1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản tính tấm lòng của nguyễn du được xem từ thơ chữ hán

11 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 5,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đây tôi xin trình bày ý kiến bước đầu của m ình, đặc biệt chú ý đến chữ "tâm" của Nguyễn Du và mối quan hệ của nó với tư tưởng Thiền tông Phật giáo để giải thích bản tính tấm lòng củ

Trang 1

BAN TĨNH TAM LONG CỦA N G U Y Ê N DU

ĐƯỢC XEM T Ừ THƠ C H Ữ HÁN

N ohira M u n eh iro *

1 M ở đầu

Trước đây khi nghiên cứu vãn học hiện đại Việt Nam , tôi đã làm luận án tiến

sĩ về văn học hiện đại Khi nghiên cứu văn hợc hiện đại, tôi thấy nhiều nhà văn,

nhà thơ, nhà phê bình hiện đại Việt Nam đều ca tụng Truyện K iều của Nguyễn Du

Vì thế càng ngày tôi càng thấy ràng nếu muốn hiểu sâu sắc hơn văn học Việt Nam

nói chung thì nhất định phải hiểu văn học cổ điển, đặc biệt là Truyện Kiều Ở Nhật

đà có một số bản dịch tiếng Nhật của Truyện Kiều, và cùng có những bài nghiên cứu về tác phẩm này Nhưng cốt truyện Truyện K iều là do Thanh Tâm Tài Nhân

(Tử), người Trung Quốc viết Nếu muốn hiểu thêm tư tưởng bản thân tác giả Nguyễn Du thì phải đọc thơ chữ Hán của tiên sinh Bởi vì như nhiều nhà nghiên cứu V iệt Nam đã thừa nhận, trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du trực tiếp biểu lộ nhân sinh quan, thế giới quan của m ình1 N hưng ở Nhật chi có m ột số bài thơ chữ Hán

của Nguyễn Du được dịch sang tiếng Nhật trong quyển Thi ca và Lịch sử của Việt Nam của Giáo sư Kawamoto Kunie2 N hật Bản cũng là khu vực có truyền thống

văn hoá chữ Hán như Việt Nam, nhưng để nghiên cứu văn học cổ điển, cần phải

* Tiến sĩ (học thuật) Trường Đại học Ngoại ngừ Tokyo Hiện đang giảng dạy tiếng Nhật tại trường Đại học Xiamen (Hạ Môn) Trung Quốc.

1 về lịch sử nghiên cứu thơ chữ Hán của Nguyễn Du, xem: N guyễn Thị Nương, 2006, "Vài nét về việc sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu và nghiên cứu thơ chữ Mán của Nguyễn Du", Tạp

chí Hán Nôm, số 1 (74), tr 69-75.

2 Kawamoto Kunie, 1967, Thi Ca và Lịch Sừ của Việt Nam, Nxb Bungeishunjuu, Tokyo

(JI|Ạỷ1ỉíậj> 1967íf-> í í" jịĩ)jO Trong quyển này, 10 bài

thơ chữ Hán cùa Nguyễn Du được dịch sang tiếng Nhật, được giải thích là: Vọng phu thạch, Tạp ihơ( 1), Vị Hoàng danh, Tạp ngâm, Liệp, Thu dạ, Thăng Long (1), Thăng Long (2), Ngộ gia đệ cựu ca cơ, Giang đau tản bộ (theo thứ tự quyền này).

Trang 2

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T ư

hiểu Hán văn, và vì vậy, tôi nghiên cứu thơ chữ H án của N guyễn Du để hiểu thim

tư tưởng của tiên sinh

Sau đây tôi xin trình bày ý kiến bước đầu của m ình, đặc biệt chú ý đến chữ

"tâm" của Nguyễn Du và mối quan hệ của nó với tư tưởng Thiền tông Phật giáo để giải thích bản tính tấm lòng của N guyễn Du

2 v ề vấn đề xung quanh bài thơ Lương Chiêu M inh Thải Tử Phan knh

Thạch đài

2.1 Ỷ nghĩa ch ữ "phân kinh "

Bài Lương Chiêu M inh Thải Tử Phân kinh Thạch đài (sau đây tôi xin gọi tá là bài Thạch đài) trong tập thơ Bắc hành tạp lục là m ột ư o n g những bài thơ tiêu tiểu

nhất mang ý nghĩa sâu sắc tu tưởng Thiền tông Trên đường đi sứ Bắc Kinh về, Nguyễn Du ghé qua đài đá chia kinh của Chiêu M inh thái tử nhà Lương vào khoing cuối năm Quý D ậu (năm 1813) và sáng tác bài này

Trước khi khảo sát nội dung bài Thạch đài, chúng tôi xin đi vào m ột số Ihái

niệm liên quan

Vậy "phân kinh" trong nhan đề bài này có ý n ghĩa gì? T rong cuốn N givễn

D u toàn tập, tập I, xuất bản năm 1996, "phân kinh" được hiểu theo m ột số cich

như sau:

- Đem những quyển kinh Phật chia cho tín đồ, chia cho nhân dân

- Chấm câu (phân cú đậu)

- Chia kinh ra làm các bộ như kinh Kim Cương, kinh Pháp Hoa, kinh Dược su 1

N hưng theo Kim Cương Bát N hã Ba La M ật K inh Chú G iải thì phân linh

nghĩa là chia kinh Kim Cang ra 32 phần2 Trong giới Phật giáo đại thừa, Ciiêu Minh thái tử nhà Lương thường được cho là người đã làm việc này Chúng tôi ;ho rằng, giải thích "phân kinh" như thế này là có lý nhất dù có thể giải thích khác árợc như nêu trên

1 Mai Quốc Liên (phiên âm, dịch nghĩa, chú thích), 1996, Nguyễn Du toàn tập, tập I, Nxb Văn

học trung tâm nghiên cứu quốc học, Tp Hồ Chí Minh, tr 541

T ] 703 33.0228001 -02 Đại chính tân tu đại tạng kinh database, http://21dzk.l.u-t(kyo ac.jp/SAT/)

Trang 3

BẢN TÍNH TẤM LÒNG CỦA NGUYỄN DU

2.2 Địa điểm "đài đả"

Tiếp theo, chúng tôi xác nhận lại địa điểm thạch đài ở đâu? Tra chữ "phân kinh đài" trong sách địa chí Trung Quốc, chúng tôi xác nhận được có 3 địa điểm được tương truyền là "phân kinh đài" của Chiêu Minh thái tử như sau1:

a Chùa Thiền Chiêu Minh, núi Đông Thiên Mục, cách huyện Lâm An (tỉnh Chiết Giang) 40 dặm về phía tây

b Chùa Pháp Hoa, cách huyện Túc Tòng (tỉnh An Huy) 50 dặm về phía bắc

c Chùa Minh Giáo, huyện Nam Chương (tinh Hồ Bắc)

Trong quyển Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Đào Duy Anh cho rằng "trật tự các bài của Bắc hành tạp lục đại khái được sắp xếp lại chiếu theo cái hành trình đi về"2 Theo sự sắp xếp đó, bài Thạch đài ở giữa bài Chu Lang mộ và bài Tổ Sơn đạo trung (về bài Thạch đài, Nguvễtĩ Du toàn tập cũng theo thứ tự này) Mặc dù Đào Duy Anh không viết rõ Thạch Đài ở đâu, nhưng trong lời chú thích của 2 bài Chu Lang

mộ và Tổ Sơn đạo trung, ông đã viết: "Mộ Chu lang hẳn là ở Kiến Nghiệp tức Nam

Kinh", "Tổ Sơn: cũng gọi là Hổ Lâm Sơn, là Vũ Lâm, thuộc Hàng huyện, ở phía bắc Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang"3 Vì thế, có thể đoán Đào Duy Anh nghĩ địa điểm Thạch Đài ở giữa Nam Kinh và Hàng Châu, chỗ ấy chắc là địa điểm chùa Thiền Chiêu Minh, núi Đông Thiên Mục, cách huyện Lâm An (tinh Chiết Giang) 40 dặm

về phía tây như mục (a) nêu trên

1 Khi tra cứu, tôi dùng bản điện tử Tư Khố Toàn Thư Các sách địa chí Trung Quốc viết địa

điểm "phân kinh đài" như sau:

b tinh An Huy: rm m m t ì M Ằ t Ĩ L

c & -b I A ) .

( 8 - t - t - b ) rMỸM & Jl UbSHBmÀT w \ : $ m k

( \ kì f í -ỉầMJ g r H - t - I O

2 Đào Duy Anh (sắp xếp, dịch nghĩa, chú thích), Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb Văn học, Hà

N ội, 1988, tr 32.

3 Dào Duy Anh, Sđd, tr 435, 437.

Trang 4

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ

Trong khi đó, nếu theo bản chép tay A 14941 thì bài Thạch đài được sấp xấỊ ở sau bài Đào Hoa Dịch đạo trung Căn cứ vào bản A 1494 thì lại có thể đoán "Thích

đài" ở địa điểm b: chùa Pháp Hoa, cách huyện Túc Tòng (tỉnh An Huy) 50 dặm về phía bắc

Có điều, những bài thơ ở phần cuối trong bản A 1494 chắc không theo thứ tự chuyến đi về của Nguyễn Du, cho nên sự suy đoán địa điểm Thạch Đài ở huyện lúc

Tòng tỉnh An Huy chưa thể nói là chắc chắn Ví dụ nhân đề bài Tỏ Sơn Đạo Truig

l ẵ l i l ỉ i í 1 trong quyển của Đào Duy Anh vốn là "Ngũ Tổ Sơn Đạo Trurg" 3l#1 |1| jjt 4 1 trong bản A.1494 Ba tập sách: N guyễn D u toàn tập của Mai Qiốc Liên, Thơ chữ Hán Nguyễn Du của Lê Thước và T rương Chính và Thơ chữ Hán Nguyễn Du của Đào Duy Anh đều xoá bỏ chữ "Ngũ" ( 3 l) và đều không chú thích lý

do tại sao2 Nếu "Ngũ Tổ Sơn Đạo Trung" là nhan đề đúng thì có thể suy đoán lúi

ấy ở huyện Hoàng M ai, Kỳ Châu tỉnh Hồ Bắc, tức là nơi N gũ tổ H oằng N hẫn đi ở trước đây

Dù sao chúng tôi cũng cần phải xem xét lại cuộc hành trình sứ bộ N guyễn Du

và địa điểm các bài Bắc hành tạp lục3 N hưng vấn đề này không phải là chủ đĩ ở

đây nên chúng tôi không bàn luận nữa

3 Sự phản ảnh của tư tưởng Thiền tông, H uệ N ăng và Kỉnh Kim C ỉng trong bài Thạch Đài

Trong bài này, N guyễn Du phê phán thái độ của Chiêu Minh thái tử và Lưm g

Vũ đế (bố của thái tử) đối với đạo Phật vì hai bổ con đã hiểu nhầm bản tính iạo Phật mà cứ cố chấp với đạo Phật và kinh điển đến nỗi nhà Lương bị sụp đổ T n n g

1 về bản chép tay A.1494, tôi tham khảo: Viện nghiên cứu Văn sử trường Đại Học Phúc ỉ)án,

Trung Quốc và Viện nghiên cứu Hán Nôm, Việt Nam (hợp biên), Việt Nam Hán Văn Yên Hành Văn Hiến Tập Thành, tập 10, Nxb Đại học Phúc Đán, Thượng Hải

% I-J11K ± f ô ) , tr.5-79

2 Lê Thước, Trương Chính (sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp), Thơ chữ Hán Ngiyẽn

Du, Nxb Văn học, Hà N ội, 1965, tr 407, 557 Đào Duy Anh, Sđd, tr 339 Mai Quốc liên, Sđd, tr 541-543.

3 Ví dụ, Đào Duy Anh suy đoán mộ Chu Lang ờ N am Kinh, nhưng xem sách địa chí T ung Quốc thì có 3 địa điểm mộ Chu Lang như sau: 1) ở huyện Lư G iang phù Lư Châu (tinl An

J 2) ở huyện Túc Tòng phủ An Khánh (tỉnh An Huy) ( r jọ]ĨÉìl!

M J f c H 1 H M J \ m - Ỉ0ÌẺỈ-1 # ' l ' 0 ) 3) Ở huyện N g ô phủ Tô Châu (tinh Giang Tô)

Trang 5

BẢN TÍNH TẤM LÒNG CỦA NGUYỄN DU

khi đó, trái ngược với thái độ Chiêu Minh thái tử, Nguyễn Du cho rằng không cố chấp, không đựa vào chừ nghĩa kinh điển mà chỉ biết lòng mình mới giải thoát được, đó chính là tinh tuý đạo Phật

Trong bài này, Nguyễn Du trích dẫn bài kệ nổi tiếng của Huệ Năng và ở phần

cuối có câu thơ nói ràng: ta đã đọc kinh Kim Cang - kinh điển căn bản của Thiền

tông - hơn một nghìn lần nhưng cuối cùng khi đến đài đá phân kinh bị vỡ này mới biết rằng vô tự chính là chân kinh Vì thế cho nên dỗ hiểu được chủ trương Nguyễn

Du chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Thiền tông Phật giáo, đặc biệt là tư tưởng

Lục Tổ Huệ Năng, nếu nói chính xác hơn, tư tường Huệ N ăng được viết trong Pháp Bảo Đàn Kinh (bởi vì cuộc đời và tư tường Huệ N ăng trong Pháp Bảo Đàn Kinh

không thể coi ngay là của Huệ Năng sự thật lịch sử Sau đây, khi tôi nói đến Huệ

Năng thì Huệ Năng ấy chính là Huệ Năng trong Pháp Bảo Đàn Kinh, chứ không

phải là Huệ Năng đời thực)

Nguyễn Du chắc lâu năm chịu đọc hơn một nghìn lần kinh Kim Cang nhưng

mà cuối cùng bỏ kinh, nói lên "vô tự chính là chân kinh" - câu thơ cuối này rất xúc động và đúng là tư tưởng Thiền tông "bất lập văn tự", vả lại có thể thấy rằng ở đây

Nguyền Du đồng nhất hoá với Huệ Năng Theo cuộc đời truyền thuyết trong Pháp Bảo Đàn Kinh, mặc dù Huệ Năng không biết đọc chữ, bị N gũ tổ Hoằng Nhẫn chê là

người man rợ Lĩnh Nam nhưng phê phán bài kệ Thần Tú đổ chỉ ra tinh tuý Thiền tông và được trở thành Lục tổ Giống như Huệ Năng, trên đường đi Trung Quốc, Nguyễn Du cũng tự ý thức, tự xưng là người Nam dị, người man rợ phương N am 1,

nhưng quả quyết phê phán người làm bộ Văn Tuyển rồi khám phá ý nghĩa tinh tuý

Thiền tông đạo Phật, tức là biết lòng mình

Ncu chú ý đến chữ "Tâm" trong bài Thạch đài để giải thích bản tính tấm

lòng, Nguyễn Du phê phán Chiêu Minh thái tử rằng "quy y Phật" với "si tâm" thì

"Phật sinh ma" "Si" có nghĩa là ngu mà theo hình chừ H án 0 thì chữ "si" cũng

m ang ý là trí tuệ cố chấp đến nỗi bị đọng lại, dừng lại, cố định lại N hư vậy thì chúng tôi có thể giải thích được ràng trái ngược với "si tâm ", tấm lòng Phật giáo không "si", tức là tấm lòng không đọng lại, không dừng lại, không cố định lại, hay lẩm lòng có tính lưu động Tấm lòng không cố định lại tương ứng với một câu nổi tiếng kinh Kim CưíTng "ứng vô sở tru nhị sinh kỳ tâm" Câu này nói về bản tính lain lòng không cổ chấp với gì cả Vả lại, tấm lòng m ang tính cách lưu động ấy

cũng tưcmg ứng với bài kệ Huệ Năng được trích dẫn trong bài Thạch Đ ài, tức là

"minh kính diệc phi đài, bồ đề bản vô thụ" Bởi vì khi tấm lòng không có cơ sờ

1 VÍ dụ trong tập Bắc hành tạp lục có nhũng câu như sau: ỗ l t ể í l S I íN £[]*% ( r

•$J )

Trang 6

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T ư

dựa vào, mới được tự do, được lưu động Ở đây, chúng tôi thấy N guyễn Du làm thơ rất hay, vì tiên sinh trích dẫn bài kệ Huệ N ăng để không những nói lên bint tính tư tưởng Thiền tông mà còn phê phán thạch đài của C hiêu M inh thái tử T iế

mà "đài", cơ sở ở đây bị Nguyễn Du - Huệ N ăng phê phán là gì? N ếu Nguyễn Dui

nghĩ rằng "vô tự chính là chân kinh" thì phải chăng văn tự, ngôn ngữ chính là :ơ

sở trăn trở tấm lòng được tự do, được lưu động?

Theo lý thuyết triết học ngôn ngữ của Giáo sư Izutsu Toshihiko, một tro ig những chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ chính là chức năng phân chia tiế

giới, vũ trụ vốn không phân chia ra thành các sự vật, các sự việc để cho nỏ man§ ỷ

nghĩa cố định Giáo sư Izutsu cho rằng: các thiền sư Thiền tông Phật giáo đã bếit tính nguy hiểm của chức năng phân tiết ngôn ngữ ấy vì nó phân chia thế giới và cố định lại, đổi lập hoá giữa chủ thể và khách thể, các sự vật, sự việc với ý nghĩa ngôn ngữ, cho nên Thiền sư phủ định chức năng phân tiết thông dụng của ngôn ngữ để cố gắng chỉ ra thế giới chân như thế giới, vừa không phân tiết vừa phân tiết1 (như c iu :

"Sắc tức thị không, không tức thị sắc") Nguyễn Du cũng chắc chắn biết thế góri

chân như ấy vì có câu trong bài Thạch đài: sắ c không cảnh giới m ang bất ngộ (G ữ a

"sắc" và "không" m ờ mịt không nhận ra được)

1 Izutsu Toshihiko (1914-1993) là một học giả người Nhật, nhà triết học ngôn ngữ, dềtàii nghiên cứu của giáo sư chù yếu là Hội giáo, tư tưởng phương Đông và chủ nghĩa huyền h líà Giáo sư của trường Đại học Keio nghĩa thục, tham gia hội nghị Eranos như D T Suzuki

về lý thuyết về chức năng phân tiết của ngôn ngữ và sự phân tích cách dùng ngôn ngữ ĩủia Thiền sư của Giáo sư Izutsu thì xem "Essay IV: The Philosophical problem of articulatbn:"

trong cuốn: Izutsu Toshihiko, 1982, Toward a Philosophy o f Zen Buddhism, Prajfia pnss,

Boulder (1st ed 1977, the Imperial Iranian Academy of Philosophy), pp 123-143 Trongđió Izutsu viết như sau: "language is semantically an instrument of articulation Words articuatie reality into rigidly fixed entities Thus on the level of linguistic representation there cculid not possibly be any free communication between the bird, for instance, and the floveir Linguistically articulated, everything is just itself, nothing else [ ] Certainly, by not Ulinig

language we could make silence function as a symbol of the non-articulated; but, then,thie articulated aspect of that non-articulated will totally be lost sight of In other words, the rom- articulated will be presented as sheer ‘nothing’ in the negative sense o f the word, w hici 'is exactly the contrary o f w hat Zen holds to be true For from the Zen point o f view, w haiw /e

have provisionally articulated as the ‘non-articulated’ can never subsist apart from thie

infinitely variegated forms o f its own articulation If we look at the m atter from the sid: o f the human act o f cognition, we may adequately describe it by saying that the phenom:n:al world is constantly and uniterruptedly em erging out of, and sinking instantaneously lac:k into the metaphysical depth o f the Nothing, and that as each o f the phenom ena thus rmktes itself manifest for an instant, the non-articulated discloses itself like a flash The loin- articulated is nowhere to be found except in such metaphysical ‘flashes’" (p 130-131).

Trang 7

BẢN TÍNH TẤM LỒNG CỦA NGUYỄN DU.

4 Tấm lòng của Nguyễn Du

Chúng tôi tiếp tục xcm xét những bài thơ chữ Hán khác của Nguyễn Du để phân tích sâu thẳm hơn bản tính tấm lòng của tiên sinh

Trong bài Thạch đài, Nguyễn Du nói rằng: "Linh sơn chỉ tại nhừ tâm đầu"

(Linh Sơn chi ờ trong lòng người) Khi xem câu thơ này, người ta thường nghĩ ràng thế giới thay đổi theo lòng mình, nếu mình thay đổi lòng mình thì có thể coi thế giới bình thường này cũng là thế giới tốt Nhưng nghĩ như vậy có đúng không? Chúng tôi cho rằng tấm lòng của Nguyễn Du mang ý nghĩa đặc biệt hơn, chứ không phải là tấm lòng bình thường Nhà thơ, nhà tư tưởng Phạm Công Thiện trích đẫn hai câu

thơ chữ Hán trong bài Đề nhị Thanh Động trong tập Thanh Hiên thi tập và nói như

sau: "Hai câu thơ này xuất hiện đột ngột như tiếng sét đánh, chẻ tan, làm sụp đổ tất

cả những lổi giải thích tác phẩm của Nguyễn Du từ tước đến nay:

Mãn cảnh giai Không hà hữu tướng?

Thừ tâm thường Định bất ly Thiền

Ai dám nói như trên? Hai câu thơ trên được viết vào lúc nào? Chỉ có những người nào thường xuất nhập ra vào trong Thiền mật Phật giáo mới giật mình, rùng mình, run rẩy như bị động đất mười bảy lần liên tiếp qua mười bảy chữ ở trên Chì

có người nào đã để cho cả triệu chữ nghĩa thâm nhập vào cả đời mình thì mới được quyền nói lên cái "vô tự" của chân kinh, cũng như chi có người nào trọn đời bị đau đớn lay động bởi tất cả tướng của mọi cái tưởng và đến cùng độ mạt lộ rồi mới

bùng vỡ ra nhất thiết tướng và nhất thiết tưởng thì mới dám nói dến cái gọi là "vó tướng" và "Không tánh" Chỉ có những kẻ nào trọn đời trì tụng Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Pháp Bảo Đàn Kinh, Đại Bát N hã Kinh (từ đại phẩm, trung phẩm đến

tiểu phẩm), và chẳng những thế mà lại còn hành trì thiền định, chứng nhập Lục Ba

L a Mật và Thập Ba La Mật thì mới dám nói một câu khủng khiếp như lửa trời đánh vào đình đầu vòi vọi của Hy Mã Lạp Sơn "2

Lời phê bình của Phạm Công Thiện này rất quan trọng vì dựa vào kinh nghiệm

và trực giác của mình, ông khám phá ra 3 điểm như sau: 1) những người nào "tu hành" kiên nhẫn mới viết được hai câu thơ trên; 2) Nguyễn Du biết tính cách mâu thuẫn của Không tính, vô tướng mà những người nào lâu năm kiên nhẫn "tu hành" trên trần gian khố cực này mới biết được; 3) Nguyễn Du thường xuyên giữ tấm lòng

1 Nguycn văn: • Dịch nghĩa: M ọi cảnh đều là không, thì làm gì có tướng/ Tâm nàv thường định, không xa rời đạo Thiền (M ai Quốc Liên, Sđd,

tr 175-176).

2 Phạm Công Thiện, 1996, Nguyễn Du - Đại thi hào dán tộc, Viện Triết lý Việt Nam và Triết học thế giới, California, tr 341-342.

Trang 8

VIỆT NAM HỌC - KỶ YỂU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẰN THỨ T ư

như "Thử tâm thường Định bất ly Thiền" mãi cho đến khi ghé qua phân kinh thích đài của Chiêu M inh thái tử và nói lên "vô tự"

Ngoài ra, chúng tôi có thể nói thêm rằng vì tấm lòng ở trạng thái Thiền đnh cho nên tiên sinh mới thực hiện được Không Quan như câu: "mãn cảnh giai khônj"

Câu thơ trên của N guyễn Du còn tương ứng với câu trong Pháp Bảo Làn

K inh: "Hà danh Thiền Định Ngoại ly tướng vị Thiền Nội bất loạn vị Đ ịnh"1 Vã

lại, nếu Nguyễn Du đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng Huệ N ăng như chúng tôi đã xem ở trên thì "phải hiểu chữ "Thiền" ở trong nghĩa "Thiền" của Lục Tổ Huệ Năig, của đất Lĩnh Nam, tức là Việt Nam ngày xưa Trong Thiền của Lục Tổ Huệ Nừig thì Thiền Định và Bát N hã đều là Bất Nhị và Bất dị"2 N hư vậy thì có thể nói ring tấm lòng của Nguyễn Du vừa ở trạng thái Thiền định, vừa ở trạng thái trí tuệ Bát Nhã tác động

Bài Hoàng H à trở lại cũng chứng minh tấm lòng của N guyễn Du ở trạng tiái

Thiền định, Định Huệ bất nhị:

Thặng hữu nhàn tăm vó quái ngại

B ất phư ơng chung nhật đối p h ù âu3.

Nguyễn Du viết bài này trên đường đi Bắc Kinh, khi sứ bộ muốn sang stng Hoàng Hà nhưng trời m ưa lâu ngày, nước sông Hoàng H à tràn ngập, ngăn trở sứ bộ qua sông Mặc dù không thể qua sông được nhưng tấm lòng của Nguyễn Du khtng

bị trở ngại Ở đây Nguyễn Du chắc dùng chữ "vô quái ngại" với ý nghĩa Phật gáo

như câu Bát Nhã Tâm Kinh: "Bồ đề tát đỏa y B át N hã ba la m ật đa cố, tâm vô qiải ngại" (cũng cần chú ý: Kinh này bắt đầu khi Quan Tự Tại Bồ Tát hành thâm 3ảt Nhã ba la mật) Với lòng Bát Nhã = vô quái ngại ấy, N guyễn D u ứng được với clim

âu Nhưng chúng tôi muốn giải thích một cách tích cực hom như: "đối phù âu' là trạng thái tấm lòng Nguyễn Du đồng nhất hoá với chim âu, tẩm lòng ấy không bịtrở ngại, được tự do như chim âu bay trên trời

5 T ấm lòng của T h iền tông

Sau đây, chúng tôi nghĩ lại tính chất tấm lòng ấy căn cứ vào tư tưởng THên tông Tôi xin trích một truyện rất nổi tiếng của Huệ Năng, sau đó xem sự giải tlích truyện ấy của Giáo sư Izutsu Truyện Huệ Năng như sau:

48.0353020-21).

2 Phạm Công Thiện, Sđd, tr 343.

3 Nguyên văn: Dịch nghĩa: Chi còn có m ột tấm òng nhàn không gì trở ngại/ K hông ngại suốt ngày đối mặt với chim âu (Mai Quốc Liên, ỉđd,

tr 434-435).

Trang 9

BẢN TÍNH TẤM LỎNG CỦA NGUYỄN DU

"Một hôm, có gió thổi, lá phướn động Có hai vị Tăng tranh luận; kẻ nói gió động, người nói phướn động, tranh cãi không ngừng, Huệ Năng chen vào nói: Chảng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà là tâm các ông động Cả chúng đều ngạc nhiên"

v ề truyện này, Giáo sư Izutsu nói rằng người chưa biết tư tường Thiền sẽ dễ nhầm truyện này vì họ nghT rằng truyện này nói về nội tại hoá thế giới bên ngoài - người ta tường gió động hay lá phướn động nhưng trên thực tế nó xảy ra trong lòng mình Nhưng giáo sư cho rằng vấn đề không đơn giản như thế Giáo sư giải thích

"tâm" của Huệ Năng này và "bình thường tâm thị đạo" của thiền sư Nam Tuyến như dưới đây:

It will be clear to begin with that the ‘m ind’ [of Hui N êng and Nan C h’iian] here spoken o f is the mind o f an enlightened man, the enlightened mind The

‘ordinary’ mind o f Nan C h’iian is not, in this sense, an ordinary mind Quite the contrary Far from being the empirical consciousness o f the ego-substance as normally understood by the word, what is meant by the ‘ordinary m ind’ is the Mind (technically called the ‘no-mind’) which is realized in a spiritual state prior to or beyond the subject-object bifurcation, the mind that has expanded to the fullest

limits o f the whole universe It is not the ordinary mind as the locus o f our

empirical consciousnenss What is meant is the Reality, the very ground o f Being, which is eternally aware o f itself^

Khi nói đến cái "tâm" của Bồ Đề Đạt Ma, đại học giả Phật giáo nổi tiếng trên thế giới, D T Suzuki cũng nói như Izutsu: "tâm mà Bồ Đề Đạt M a nói đến có nghĩa

là sự tồn tại tuyệt đối, chứ không phải là cái tâm đối ỉập với sự vật hoặc nhận thức"3 Theo giải thích như thế thì "tâm động" của Huệ Năng có nghĩa là cả thế giới,

cà vũ trụ - cả gồm hai vị tăng, cơn gió, lá phướn, Huệ Năng, cả gồm độc giả truyện

ấy - đang động

Ncu sự giải thích này đúng thì tấm lòng của Nguvễn Du cũng không hạn chế chủ thể cá nhân của Nguyễn Du, mà có thể hiểu rằng tấm lòng ấy chính là Thực tại,

c a sờ nền tảng của sự tồn tại Chúng tôi nghĩ câu thơ cuối cùng của bài Thạch đài

1 Tỳ Kheo Thích Duy Lực dịch, Pháp bào đàn kinh (người trích dẫn đã sửa lại một phần), hltp://wv\\v.iioakhaikicnphat.com/'kinhdicnsach/kinhphapbaodan,/kinhphapbao/tua.htm Nguyên

, T2008.48 0349c 10-13)

2 Izutsu Toshihiko, Sdd, tr 212.

3 Suzuki Daisetz, 2000, Suzuki Daisetz toàn tập, tập 2, N xb Ivvanami, Tokyo ( l/Ạ Ằ Ỉ ílìx 2000*1-N r » À í í i í ^ } f c J % - % , 388.

Trang 10

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẰN THỨ TƯ

"vô tự thị chân kinh" tiêu biểu cho điều này Cái "vô tự" này đoạt hết tính chủ thể của Nguyễn Du Vì chức năng phân tiết của ngôn ngữ đã làm cho chủ thể tưởng là

có mình đối lập với thế giới bên ngoài, nhưng cái "vô tự" xoá bỏ cái tưởng tưgng

ấy Đồng thời, nếu chủ thể đã không còn thì cái đổi lập với chủ thể, tức là khách ihẻ cũng không còn liền nữa và tất cả trở về với cái "vô" Phải chăng cái "vô" ấy chnh

là tấm lòng của Nguyễn Du?

Có điều, nếu coi cái "vô" ấy với ý nghĩa đối lập với "hữu" thì sẽ bị rơi cách suy nghĩ phân biệt Nguyễn Du cũng viết "đừng chớ có có không không" ưcng

bài thơ chữ Nôm Văn tế thập loại chủng sinh Có tấm lòng vô phân biệt mới thực

hiện được tấm lòng vô quái ngại Cái "vô" không có nghĩa là hư vô hoàn toàn kh('ng

có cái gì cả Trái ngược lại, cái "vô" này có thể coi như là cái "hữu" sung mãn Tleo nguyên lý chức năng phân tiết của ngôn ngữ thì cái "vô" có thể giải thích là thế giới chưa phân chia bằng ý nghĩa ngôn ngữ N ghĩ như vậy thì có thể coi cái "vô" nhu là

căn nguyên sự tồn tại như câu trong Truyện Kiều: Cội nguồn cũng ở lòng người mà

ra Từ tấm lòng ấy - tức là thế giới vô phân biệt - ngôn ngữ phân chia ra các sự Yật, các sự việc để cho nó sinh ra ở thế giới hiện tượng

Ngoài ra, trên phương diện siêu hình của tấm lòng, chúng tôi có thể giải thích thêm: trên thế giới hiện tượng, tức là trần gian này, tấm lòng ấy trở thành lòng Từ

Bi Với lòng vô phân biệt của đạo Phật ấy, Nguyễn Du mới thương cảm sâu sắc đối

với những người cực khổ, thảm khốc và viết được cả thơ chữ N ôm như Trwện Kiều, Văn tể thập loại chủng sinh lẫn những bài thơ chữ Hán như Long Thành cầm giả ca, Thải Bình mại ca giả, Sở kiến hành

6 Tạm kết

Khảo sát trên của chúng tôi dẫn đến kết luận tạm thời như sau:

1 v ề vấn đề xung quanh:

- v ề "phân kinh" trong nhan đề bài Thạch đ ài: trước hết phải giải thícầ là Chiêu Minh thái tử phân chia kinh Kim Cang ra 32 phần.

- v ề địa điểm đài đá: có thể suy đoán được đài đá ở Lâm A n (Hàng Châu) ình Chiết Giang, hoặc ở huyện Túc Tòng tỉnh An Huy N hưng cũng cần phải đối cầiếu

những tư liệu Trung Quốc với tập thơ Bắc hành tạp lục bản chép tay A.1494 nữi để

xem xét lại hành trình sứ bộ của Nguyễn Du và địa điểm các bài trong tập thơ ấ)

2 v ề bản tính tấm lòng được xem từ thơ chữ Hán của N guyễn Du:

Chúng tôi cho rằng tấm lòng của Nguyễn Du là tấm lòng đặc biệt, thiờng xuyên ở trang thái Thiền Định Theo tư tường Thiền tông của Huệ Năng mà Ngiyễn

Du có lẽ được chịu ảnh hưởng sâu sắc đến nỗi đồng nhất hoá với Huệ Năng, cc' thể

Ngày đăng: 18/03/2021, 11:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w