1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đừng chỉ lo cho thế hệ tương lai tiếp cận nhân học về phát triển bền vững

11 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 401,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan điểm này, phát triển một quá trình tiến hóa đơn tuyến từ thấp lên cao, trong đó các nước nghèo có thể tiếp cận phát triển bằng cách sử dụng một mô hình duy nhất do các nước phá

Trang 1

320

TRAO ĐỔI-THẢO LUẬN Đừng chỉ lo cho thế hệ tương lai: Tiếp cận nhân học

về phát triển bền vững

Lâm Minh Châu*

Tóm tắt: Nghiên cứu này là một phản biện nhân học đối với một cách hiểu phổ biến hiện

nay trong giới hoạch định chính sách, và thậm chí trong một bộ phận của giới khoa học, về phát triển bền vững Theo cách hiểu này, nguyên nhân chính của phát triển không bền vững là do các hoạt động và chương trình phát triển của thế hệ hiện tại có thể làm phương hại đến quyền lợi và sự sinh tồn của các thế hệ tương lai Tuy nhiên, bài viết này cho rằng nguyên nhân chính của phát triển không bền vững cần phải được xem xét từ những tác động của phát triển ngay ở hiện tại, và thay vì nhấn mạnh vào việc không làm tổn hại đến thế hệ tương lai, chúng ta cần nhấn mạnh việc không làm tổn hại đến người khác và tôn trọng sự khác biệt như là nguyên tắc quan trọng nhất của phát triển bền vững Qua đó, tôi

lý giải vai trò đặc biệt quan trọng của nhân học, một khoa học đặc biệt nhạy cảm với cái khác và tôn trọng sự khác biệt, với việc đảm bảo tính bền vững cho quá trình phát triển hiện nay

Từ khóa: Nhân học; phát triển bền vững; khác biệt; văn hóa; hiện đại hóa; toàn cầu hóa

Ngày nhận 23/1/2016; ngày chỉnh sửa 24/2/2016; ngày chấp nhận đăng 25/2/2016

1 Hai vấn đề

*Mặc dù đã có nhiều phân tích về phát

triển bền vững, nhưng cách nhìn phổ biến

nhất hiện nay, được sử dụng rộng rãi trên

truyền thông cũng như trong các nghiên cứu

học thuật, vẫn là cách hiểu được nêu trong

Báo cáo Brundtland của Liên hiệp quốc

(1987) Theo đó, “phát triển bền vững

(sustainable development) là sự phát triển có

khả năng đáp ứng những nhu cầu của hiện

tại, nhưng không làm phương hại đến khả

năng của các thế hệ tương lại trong việc đáp

ứng những nhu cầu của chính họ”

Theo tôi, có hai vấn đề với định nghĩa

này Thứ nhất, thế hệ tương lai là một chủ

* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG

Hà Nội; Email: lamminhchau86@gmail.com

thể giả định, chưa thực sự cất lên tiếng nói của bản thân họ Những gì đang được diễn đạt như là “ý nguyện của thế hệ tương lai” thực chất là những điều mà thế hệ hiện tại đang đoán thay và nói hộ cho họ Nói cách khác, trong khi nhấn mạnh yêu cầu phải

“quan tâm đến nhu cầu của thế hệ tương lai,” định nghĩa này lại áp đặt chính cách nhìn của thế hệ hiện tại vào những thế hệ của tương lai, những người có thể có những nhu cầu hoàn toàn khác với những gì chúng

ta hiện nay đang nghĩ

Thứ hai, định nghĩa Brundtland, vốn được đề xuất bởi các chuyên gia về môi trường, dựa trên một giả định cốt lõi rằng thế hệ hiện tại đang tiêu thụ quá mức các nguồn tài nguyên hữu hạn của thế giới như dầu mỏ, không khí, nước sạch và môi trường

Trang 2

sinh thái, và hệ quả là các thế hệ tương lai sẽ

phải gánh chịu tình trạng cạn kiệt của các

nguồn tài nguyên Cách nhìn này có một hạn

chế cơ bản: Trong khi đưa ra giả định về sự

cạn kiệt các nguồn tài nguyên trong tương

lai, nó hoàn toàn không tính đến những tiến

bộ về khoa học và công nghệ mà nhân loại

có thể đạt được trong năm mươi hay một

trăm năm tới Đúng là các nguồn tài nguyên

hiện tại sẽ bị cạn kiệt trong tương lai, nhưng

đồng thời rất có thể con người sẽ phát hiện

hoặc sáng tạo ra các nguồn tài nguyên mới

Một lần nữa, những quan ngại về phát triển

không bền vững hiện nay vẫn chủ yếu dựa

trên các dự đoán và giả định thay vì đi sâu

phân tích những biểu hiện thực sự và hiện

hữu của phát triển không bền vững

Theo tôi, kiểu định nghĩa dựa trên giả

định này tạo ra một khe hở để những quốc

gia tiêu thụ dầu mỏ và phát thải khí nhà kính

hàng đầu thế giới hiện nay như Hoa Kỳ và

Trung Quốc biện luận rằng không có cơ sở

nào cho thấy họ đang phát triển không bền

vững Họ chưa gặp bất cứ phản kháng đáng

kể nào từ “thế hệ tương lai,” những thế hệ

hiện vẫn chưa ra đời Thêm vào đó, họ đang

có những tiến bộ lớn trong việc phát triển

các giải pháp công nghệ có thể biến nước

bẩn thành nước sạch, cũng như các nguồn

năng lượng thay thế cho dầu mỏ như năng

lượng mặt trời, nhiên liệu gió hay ethanol

(Bush 2006) Nói cách khác, định nghĩa

Brundtland cho phép nhiều mô hình phát

triển không bền vững phủ nhận những bất

cập của chúng, thậm chí biện minh rằng phát

triển không bền vững chỉ là một sự phóng

đại, một sự cường điệu hóa mà thôi

2 Tái nhận thức nguyên nhân của phát

triển không bền vững

Tuy nhiên, phát triển không bền vững rõ

ràng không phải là một sự phóng đại hay

hoang tưởng Trên thực tế, đây là một hiện

tượng hiện hữu trên toàn thế giới, và là một vấn đề đã xuất hiện ngay từ những năm

1940 Cột mốc này đánh dấu thời điểm mà

“phát triển” (development) trở thành một chương trình mang tính hệ thống, trên quy

mô toàn cầu, gắn liền với diễn văn nhậm chức của tổng thống Hoa Kỳ Truman năm

1948 Trong diễn văn nay, Truman cho rằng phát triển là trách nhiệm của các nước giàu

và tiên tiến (developed) như Hoa Kỳ trong việc mang các thành tựu của khoa học và công nghệ để cải thiện đời sống ở các quốc gia bị coi

là "kém phát triển" (underdeveloped) (Gardner

và cộng sự 1996)

Quan điểm này mở đường cho sự ra đời của thuyết hiện đại hóa (modernisation theory) thịnh hành trên thế giới vào những năm 1950 và 1960 và vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ cho đến hiện nay Theo học thuyết này, phát triển là một vấn đề thuần túy về mặt kỹ thuật và kinh tế Mục tiêu của phát triển theo học thuyết hiện đại hóa là tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và trên quy mô lớn, lấy GNP và các chỉ số về vật chất làm trọng tâm, lấy các tiến bộ khoa học công nghệ từ phương Tây làm xương sống Theo quan điểm này, phát triển một quá trình tiến hóa đơn tuyến từ thấp lên cao, trong đó các nước nghèo có thể tiếp cận phát triển bằng cách sử dụng một mô hình duy nhất do các nước phát triển phương Tây định sẵn, mà không cần quan tâm đến các yếu tố đặc thù

về văn hóa và xã hội của mình (Nolan 2002: 45) Trong nhân học, mô hình phát triển này còn được gọi là cách tiếp cận kỹ trị (technicist approach), theo đó, các nước tiên tiến phương Tây được coi là mẫu mực của

sự phát triển và là chuẩn mực cho các nước khác học tập Đồng thời, tất cả các xã hội còn lại bị xếp chung vào một phạm trù là

“kém phát triển,” không cần tính đến các

Trang 3

yếu tố lịch sử, văn hóa và xã hội đặc thù của

họ

Tuy nhiên, từ những năm 1950 cho đến

ngày nay, nhiều dự án phát triển, mặc dù

được tiến hành trên cơ sở nguồn tài chính

dồi dào và những giải pháp kỹ thuật và công

nghệ hiện đại của phương Tây, không những

không đạt được kết quả như mong muốn mà

trái lại, trong rất nhiều trường hợp, còn dẫn

tới những hệ quả xã hội nặng nề như gia

tăng đói nghèo, tàn phá môi trường, hủy

hoại sinh kế bản địa và do đó, dẫn đến

những phản kháng nghiêm trọng của cộng

đồng địa phương

Có hai nguyên nhân chính dẫn đến những

bất cập của các dự án phát triển Thứ nhất,

các nhà nhân học đã chỉ ra rằng đa số các

chương trình phát triển từ những năm 1950

được định hướng và điều hành bởi các

chuyên gia kỹ thuật và các nhà kinh tế Họ

lấy tiến bộ kỹ thuật và phát triển GDP là

thước đo vàng của phát triển và cho rằng các

giá trị đó có thể được áp dụng ở bất cứ đâu

Tuy nhiên, trái với suy đoán của họ, các

chương trình phát triển liên tục vấp phải các

rào cản từ các phong tục, tập quán ở các địa

phương, các truyền thống lâu đời, các tri

thức bản địa đã được hình thành qua nhiều

thế hệ, trên cơ sở quá trình thích ứng của

cộng đồng sở tại với điều kiện tự nhiên và

xã hội đặc thù của nơi họ sống Nói cách

khác, nguyên nhân chính khiến nhiều

chương trình phát triển từ những năm 1950

đến nay thất bại chính là do các chương

trình đó quá coi trọng các vấn đề công nghệ

và GDP mà bỏ qua yếu tố văn hóa và xã hội;

và cho rằng một mô hình phát triển duy nhất

của phương Tây có thể áp đặt phổ biến, mọi

lúc mọi nơi, trong khi bỏ qua sự khác biệt và

tính đa dạng văn hóa-xã hội giữa các cộng

đồng và vùng miền trên thế giới Verdery

(2004), trong nghiên cứu về nông thôn

Romania thời hậu Liên Xô, đã phân tích tác

động của chính sách tư hữu hóa đất đai-một

trong những chính sách then chốt mà các chuyên gia phát triển phương Tây tư vấn cho chính phủ Romania để hiện đại hóa nông nghiệp sau khi giải thể các hợp tác xã thời Xô Viết Tuy nhiên, kết quả thu được hoàn toàn trái ngược Quá trình tư hữu hóa

và giao đất cho các hộ gia đình theo mô hình phương Tây, thay vì khôi phục nền nông nghiệp, lại khiến cho hàng vạn hectare bị bỏ hoang Lý do là vì các chuyên gia phương Tây không nhận ra tính phức tạp của quan

hệ sở hữu ở Romania, trong đó một mảnh đất có thể có nhiều chủ sở hữu chồng chéo nhau, và việc áp đặt một chủ sở hữu duy nhất đã gây nên các mâu thuẫn không thể điều hòa được trong các cộng đồng địa phương

Thứ hai, ngay cả khi các chuyên gia phát triển nhận ra sự khác biệt về văn hóa và xã hội, thì trong đa phần các trường hợp, họ lại không dành cho nó sự tôn trọng đúng mức

Sự thiếu tôn trọng này xuất phát từ hai nguyên nhân Nguyên nhân đầu tiên là chủ nghĩa Sô vanh văn hóa (ethnocentrism) Quan điểm này cho rằng tư duy và văn hóa phương Tây là ưu việt, còn mọi nền văn hóa ngoài phương Tây là "lạc hậu", "mê tín" và

"chậm phát triển" (Sillitoe và cộng sự 2002:

11) Quan điểm này cho rằng các tri thức khoa học và công nghệ phương Tây có thể cung cấp câu trả lời cho mọi vấn đề, và do

đó đòi hỏi phải thay thế, loại bỏ các hệ thống tri thức khác bằng tri thức khoa học, tính duy lý và tư duy kinh tế theo mô hình phương Tây (Chambers 1985) Nói cách khác, chủ nghĩa Sô vanh văn hóa coi sự đa dạng và khác biệt văn hóa là không quan trọng, thậm chí còn là trở ngại cần xóa bỏ trên con đường phát triển (Nolan 2002: 46) Một ví dụ điển hình là nghiên cứu của Sneath (2002) về cuộc khủng hoảng kinh tế

ở Mông Cổ thời kỳ hậu xã hội chủ nghĩa Năm 1991, với sự tư vấn của các chuyên gia phương Tây, Mông Cổ đã tiến hành chia các

Trang 4

đồng cỏ, chuyển từ mô hình sở hữu chung

của một cộng đồng, sang sở hữu tư nhân của

từng gia đình cá thể Lý do là vì theo tư duy

của phương Tây, sở hữu tập thể là nguyên

nhân khiến tài nguyên bị tàn phá và khai

thác quá mức vì tình trạng “cha chung

không ai khóc.” So với sở hữu công cộng,

chế độ tư hữu kiểu phương Tây được mặc

nhiên cho là ưu việt hơn Tuy nhiên, đây là

một sai lầm chết người Tính đến năm 1998,

tỉ lệ sống sót của gia súc mới sinh ở Mông

Cổ giảm 10%, xuất khẩu gia súc hoàn toàn

sụp đổ, số lượng người sống dưới mức

nghèo tăng từ 0 năm 1989 lên 33% năm

1998 Trong hai mùa đông khắc nghiệt từ

1999 đến 2001, Mông Cổ mất 9 triệu gia

súc, tương đương 30 % đàn gia súc của nước

này (Sneath 2002: 163) Như chúng tôi sẽ

phân tích thêm trong phần sau của bài viết

này, cuộc khủng hoảng này xuất phát chính

từ quan điểm Sô vanh văn hóa, coi trọng sở

hữu tư nhân, trong khi không thấy được

những giá trị của mô hình sở hữu công cộng

truyền thống trong bối cảnh đặc thù của

Mông Cổ

Nguyên nhân thứ hai dẫn đến sự thiếu

tôn trọng các khác biệt văn hóa-xã hội được

đề xướng bởi các học giả theo “thuyết phụ

thuộc” (dependency theory), tiêu biểu như

Ferguson (1990) và Escobar (1991, 1995)

Quan điểm này cho rằng phát triển không

đơn thuần là vấn đề kinh tế và kỹ thuật, mà

là một chiến lược mang động cơ chính trị

của các nước tư bản phương Tây Thuyết

phụ thuộc cho rằng phát triển là một quá

trình qua đó các nước giàu, thông qua các

nguồn viện trợ phát triển, ép buộc các nước

nghèo từ bỏ các đặc trưng văn hóa và con

đường phát triển đặc thù của mình và tiếp

thu các mô hình của phương Tây để đổi lấy

nguồn vốn và kỹ thuật cho phát triển Trong

quá trình đó, mặc dù các nước phương Tây

nhận ra sự khác biệt và những tác hại của việc áp đặt mô hình phát triển lên các cộng đồng bản địa, họ vẫn kiên quyết thực hiện các chương trình đó vì lợi ích kinh tế và chính trị của bản thân họ (Gardner và cộng

sự 1996: 17) Ấn Độ hiện tại là điển hình cho vấn đề này Theo Walker (2009), từ khi Chính phủ Ấn Độ tiến hành cải cách kinh tế theo mô hình chủ nghĩa tự do mới của phương Tây, Ấn Độ đã mở cửa và tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài đầu tư và thu hồi đất trên quy mô lớn để xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao ở các vùng nông thôn Trong khi làm lợi hàng tỷ đô la cho các tập đoàn nước ngoài, các chương trình thu hồi đất này vấp phải sự phản đối kịch liệt từ các cộng đồng địa phương, bởi lẽ họ coi đất đai không chỉ

là một tài sản, mà còn là mang ý nghĩa tâm linh, là của cải tổ tiên để lại, là quê hương bản quán Và với họ, những người mà truyền thống văn hóa vốn chỉ quen với nông nghiệp, thì các mô hình mới như khu công nghệ cao vào khu chế xuất là hoàn toàn xa lạ

và không thể thay thế cho sinh kế của họ

Có một điểm chung rất rõ ràng giữa những ví dụ của phát triển không bền vững nêu trên Đó là tính không bền vững của phát triển chưa hẳn là xuất phát từ những băn khoăn và phản ứng của thế hệ tương lai,

mà chủ yếu là từ sự phẫn nộ và phản kháng của nhiều cộng đồng ở hiện tại, những người đang bị coi thường và tổn hại trong quá trình phát triển dưới sự áp đặt quan điểm và lợi ích của các nước phương Tây giàu có Lịch

sử của phát triển trong thế kỷ XX trên phạm

vi thế giới đã chỉ ra rằng, nguyên nhân chính của phát triển không bền vững không đơn thuần chỉ là do sự khai thác quá mức các tài nguyên của thế hệ tương lai, mà còn do sự

Trang 5

thiếu hiểu biết về sự đa dạng và đặc thù của

văn hóa và xã hội, và sự thiếu tôn trọng sự

khác biệt về văn hóa giữa các cộng đồng

3 Khác biệt văn hóa trong thời đại toàn

cầu hóa

Gắn liền với sự bùng nổ của quá trình

toàn cầu hóa trong ba thập niên trở lại đây,

đã có nhiều quan điểm cho rằng sự khác biệt

văn hóa và xã hội, nguyên nhân căn bản của

phát triển không bền vững, sẽ ngày càng thu

hẹp và cuối cùng là biến mất Nói như

Friedman, thế giới đang ngày càng phẳng

(2005) Quá trình toàn cầu hoá, sự dân chủ

hoá công nghệ và sự di chuyển chóng mặt

của thông tin qua mạng internet sẽ dẫn tới sự

lan toả và chia sẻ các giá trị văn hoá Kết

quả là trong tương lai gần, khoa học và công

nghệ sẽ lấn át và xóa nhòa các khác biệt về

văn hóa và xã hội (Fukuyama 1989) Sớm

muộn sẽ không còn sự khác biệt giữa văn

hoá Việt Nam và văn hoá Mỹ, khi mà ai

cũng ăn Mc Donald, gọi điện bằng iphone,

mặc quần jean, và dùng facebook

Tuy nhiên, thế giới không phẳng và sự đa

dạng văn hoá không biến mất dễ dàng và

nhanh chóng như những gì mà các tín đồ

của toàn cầu hoá như Friedman vẫn nghĩ

Thứ nhất, mặc dù các nhà nhân học khẳng

định rằng không nên coi văn hoá là đóng

khung, tĩnh tại, và rằng văn hoá luôn vận

động và giao thoa trong bối cảnh toàn cầu

hóa, nhưng điều đó hoàn toàn không có

nghĩa là sự khác biệt văn hoá không tồn tại

nữa Ngày nay, đúng là ngày càng có nhiều

người Việt Nam mặc quần jean, dùng

iphone và facebook Nhưng mặt khác, đa số

người Việt Nam vẫn sống theo các giá trị gia

đình thay vì tôn vinh chủ nghĩa cá nhân,

thích chấm chung một bát nước mắm thay vì

ăn sốt cà chua và chấm riêng mỗi người một

bát, và vẫn thờ cúng ông bà tổ tiên, thay vì

chuyển sang Tin lành hay Ki tô giáo Sự khác biệt tồn tại ngay cả ở những thứ tưởng chừng như đã được “toàn cầu hoá.” Ở Hoa

Kỳ, McDonald là thứ dành cho giới bình dân, các quán McDonald được đặt ở những nơi ngõ ngách, bến xe ga tàu, và người ta thường mua để mang đi ăn trên đường hơn

là ăn tại chỗ Ở Việt Nam, ngược lại, ăn ở McDonald là một thói quen mới của giới trung lưu, các quán McDonald được đặt ở những nơi đắc địa, và là nơi các bạn trẻ tổ chức sinh nhật, gặp gỡ bạn bè và buôn chuyện dông dài như một biểu hiện của sành điệu và đẳng cấp

Thứ hai, quá trình vận động của văn hoá trong thời đại toàn cầu hóa là một quá trình hai mặt Bên cạnh quá trình chia sẻ, giao thoa và xoá bỏ các khác biệt cũ, thì cũng đồng thời có quá trình thứ hai: Là sự sáng tạo các khác biệt mới Nói như Eriksen

(1993): Con người càng trở nên giống nhau thì họ càng có ý thức về sự khác biệt, và càng muốn trở nên khác biệt, bằng cách tạo

ra những khác biệt mới Sự gia tăng quy mô của cộng đồng Hồi giáo ở Anh, thay vì khiến người Anh chuyển sang đạo Hồi, lại kích thích một bộ phận không nhỏ người Anh da trắng sục sôi với việc bảo vệ cái mà

họ gọi là “các giá trị Anh” (British values)

Ở Việt Nam, khi xe đạp còn phổ biến ở nông thôn thì giới trung lưu thành thị lấy việc sở hữu xe máy làm chuẩn mực Khi xe máy được đại chúng hoá ở nông thôn thì giới trung lưu thành thị bắt đầu có nhu cầu

xe hơi, hoặc thậm chí trở lại với xe đạp, nhưng là những chiếc xe đạp đắt tiền, sành điệu có giá vài nghìn đô la Mỹ

Trên đây là những đặc trưng của thời kỳ

mà người ta thường gọi là hậu hiện đại (postmodernity) (Harvey 1989) Trong giai đoạn này, thế giới chứng kiến sự phân tán của các trung tâm quyền lực, sự trỗi dậy của các mô hình phát triển và các thể chế chính trị mới, sự hình thành những trung tâm kinh

Trang 6

tế năng động ngoài phạm vi châu Âu và Bắc

Mỹ Về văn hóa, thế giới trong chính giai

đoạn toàn cầu hóa lại đang chứng kiến sự

lớn mạnh của các tư tưởng coi trọng bản sắc

và truyền thống, coi trọng cái riêng, sự khác

biệt và tính đặc thù (Huntington 1996) Về

bản chất, sự khởi đầu của thời kỳ hậu hiện

đại đánh dấu sự kết thúc của các lý thuyết

mang tính tiến hóa luận và đơn tuyến về

phát triển, đánh dấu sự chấm hết cho thời kỳ

thịnh hành của tư tưởng Sô vanh văn hóa và

sùng bái khoa học lý tính của phương Tây

Giờ đây, phát triển không còn một mô hình

duy nhất nữa, mà là một bức tranh mới, với

đặc trưng là sự đa dạng của quan điểm, nhận

thức, nhu cầu, sự đa dạng của văn hóa Nói

cách khác, trong bối cảnh của toàn cầu hóa,

khác biệt văn hoá không những không mất

đi, mà còn trở thành vấn đề nóng bỏng hơn

bao giờ hết Và chừng nào sự khác biệt văn

hoá còn tồn tại, thì những mô hình phát triển

đặt nặng công nghệ và kinh tế lên trên văn

hóa và xã hội, và dựa trên sự áp đặt một mô

hình phổ biến thay vì dựa trên sự thấu hiểu

và tôn trọng sự khác biệt, chắc chắn sẽ tiếp

tục là những mô hình phát triển không bền

vững (Gardner và cộng sự 1996; Nolan

2002)

4 Nhân học và phát triển bền vững

Ngay từ khi ra đời, nhân học đã là khoa

học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc

phản biện đối với các mô hình phát triển dựa

thuần túy vào công nghệ và tăng trưởng kinh

tế của phương Tây (Nolan 2002) Nói như

Ferguson, phát triển là “người anh song sinh

xấu tính” của nhân học (1997), bởi lẽ việc

chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng

phát triển không bền vững chính là nhiệm vụ

căn bản, đóng vai trò định hình sự phát triển

của nhân học từ thời kỳ thực dân và đặc biệt

là từ khi phát triển trở thành một dự án

mang tính toàn cầu từ những năm 1950 Có

ba lý do khiến Nhân học có thể đảm nhiệm được vai trò này, xuất phát từ đối tượng nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu đặc thù của nó

Thứ nhất, về đối tượng nghiên cứu Nhân học, giống như các khoa học xã hội và nhân văn, tập trung vào khía cạnh văn hóa và xã hội, hơn là kỹ thuật Theo mô hình phương Tây truyền thống, các chuyên gia phát triển thường là những nhà kinh tế, nhà kỹ trị Do

đó, họ có ít hoặc gần như không có hiểu biết

về phong tục tập quán, thể chế chính trị, tổ chức xã hội, cách thức tư duy hay đời sống tôn giáo các cộng đồng chịu tác động của phát triển Các khoa học xã hội và nhân văn được sinh ra để bổ sung cho sự thiếu hụt này Chẳng hạn, khi tiến hành xây dựng một cây cầu bắc qua sông, một chuyên gia phát triển thường chỉ tính đến độ tiện lợi, các yêu cầu về kết cấu, trọng lực, và giá trị kinh tế của nó Tuy nhiên, một nhà luật học sẽ đặt

ra yêu cầu phân định vấn đề sở hữu cây cầu, một nhà chính trị học sẽ đặt ra nhu cầu tham vấn các cộng đồng địa phương trong quá trình xây dựng, và một nhà mỹ học sẽ nói rằng cây cầu không chỉ để đi, mà còn phải xây sao cho đẹp mắt

Giống như các khoa học xã hội và nhân văn, nhân học cũng có mục tiêu là bổ sung các kiến thức về văn hóa và xã hội cho quá trình phát triển Nhưng có một sự khác biệt căn bản giữa nhân học và các khoa học xã hội khác Trong khi đại bộ phận các khoa học xã hội và nhân văn đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu văn hoá nhằm mục đích tìm

ra các quy luật chung, các quy tắc phổ biến

có thể áp dụng cho mọi trường hợp và bối cảnh, thì mục đích chính của nhân học lại là tìm hiểu sự đa dạng của văn hoá và xã hội,

đi tìm xem mỗi bối cảnh, vùng miền có đặc điểm riêng, có tính đặc thù gì và trên cơ sở

đó, so sánh văn hoá và xã hội giữa các bối cảnh khác nhau Nhân học là khoa học gần như duy nhất lấy sự khác biệt và tính đa

Trang 7

dạng văn hóa-xã hội làm mối quan tâm chủ

đạo (Harris 1987; Eriksen 1995).1 Thay vì

cho rằng có những quy tắc chung, đúng cho

mọi trường hợp, thì các nhà nhân học cho

rằng mỗi cộng đồng, trong từng bối cảnh cụ

thể, sẽ có cách tư duy và hành xử khác nhau,

và văn hoá của họ do đó rất đa dạng và khác

biệt

Sự khác biệt này không phải ngẫu nhiên

mà có, mà xuất hiện từ quá trình hình thành

của nhân học Các khoa học xã hội và nhân

văn đa phần hình thành trong lòng xã hội

phương Tây trong giai đoạn từ thế kỷ XVII

đến XIX Đó là khi xã hội phương Tây đang

phát triển mạnh mẽ và ngày càng trở nên

phức tạp Do đó, người ta bắt đầu xây dựng

các khoa học xã hội như xã hội học, khoa

học quản lý, luật học chính trị học, tâm lý

học để tiến hành tổng kết và tìm ra các quy

luật chung và phổ biến phục vụ cho sự quản

lý xã hội trên diện rộng Nhân học, trái lại,

ra đời tương đối muộn, trong một bối cảnh

hoàn toàn khác: Không phải ở phương Tây,

mà ở các thuộc địa gắn với quá trình mở

rộng của chủ nghĩa thực dân trong thế kỷ

XIX Đó là lần đầu tiên các nước phương

Tây tiếp xúc với phần còn lại của thế giới

một cách trực tiếp, sâu rộng và trên quy mô

lớn Đó cũng là lần đầu tiên phương Tây

nhận ra những khác biệt, nhận ra rằng trong

phần lớn các trường hợp, các quy tắc đã

được tổng kết và trở thành chuẩn mực của

phương Tây trước đây như sở hữu tư nhân

hay phổ thông đầu phiếu không hề tồn tại và

không hề tương thích với bối cảnh ở các

thuộc địa Xuất phát từ chính nhu cầu đó,

nhân học đã ra đời để giải thích xem tại sao

các nỗ lực của thực dân phương Tây, dựa

trên các tiến bộ khoa học công nghệ, và

1 Ở đây chúng tôi không có ý cho rằng các khoa học xã

hội khác chỉ quan tâm đến các quy luật phổ biến mà

không nghiên cứu các ví dụ cụ thể Tuy nhiên, với phần

lớn các khoa học xã hội, việc nghiên cứu các trường hợp

cụ thể và các bối cảnh đặc thù chỉ đóng vai trò thứ yếu,

không phải là trọng tâm nghiên cứu như với nhân học

thậm chí được hỗ trợ bởi các kiến thức khoa học xã hội được cho là tiên tiến như kinh tế như thị trường và sở hữu tư nhân lại gặp phải phản ứng dữ dội từ các cộng đồng bản địa Câu trả lời của các nhà nhân học, từ thời thực dân cho đến hiện nay, là các mô hình của phương Tây không những không chú ý đầy đủ đến chiều cạnh văn hóa và xã hội của phát triển, mà đặc biệt là không chú ý đến sự khác biệt văn hóa Nói cách khác, trong các khoa học xã hội và nhân văn, nhân học là khoa học đặc thù về nguyên nhân của phát triển không bền vững, bởi lẽ nó không chỉ góp phần bổ sung kiến thức về văn hóa xã hội, mà còn bổ sung kiến thức về sự khác biệt, về sự đặc thù của văn hóa trong từng bối cảnh, hơn là bổ sung một nguyên tắc chung, phổ quát nhưng rất có thể sẽ không phù hợp với một môi trường, một cộng đồng

cụ thể (Eriksen 1995; Barnard 2000)2 Trở lại với ví dụ về cây cầu, một nhà nhân học sẽ nhấn mạnh rằng ngay cả các tri thức về luật, chính trị, quản lý và mỹ học cũng khác nhau giữa nơi này và nơi khác, và

do đó, cũng phải đặt trong bối cảnh đặc thù Một nhà luật học sẽ cho rằng sở hữu tư nhân

là mô hình tối ưu, nhưng một nhà nhân học

sẽ cho rằng nếu cây cầu xây ở Tây Nguyên

2 Khi nói về sự khác biệt trong cách tiếp cận văn hoá và

xã hội như trên, chúng tôi không nói rằng nhân học “độc đáo” hơn và “sáng suốt” hơn các khoa học xã hội khác trong việc nghiên cứu văn hoá và xã hội Ngược lại, việc tìm kiếm các quy luật chung và việc nhận thức về tính đa dạng là hai mặt thống nhất của nghiên cứu học thuật Một mặt, chúng ta hướng tới tìm ra những quy tắc chung, những mô hình hiệu quả nhất có thể được áp dụng rộng rãi cho toàn nhân loại Mặt khác, các nhà khoa học phải luôn lưu ý rằng xã hội loài người ở mỗi khu vực, vùng miền, quốc gia là rất khác nhau Vì thế, không thể mang một mô hình duy nhất mà áp đặt cho tất cả Nhân loại cần

cả hai thứ đó: Cần kinh tế học để tìm ra mô hình kinh tế hiệu quả nhất, và cần nhân học để chỉ ra rằng không thể

bê nguyên các nguyên tắc của khoa kinh tế học ở Harvard

để mang áp dụng vào Việt Nam Vấn đề với phát triển hiện nay là các chương trình phát triển vẫn quá nhấn mạnh các mô hình phổ biến, trong khi bỏ qua và thậm chí coi thường chiều cạnh còn lại, đó là sự đặc thù, riêng có

và khác biệt

Trang 8

thì nên giao cho cộng đồng quản lý hơn là

một cá nhân cụ thể Một nhà mỹ học nói

rằng một cây cầu đẹp cần xây theo kiến trúc

hiện đại như cầu Nhật Tân, nhưng một nhà

nhân học qua tiếp xúc với cộng đồng địa

phương sẽ nhận ra rằng một cây cầu sắt, xây

theo kiểu cầu Long Biên mới là thẩm mỹ

theo cách nhìn của cộng đồng Một nhà

chính trị học làm tư vấn cho World Bank sẽ

nói rằng cần tham vấn chính quyền địa

phương hay những người có học thức, địa vị

và tiếng nói trong cộng đồng, nhưng một

nhà nhân học sẽ chỉ ra rằng, ở địa bàn cụ thể

đó, người thực sự cần tham vấn là những

người phụ nữ, đối tượng thụ hưởng nhiều

nhất từ cây cầu ấy, hoặc nếu cây cầu xây ở

Tây Nguyên, cần tham vấn các già làng,

những người có thể không có chức vị, không

biết tiếng Kinh để trả lời phỏng vấn, nhưng

lại có ảnh hướng lớn nhất trong cộng đồng

Thứ hai, về cách tiếp cận Do nhấn mạnh

vào việc tìm ra các quy luật phổ quát, các

khoa học khác thường phải tách rời lĩnh vực

nghiên cứu khỏi bối cảnh đặc thù để qua đó

có thể khái quát lên thành các quy luật

chung có thể áp dụng vào nhiều bối cảnh

Nhà nhân học, ngược lại, nghiên cứu từng

lĩnh vực không phải với tư cách một vấn đề

đơn lập, mà đặt trong bối cảnh đặc thù,

trong mối quan hệ và tác động qua lại với

các lĩnh vực khác của đời sống xã hội của

địa bàn như chính trị, kinh tế hay tôn giáo,

nhằm cung cấp cái nhìn tổng thể (Eriksen

1995) Chẳng hạn, để tìm ra hình thức sở

hữu phổ biến nhất và có tính ứng dụng rộng

rãi nhất, các nhà luật học phải khu biệt vấn

đề sở hữu và nghiên cứu sở hữu nói chung,

thay vì nghiên cứu vấn đề sở hữu trong các

trường hợp cụ thể ở Trung Quốc hay Ấn Độ

Ưu điểm của cách tiếp cận này cho phép tìm

ra một mô hình có phạm vi áp dụng rộng rãi

nhất, chẳng hạn như sở hữu tư nhân Tuy

nhiên, hạn chế của nó là không lý giải được

những trường hợp đặc thù như sở hữu công

cộng Việc tách rời đối tượng nghiên cứu khỏi bối cảnh thậm chí còn dẫn đến tâm lý coi thường, hạ thấp các trường hợp khác biệt với mô hình tối ưu, cho rằng đó là các mô hình lạc hậu Nhưng nghiên cứu nhân học thì sẽ tìm cách lý giải mô hình sở hữu công cộng trên cơ sở đặt nó trong mối liên hệ với các khía cạnh tôn giáo, cấu trúc xã hội, và môi trường của từng trường hợp cụ thể Trở lại với ví dụ của Sneath (2004) về sở hữu công cộng ở Mông Cổ đã nói ở trên Trái với quan điểm của phương Tây cho rằng đây là mô hình sở hữu lạc hâu, Sneath cho thấy mô hình sở hữu cộng cộng là một

sự thích ứng với điều kiện tự nhiên đặc thù ở Mông Cổ Do nguồn cỏ cho gia súc phân bố không đồng đều, nên việc sở hữu công cộng

sẽ giúp phân bố đều nguồn cỏ cho gia súc, trong khi việc áp đặt sở hữu cá thể sẽ tạo ra các ranh giới, khiến cho chỉ một số nhỏ các gia đình có thể tiếp cận nguồn cỏ tốt, còn đa

số không có cỏ để nuôi gia súc Về xã hội, người Mông Cổ trên thảo nguyên phải chống thú dữ và cướp bóc, và hàng năm phải có những đợt di cư lớn từ nơi này sang nơi khác để tránh mùa đông khắc nghiệt Một gia đình đơn lẻ không bao giờ đủ sức tự

vệ, và không thể sống sót trong một chuyến

di cư dài Về tôn giáo, người Mông Cô coi đất đai là của thần linh, giao cho cả cộng đồng sử dụng, và do đó họ không thể chấp nhận việc một con người có thể sở hữu và độc chiếm đất đai Ví dụ này cho thấy rằng, với các nhà nhân học, khi đặt vấn đề trong bối cảnh, họ nhận ra sự khác biệt văn hóa không phải là một thứ lạc hậu, mà là một sự thích ứng với điều kiện cụ thể (Gardner và cộng sự 1996) Chính vì thế, các nhà nhân học luôn nhìn sự khác biệt với một thái độ tôn trọng, và là người thay mặt cộng đồng cất lên tiếng nói và chỉ ra những giá trị của văn hóa cộng đồng trước những chỉ trích của những chuyên gia phát triển theo tư tưởng

Sô vanh văn hóa phương Tây, những người

Trang 9

có xu hướng coi thường và phủ nhận giá trị

của văn hóa và các tri thức địa phương, coi

văn hóa là lạc hậu, là trở ngại với phát triển

(Chambers 1985)

Thứ ba, về phương pháp nghiên cứu

Nhân học được đặc trưng bởi phương pháp

quan sát tham gia (participant observation)

hay điền dã dân tộc học (ethnographic

fieldwork) Theo đó, nhà nghiên cứu phải

sống cùng cộng đồng nghiên cứu trong một

khoảng thời gian dài (ít nhất từ sáu tháng

đến một năm) để trực tiếp trải nghiệm cuộc

sống cùng họ Điều này giúp cho nhà nghiên

cứu ghi nhận được nhiều vấn đề phức tạp và

giải thích được lý do và nguyên nhân của sự

khác biệt Những tri thức này, tri thức về sự

khác biệt, không thể có được nếu chỉ dựa

trên số liệu và thuật toán mà không tiếp xúc

với con người, nếu chỉ dựa trên giả định, suy

luận hay thí nghiệm mà không dựa trên thực

tế quan sát trong cuộc sống, và nếu chỉ dựa

trên các tìm hiểu thoáng qua, ngắn ngày với

tư cách người ngoài cuộc, thay vì quan sát

dài ngày với tư cách một thành viên của

chính cộng đồng địa phương Quá trình

nghiên cứu lâu dài sẽ giúp nhà nhân học lý

giải được các vấn đề kinh tế, văn hóa xã hội

từ thế giới quan, nhân sinh quan của chính

đối tượng nghiên cứu (quan điểm emic),

thấy được tính hợp lý và giá trị của một thiết

chế văn hóa đặc thù, nhờ đó hạn chế việc áp

đặt quan điểm chủ quan của cá nhân mình

(quan điểm etic) dẫn đến những đánh giá

thiếu khách quan và phiến diện về văn hóa

của cộng đồng bản địa (Harris 1987)

5 Kết luận

Trên cơ sở phân tích một số ví dụ tiêu

biểu về phát triển và phát triển không bền

vững trên thế giới từ những năm 1950 đến

nay, bài viết này cho rằng khái niệm "phát

triển bền vững" trong báo cáo Brundtland

của Liên hiệp quốc chưa giải quyết thỏa

đáng ý nghĩa của khái niệm “bền vững”, bởi

lẽ định nghĩa này mới chỉ đánh giá sự bền vững theo tiêu chí thời gian Trên thực tế, để

có một sự phát triển bền vững thực sự, cần phải chú trọng sự phát triển để đem lại lợi ích cho mọi cộng đồng, mọi nhóm xã hội, chứ không chỉ cho một nhóm cụ thể hay một quốc gia nhất định Bền vững, theo chúng tôi, không phải chỉ là tôn trọng lợi ích của tương lai, mà còn phải là một sự phát triển hài hòa, trong đó việc thỏa mãn lợi ích của một quốc gia, dân tộc này không làm phương hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc khác trong quá trình triển khai các chương trình "phát triển"

Trên cơ sở đó, bài viết đã phân tích vai trò thiết yếu của nhân học đối với phát triển bền vững Là một khoa học đặc biệt nhạy cảm với sự khác biệt, dựa trên tinh thần tôn trọng tính đa dạng văn hóa, và một hệ phương pháp nghiên cứu đặc thù, nhân học

có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho

sự phát triển không những không làm phương hại đến các cộng đồng bản địa, mà còn giúp bảo tồn và phát huy văn hóa tộc người và nêu bật những giá trị riêng có của mọi nền văn hóa thuộc mọi trình độ phát triển khác nhau (Hobart 1993) Với tư cách

là người “môi giới” văn hóa (cultural broker), nhà nhân học chính là cầu nối giữa các chuyên gia phát triển với các cộng đồng, kết nối các quan điểm, thế giới quan và cách nhìn, nhờ đó hạn chế những mâu thuẫn có thể nảy sinh do bất đồng văn hóa trong quá trình phát triển (Nolan 2002: 121)

Tài liệu trích dẫn

Barnard, A 2000 History and Theory and

Anthropology Cambridge: Cambridge University Press

Bush, G.W 2006 State of the Union Address January 31, 2006

Chambers, R 1985 Rural Development: Putting

the Last First London: Longman

Trang 10

Eriksen, T 1993 Ethnicity and Nationalism

London: Pluto Press

Eriksen, T 1995 Small Places, Large Issues

London: Pluto Press

Escobar, A 1991 Anthropology and the

Development Encounter: The Making and

Marketing of Development Anthropology

American Ethnologist 18(4), 658-82

Escobar, A 1995 Encountering Development:

The Making and Unmaking of the Third World

Princeton: Princeton University Press

Ferguson, J 1990 The Anti-Politics Machine:

'Development', Depoliticization, and

Bureaucratic Power in Lesotho Cambridge:

Cambridge University Press

Ferguson, J 1997 Anthropology and its evil twin:

“Development” in the constitution of a

discipline In International development and

the social sciences: essays on the history and

politics of knowledge ed F Cooper & R

Packard Berkeley: University of California

Press

Friedman, T 2005 The World is Flat Farrar,

Straus and Giroux

Fukuyama, F 1989 The End of History The

National Interest 16, 3-18

Gardner, K & Lewis, D 1996 Anthropology,

Development and the Post-modern Challenge

Chicago: Pluto Press

Harris, M 1987 Cultural Anthropology New

York: Harper & Row

Harvey, D 1989 The Condition of Postmodernity

Oxford: Basil Blackwell

Hobart, M (ed) 1993 An Anthropology Critique

of Development: The Growth of Ignorance

London: Routledge

Huntington, S 1996 The Clash of Civilizations

and the Remaking of World Order New York:

Simon & Schuster

Nolan, R 2002 Development Anthropology:

Encounters in the Real World Colorado:

Westview Press

Sillitoe, P., A Bicker & J Pottier (ed.) 2002

Participating in Development: Approaches to Indigenous Knowledge London: Routledge

Sneath, D 2002 Mongolia in the ‘Age of the

Development Discourse In Markets and

Moralities: Ethnographies of Postsocialism ed

C Humphrey & R Mandel Oxford: Berg

United Nations 1987 Our Common Future,

Chapter 2: Towards Sustainable Development

Brundland Report

Verdery, K 2004 The Obligations of Ownership: Restoring Rights to Land in Postsocialist

Transylvania In Property in Question: Value

Transformation in the Global Economy ed

A.C Humphrey & K Verdery, 139-60 Oxford: Berg

Walker, K 2009 Neoliberalism on the Ground in Rural India: Predatory Growth, Agrarian Crisis, Internal Colonization, and the

Intensification of Class Struggle Journal of

Peasant Studies 35(4), 557-620

Ngày đăng: 18/03/2021, 08:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w