1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Factors affecting the intercultural adaptation process of international students a case study of vietnamese postgraduate students at a tertiary institution in taiwan

12 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 542,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu trên thế giới đã ghi nhận tác động của di cư tới biến đổi về thực hành tôn giáo, trong khi đó các nghiên cứu ở Việt Nam về mối quan hệ giữa tôn giáo và di cư ít đề c

Trang 1

697

Thực hành các nghi lễ tôn giáo của người Công giáo di cư tới

Hà Nội

Hoàng Thu Hương*, Nguyễn Thị Ngọc Anh**

Tóm tắt: Các nghiên cứu về tôn giáo và di cư trên thế giới đã cho thấy thực hành tôn giáo

và di cư có mối liên hệ Tiếp nối chủ đề nghiên cứu này, bài viết tập trung vào mô tả thực hành các nghi lễ tôn giáo, sự biến đổi trong thực hành nghi lễ của người Công giáo di cư tới Hà Nội cũng như các yếu tố tác động đến sự thực hành nghi lễ tôn giáo của họ Kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung, đa số người Công giáo di cư vẫn đảm bảo mức độ tham gia các loại nghi lễ bắt buộc như đúng với giáo luật Tuy vậy, sự thay đổi mức độ tham gia các nghi lễ tôn giáo có được ghi nhận theo cả xu hướng tăng và giảm so với trước di cư Các yếu tố như tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ chuyên môn kỹ thuật và nghề nghiệp có những mối liên hệ nhất định tới một hoặc một vài chiều cạnh thực hành nghi lễ tôn giáo

Từ khóa: thực hành nghi lễ tôn giáo; người Công giáo; nhập cư

Ngày nhận 30/10/2019; ngày chỉnh sửa 25/11/2019; ngày chấp nhận đăng 25/12/2019

DOI: https://doi.org/10.33100/tckhxhnv5.6.HoangThuHuong-NguyenThiNgocAnh

1 Đặt vấn đề

Mối quan hệ giữa tôn giáo và di cư đã

được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu trên

thế giới Một số nghiên cứu đã cho thấy tôn

giáo được nhìn nhận là một nguồn lực đối

với người di cư (Chee-Beng 2015; Saunders

và cộng sự 2016) Với tư cách là nguồn lực

tâm lý, tâm linh, tôn giáo tham gia vào sự

trợ giúp người di cư ngay từ quá trình chuẩn

bị di cư, trên chặng đường di cư của họ

(Saunders và cộng sự 2016) Với tư cách là

nguồn lực xã hội, tôn giáo có sự trợ giúp

tích cực với người nhập cư tại nơi đến của

họ (Cox 1983; William và cộng sự 2007;

Furseth 2008; Andrew 2011; Saunders và

cộng sự 2016) Bên cạnh đó, quá trình di cư

có tác động tới chiều cạnh thực hành tôn

 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG

Hà Nội; email: huonght.ussh@gmail.com

** Nữ tu Công giáo, Nhà thờ Giáo xứ Cổ Nhuế.

giáo, tuy nhiên sự biến đổi về thực hành tôn giáo lại chịu tác động của các yếu tố như đặc trưng tôn giáo của chính người nhập cư và tính tôn giáo của cộng đồng nơi họ đến (Cadge và cộng sự 2007; Abdurehim 2015; Saunders và cộng sự 2016; Eraliev 2018)

Sự gia tăng thực hành nghi lễ tôn giáo sau khi di cư là do sự ủng hộ của môi trường xã hội đối với thực hành nghi lễ Hồi giáo (Abdurehim 2015), do sự thay đổi môi trường sống khiến người nhập cư cảm thấy mất an toàn và cần tìm kiếm sự an ủi ở tôn giáo (Eraliev 2018) Người nhập cư cũng có nhiều khả năng tham gia vào tôn giáo hơn khi ít hội nhập vào xã hội nơi họ chuyển đến (Cadge và cộng sự 2006) Một số nghiên cứu về di cư quốc tế của người Việt Nam có những nhận định tương tự về vai trò trợ giúp của tôn giáo với người di cư, chẳng hạn Hüwelmeier (2013c, 2013a, 2013b) đã cho thấy vai trò của Phật giáo đối với sự hình thành mạng lưới xã hội của phụ nữ Việt

Trang 2

Nam nhập cư vào Đức, hay các tổ chức tôn

giáo của người Việt đã cung cấp sự hỗ trợ xã

hội cho người Việt di cư (GIZ 2015) Tuy

nhiên, bên cạnh đó, sự tham gia tôn giáo

một mặt làm gia tăng sự cố kết trong cộng

đồng người Việt di cư nhưng cũng làm hạn

chế sự hội nhập xã hội của họ, trong trường

hợp cộng đồng người Cao đài di cư tới Úc

(Possamai và cộng sự 2007) Trong khi đó,

các nghiên cứu trong nước về tôn giáo đã có

một số nghiên cứu bàn về mối quan hệ giữa

tôn giáo và di cư nội địa ở Việt Nam Cũng

bàn về người Bắc di cư vào miền Nam năm

1954, trong khi Hansen đã nhận thấy vai trò

của giới tăng lữ Công giáo trong việc quyết

định di cư và cả trong việc tìm kiếm vị trí tái

định cư (Hansen 2009), thì Nguyễn Đức Lộc

(2010b, 2010a, 2014) cho rằng cuộc di cư

này mang tính lựa chọn giữa đức tin và quê

hương làng xóm, là cuộc di cư văn hóa khi

người ra đi không mang theo gì ngoài đức

tin Gần đây, một số nghiên cứu về người

H’Mông di cư vào Tây Nguyên đã cho thấy

sự biến đổi tôn giáo, hoặc giữ tín ngưỡng,

tôn giáo truyền thống hoặc cải đạo sang Tin

Lành (Đoàn Đức Phương 2015; Phạm Văn

Dương và cộng sự 2017; Vũ Thị Hà và cộng

sự 2016)

Một số nghiên cứu trên thế giới đã ghi

nhận tác động của di cư tới biến đổi về thực

hành tôn giáo, trong khi đó các nghiên cứu ở

Việt Nam về mối quan hệ giữa tôn giáo và

di cư ít đề cập đến sự tham gia các nghi lễ

tôn giáo của người Công giáo di cư Do vậy,

bài viết này sẽ tập trung tìm hiểu mức độ

thực hành các nghi lễ tôn giáo, sự thay đổi

mức độ thực hành của người Công giáo di

cư, cũng như một số yếu tố tác động tới sự

thực hành nghi lễ tôn giáo của họ

2 Một số khái niệm

2.1 Người Công giáo di cư

Căn cứ theo điều 96 của Bộ Giáo luật

1983 thì một người trở thành một người

Công giáo khi đã chịu phép rửa tội theo nghi thức của Giáo hội Công giáo: “Nhờ bí tích Rửa tội, con người được sáp nhập vào Giáo hội Chúa Kitô và trở thành môt thể nhân trong Giáo hội” (Hội đồng Giám mục Việt Nam 2007: 86)

Di cư được hiểu là sự dịch chuyển của một người từ vùng này sang vùng khác Hiện nay, các định nghĩa về di cư trên thế giới rất đa dạng và ở Việt Nam trong các cuộc khảo sát về di cư cấp quốc gia cũng có những tiêu chí xác định người di cư không hoàn toàn giống nhau Nghiên cứu của Stump (1984) về di cư nội địa đã định nghĩa

di cư theo vùng là những người có nơi cư trú tại thời điểm phỏng vấn khác với nơi cư trú khi họ 16 tuổi, còn người không di cư là những người ở cùng một địa điểm từ khi 16 tuổi cho tới thời điểm được phỏng vấn Ở Việt Nam, cuộc Điều tra di cư Việt Nam năm 2004 định nghĩa người di cư là “những người từ 15-59 tuổi di chuyển từ quận/huyện này sang quận/huyện khác trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra, và đã cư trú trên địa bàn điều tra từ một tháng trở lên Một người di cư từ quận này sang quận khác trong nội thành phố trong khoảng thời gian 5 năm trước thời điểm điều tra được xem là người không di cư Những người 15-59 tuổi sống tại cùng quận/huyện trong ít nhất 5 năm trước thời điểm điều tra được xem là người không di cư” (Tổng cục Thống kê & Quỹ Dân số Liên hợp quốc 2006: 5) Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 định nghĩa người di cư là “những người có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra khác với nơi thường trú hiện tại” (Tổng cục Thống kê 2011: 19) Tới Điều tra Di cư nội địa quốc gia năm 2015 do Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc thực hiện, khái niệm người di cư được định nghĩa là “người di chuyển từ

Trang 3

huyện/quận này sang huyện/quận khác trong

vòng 5 năm trước thời điểm điều tra và thỏa

mãn 1 trong 3 điều kiện sau: i) Đã cư trú ở

nơi điều tra từ 1 tháng trở lên; ii) Cư trú ở

nơi điều tra mới dưới 1 tháng nhưng có ý

định ở từ 1 tháng trở lên; iii) Cư trú ở nơi

điều tra mới dưới 1 tháng nhưng trong vòng

1 năm qua đã rời khỏi nơi thường trú đến ở

một quận/huyện khác với thời gian tích lũy

từ 1 tháng trở lên để lao động kiếm tiền”

(GSO and UNDP 2016: 1)

Dựa vào các cách định nghĩa về người di

cư, cũng như căn cứ vào đặc điểm đối tượng

khảo sát của nghiên cứu, người Công giáo di

cư trong bài viết này được hiểu là ‘những

người đã chịu phép rửa tội theo nghi thức

của Giáo hội Công giáo và là thành viên của

một cộng đồng giáo hội, có sự di chuyển nơi

cư trú từ địa điểm này tới địa điểm khác với

thời gian cư trú tại nơi điều tra từ 1 tháng trở

lên’ Với định nghĩa như vậy, nghiên cứu

này giới hạn đối tượng khảo sát là những

người Công giáo từ đủ 15 tuổi trở lên, có sự

thay đổi từ một nơi cư trú tới nơi điều tra từ

1 tháng trở lên

2.2 Thực hành nghi lễ Công giáo

Từ góc độ xã hội học, nghi lễ tôn giáo “là

những thực hành đòi hỏi hoặc mong chờ đối

với các thành viên của một đức tin”

(Schaefer 2013) Như vậy, thực hành nghi lễ

Công giáo được hiểu là việc thực hành các

nghi lễ theo quy định của Công giáo

Việc thực hành nghi lễ của tín đồ Công

giáo hiện nay được quy định trong Bộ Giáo

luật 1983 Điều 1246 Bộ Giáo luật 1983 đã

quy định ngày Chủ nhật là ngày lễ bắt buộc

cần giữ trong toàn thể Giáo hội cùng với các

ngày lễ trọng khác như ngày lễ Sinh nhật

chúa Giêsu, lễ Hiển linh, lễ Chúa lên trời, lễ

Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Giêsu, lễ

Đức Mẹ Maria, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, lễ

Đức Mẹ lên Trời, lễ Thánh Giuse, lễ Thánh Phêrô và Phaolo Tông đồ, lễ Các Thánh Tuy nhiên, Giáo luật cũng cho phép các Hội đồng Giám mục có thể bỏ bớt vài ngày lễ buộc hay chuyển dời qua ngày Chủ nhật Ngoài ra, giáo luật cũng có những quy định

cụ thể liên quan đến việc lãnh nhận 7 bí tích của đạo Công giáo Bảy phép bí tích của Công giáo “do Chúa Giêsu thiết lập là: bí tích Thánh tẩy (rửa tội), bí tích Thánh thể, bí tích Thêm sức, bí tích Giải tội, bí tích Xức dầu bệnh nhân, bí tích Truyền chức Thánh,

bí tích Hôn phối (Trích số 1210 sách Giáo

Lý Giáo hội Công giáo 2004) Bí tích Rửa tội dành cho trẻ mới sinh ra hoặc người muốn gia nhập đạo, bí tích Thánh thể với hình thức gồm bánh và rượu, với ý nghĩa là Thịt và Máu của Chúa Jesus trong Thánh lễ, nên tham gia nghi lễ này có nghĩa tín đồ tiếp nhận chính Chúa Jesus vào trong linh hồn của mình, vừa tha thứ mọi tội nhẹ và củng cố sức mạnh cho tín đồ Bí tích Thêm sức nhằm gia tăng đức tin cho tín đồ, được thực hiện 1 lần sau khi đã lãnh nhận bí tích rửa tội, học biết giáo lý căn bản trong đạo, sạch tội và có lòng ước ao Bí tích Hòa giải là bí tích được lập ra để tha rội riêng cho các hối nhân thông qua quyền hành của Chúa ban cho các linh mục Khi lãnh nhận bí tích Hòa giải, hối nhân sẽ được tha tội, được trợ giúp

để sống thánh thiện hơn Bí tích Xức dầu bệnh nhân được thực hiện cho người bệnh

và chuẩn bị cho họ trong lúc chết, nhằm đem lại sức mạnh, sự bình an, khích lệ cho người bệnh, tha thứ tất cả lỗi lầm của người bệnh Bí tích Truyền chức Thánh chỉ được thực hiện với những người có ơn gọi linh mục Bí tích Hôn nhân là sự kết hợp vĩnh viễn giữa một người nam và một người nữ, được thực hiện khi họ kết hôn Như vậy, trong số 7 bí tích, có 6 bí tích dành cho mọi tín đồ Công giáo nói chung, và các bí tích Rửa tội, Thêm sức, Xức dầu bệnh nhân, Hôn nhân là những bí tích thực hiện một lần trong những giai đoạn nhất định của vòng

Trang 4

đời Chỉ có 2 bí tích Thánh thể và Hòa giải

là những bí tích thường xuyên thực hiện

dành cho tín đồ Công giáo

Trong Giáo luật Công giáo không quy

định về việc đọc kinh, cầu nguyện tuy nhiên

việc thực hành đọc kinh, cầu nguyện lại biểu

thị đức tin của tín đồ Công giáo, nên trong

nghiên cứu này, đọc kinh, cầu nguyện vẫn

được xem là một chiều cạnh của thực hành

nghi lễ Công giáo

Do vậy, trong nghiên cứu này, thực hành

nghi lễ Công giáo của người Công giáo sau

di cư được xem xét ở các khía cạnh tham gia

thực hành các lễ trọng, lãnh nhận các bí tích

Thánh thể và Hòa giải, và đọc kinh, cầu

nguyện

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi:

Bài viết này khai thác dữ liệu khảo sát tại Hà

Nội của đề tài "Đặc điểm và sự biến đổi sinh

hoạt tôn giáo của người Công giáo di cư

trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện

nay", mã số Nafosted 504.01-2019.01 Cụ

thể, đề tài đã thực hiện 470 cuộc phỏng vấn

bằng bảng hỏi với người Công giáo từ đủ 15

tuổi trở lên tham dự lễ Chủ nhật tại một số

nhà thờ trên địa bàn thành phố Hà Nội như

như Nhà thờ Chánh tòa (Quận Hoàn Kiếm),

Nhà thờ giáo xứ Hàm Long (Quận Hai Bà

Trưng), Nhà thờ Thái Hà (Quận Đống Đa),

Nhà thờ giáo xứ Cổ Nhuế (Quận Bắc Từ

Liêm) và Nhà thờ giáo họ Nông vụ (Quận

Long Biên) Các nhà thờ được chọn làm địa

bàn khảo sát bao gồm các nhà thờ thuộc các

quận nội thành lâu đời nhất của thủ đô (quận

Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa) và các

quận được hình thành trong quá trình đô thị

hóa (quận Long Biên thành lập năm 2003 và

quận Bắc Từ Liêm thành lập năm 2013)

Các nhà thờ này còn là các địa điểm thu hút

đông đảo người Công giáo di cư tới tham gia sinh hoạt Các dữ liệu định lượng trong bài viết này được phân tích từ 397 người Công giáo từ đủ 15 tuổi trở lên đã có sự thay đổi nơi cư trú tới thời điểm điều tra từ 1 tháng trở lên được phỏng vấn trong mẫu khảo sát tại Hà Nội

Phương pháp phỏng vấn sâu: dữ liệu định tính của bài viết này dựa trên 8 cuộc phỏng vấn với người Công giáo di cư do nhóm tác giả thực hiện từ năm 2018, nhằm tìm hiểu đặc điểm tham gia sinh hoạt tôn giáo và các lý giải của người Công giáo di

cư về việc thực hành nghi lễ tôn giáo của họ

4 Kết quả nghiên cứu 4.1 Mức độ thực hành các nghi lễ Công giáo của người Công giáo di cư

Các loại nghi lễ Công giáo khác nhau sẽ

có tần suất thực hành khác nhau, do vậy trong nghiên cứu này, đối với các lễ trọng như lễ ngày Chủ nhật là loại nghi lễ diễn ra đều đặn hàng tuần và buộc người Công giáo phải giữ lễ này nên chúng tôi đánh giá mức

độ giữ lễ này của người Công giáo di cư qua hai chỉ báo: tham dự mỗi tuần một lần và tham dự ít hơn mỗi tuần một lần Mức độ tham dự các lễ trọng được đánh giá qua các chỉ báo: tham dự đầy đủ các thánh lễ và có vắng mặt từ 1 thánh lễ trở lên Sự lãnh nhận

bí tích Thánh thể và bí tích Hòa giải được đo lường qua số lần lãnh nhận trong năm như nhiều hơn 1lần/tuần, 1 lần/tuần, 1-3 lần/tháng, vài lần trong năm và hầu như không bao giờ với bí tích Thánh thể và 1 lần/năm với bí tích Hòa giải Tần suất đọc kinh, cầu nguyện được đánh giá qua các mức độ: nhiều lần/ngày, ngày 1 lần, vài lần/tuần, từ 1 lần/tuần trở xuống và không bao giờ

Trang 5

Bảng 1: Tần suất tham gia các nghi lễ tôn giáo của người Công giáo di cư tại Hà Nội

1 Đọc kinh, cầu nguyện (n=396)

Từ 1 lần/tuần trở xuống 24,7

2 Lãnh nhận Bí tích Thánh thể

(n=392)

3 Lãnh nhận bí tích Hòa giải

(n=396)

4

Tham dự thánh lễ ngày Chủ nhật (n=397)

5 Tham dự các nghi lễ trọng

(n=396)

Vắng mặt 1-2 thánh lễ 25,5 Vắng mặt nhiều hơn 2 thánh lễ 5,3 Không bao giờ tham già 0,8

Trong số các lễ bắt buộc, nhìn chung

người Công giáo di cư đều có sự tham gia,

tuy nhiên mức độ tham gia các nghi lễ

không như nhau Thánh lễ ngày Chủ nhật có

mức độ tham gia cao nhất, 69,5% người

được hỏi thừa nhận tham gia ít nhất 1

lần/tuần, còn 27% thừa nhận tham gia 1-3

lần/tháng Điều này cho thấy có khoảng hơn

2/3 số người Công giáo di cư đảm bảo sự

tham gia đầy đủ lễ ngày Chủ nhật, còn lại 1/3 không đảm bảo được sự tham gia đầy đủ

lễ này Lễ Chủ nhật là một trong các lễ bắt

buộc người Công giáo phải tham gia: “Lễ Chủ nhật thì chắc chắn không bỏ còn lễ ngày thường thì hôm nào trời mưa thì lười không đi Khi mới học năm nhất thì siêng hơn không bỏ ngày nào còn năm thứ hai học nhiều hơn, và học khuya hơn nên sáng

Trang 6

không dậy được hoặc không nghe thấy

chuông nhà thờ thì không đi lễ” (Nữ, 20

tuổi, sinh viên năm 2 Trường Đại học Sư

phạm khoa Mầm non, nhập cư trung hạn)

Đối với các lễ trọng khác, tỷ lệ tham dự

được đầy đủ chiếm 68,4%, còn lại không

đảm bảo được việc thu xếp thời gian tham

dự đầy đủ các lễ trọng

Lãnh nhận bí tích Thánh thể mức độ

thường xuyên nhất của người Công giáo di

cư là 1 lần/tuần chiếm 38,0%, tiếp đó là

22,7% lãnh nhận nhiều hơn 1 lần/tuần Đây

chính là những người thuộc nhóm đi lễ Chủ

nhật ít nhất 1lần/tuần Có tới 21,9% người

được hỏi cho biết chỉ lãnh nhận bí tích này

vài lần/năm Trong khi đó, bí tích Hòa giải

có mức độ lãnh nhận cao nhất là vài lần/năm

chiếm 75,5%

Đọc kinh, cầu nguyện tuy không phải là

nghi lễ bắt buộc song là việc mà các tín đồ

Công giáo luôn được giáo dục ngay từ khi

còn nhỏ Hoạt động này có hàm ý dâng lên

Chúa một ngày sống mới khi thức dậy và

xin Chúa chúc lành cho ngày sống hôm nay

của cá nhân cũng như gia đình; còn đọc kinh

cầu nguyện buổi tối là để cám ơn Chúa khi

hết một ngày vẫn gìn giữ chúng ta bình an

và tiếp tục xin Chúa ban cho ta và gia đình

một đêm ngủ bình an Bên cạnh đó, đọc

kinh, cầu nguyện cũng là một hình thức để

các tín đồ bày tỏ sự cầu mong Chúa ban ơn

cho mình và gia đình mình Kết quả khảo sát

cho thấy, đối với nhóm người Công giáo di

cư, đa số không đảm bảo được việc đọc

kinh, cầu nguyện nhiều lần trong ngày, mà

chủ yếu cố đảm bảo việc đọc kinh ngày một

lần Một người Công giáo di cư cho biết

“Tối nào cả nhà cũng đọc kinh Nhà tôi chỉ đọc 10 kinh thôi, mỗi tối ngắm một ngắm Tối nay là ngắm thứ nhất thì tối mai là ngắm thứ hai Bé trai đầu là chăm nhất, nó thường nhắc cả nhà: “đọc kinh cho con đi ngủ”

(Nam, 59 tuổi, Giám đốc công ty Thép) Người Công giáo sau khi di cư đa số vẫn đảm bảo việc tham dự các lễ trọng, song vẫn

có nhóm không giữ được đầy đủ lễ trọng cũng như lãnh nhận các bí tích Thánh thể và Hòa giải thường xuyên Câu hỏi đặt ra là các tần suất tham dự các nghi lễ Công giáo của người Công giáo sau di cư như vậy có gì thay đổi so với trước khi họ tới Hà Nội hay không? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta sẽ xem xét tiếp kết quả về sự thay đổi mức độ thực hành nghi lễ sau di cư ở mục tiếp theo

4.2 Sự thay đổi mức độ thực hành nghi lễ tôn giáo của người tham gia các nghi lễ tôn giáo của họ sau di cư

Để đánh giá sự thay đổi mức độ thực hành các nghi lễ tôn giáo của người Công giáo sau di cư, chúng tôi đã so sánh mức độ thường xuyên tham gia các nghi lễ nêu trên

ở thời điểm được phỏng vấn và mức độ tham dự các nghi lễ ở thời điểm họ tham gia sinh hoạt các các nhà thờ giáo xứ trước đó Mẫu khảo sát gồm có 397 người Công giáo

di cư, bao gồm cả loại hình di cư nội tỉnh, nên có người tuy có sự chuyển cư nhưng không thay đổi địa điểm thực hành nghi lễ

Do vậy, trong phần trình bày số liệu dưới đây, chúng tôi chỉ đưa vào phân tích những người có cho biết thông tin về mức độ tham gia thực hành nghi lễ ở cả hai thời điểm Kết quả cho thấy như sau:

Trang 7

Bảng 2: Sự thay đổi mức độ thực hành nghi lễ tôn giáo của người Công giáo di cư tại Hà Nội

Sự thay đổi mức độ thực hành/tham gia (%) Tăng

lên Giảm đi

Không thay đổi

1 Đọc kinh, cầu nguyện (n=360) 21,4 13,6 65,0

3 Lãnh nhận bí tích Thánh thể (n=352) 15,1 20,7 64,2

4 Lãnh nhận bí tích Hòa giải (n=356) 9,0 - 91,0

5 Tham dự thánh lễ ngày Chủ nhật (=359) 7,2 5,8 86,9

6 Tham dự các ngày lễ trọng (n=360) 7,8 15,8 76,4

Nhìn chung, đa số người Công giáo di cư

có xu hướng giữ nguyên mức độ thực hành

các nghi lễ tôn giáo của mình Lãnh nhận bí

tích Hòa giải giữ được mức độ không thay

đổi cao nhất, tiếp đến là sự tham gia thánh lễ

ngày Chủ nhật Trong số các lễ bắt buộc thì

lễ Chủ nhật là một trong những ngày lễ buộc

quan trọng, nên xu hướng giữ lễ này vẫn

cao Trong khi đó, mức độ lãnh nhận bí tích

Hòa giải của người Công giáo phổ biến ở

mức vài lần/năm, nên sau di cư hầu như ít

biến đổi

Xét về mức độ tham dự các lễ trọng thì

có 76,4% người trả lời cho biết họ vẫn

không thay đổi mức độ thực hành của mình,

và xu hướng giảm chiếm 15,8% Khi xem

xét mối tương quan giữa mức độ tham gia

các lễ trọng và sự thay đổi mức độ tham gia

lễ trọng cho thấy giữ nguyên mức độ tham

gia các lễ trọng rơi vào nhóm những người

thường tham gia đầy đủ các lễ trọng

((ꭔ2

tham dự lễ trọng rơi vào nhóm hiện nay

không tham gia đầy đủ các lễ trọng, cụ thể

có 49,1% số này có đã giảm mức độ tham

gia và 41,4% giữ nguyên mức độ

Trong số các loại nghi lễ thì tuy đọc kinh, cầu nguyện và lãnh nhận bí tích Thánh thể có tỷ lệ không thay đổi gần như nhau, song với việc đọc kinh, cầu nguyện ghi nhận

xu hướng tăng cao hơn so với xu hướng giảm, còn lãnh nhận bí tích Thánh thể lại ghi nhận mức độ giảm đi cao hơn so với mức độ tăng lên Đối với việc giảm mức độ đọc kinh, cầu nguyện cũng được lý giải do sự

thay đổi môi trường sống: “Có khi chị đọc kinh buổi tối, xong chị lần 50 kinh mân côi Bây giờ chị đọc ít lại vì đứa con đầu nó bảo dài, nhiều kinh nên không thuộc Chị bảo với đứa con đầu rằng: "Chúa nói ở đâu có hai, ba người cầu nguyện thì Chúa hiện diện

ở đó” Thì bây giờ gia đình đang khó khăn, nhà mình có nhiều cái để xin Chúa che chở cho lắm thì mẹ xin các con, ba mẹ con mình cùng ngồi đọc kinh Đọc 12 kinh Kính Mừng

tạ ơn Đức Mẹ trong ngày Nếu con không đọc kinh cùng mẹ thì cố gắng đọc cùng mẹ 1 kinh Lạy Cha, 12 kinh Kính Mừng, 1 kinh Sáng Danh” (Nữ, 47 tuổi, làm nghề tự do,

nhập cư dài hạn)

Như vậy, sau di cư, thực hành các nghi lễ tôn giáo của người Công giáo di cư có những thay đổi nhất định, từ các nghi lễ bắt buộc cho tới các nghi lễ không bắt buộc

Trang 8

4.3 Một số yếu tố tác động tới sự thực

hành nghi lễ tôn giáo của người Công giáo

di cư

Trong phần này, kiểm định Chi-square1

được sử dụng để kiểm định mối liên hệ giữa

các biến số đặc trưng nhân khẩu và sự thực

hành nghi lễ tôn giáo cũng như biến đổi

trong thực hành nghi lễ tôn giáo của người

Công giáo di cư Các biến số nhân khẩu xã

hội được đưa vào xem xét bao gồm: giới,

tuổi, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình

trạng hôn nhân, nghề nghiệp Để đảm bảo

đủ điều kiện để thực hiện phép kiểm định Chi-square, một số giá trị của các biến số thực hành nghi lễ đã được gộp lại, cụ thể như sau: biến mức độ tham gia lễ Chủ nhật

và lãnh nhận bí tích Thánh thể gồm 2 giá trị:

ít nhất 1 lần/tuần và ít hơn 1 lần/tuần; biến mức độ tham dự các lễ trọng gồm: tham dự đầy đủ và tham dự không đầy đủ Những biến số có mối liên hệ có ý nghĩa về mặt thống kê qua phép kiểm định Chi-square được trình bày trong bảng dưới đây:

1Bảng 4: Một số yếu tố tác động đến mức độ thực hành nghi lễ của người Công giáo di cư tại Hà Nội

Các yếu tố

Mức độ đọc kinh, cầu nguyện (%) Nhiều

lần/ngày

Ngày 1 lần Vài

lần/tuần

Từ 1lần/tuần trở xuống Nhóm tuổi Từ 35 tuổi trở xuống

(n=275)

Trên 35 tuổi (n=122) 32,0 27,9 16,4 23,8 Tình trạng hôn nhân

(ꭔ 2

(6;397) =12,313;

p=0,059)*

Đã kết hôn (n=215) 27,4 32,6 20,9 19,1 Chưa kết hôn (n=181) 21,5 27,1 19,3 32,0

Mức độ tham gia lễ Chủ nhật (%)

Ít nhất 1 lần/tuần Ít hơn 1 lần/tuần Trình độ chuyên môn

kỹ thuật

(ꭔ 2

(2;397) =12,307;

p=0,002)**

Từ cao đẳng trở xuống (n=128)

Tình trạng hôn nhân

(ꭔ 2

(2;397) =8,179;

p=0,017)**

Mức độ tham dự các lễ trọng (%) Tham dự đầy đủ Tham dự không đầy

đủ Nhóm tuổi

(ꭔ 2

(1;397) =5,161;

p=0,023)**

Từ 35 tuổi trở xuống (n=275)

Giới tính

(ꭔ 2

(1;397) =5,132;

p=0,023)**

1 1 Phép kiểm định Chi-square được sử dụng để đánh giá sự tồn tại mối liên hệ giữa hai biến trong tổng thể hay không bằng cách kiểm định giả thuyết H 0 “không có mối liên hệ giữa hai biến số” Kết quả của phép kiểm định này được xem xét qua giá trị p (là xác suất loại bỏ giả thuyết H 0 ): khi p<0,05: giả thuyết H 0 được bác bỏ với độ tin cậy 95%; khi p<0,1: giả thuyết

H 0 được bác bỏ với độ tin cậy 90%

Trang 9

Mức độ lãnh nhận bí tích Thánh thể (%)

Ít nhất 1 lần/tuần Ít hơn 1 lần/tuần Nhóm tuổi

(ꭔ 2

(1;397) =4,116;

p=0,042)**

Từ 35 tuổi trở xuống (n=275)

Tình trạng hôn nhân

(ꭔ 2

(2;397) =4,036;

p=0,098)*

Nghề nghiệp

(ꭔ 2

(3;397) =9,017;

p=0,029)**

Nhóm lao động trí óc hoặc công việc văn phòng

Nhóm lao động chân tay

Nhóm lao động chân tay có liên quan tới sử dụng máy móc hoặc nặng nhọc

Nhóm không có nghề nghiệp tại thời điểm phỏng

vấn

Trình độ chuyên môn

kỹ thuật

(ꭔ 2

(2;397) =5,637;

p=0,06)*

Từ cao đẳng trở xuống (n=128)

Ghi chú: (*) p<0,1 giả thuyết H 0 bị bác bỏ với độ tin cậy 90%; (**) p<0,05: giả thuyết H o bị bác bỏ với độ tin

cậy 95%

Như vậy, trong số các yếu tố đặc trưng

nhân khẩu thì yếu tố giới không có mối liên

hệ có ý nghĩa thống kê với mức độ thực

hành nghi lễ tôn giáo của người Công giáo

di cư Yếu tố tuổi có mối liên hệ với mức độ

đọc kinh, cầu nguyện, mức độ tham dự các

lễ trọng và mức độ lãnh nhận bí tích Thánh

thể Nhóm thanh niên có xu hướng đọc kinh,

cầu nguyện và tham dự các lễ trọng ít hơn,

nhưng lại lãnh nhận bí tích thánh thể nhiều

hơn so với nhóm trung, cao niên

Yếu tố tình trạng hôn nhân có mối liên

hệ với mức độ đọc kinh, cầu nguyện và mức

độ lãnh nhận bí tích Thánh thể, cụ thể nhóm

chưa kết hôn có mức độ đọc kinh cầu

nguyện thấp hơn so với nhóm đã kết hôn

nhưng lại có mức độ lãnh nhận bí tích

Thánh thể cao hơn

Yếu tố trình độ chuyên môn kỹ thuật có

mối liên hệ với mức độ tham gia lễ Chủ nhật

và mức độ lãnh nhận bí tích Thánh thể

Những người có trình độ học vấn cao hơn có

xu hướng chăm chỉ thực hành nghi lễ tôn giáo hơn

Riêng yếu tố nghề nghiệp chỉ ghi nhận được mối liên hệ với mức độ lãnh nhận bí tích Thánh thể Nhóm lao động trí óc có khuynh hướng có mức độ thực hành nghi lễ tôn giáo cao hơn so với các nhóm khác Điều này cho thấy vị thế đạt được của người Công giáo di cư có tác động rõ ràng tới sự thay đổi tần suất tham dự các lễ trọng và lễ ngày Chủ nhật của họ Với người di cư, công việc là một trong các ưu tiên hàng đầu

để đảm bảo sinh kế, do vậy tùy từng đặc trưng nghề nghiệp mà thời gian dành cho việc tham dự các nghi lễ tôn giáo của các nhóm nghề nghiệp khác nhau

Trong các bí tích Công giáo, bí tích Thánh thể được cử hành trong các thánh lễ Mỗi người Công giáo khi tham gia vào các thánh lễ, nếu tự xét thấy không có tội và đã kiêng ăn uống trước một giờ thì được rước

lễ này, tức là được nhận bánh và rượu sau

Trang 10

khi linh mục đọc lời truyền phép Do vậy,

việc lãnh nhận bí tích này tùy thuộc vào sự

tự nhìn nhận, đánh giá của bản thân Kết quả

khảo sát cho thấy những người nhiều tuổi

hơn, đã lập gia đình chăm chỉ đọc kinh, cầu

nguyện hơn, tham dự nhiều thánh lễ hơn

song có khuynh hướng nghiêm khắc hơn

trong việc tự xét bản thân, nên mức độ lãnh

nhận bí tích Thánh thể lại thấp hơn

Khi xem xét các yếu tố tác động đến

sự thay đổi mức độ thực hành các nghi lễ tôn giáo của người Công giáo di cư, chỉ có yếu tố nhóm tuổi có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với mức độ tham dự các lễ trọng và yếu tố tình trạng hôn nhân có mối liên hệ với mức độ tham dự lễ ngày Chủ nhật

Bảng 5: Một số yếu tố tác động đến sự thay đổi mức độ tham gia các lễ trọng của người Công giáo

di cư tới Hà Nội

Các yếu tố

Mức độ tham dự các lễ trọng

Không thay đổi (%)

Giảm đi (%)

Tăng lên (%)

Nhóm tuổi

(ꭔ 2

(2;360) =5,056; p=0,08)*

Từ 35 tuổi trở xuống (n=253)

Trên 35 tuổi (n=107) 75,7 12,1 12,1

Mức độ tham dự lễ ngày Chủ nhật

Không thay đổi (%)

Giảm đi (%)

Tăng lên (%)

Tình trạng hôn nhân

(ꭔ 2

(2;360) =6,014; p=0,04)**

Chưa kết hôn (n=166) 88,0 7,8 4,2

Ghi chú: (*) p<0,1 giả thuyết H 0 bị bác bỏ với độ tin cậy 90%; (**) p<0,05: giả thuyết H o bị bác bỏ với độ tin

cậy 95%

Sự khác biệt về mức độ tham dự các

lễ trọng giữa các nhóm tuổi cho thấy tuy

đa số người Công giáo di cư vẫn giữ

nguyên mức độ tham dự các lễ trọng,

song xu hướng tăng mức độ tham dự các

lễ trọng tăng ở nhóm trung, cao niên, còn

nhóm thanh niên lại có xu hướng giảm

Tương tự như vậy, nhóm đã kết hôn cũng

có sự tích cực hơn trong việc tham dự lễ

ngày Chủ nhật so với nhóm chưa kết

hôn

Như đã đề cập đến ở mục 3.2, việc thực

hành các nghi lễ tôn giáo của người Công

giáo sau di cư có một số biến đổi Tuy vậy,

sự biến đổi tập trung vào một số nghi lễ như

lãnh nhận bí tích Thánh thể, đọc kinh cầu

nguyện, còn lãnh nhận bí tích Hòa giải và thánh lễ ngày Chủ nhật ít có sự thay đổi hơn Mặc dù vậy, các yếu tố đặc trưng nhân khẩu hầu như ít tác động đến sự thay đổi mức độ thực hành các nghi lễ như đọc kinh, cầu nguyện, lãnh nhận bí tích Thánh thể Nghiên cứu này chỉ ghi nhận được mối quan hệ giữa yếu tố tuổi với mức độ tham dự các lễ trọng

và tình trạng hôn nhân có liên hệ với mức độ tham dự lễ ngày Chủ nhật Vào Chủ nhật hàng tuần, các nhà thờ Công giáo đều có thánh lễ dành cho thiếu nhi, các cha mẹ thường đưa con cái họ tới dự lễ và học giáo

lý Do vậy cũng dễ hiểu khi nghiên cứu ghi nhận xu hướng tăng mức độ dự thánh lễ ngày Chủ nhật của nhóm đã kết hôn cao hơn nhóm chưa kết hôn

Ngày đăng: 18/03/2021, 08:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm