, chi đạo cả nước dựa trên bộ máy quan liêu hiện diện đến tận các huyện nông thôn, là một nhân tố quyết định để thực hiện công trình thủy lợi và chống lũ lụt Ý chí hợp lý hóa và hệ thống hóa việc bảo dưỡng và gia cố hệ thống đê điều đã được nêu trong luật nhà Lê, chi rõ các quan ở các cấp hành chính là người duy nhất chịu trách nhiệm thực hiện các chi dụ của nhà vua: “Điều 181: Các công trình tu sửa đê điều phải bẳt đầu từ mồng 10 tháng giêng, tất cả dân làng trong vùng

hộ đê phải đến đoạn đê được giao cho tu bổ Công trình đó phải làm trong thời hạn hai tháng: mồng 10 tháng ba phải hoàn thành Khi đắp đê mới, thời hạn ba tháng định ra để hoàn thành Các quan lộ phải thường xuyên giám sát công trình, các giám

hộ và đốc phu phải liên tục đôn đổc thực hiện [ ]” (Deloustal, 1911: 128)

Đến cuối thế kỷ XVII khi đất nước tương đối tạm yên dưới thời chúa Trịnh, nguồn sử liệu nói về vấn đề tu bổ đê điều ít ỏi hơn Quà thật đất nước vừa trải qua một thời kỳ cực kỳ rối ren và bất ổn chính trị do cuộc nổi dậy của nhà Mạc và một loạt cuộc chiến đẫm máu giừa chúa Trịnh và chúa Nguyễn Đầu thế kỷ XVIII,

Cương mục viết: “Tháng 8, mùa thu Hạ lệnh sửa đắp đương đê sông Nhị Hàng

năm nước sông Nhị tràn ngập, đường đê nhiều chỗ khuyết liệt Triều đình bèn hạ lệnh hai ty Trấn thủ và Thừa chính đốc sức dân phu, tùy theo địa thế bồi đắp sửa chữa, để lợi cho nông dân.”2 Ba năm sau (1711), năm thứ 7 triều Vĩnh Thịnh, nhà vua quyết định điều chỉnh tổ chức hộ đê bằng việc cử quan triều đình đến giám sát Nhựng lời cẩm án chép tiếp sau đó rằng “Triều đình chia cho dân phải nộp tiền thuế điệu để hàng năm sửa đắp, dân phải tốn cùa hao công, mà một khi xảy ra nạn nước xoáy vỡ đê, dân lại bị hại không sao kể xiết.”3 Cuối cùng, chỉ có ba đoạn cúa các

chương 33 đến 35 trong Cương mục (1663 đến 1721) nói đến việc đắp đê và chỉ nói

về việc tu sửa chứ không có làm mới Tình hình đó nuược lại với nhiều đoạn nói về hạn hán và lũ lụt đưa đến mất mùa đói kém liên tiếp xảy ra thời đó (17 đoạn), cho

1 Việt sừ thông giám cương mục, T XIII, Nxb Văn Sừ Địa, Hà Nội, 1959, tr 1 13.

2 Việt sừ thông giám cương mục, T li, Nxb Giáo dục 1 là Nội, 2007, tr 395.

3 Như trên, tr 397.

503

Trang 6

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUÓC TÉ LÀN THỬ T ư

thấy một Nhà nước rõ ràng là yếu kém và bất lực hơn điều mà sử học chính thcng muốn làm cho ta lầm tưởng Đấy là một trong những sai lầm nghiêm trọng của các chúa Trịnh đã không chú ý đúng mức về vấn đề nông nghiệp nói chung, và đặc Hệt

là việc chủ động về nước mà việc quản lý giao cho các quan tinh Thật vậy, íau nhiều lần vỡ đê, năm 1723 Nhà nước phải nắm lại việc điều phối công trình đê đièu, nhưng đển năm 1767 lại phải giao lại cho quan địa phương, vì chính quyền đang ở vào lúc suy thoái (Lê Thành Khôi, 1992: 271)

Mặt khác của việc làm chủ nước là tưới tiêu, các nguồn tư liệu lại càng hiẻm hơn vấn đề đê điều, nhưng cùng nói lên mối quan tâm thường xuyên của các trều đại trước nạn hạn hán và hậu quả bi thảm đối với dân chúng Dù sao, nếu từ thế kỷ

XV vương quyền đã cổ can thiệp vào lĩnh vực này, ta cũng nhận thấy những nỗ lực không đem lại được sự cải thiện đáng kể: không có một công trình nào trực táp thực hiện trên các sông được tiến hành trước thế kỷ XIX Phải nói rằng vào thời đó vấn đề phải giải quyết là rất lớn Việc tưới nước chi có thể thực hiện ở gần vùng lất thấp tạo thành một hệ thống ao chuôm và kênh rạch1 Vùng đó, bị ngập trong lĩùa mưa, được dùng để giữ nước tưới trong mùa đông khô hạn, việc giữ nước phụ thiộc vào nhịp độ thủy triều lên, với mức tối đa là 4 mét, mà hiệu quả được thấy rõ trcng phần lớn châu thổ Vùng ven biển, từ nhiều thế kỷ nông dân đã biết lợi dụng hện tượng thủy triều: họ xây dựng rất nhiều cửa gỗ lim để có thể điều chỉnh cho nuớc vào các kênh khi nước triều dâng qua cửa sông ngăn chặn dòng chảy con S('ng khiến cho mực nước sông dâng cao Mặt khác, việc tưới tiêu chủ yếu dựa vào cácao chuôm và các con kênh nhỏ để kéo dài cuộc sổng ngắn ngủi của các nơi dự trữ niớc

tự nhiên đó Vì vậy một tấm bia làng khắc năm 1764 nói về việc đào con kênh trới nước do hai xã cùng hợp sức làm vào giữa thế kỷ XVIII: “Hai xã Thời ủ n g và Chu Lũng tiến hành qui hoạch ổn định dân cư Năm Đinh Mão (1747) đào hào đắp liy, năm Quí Dậu (1753) đào mương để phục vụ nông nghiệp, đến năm Mậu Dần (17Í8) góp ruộng sửa sang đình miếu Nay quan viên hai xã tiến hành đo đạc, phần rào Dy bao quanh đã làm được 99 trượng, đào mương được 581 trượng, khu miếu chu vi61 trượng 6 thước [ ] Tổng cộng sổ tiền đóng góp là 1010 quan tiền sử, số người đã cúng hiến ruộng cho việc đào đắp mương lũy là 148 vị Đe biểu dương công đrc, hai xã dựng bia khắc tên họ những người đóng góp tiền và ruộng vào việc chung và đặt lệ thờ phụng mãi mãi.”2

1 Kênh rạch là những đoạn sông cạn, có rất nhiều trên châu thổ sông Hồng, bảo đàm việc gao thông tự nhiên giữa dòng sông và các vùng đất mà kênh rạch chảy qua.

2 “Thác bản bia xã Thời ủ n g huyện VTnh Lại phù Hạ Hồng, sưu tầm tại đình xã Hoà Ung tmg Bất Bế huyện Vĩnh Lại tinh Hải Dương”, Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm ViệtNim,

2007, Hà Nội, Viện Nghiên cứu Hán Nom - EFEO - EPHE, Tập III, tr 281.

504

Trang 7

MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ THỦY LỢI.

Song song với các sáng kiến địa phương, từ thế kỷ XV, vương triều đã ban bố rmt loạt chỉ dụ kcu gọi dân chúng đắp cao các con trạch, đào hồ chứa nước và nạo

vé kènh rạch nham làm tăng nguồn nước sẵn có tạo thuận lợi cho việc làm vụ tháng

5, /à nếu có thể thì trồng lúa sớm thay thế vụ lúa tháng 10 bị tàn phá vì vỡ đê (Piuvanne, 1931: 34) Như vậy vào cuối thế kỷ XV, sông Đào đã được đào vừa để tưri nước vào mùa khô và tiêu nước vùng thấp trong mùa mưa

Vì không thể cất ngang thân đê, cũng như cẩu tạo của địa hình với những gitng đất và những vùng trũng tự nhiên, đòi hỏi phải dùng biện pháp cơ giới đưa nưrc lên cao để lấy nước dưới sông trong mùa khô v ề điểm này, trong nghiên cứu vềcông trình tưới nước, E Chassigneux nhận xét ràng nếu một vài vãn bản và sắc

ch lệnh cho các quan và dân chúng “làm xe lấy nước” 1, thì không có một chi tiết nài nói rõ về các “máy” đó, cũng không biết nó có tồn tại không Phải chăng đấy là nhrng guồng đạp nước mà ta có thể thấy thời đó ở một vài tỉnh châu thổ?

Gập lúc hạn hán cũng vậy, chỗ dựa chính vẫn là ông trời Nhiều đoạn trong

Ciơng mục đã minh chứng, một mặt các biện pháp ân xá được coi là hành động giải

oai của chính phủ bị coi là nguyên nhân của những thiên tai (Langlet, 1970, tr 211) vàmặt khác, nhiều lễ cầu đảo dâng lên các thần núi thần sông để xoa dịu sự giận dữ củ; thần linh Đà được ghi lại vào năm Quí Hợi, năm thứ tư (1143): “Từ mùa xuân đếi mùa hạ hạn hán Nhà vua thân làm lễ đảo vũ Tháng 6 mưa”; hay vào năm Mậu Thn, năm thứ sáu (1448): “Tháng 4 mùa hạ Hạn hán Nhà vua chính mình đi lễ cầu đà» Tha những tù phạm bị tình nghi”2

Triều Nguyễn: tiến đến đắp đê toàn bộ sông Hồng

Tuy kinh đô của đất nước mới thống nhất được di dời vào Huế, các vua đầu triiu Nguyễn vẫn bày tỏ mối quan tâm đặc biệt nhàm phục hồi tình hình kinh tế-xã

hộ ở Bắc Hà, đã bị buông lỏng sau nhiều thập kỷ chiến tranh và tan tác Để tỏ rõ qu'ền uy khẳp mọi miền, triều Nguyễn lo việc xây dựng lại cầu, đường, bến sông, nhrng cũng dựng lên những thành lũy theo kiểu Vauban để trấn áp khởi nghĩa của nôig dản Đấy là một trong những nghịch lý của nửa đầu thế kỷ XIX: việc thiết lập rrnt chế độ quân chủ chuyên chế đòi hỏi phải hiện đại hóa cơ sở hạ tầng của châu thi sôr.g Hồng, việc tăng cường kiểm soát dân chúng bàng một bộ máy quan liêu than nhũng đã gây nên sự bất bình ngày càng tăng của nông dân khiển trong nhiều

1 'húng tôi chi thấy một đoạn trong Cương mục nói về việc này: “Quí Hợi, năm thứ 6 (1503) 'háng giêng, mùa xuân Hạn hán Hạ sắc lệnh chuẩn bị xe lấy nước để bảo vệ việc làm uộng” (tôi nhấn mạnh) Và người chú thích nói rõ là trong nguyên bàn “thủy xa” là một lụng cụ nông nghiệp để tát nước.

2 'iệt sừ thông giám cương mục, Nxb Văn Sừ Địa, Hà Nội, T IV, 1958, tr 315, t IV, tr 8 Ị 9.

505

Trang 8

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN T H Ứ TƯ

trường hợp họ đã nổi dậy Cho nên, các thủ lĩnh nông dân như Phan Bá Vành, các quan lại còn luyến tiếc nhà Lê, đã lôi kéo hàng ngàn nông dân nghèo và cầm cự trong sáu năm (1821-1827) chổng lại binh lính ở vùng biển Quảng Yên (Sơn Nam) Nếu các cải cách hành chính của Minh Mạng nhằm lập lại trật tự trong nước,

đã tạo nên một thời kỳ lắng dịu, thì cuộc khủng hoảng dưới triều T ự Đức lại mở rộng để lên đến đỉnh cao năm 1850 với việc tràn qua của các phe đảng Trung Hoa tránh sự đàn áp sau cuộc khởi nghĩa của Thái Bình thiên quốc (Lê Thành Khôi, 1992: 380-382)

Map 2 - Map of dykes in Red River delta, 1905 (Source: Gauthier, 1930:172)

Trong lĩnh vực thủy lợi, trước hết là Hoàng đế Gia Long, rồi đến M inh Mạng,

Tự Đức đã cho thực hiện nhiều công trình lớn chủ yểu nhằm trấn ngự lũ sông Hồng Theo con sổ giám sát năm 1829 của quan Đê chính Lê Đại Cương, tổng chiều dài các đê chính trên châu thổ sông Hồng (thống kê ờ 739 xã thuộc 38 huyện cùa 5 tỉnh)

là 952 km (238.660 trượng) trong đó 144,5 km (36.127 trượng) đắp trong 26 nặm dưới triều hai vua đầu (Đỗ Đức Hùng, 1979: 47) Nỗ lực được ghi nhận khiển p Gourou đánh giá rằng vào trước lúc chủ nghĩa thực dân can thiệp, việc đắp đê tcàn

bộ sông Hồng đã hoàn thành, nghĩa là hệ thống đê điều đã gần như dày đặc nhu ta

có thể quan sát vào đầu những năm 1930 Nó trải trên gần 2.000 km đê chính và2.000 km đê phụ (Gourou, 1936: 85)

5 0 6

Trang 9

MỘT VÀI ĐẶC Đ IỂM VỀ TH Ủ Y LỢI.

Mặc dầu các con số thống kê đáng kể trên toàn thể, chính sách thủy lợi của nhà Nguyễn có đậc tính là nhiều lần thay đổi và không liên tục, biểu lộ ở những quyết định đơn phương của mỗi vị hoàng đế và sự thiếu đồng bộ nghiêm trọng của

bộ máy quan lại Ta có thể ghi nhận hai khía cạnh vừa là nguyên nhân và hậu quà cùa tình trạng đó

S ự bấp bênh trong íỗ chức và quản lý đê điều

Năm 1809, vua Gia Long cải cách việc quản lý đê điều và lập một nha môn trung ương chuyên trách đặt dưới quyền một vị quan triều đình là “quan Đê chính ở Bầc thành” Đồng thời ban bố một điều lệ gồm 8 điều nói về việc thực hiện các công trình và cách kiểm soát, bảo vệ và qui hoạch các công trình liên quan cùng đánh giá chi ph í1 Điều lệ đó định các loại đê theo ba mức quan trọng (đê đại giang,

đê trung giang, đê tiểu giang) và đưa ra đối với mỗi loại một kích thước chung cho công trình - chiều rộng chân đê và mặt đê, chiều cao và độ nén - (Đỗ Đức Hùng, 1994: 48-49) Cuối cùng, giống như luật nhà Lê, luật Gia Long đã định ra hình phạt

có thể đi đến xử trảm nhừng ai bị truy tố “Lén lút đào thân đê - Điều 395” và “Vi phạm thời gian cần thiết và không tu sử đê điều - Điều 396”, điều cuối cùng lấy lại các yếu tố chính ghi trong luật đời Lê (Philastre, 1876: 742-745)

Mặc dầu toàn bộ các biện pháp nhằm hợp lý hóa việc quản lý kỹ thuật và nhân

sự của hệ thống đê điều, những vụ vỡ đê và lụt lội vẫn xảy ra hàng năm dưới triều Gia Long và Minh Mạng, đi theo những trận lụt là đói kém và khởi nghĩa nông dân

Hầu như hàng năm, từ tháng sáu, Đại Nam thực lục đều ghi lại những nơi bị thiên

tai nhiều hay ít gây nên đo lũ lớn, hay ngược lại gây nên do hạn hán, nhà vua khẩn cấp cứu tế gạo tiền cho nạn dân và miễn toàn bộ hay một phần thuế khóa, v ề điểm này, trận lụt năm 1827 thật tai hại: “Bắc thành nước lớn, ba trấn Sơn Tây, Sơn Nam, Nam Định đều vỡ đê, cửa nhà ruộng nương chìm ngập nhiều, cũng có người chết đuối Thành thần trước phái người đi khẳp các nơi mà lượng phát chẩn, rồi đem việc tâu lên [ ] Xem tờ tâu tình hình của dân bị lụt, rất là thương xót, mà phát chẩn không được nhiều, nhân dân chưa khỏi túng thiểu Vậy dụ cho trấn thần cấp thêm, không cử đàn ông, đàn bà, già trẻ, người chết đuối thì cấp 3 quan tiền, người đói mà rấl nghèo cấp mỗi người 2 quan tiền 1 phương gạo, người nghèo vừa cấp 1 quan tiền 1 phương gạo”2 Vào năm thứ 8 triều Minh Mạng (1828) đã ban hành chỉ dụ bãi

bỏ trách nhiệm xây và tu bổ đê cho các quan tỉnh, bị lên án là sơ suất và thiếu hiểu

1 “ Ban điều lệ Đê chính cho Bắc Thành Vua lưu ý đến việc phòng nước sông, sai thành thần iham chước việc cũ tâu lên, lại sai đình thần bàn lại, định làm điều lệ ban hành” [các điều khoản kèm theo] Đại Nam thực lục, T I, Nxb Giáo dục, 2004, tr 764-765.

2 Dại Nam thực lục, T 11, Nxb Giáo dục, 2004, tr 648.

5 0 7

Trang 10

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN T H Ứ TU

biết, để giao cho một tổ chức quan lại chuyên trách Chì dụ đó định cụ thể qui mô các loại đê khác nhau, phải được tôn cao theo đúng qui cách định ra dưới thời Gia Long, và vạch đường đi của đê; còn lệnh trồng tre dưới chân và chuẩn bị sẵn trước mùa lũ sọt và tre để dễ tu sửa; cuối cùng chi thị lập ở chỗ hợp lưu sông Hồng và sông Lô một đền thờ hà bá (Chassigneux, 1914: 98)

Nhưng không có gì được thực hiện, cho nên năm 1833 Minh Mạng quyết định cải tổ toàn bộ việc quản lý đê Ông giải tán nha môn chuyên trách mà ông đã lập sáu năm trước ở Bộ Công, và giao lại việc quản lý đê cho các quan tỉnh, từ nay chịu trách nhiệm đoạn đê đi qua phần đất của mình Sự thay đổi hoàn toàn đó được thực hiện vì lý do sau: kinh nghiệm cho thấy các quan chuyên trách chi tập trung vào cᣠcông trình xây dựng và tu sửa đê điều mà không đếm xỉa đến hoạt động nóng nghiệp và cụ thể là khả năng lập những con rạch tiêu nước hay tưới nước1

Tranh luận xung quanh lợi ích duy trì và gia cổ đê điều

Việc tổ chức lại về quản lý và kỹ thuật được đặt ra trong khuôn khổ một cuộ-c tranh luận cơ bản đề xuất năm 1830 dưới thời Gia Long: qua chi dụ, nhà vua lệnih cho các quan và dân chúng tranh luận về lợi ích của việc duy trì đê hay phá bỏ2

Quả thật, với hệ thống đê dày đặc, nông dân và quan lại bắt đầu nhận thấy nó gày

trở ngại cho việc tưới tiêu ruộng đồng trên châu thổ Họ đau lòng khi nhìn thấy sốn;g Hồng nước tràn bờ trong khi lúa vẫn khô hạn trong ruộng dưới chân đê

Cho nên sách Đồng Khảnh địa dư chí (1888) đã nói rõ khi viết về tỉnh Sơm

Tây: “Các huyện hạ du thủy thổ lành, không khác các tinh phía Đông - Nam Gữ.a hai mùa hè thu, mưa to hàng tuần ở vùng thượng du Hưng Hóa, Tuyên Quang đtổ xuống, nước sông chảy xiết, ngoài đê nước có khi lên đến 18, 19 thước mà ruónịg

1 “Bỏ bớt nha môn Đê chính Bắc Kỳ [ ] Đặt ra đê, là cốt để bảo vệ cho nghề nông Từ tnứrc đến nay cứ đến mùa thu nước lớn, quan Đê chính chuyên làm những việc bồi đắp giữ đê chio vững, còn đối với việc làm ruộng, thì lợi, hại, đau khổ, không quan tâm đến.[ ] Quan đũa phương mục kích tinh hình ấy, nhưng không dám tự tiện, phải loanh quanh tư báo đi báolạ.i, nên không khỏi chậm trễ Do đấy, dù nắng, mưa tầm thường cũng có khi gây thành tai hại !

Dân bị khó khăn về lương thực, chưa hẳn không phải vì thế” Đại Nam thực lục, T Ill, M b

Giáo dục, 2004, tr 536.

2 Quý Hợi, Gia Long năm thứ 2 [1803], mùa thu, tháng 8 “ Hạ lệnh cho quan lại sĩ thứ ờ 3ắic thành điều trần về lợi hại của việc đê Chiếu rằng: Làm lợi bỏ hại là việc trước tiên cùa ch'nih trị Xét xưa sánh nay, phải sao cho đúng lẽ Những huyện ở ven sông trong địa phương cáic ngươi từ trước đã lập đê điều để phòng nước lụt Song nhân tuần đã lâu, hễ đến mùa lụt thiì

đê điều vỡ lờ, lúa ruộng bị ngập, người và súc vật cũng bị hại Bọn ngươi, người thi sirh ở

nơi đó, người thi làm việc ờ nơi đó, thế đất tình người đã từng am thuộc V ậ y đẳp đê Ví biỏ

đê, cách nào lợi, cách nào hại, cho được tỏ bày ý kiến Lời nói mà có thể thực hành sẽ đrợrc nêu thường” Đại Nam thực lục, T 1, Nxb Giáo dục, 2004, tr 572-573.

5 0 8

Trang 11

MỘT VÀI ĐẢC ĐIỂM VỀ THỦY LỢI.

trong đê vẫn khô hạn mong mưa.” Người ta đi đến hỏi ràng phải chăng tốt hơn là xóa bỏ công trình tổn kém và nguy hiểm dỏ để cho nước các sông lớn tự do tràn bờ trong mùa hè trên toàn bộ châu thổ như một trận lụt chậm và từ từ chứ không trở thành một thảm họa Nó sẽ đem lại độ ẩm lớn giải quyết vấn đề tưới nước đồng thời làm tăng độ phì nhiêu cùa đất nhờ lớp phù sa lắng đọng Nói cách khác, vấn đề là xem đê có tạo nên một biện pháp tệ hại hơn là mối họa mà nó muốn chống lại không Cho nên sau mồi trận lụt lớn, dân chúng các vùng bị ngập đều yêu cầu san

bỏ đê, như trường hợp các năm 1804, 1825, 1835, 1847, 1872 và 1879: nguyên nhân chính thúc đẩy yêu cầu đó là khi bị lụt do vờ đê phía thượng lưu, phía hạ lưu vẫn nguyên vẹn sẽ ngăn cản nước rút khi mực nước sông hạ xuống, khiến cho mùa màng không còn thu hoạch được (Pouyanne, 1931: 20) May mẳn là không vị vua triều Nguyễn nào dám quyết định phá đê trên toàn châu thổ, câu hỏi nhức nhối đó

đà phát sinh ra những giải pháp thay thế bổ sung nhằm điều chỉnh tình trạng thiếu hoàn thiện của việc đắp đê

Trước hết người ta tìm cách hạ chiều cao của mực nước sông Hồng bằng cách làm tăng dòng chảy tự nhiên và trổ những chi lưu nhân tạo Với việc cải cách quản

lý đê điều năm 1833, Minh Mạng đã quyết định trong năm đó, theo lời khuyên của hai viên quan chuyên trách, cho đào và nạo vét sông Cửu An làm chi lưu cho sông Hồng ở đoạn Hưng Yên và đào các kênh dẫn thủy Từ năm 1835 đến 1836, 20 km được đào để nối sông Hồng với sông Cửu An, đồng thời nạo vét và mở rộng lòng sông này trên hom 40 km Đi cùng với công trình đó còn cho san bằng các đê thấp ở tinh Hưng Yên, những con đê mà chiều cao bị hạ xuống nhiều khi nó không được san phẳng hoàn toàn (Đỗ Đức Hùng, 1998: 44)

Tác động của công trình qui mô lớn đó nằm ở đối cực của những kết quả bất ngờ Bốn tháng sau khi công trình hoàn thành, được vị quan nổi tiếng Nguyễn Công Trứ, khi đó làm Tổng đốc Hải - Yên, phúc trình lên vua Minh Mạng vào tháng 6 năm 1836, thì cửa sông Cửu An mở trên sông Hồng bị nước cuốn đi ba chỗ: tỉnh Hưng Yên và Hải Dương bị ngập dưới hai thước nước và thị xã Hưng Yên hoàn toàn ngập trong nước Đấy là trận Aụt tai hại chưa từng thấy ở hai tinh này (Đỗ Đức Hùng, 1998: 45) Nó khiến cho Nguyễn Công Trứ bị nhà vua khiển trách gay gắt, buộc tội phải chịu trách nhiệm tình hình và bắt phải giải quyết hậu quả1 Từ 1837, nhiều công trình gia cố sông Cửu An được tiến hành Theo lời cầu khẩn cùa dân

1 “[ ] Hai bên bờ đê liệu đặt cống có cửa và cống không cửa để tiện đóng mở, ngõ hầu mới phòng được lụt mùa hè và chống được nước mùa thu để cho dân ta không một người nào bị mất nơi ăn chốn ở Neu có một điều gì không chu đáo, thì chi trách cứ vào bọn Nguyễn Công Trứ đó!” Đại Nam thực lục, T XVIII, Chính biên đệ nhị kỷ XIV (1836), Nxb Khoa học xã hội, 1967, tr 292.

5 0 9

Ngày đăng: 18/03/2021, 11:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm