Một số nghiên cứu trên thế giới đã ghi nhận tác động của di cư tới biến đổi về thực hành tôn giáo, trong khi đó các nghiên cứu ở Việt Nam về mối quan hệ giữa tôn giáo và di cư ít đề c
Trang 1697
Thực hành các nghi lễ tôn giáo của người Công giáo di cư tới
Hà Nội
Hoàng Thu Hương*, Nguyễn Thị Ngọc Anh**
Tóm tắt: Các nghiên cứu về tôn giáo và di cư trên thế giới đã cho thấy thực hành tôn giáo
và di cư có mối liên hệ Tiếp nối chủ đề nghiên cứu này, bài viết tập trung vào mô tả thực hành các nghi lễ tôn giáo, sự biến đổi trong thực hành nghi lễ của người Công giáo di cư tới Hà Nội cũng như các yếu tố tác động đến sự thực hành nghi lễ tôn giáo của họ Kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung, đa số người Công giáo di cư vẫn đảm bảo mức độ tham gia các loại nghi lễ bắt buộc như đúng với giáo luật Tuy vậy, sự thay đổi mức độ tham gia các nghi lễ tôn giáo có được ghi nhận theo cả xu hướng tăng và giảm so với trước di cư Các yếu tố như tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ chuyên môn kỹ thuật và nghề nghiệp có những mối liên hệ nhất định tới một hoặc một vài chiều cạnh thực hành nghi lễ tôn giáo
Từ khóa: thực hành nghi lễ tôn giáo; người Công giáo; nhập cư
Ngày nhận 30/10/2019; ngày chỉnh sửa 25/11/2019; ngày chấp nhận đăng 25/12/2019
DOI: https://doi.org/10.33100/tckhxhnv5.6.HoangThuHuong-NguyenThiNgocAnh
1 Đặt vấn đề
Mối quan hệ giữa tôn giáo và di cư đã
được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu trên
thế giới Một số nghiên cứu đã cho thấy tôn
giáo được nhìn nhận là một nguồn lực đối
với người di cư (Chee-Beng 2015; Saunders
và cộng sự 2016) Với tư cách là nguồn lực
tâm lý, tâm linh, tôn giáo tham gia vào sự
trợ giúp người di cư ngay từ quá trình chuẩn
bị di cư, trên chặng đường di cư của họ
(Saunders và cộng sự 2016) Với tư cách là
nguồn lực xã hội, tôn giáo có sự trợ giúp
tích cực với người nhập cư tại nơi đến của
họ (Cox 1983; William và cộng sự 2007;
Furseth 2008; Andrew 2011; Saunders và
cộng sự 2016) Bên cạnh đó, quá trình di cư
có tác động tới chiều cạnh thực hành tôn
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG
Hà Nội; email: huonght.ussh@gmail.com
** Nữ tu Công giáo, Nhà thờ Giáo xứ Cổ Nhuế.
giáo, tuy nhiên sự biến đổi về thực hành tôn giáo lại chịu tác động của các yếu tố như đặc trưng tôn giáo của chính người nhập cư và tính tôn giáo của cộng đồng nơi họ đến (Cadge và cộng sự 2007; Abdurehim 2015; Saunders và cộng sự 2016; Eraliev 2018)
Sự gia tăng thực hành nghi lễ tôn giáo sau khi di cư là do sự ủng hộ của môi trường xã hội đối với thực hành nghi lễ Hồi giáo (Abdurehim 2015), do sự thay đổi môi trường sống khiến người nhập cư cảm thấy mất an toàn và cần tìm kiếm sự an ủi ở tôn giáo (Eraliev 2018) Người nhập cư cũng có nhiều khả năng tham gia vào tôn giáo hơn khi ít hội nhập vào xã hội nơi họ chuyển đến (Cadge và cộng sự 2006) Một số nghiên cứu về di cư quốc tế của người Việt Nam có những nhận định tương tự về vai trò trợ giúp của tôn giáo với người di cư, chẳng hạn Hüwelmeier (2013c, 2013a, 2013b) đã cho thấy vai trò của Phật giáo đối với sự hình thành mạng lưới xã hội của phụ nữ Việt
Trang 2Nam nhập cư vào Đức, hay các tổ chức tôn
giáo của người Việt đã cung cấp sự hỗ trợ xã
hội cho người Việt di cư (GIZ 2015) Tuy
nhiên, bên cạnh đó, sự tham gia tôn giáo
một mặt làm gia tăng sự cố kết trong cộng
đồng người Việt di cư nhưng cũng làm hạn
chế sự hội nhập xã hội của họ, trong trường
hợp cộng đồng người Cao đài di cư tới Úc
(Possamai và cộng sự 2007) Trong khi đó,
các nghiên cứu trong nước về tôn giáo đã có
một số nghiên cứu bàn về mối quan hệ giữa
tôn giáo và di cư nội địa ở Việt Nam Cũng
bàn về người Bắc di cư vào miền Nam năm
1954, trong khi Hansen đã nhận thấy vai trò
của giới tăng lữ Công giáo trong việc quyết
định di cư và cả trong việc tìm kiếm vị trí tái
định cư (Hansen 2009), thì Nguyễn Đức Lộc
(2010b, 2010a, 2014) cho rằng cuộc di cư
này mang tính lựa chọn giữa đức tin và quê
hương làng xóm, là cuộc di cư văn hóa khi
người ra đi không mang theo gì ngoài đức
tin Gần đây, một số nghiên cứu về người
H’Mông di cư vào Tây Nguyên đã cho thấy
sự biến đổi tôn giáo, hoặc giữ tín ngưỡng,
tôn giáo truyền thống hoặc cải đạo sang Tin
Lành (Đoàn Đức Phương 2015; Phạm Văn
Dương và cộng sự 2017; Vũ Thị Hà và cộng
sự 2016)
Một số nghiên cứu trên thế giới đã ghi
nhận tác động của di cư tới biến đổi về thực
hành tôn giáo, trong khi đó các nghiên cứu ở
Việt Nam về mối quan hệ giữa tôn giáo và
di cư ít đề cập đến sự tham gia các nghi lễ
tôn giáo của người Công giáo di cư Do vậy,
bài viết này sẽ tập trung tìm hiểu mức độ
thực hành các nghi lễ tôn giáo, sự thay đổi
mức độ thực hành của người Công giáo di
cư, cũng như một số yếu tố tác động tới sự
thực hành nghi lễ tôn giáo của họ
2 Một số khái niệm
2.1 Người Công giáo di cư
Căn cứ theo điều 96 của Bộ Giáo luật
1983 thì một người trở thành một người
Công giáo khi đã chịu phép rửa tội theo nghi thức của Giáo hội Công giáo: “Nhờ bí tích Rửa tội, con người được sáp nhập vào Giáo hội Chúa Kitô và trở thành môt thể nhân trong Giáo hội” (Hội đồng Giám mục Việt Nam 2007: 86)
Di cư được hiểu là sự dịch chuyển của một người từ vùng này sang vùng khác Hiện nay, các định nghĩa về di cư trên thế giới rất đa dạng và ở Việt Nam trong các cuộc khảo sát về di cư cấp quốc gia cũng có những tiêu chí xác định người di cư không hoàn toàn giống nhau Nghiên cứu của Stump (1984) về di cư nội địa đã định nghĩa
di cư theo vùng là những người có nơi cư trú tại thời điểm phỏng vấn khác với nơi cư trú khi họ 16 tuổi, còn người không di cư là những người ở cùng một địa điểm từ khi 16 tuổi cho tới thời điểm được phỏng vấn Ở Việt Nam, cuộc Điều tra di cư Việt Nam năm 2004 định nghĩa người di cư là “những người từ 15-59 tuổi di chuyển từ quận/huyện này sang quận/huyện khác trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra, và đã cư trú trên địa bàn điều tra từ một tháng trở lên Một người di cư từ quận này sang quận khác trong nội thành phố trong khoảng thời gian 5 năm trước thời điểm điều tra được xem là người không di cư Những người 15-59 tuổi sống tại cùng quận/huyện trong ít nhất 5 năm trước thời điểm điều tra được xem là người không di cư” (Tổng cục Thống kê & Quỹ Dân số Liên hợp quốc 2006: 5) Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 định nghĩa người di cư là “những người có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra khác với nơi thường trú hiện tại” (Tổng cục Thống kê 2011: 19) Tới Điều tra Di cư nội địa quốc gia năm 2015 do Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc thực hiện, khái niệm người di cư được định nghĩa là “người di chuyển từ
Trang 3huyện/quận này sang huyện/quận khác trong
vòng 5 năm trước thời điểm điều tra và thỏa
mãn 1 trong 3 điều kiện sau: i) Đã cư trú ở
nơi điều tra từ 1 tháng trở lên; ii) Cư trú ở
nơi điều tra mới dưới 1 tháng nhưng có ý
định ở từ 1 tháng trở lên; iii) Cư trú ở nơi
điều tra mới dưới 1 tháng nhưng trong vòng
1 năm qua đã rời khỏi nơi thường trú đến ở
một quận/huyện khác với thời gian tích lũy
từ 1 tháng trở lên để lao động kiếm tiền”
(GSO and UNDP 2016: 1)
Dựa vào các cách định nghĩa về người di
cư, cũng như căn cứ vào đặc điểm đối tượng
khảo sát của nghiên cứu, người Công giáo di
cư trong bài viết này được hiểu là ‘những
người đã chịu phép rửa tội theo nghi thức
của Giáo hội Công giáo và là thành viên của
một cộng đồng giáo hội, có sự di chuyển nơi
cư trú từ địa điểm này tới địa điểm khác với
thời gian cư trú tại nơi điều tra từ 1 tháng trở
lên’ Với định nghĩa như vậy, nghiên cứu
này giới hạn đối tượng khảo sát là những
người Công giáo từ đủ 15 tuổi trở lên, có sự
thay đổi từ một nơi cư trú tới nơi điều tra từ
1 tháng trở lên
2.2 Thực hành nghi lễ Công giáo
Từ góc độ xã hội học, nghi lễ tôn giáo “là
những thực hành đòi hỏi hoặc mong chờ đối
với các thành viên của một đức tin”
(Schaefer 2013) Như vậy, thực hành nghi lễ
Công giáo được hiểu là việc thực hành các
nghi lễ theo quy định của Công giáo
Việc thực hành nghi lễ của tín đồ Công
giáo hiện nay được quy định trong Bộ Giáo
luật 1983 Điều 1246 Bộ Giáo luật 1983 đã
quy định ngày Chủ nhật là ngày lễ bắt buộc
cần giữ trong toàn thể Giáo hội cùng với các
ngày lễ trọng khác như ngày lễ Sinh nhật
chúa Giêsu, lễ Hiển linh, lễ Chúa lên trời, lễ
Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Giêsu, lễ
Đức Mẹ Maria, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, lễ
Đức Mẹ lên Trời, lễ Thánh Giuse, lễ Thánh Phêrô và Phaolo Tông đồ, lễ Các Thánh Tuy nhiên, Giáo luật cũng cho phép các Hội đồng Giám mục có thể bỏ bớt vài ngày lễ buộc hay chuyển dời qua ngày Chủ nhật Ngoài ra, giáo luật cũng có những quy định
cụ thể liên quan đến việc lãnh nhận 7 bí tích của đạo Công giáo Bảy phép bí tích của Công giáo “do Chúa Giêsu thiết lập là: bí tích Thánh tẩy (rửa tội), bí tích Thánh thể, bí tích Thêm sức, bí tích Giải tội, bí tích Xức dầu bệnh nhân, bí tích Truyền chức Thánh,
bí tích Hôn phối (Trích số 1210 sách Giáo
Lý Giáo hội Công giáo 2004) Bí tích Rửa tội dành cho trẻ mới sinh ra hoặc người muốn gia nhập đạo, bí tích Thánh thể với hình thức gồm bánh và rượu, với ý nghĩa là Thịt và Máu của Chúa Jesus trong Thánh lễ, nên tham gia nghi lễ này có nghĩa tín đồ tiếp nhận chính Chúa Jesus vào trong linh hồn của mình, vừa tha thứ mọi tội nhẹ và củng cố sức mạnh cho tín đồ Bí tích Thêm sức nhằm gia tăng đức tin cho tín đồ, được thực hiện 1 lần sau khi đã lãnh nhận bí tích rửa tội, học biết giáo lý căn bản trong đạo, sạch tội và có lòng ước ao Bí tích Hòa giải là bí tích được lập ra để tha rội riêng cho các hối nhân thông qua quyền hành của Chúa ban cho các linh mục Khi lãnh nhận bí tích Hòa giải, hối nhân sẽ được tha tội, được trợ giúp
để sống thánh thiện hơn Bí tích Xức dầu bệnh nhân được thực hiện cho người bệnh
và chuẩn bị cho họ trong lúc chết, nhằm đem lại sức mạnh, sự bình an, khích lệ cho người bệnh, tha thứ tất cả lỗi lầm của người bệnh Bí tích Truyền chức Thánh chỉ được thực hiện với những người có ơn gọi linh mục Bí tích Hôn nhân là sự kết hợp vĩnh viễn giữa một người nam và một người nữ, được thực hiện khi họ kết hôn Như vậy, trong số 7 bí tích, có 6 bí tích dành cho mọi tín đồ Công giáo nói chung, và các bí tích Rửa tội, Thêm sức, Xức dầu bệnh nhân, Hôn nhân là những bí tích thực hiện một lần trong những giai đoạn nhất định của vòng
Trang 4đời Chỉ có 2 bí tích Thánh thể và Hòa giải
là những bí tích thường xuyên thực hiện
dành cho tín đồ Công giáo
Trong Giáo luật Công giáo không quy
định về việc đọc kinh, cầu nguyện tuy nhiên
việc thực hành đọc kinh, cầu nguyện lại biểu
thị đức tin của tín đồ Công giáo, nên trong
nghiên cứu này, đọc kinh, cầu nguyện vẫn
được xem là một chiều cạnh của thực hành
nghi lễ Công giáo
Do vậy, trong nghiên cứu này, thực hành
nghi lễ Công giáo của người Công giáo sau
di cư được xem xét ở các khía cạnh tham gia
thực hành các lễ trọng, lãnh nhận các bí tích
Thánh thể và Hòa giải, và đọc kinh, cầu
nguyện
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi:
Bài viết này khai thác dữ liệu khảo sát tại Hà
Nội của đề tài "Đặc điểm và sự biến đổi sinh
hoạt tôn giáo của người Công giáo di cư
trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện
nay", mã số Nafosted 504.01-2019.01 Cụ
thể, đề tài đã thực hiện 470 cuộc phỏng vấn
bằng bảng hỏi với người Công giáo từ đủ 15
tuổi trở lên tham dự lễ Chủ nhật tại một số
nhà thờ trên địa bàn thành phố Hà Nội như
như Nhà thờ Chánh tòa (Quận Hoàn Kiếm),
Nhà thờ giáo xứ Hàm Long (Quận Hai Bà
Trưng), Nhà thờ Thái Hà (Quận Đống Đa),
Nhà thờ giáo xứ Cổ Nhuế (Quận Bắc Từ
Liêm) và Nhà thờ giáo họ Nông vụ (Quận
Long Biên) Các nhà thờ được chọn làm địa
bàn khảo sát bao gồm các nhà thờ thuộc các
quận nội thành lâu đời nhất của thủ đô (quận
Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa) và các
quận được hình thành trong quá trình đô thị
hóa (quận Long Biên thành lập năm 2003 và
quận Bắc Từ Liêm thành lập năm 2013)
Các nhà thờ này còn là các địa điểm thu hút
đông đảo người Công giáo di cư tới tham gia sinh hoạt Các dữ liệu định lượng trong bài viết này được phân tích từ 397 người Công giáo từ đủ 15 tuổi trở lên đã có sự thay đổi nơi cư trú tới thời điểm điều tra từ 1 tháng trở lên được phỏng vấn trong mẫu khảo sát tại Hà Nội
Phương pháp phỏng vấn sâu: dữ liệu định tính của bài viết này dựa trên 8 cuộc phỏng vấn với người Công giáo di cư do nhóm tác giả thực hiện từ năm 2018, nhằm tìm hiểu đặc điểm tham gia sinh hoạt tôn giáo và các lý giải của người Công giáo di
cư về việc thực hành nghi lễ tôn giáo của họ
4 Kết quả nghiên cứu 4.1 Mức độ thực hành các nghi lễ Công giáo của người Công giáo di cư
Các loại nghi lễ Công giáo khác nhau sẽ
có tần suất thực hành khác nhau, do vậy trong nghiên cứu này, đối với các lễ trọng như lễ ngày Chủ nhật là loại nghi lễ diễn ra đều đặn hàng tuần và buộc người Công giáo phải giữ lễ này nên chúng tôi đánh giá mức
độ giữ lễ này của người Công giáo di cư qua hai chỉ báo: tham dự mỗi tuần một lần và tham dự ít hơn mỗi tuần một lần Mức độ tham dự các lễ trọng được đánh giá qua các chỉ báo: tham dự đầy đủ các thánh lễ và có vắng mặt từ 1 thánh lễ trở lên Sự lãnh nhận
bí tích Thánh thể và bí tích Hòa giải được đo lường qua số lần lãnh nhận trong năm như nhiều hơn 1lần/tuần, 1 lần/tuần, 1-3 lần/tháng, vài lần trong năm và hầu như không bao giờ với bí tích Thánh thể và 1 lần/năm với bí tích Hòa giải Tần suất đọc kinh, cầu nguyện được đánh giá qua các mức độ: nhiều lần/ngày, ngày 1 lần, vài lần/tuần, từ 1 lần/tuần trở xuống và không bao giờ
Trang 5Bảng 1: Tần suất tham gia các nghi lễ tôn giáo của người Công giáo di cư tại Hà Nội
1 Đọc kinh, cầu nguyện (n=396)
Từ 1 lần/tuần trở xuống 24,7
2 Lãnh nhận Bí tích Thánh thể
(n=392)
3 Lãnh nhận bí tích Hòa giải
(n=396)
4
Tham dự thánh lễ ngày Chủ nhật (n=397)
5 Tham dự các nghi lễ trọng
(n=396)
Vắng mặt 1-2 thánh lễ 25,5 Vắng mặt nhiều hơn 2 thánh lễ 5,3 Không bao giờ tham già 0,8
Trong số các lễ bắt buộc, nhìn chung
người Công giáo di cư đều có sự tham gia,
tuy nhiên mức độ tham gia các nghi lễ
không như nhau Thánh lễ ngày Chủ nhật có
mức độ tham gia cao nhất, 69,5% người
được hỏi thừa nhận tham gia ít nhất 1
lần/tuần, còn 27% thừa nhận tham gia 1-3
lần/tháng Điều này cho thấy có khoảng hơn
2/3 số người Công giáo di cư đảm bảo sự
tham gia đầy đủ lễ ngày Chủ nhật, còn lại 1/3 không đảm bảo được sự tham gia đầy đủ
lễ này Lễ Chủ nhật là một trong các lễ bắt
buộc người Công giáo phải tham gia: “Lễ Chủ nhật thì chắc chắn không bỏ còn lễ ngày thường thì hôm nào trời mưa thì lười không đi Khi mới học năm nhất thì siêng hơn không bỏ ngày nào còn năm thứ hai học nhiều hơn, và học khuya hơn nên sáng
Trang 6không dậy được hoặc không nghe thấy
chuông nhà thờ thì không đi lễ” (Nữ, 20
tuổi, sinh viên năm 2 Trường Đại học Sư
phạm khoa Mầm non, nhập cư trung hạn)
Đối với các lễ trọng khác, tỷ lệ tham dự
được đầy đủ chiếm 68,4%, còn lại không
đảm bảo được việc thu xếp thời gian tham
dự đầy đủ các lễ trọng
Lãnh nhận bí tích Thánh thể mức độ
thường xuyên nhất của người Công giáo di
cư là 1 lần/tuần chiếm 38,0%, tiếp đó là
22,7% lãnh nhận nhiều hơn 1 lần/tuần Đây
chính là những người thuộc nhóm đi lễ Chủ
nhật ít nhất 1lần/tuần Có tới 21,9% người
được hỏi cho biết chỉ lãnh nhận bí tích này
vài lần/năm Trong khi đó, bí tích Hòa giải
có mức độ lãnh nhận cao nhất là vài lần/năm
chiếm 75,5%
Đọc kinh, cầu nguyện tuy không phải là
nghi lễ bắt buộc song là việc mà các tín đồ
Công giáo luôn được giáo dục ngay từ khi
còn nhỏ Hoạt động này có hàm ý dâng lên
Chúa một ngày sống mới khi thức dậy và
xin Chúa chúc lành cho ngày sống hôm nay
của cá nhân cũng như gia đình; còn đọc kinh
cầu nguyện buổi tối là để cám ơn Chúa khi
hết một ngày vẫn gìn giữ chúng ta bình an
và tiếp tục xin Chúa ban cho ta và gia đình
một đêm ngủ bình an Bên cạnh đó, đọc
kinh, cầu nguyện cũng là một hình thức để
các tín đồ bày tỏ sự cầu mong Chúa ban ơn
cho mình và gia đình mình Kết quả khảo sát
cho thấy, đối với nhóm người Công giáo di
cư, đa số không đảm bảo được việc đọc
kinh, cầu nguyện nhiều lần trong ngày, mà
chủ yếu cố đảm bảo việc đọc kinh ngày một
lần Một người Công giáo di cư cho biết
“Tối nào cả nhà cũng đọc kinh Nhà tôi chỉ đọc 10 kinh thôi, mỗi tối ngắm một ngắm Tối nay là ngắm thứ nhất thì tối mai là ngắm thứ hai Bé trai đầu là chăm nhất, nó thường nhắc cả nhà: “đọc kinh cho con đi ngủ”
(Nam, 59 tuổi, Giám đốc công ty Thép) Người Công giáo sau khi di cư đa số vẫn đảm bảo việc tham dự các lễ trọng, song vẫn
có nhóm không giữ được đầy đủ lễ trọng cũng như lãnh nhận các bí tích Thánh thể và Hòa giải thường xuyên Câu hỏi đặt ra là các tần suất tham dự các nghi lễ Công giáo của người Công giáo sau di cư như vậy có gì thay đổi so với trước khi họ tới Hà Nội hay không? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta sẽ xem xét tiếp kết quả về sự thay đổi mức độ thực hành nghi lễ sau di cư ở mục tiếp theo
4.2 Sự thay đổi mức độ thực hành nghi lễ tôn giáo của người tham gia các nghi lễ tôn giáo của họ sau di cư
Để đánh giá sự thay đổi mức độ thực hành các nghi lễ tôn giáo của người Công giáo sau di cư, chúng tôi đã so sánh mức độ thường xuyên tham gia các nghi lễ nêu trên
ở thời điểm được phỏng vấn và mức độ tham dự các nghi lễ ở thời điểm họ tham gia sinh hoạt các các nhà thờ giáo xứ trước đó Mẫu khảo sát gồm có 397 người Công giáo
di cư, bao gồm cả loại hình di cư nội tỉnh, nên có người tuy có sự chuyển cư nhưng không thay đổi địa điểm thực hành nghi lễ
Do vậy, trong phần trình bày số liệu dưới đây, chúng tôi chỉ đưa vào phân tích những người có cho biết thông tin về mức độ tham gia thực hành nghi lễ ở cả hai thời điểm Kết quả cho thấy như sau:
Trang 7Bảng 2: Sự thay đổi mức độ thực hành nghi lễ tôn giáo của người Công giáo di cư tại Hà Nội
Sự thay đổi mức độ thực hành/tham gia (%) Tăng
lên Giảm đi
Không thay đổi
1 Đọc kinh, cầu nguyện (n=360) 21,4 13,6 65,0
3 Lãnh nhận bí tích Thánh thể (n=352) 15,1 20,7 64,2
4 Lãnh nhận bí tích Hòa giải (n=356) 9,0 - 91,0
5 Tham dự thánh lễ ngày Chủ nhật (=359) 7,2 5,8 86,9
6 Tham dự các ngày lễ trọng (n=360) 7,8 15,8 76,4
Nhìn chung, đa số người Công giáo di cư
có xu hướng giữ nguyên mức độ thực hành
các nghi lễ tôn giáo của mình Lãnh nhận bí
tích Hòa giải giữ được mức độ không thay
đổi cao nhất, tiếp đến là sự tham gia thánh lễ
ngày Chủ nhật Trong số các lễ bắt buộc thì
lễ Chủ nhật là một trong những ngày lễ buộc
quan trọng, nên xu hướng giữ lễ này vẫn
cao Trong khi đó, mức độ lãnh nhận bí tích
Hòa giải của người Công giáo phổ biến ở
mức vài lần/năm, nên sau di cư hầu như ít
biến đổi
Xét về mức độ tham dự các lễ trọng thì
có 76,4% người trả lời cho biết họ vẫn
không thay đổi mức độ thực hành của mình,
và xu hướng giảm chiếm 15,8% Khi xem
xét mối tương quan giữa mức độ tham gia
các lễ trọng và sự thay đổi mức độ tham gia
lễ trọng cho thấy giữ nguyên mức độ tham
gia các lễ trọng rơi vào nhóm những người
thường tham gia đầy đủ các lễ trọng
((ꭔ2
tham dự lễ trọng rơi vào nhóm hiện nay
không tham gia đầy đủ các lễ trọng, cụ thể
có 49,1% số này có đã giảm mức độ tham
gia và 41,4% giữ nguyên mức độ
Trong số các loại nghi lễ thì tuy đọc kinh, cầu nguyện và lãnh nhận bí tích Thánh thể có tỷ lệ không thay đổi gần như nhau, song với việc đọc kinh, cầu nguyện ghi nhận
xu hướng tăng cao hơn so với xu hướng giảm, còn lãnh nhận bí tích Thánh thể lại ghi nhận mức độ giảm đi cao hơn so với mức độ tăng lên Đối với việc giảm mức độ đọc kinh, cầu nguyện cũng được lý giải do sự
thay đổi môi trường sống: “Có khi chị đọc kinh buổi tối, xong chị lần 50 kinh mân côi Bây giờ chị đọc ít lại vì đứa con đầu nó bảo dài, nhiều kinh nên không thuộc Chị bảo với đứa con đầu rằng: "Chúa nói ở đâu có hai, ba người cầu nguyện thì Chúa hiện diện
ở đó” Thì bây giờ gia đình đang khó khăn, nhà mình có nhiều cái để xin Chúa che chở cho lắm thì mẹ xin các con, ba mẹ con mình cùng ngồi đọc kinh Đọc 12 kinh Kính Mừng
tạ ơn Đức Mẹ trong ngày Nếu con không đọc kinh cùng mẹ thì cố gắng đọc cùng mẹ 1 kinh Lạy Cha, 12 kinh Kính Mừng, 1 kinh Sáng Danh” (Nữ, 47 tuổi, làm nghề tự do,
nhập cư dài hạn)
Như vậy, sau di cư, thực hành các nghi lễ tôn giáo của người Công giáo di cư có những thay đổi nhất định, từ các nghi lễ bắt buộc cho tới các nghi lễ không bắt buộc
Trang 84.3 Một số yếu tố tác động tới sự thực
hành nghi lễ tôn giáo của người Công giáo
di cư
Trong phần này, kiểm định Chi-square1
được sử dụng để kiểm định mối liên hệ giữa
các biến số đặc trưng nhân khẩu và sự thực
hành nghi lễ tôn giáo cũng như biến đổi
trong thực hành nghi lễ tôn giáo của người
Công giáo di cư Các biến số nhân khẩu xã
hội được đưa vào xem xét bao gồm: giới,
tuổi, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình
trạng hôn nhân, nghề nghiệp Để đảm bảo
đủ điều kiện để thực hiện phép kiểm định Chi-square, một số giá trị của các biến số thực hành nghi lễ đã được gộp lại, cụ thể như sau: biến mức độ tham gia lễ Chủ nhật
và lãnh nhận bí tích Thánh thể gồm 2 giá trị:
ít nhất 1 lần/tuần và ít hơn 1 lần/tuần; biến mức độ tham dự các lễ trọng gồm: tham dự đầy đủ và tham dự không đầy đủ Những biến số có mối liên hệ có ý nghĩa về mặt thống kê qua phép kiểm định Chi-square được trình bày trong bảng dưới đây:
1Bảng 4: Một số yếu tố tác động đến mức độ thực hành nghi lễ của người Công giáo di cư tại Hà Nội
Các yếu tố
Mức độ đọc kinh, cầu nguyện (%) Nhiều
lần/ngày
Ngày 1 lần Vài
lần/tuần
Từ 1lần/tuần trở xuống Nhóm tuổi Từ 35 tuổi trở xuống
(n=275)
Trên 35 tuổi (n=122) 32,0 27,9 16,4 23,8 Tình trạng hôn nhân
(ꭔ 2
(6;397) =12,313;
p=0,059)*
Đã kết hôn (n=215) 27,4 32,6 20,9 19,1 Chưa kết hôn (n=181) 21,5 27,1 19,3 32,0
Mức độ tham gia lễ Chủ nhật (%)
Ít nhất 1 lần/tuần Ít hơn 1 lần/tuần Trình độ chuyên môn
kỹ thuật
(ꭔ 2
(2;397) =12,307;
p=0,002)**
Từ cao đẳng trở xuống (n=128)
Tình trạng hôn nhân
(ꭔ 2
(2;397) =8,179;
p=0,017)**
Mức độ tham dự các lễ trọng (%) Tham dự đầy đủ Tham dự không đầy
đủ Nhóm tuổi
(ꭔ 2
(1;397) =5,161;
p=0,023)**
Từ 35 tuổi trở xuống (n=275)
Giới tính
(ꭔ 2
(1;397) =5,132;
p=0,023)**
1 1 Phép kiểm định Chi-square được sử dụng để đánh giá sự tồn tại mối liên hệ giữa hai biến trong tổng thể hay không bằng cách kiểm định giả thuyết H 0 “không có mối liên hệ giữa hai biến số” Kết quả của phép kiểm định này được xem xét qua giá trị p (là xác suất loại bỏ giả thuyết H 0 ): khi p<0,05: giả thuyết H 0 được bác bỏ với độ tin cậy 95%; khi p<0,1: giả thuyết
H 0 được bác bỏ với độ tin cậy 90%
Trang 9Mức độ lãnh nhận bí tích Thánh thể (%)
Ít nhất 1 lần/tuần Ít hơn 1 lần/tuần Nhóm tuổi
(ꭔ 2
(1;397) =4,116;
p=0,042)**
Từ 35 tuổi trở xuống (n=275)
Tình trạng hôn nhân
(ꭔ 2
(2;397) =4,036;
p=0,098)*
Nghề nghiệp
(ꭔ 2
(3;397) =9,017;
p=0,029)**
Nhóm lao động trí óc hoặc công việc văn phòng
Nhóm lao động chân tay
Nhóm lao động chân tay có liên quan tới sử dụng máy móc hoặc nặng nhọc
Nhóm không có nghề nghiệp tại thời điểm phỏng
vấn
Trình độ chuyên môn
kỹ thuật
(ꭔ 2
(2;397) =5,637;
p=0,06)*
Từ cao đẳng trở xuống (n=128)
Ghi chú: (*) p<0,1 giả thuyết H 0 bị bác bỏ với độ tin cậy 90%; (**) p<0,05: giả thuyết H o bị bác bỏ với độ tin
cậy 95%
Như vậy, trong số các yếu tố đặc trưng
nhân khẩu thì yếu tố giới không có mối liên
hệ có ý nghĩa thống kê với mức độ thực
hành nghi lễ tôn giáo của người Công giáo
di cư Yếu tố tuổi có mối liên hệ với mức độ
đọc kinh, cầu nguyện, mức độ tham dự các
lễ trọng và mức độ lãnh nhận bí tích Thánh
thể Nhóm thanh niên có xu hướng đọc kinh,
cầu nguyện và tham dự các lễ trọng ít hơn,
nhưng lại lãnh nhận bí tích thánh thể nhiều
hơn so với nhóm trung, cao niên
Yếu tố tình trạng hôn nhân có mối liên
hệ với mức độ đọc kinh, cầu nguyện và mức
độ lãnh nhận bí tích Thánh thể, cụ thể nhóm
chưa kết hôn có mức độ đọc kinh cầu
nguyện thấp hơn so với nhóm đã kết hôn
nhưng lại có mức độ lãnh nhận bí tích
Thánh thể cao hơn
Yếu tố trình độ chuyên môn kỹ thuật có
mối liên hệ với mức độ tham gia lễ Chủ nhật
và mức độ lãnh nhận bí tích Thánh thể
Những người có trình độ học vấn cao hơn có
xu hướng chăm chỉ thực hành nghi lễ tôn giáo hơn
Riêng yếu tố nghề nghiệp chỉ ghi nhận được mối liên hệ với mức độ lãnh nhận bí tích Thánh thể Nhóm lao động trí óc có khuynh hướng có mức độ thực hành nghi lễ tôn giáo cao hơn so với các nhóm khác Điều này cho thấy vị thế đạt được của người Công giáo di cư có tác động rõ ràng tới sự thay đổi tần suất tham dự các lễ trọng và lễ ngày Chủ nhật của họ Với người di cư, công việc là một trong các ưu tiên hàng đầu
để đảm bảo sinh kế, do vậy tùy từng đặc trưng nghề nghiệp mà thời gian dành cho việc tham dự các nghi lễ tôn giáo của các nhóm nghề nghiệp khác nhau
Trong các bí tích Công giáo, bí tích Thánh thể được cử hành trong các thánh lễ Mỗi người Công giáo khi tham gia vào các thánh lễ, nếu tự xét thấy không có tội và đã kiêng ăn uống trước một giờ thì được rước
lễ này, tức là được nhận bánh và rượu sau
Trang 10khi linh mục đọc lời truyền phép Do vậy,
việc lãnh nhận bí tích này tùy thuộc vào sự
tự nhìn nhận, đánh giá của bản thân Kết quả
khảo sát cho thấy những người nhiều tuổi
hơn, đã lập gia đình chăm chỉ đọc kinh, cầu
nguyện hơn, tham dự nhiều thánh lễ hơn
song có khuynh hướng nghiêm khắc hơn
trong việc tự xét bản thân, nên mức độ lãnh
nhận bí tích Thánh thể lại thấp hơn
Khi xem xét các yếu tố tác động đến
sự thay đổi mức độ thực hành các nghi lễ tôn giáo của người Công giáo di cư, chỉ có yếu tố nhóm tuổi có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với mức độ tham dự các lễ trọng và yếu tố tình trạng hôn nhân có mối liên hệ với mức độ tham dự lễ ngày Chủ nhật
Bảng 5: Một số yếu tố tác động đến sự thay đổi mức độ tham gia các lễ trọng của người Công giáo
di cư tới Hà Nội
Các yếu tố
Mức độ tham dự các lễ trọng
Không thay đổi (%)
Giảm đi (%)
Tăng lên (%)
Nhóm tuổi
(ꭔ 2
(2;360) =5,056; p=0,08)*
Từ 35 tuổi trở xuống (n=253)
Trên 35 tuổi (n=107) 75,7 12,1 12,1
Mức độ tham dự lễ ngày Chủ nhật
Không thay đổi (%)
Giảm đi (%)
Tăng lên (%)
Tình trạng hôn nhân
(ꭔ 2
(2;360) =6,014; p=0,04)**
Chưa kết hôn (n=166) 88,0 7,8 4,2
Ghi chú: (*) p<0,1 giả thuyết H 0 bị bác bỏ với độ tin cậy 90%; (**) p<0,05: giả thuyết H o bị bác bỏ với độ tin
cậy 95%
Sự khác biệt về mức độ tham dự các
lễ trọng giữa các nhóm tuổi cho thấy tuy
đa số người Công giáo di cư vẫn giữ
nguyên mức độ tham dự các lễ trọng,
song xu hướng tăng mức độ tham dự các
lễ trọng tăng ở nhóm trung, cao niên, còn
nhóm thanh niên lại có xu hướng giảm
Tương tự như vậy, nhóm đã kết hôn cũng
có sự tích cực hơn trong việc tham dự lễ
ngày Chủ nhật so với nhóm chưa kết
hôn
Như đã đề cập đến ở mục 3.2, việc thực
hành các nghi lễ tôn giáo của người Công
giáo sau di cư có một số biến đổi Tuy vậy,
sự biến đổi tập trung vào một số nghi lễ như
lãnh nhận bí tích Thánh thể, đọc kinh cầu
nguyện, còn lãnh nhận bí tích Hòa giải và thánh lễ ngày Chủ nhật ít có sự thay đổi hơn Mặc dù vậy, các yếu tố đặc trưng nhân khẩu hầu như ít tác động đến sự thay đổi mức độ thực hành các nghi lễ như đọc kinh, cầu nguyện, lãnh nhận bí tích Thánh thể Nghiên cứu này chỉ ghi nhận được mối quan hệ giữa yếu tố tuổi với mức độ tham dự các lễ trọng
và tình trạng hôn nhân có liên hệ với mức độ tham dự lễ ngày Chủ nhật Vào Chủ nhật hàng tuần, các nhà thờ Công giáo đều có thánh lễ dành cho thiếu nhi, các cha mẹ thường đưa con cái họ tới dự lễ và học giáo
lý Do vậy cũng dễ hiểu khi nghiên cứu ghi nhận xu hướng tăng mức độ dự thánh lễ ngày Chủ nhật của nhóm đã kết hôn cao hơn nhóm chưa kết hôn