Trong khi đó, đ i với Quan Vũ, quá trình từ nhân v t lịch sử đến nhân v t của tín ngưỡng, tôn giáo đã có sự tham gia tạo tác của văn học nghệ thu t, làm cho hình tượng nhân v t trong văn
Trang 1683
Diễn hóa hình tượng Quan Vũ từ nhân vật lịch sử
đến nhân vật văn học
Trần Văn Trọng*
Tóm tắt: Quan Vũ (Quan Công, Quan Vân Trường, Quan Đế) là nhân v t lịch sử đời Tam
Qu c được đời sau tôn làm Võ thánh, thờ ở Võ miếu sánh ngang với Khổng Tử Hình
tượng Quan Vũ được h u thế tôn sùng với tài năng võ công trác tuyệt, phẩm chất khí tiết
trong sạch và nhân cách trung nghĩa cao đẹp lại chủ yếu là hình tượng do văn học nghệ
thu t sáng tạo lên Bài viết nghiên cứu quá trình diễn hóa (diễn biến thay đổi) hình tượng
nhân v t này từ nhân v t lịch sử thành hình tượng văn học cũng như lí giải nguyên nhân
của sự diễn hóa từ b i cảnh văn hóa tư tưởng xã hội
Từ khóa: Quan Vũ; diễn hóa; diễn hóa hình tượng; nhân v t văn học; nhân v t lịch sử
Ngày nhận 08/8/2016; ngày chỉnh sửa 17/11/2016; ngày chấp nhận đăng 30/11/2016
*Trong lịch sử văn hóa Trung Qu c, có
hai nhân v t lịch sử được h u thế đặc biệt
tôn sùng, l p miếu thờ là Khổng Tử và Quan
Vũ Không Tử là thủy tổ Nho gia, từ khi
Nho học được tôn làm “qu c giáo”, địa vị
của ông không có gì đáng bàn cãi và Văn
miếu được l p nên nhằm xiển dương Nho
học cũng là lẽ đương nhiên Tuy nhiên,
Quan Vũ chỉ là một nhân v t võ tướng triều
Thục Hán đời Tam Qu c lại được h u thế
nhất tâm ngưỡng phục l p Vũ miếu để thờ,
ngang với Văn miếu thờ Khổng Tử, th m
chí đời Thanh, Vũ miếu còn nhiều hơn Văn
miếu Còn một điểm khá đặc biệt, Khổng Tử
là một nhân v t lịch sử, một nhà tư tưởng,
đời sau dù có ngưỡng vọng ông song chân
dung, diện mạo lịch sử của nhân v t này
cũng không bị tạo tác quá khác biệt so với
mẫu g c Trong khi đó, đ i với Quan Vũ,
quá trình từ nhân v t lịch sử đến nhân v t
của tín ngưỡng, tôn giáo đã có sự tham gia
tạo tác của văn học nghệ thu t, làm cho hình
tượng nhân v t trong văn học và trong tín
ngưỡng đã có nhiều điểm khác biệt so với
* Trường Đại học Hải Phòng; emai: trongxa@gmail.com
mẫu g c lịch sử ban đầu Hiện tượng đặc biệt này đáng được quan tâm nghiên cứu, lý giải xem xét trong quá trình diễn hóa hình tượng Quan Vũ, vai trò của văn học nghệ thu t, nhất là văn học nghệ thu t thời T ng Nguyên đã góp phần quan trọng trong sáng tạo hình tượng nhân v t Quan Vũ như hình dung xưa nay về nhân v t này như thế nào?
1 Những tiền đề của sự diễn hóa hình tượng nhân vật
Quan Vũ, tên chữ là Vân Trường, người đất Giải Châu, nay thuộc tỉnh Sơn Tây Ông cùng Lưu Bị và Trương Phi kết nghĩa đào viên, thề đồng sinh đồng tử, phất cờ khởi nghĩa, giúp Lưu Bị xây dựng đế nghiệp, sau thất bại để mất Kinh Châu và bị Đông Ngô giết chết, thọ 58 tuổi Nhân v t Quan Vũ được miêu tả với bộ mặt đỏ, râu dài, mình cao chín thước, cưỡi ngựa Xích Th ngày đi nghìn dặm, sử dụng thanh long đao nặng tám mươi hai cân và những chiến công hiển hách như chém đầu Hoa Hùng khi chén rượu tiễn đưa còn nóng, chém Nhan Lương,
Trang 2giết Văn Xú, “qua năm ải chém sáu tướng”,
bắt Vu Cấm, giết Bàng Đức, thà chết không
chịu hàng Đông Ngô Hình dung về diện
mạo, tài năng phi thường, tính cách trung
can nghĩa đảm của nhân v t Quan Vũ được
định hình bởi tiểu thuyết Tam Qu c diễn
nghĩa của La Quan Trung Tuy nhiên, quá
trình tạo tác và định hình chân dung, tính
cách của Quan Vũ như tiểu thuyết đã miêu
tả có một lịch sử lâu dài, trong đó đóng góp
to lớn của văn học nghệ thu t đã khiến nh n
thức h u thế thường đồng nhất nhân v t
Quan Vũ lịch sử với nhân v t Quan Vũ văn
học
Quá trình diễn hóa hình tượng nhân v t
Quan Vũ từ lịch sử đến văn học có lẽ diễn ra
trên dưới ngàn năm kể từ khi Quan Vũ được
các sử gia đời Tấn (thế kỷ IV) ghi chép cho
đến trước khi La Quán Trung sáng tác Tam
Qu c diễn nghĩa (thế kỷ XIV), trong đó quá
trình văn học hóa nhân v t được tiến hành
mạnh nhất vào giai đoạn T ng Nguyên
Không kể những ghi chép lịch sử quan
phương của các sử gia phong kiến, người ta
thấy các loại hình sáng tác văn học thời
T ng Nguyên rất phát triển bấy giờ đều có
tham gia vào quá trình văn học hóa nhân
v t Các thể loại hý khúc, thoại bản, tạp kịch
đã tham gia cải tác làm tiền đề cho tiểu
thuyết diễn nghĩa sáng tạo hình tượng nhân
v t bất hủ
Các thể loại văn học như hý khúc, thoại
bản, tạp kịch thời T ng Nguyên khai thác
khá nhiều về đề tài Tam Qu c nói chung và
Quan Vũ nói riêng Riêng hý khúc, loại hình
nghệ thu t sân khấu của người T ng, phát
triển mạnh giữa thời Bắc T ng đã khai thác
rất nhiều đề tài từ Tam Qu c Cao Thừa cho
biết “Nhân Tông thường cùng bọn thị dân
nói chuyện Tam Qu c hoặc chọn những con
vật phục vụ cho sáng tác và biểu diễn hý
khúc” (Cao Thừa 1989) Cụ thể hơn, Trương
Lỗi còn còn dẫn câu chuyện đứa trẻ con ở
kinh thành khi xem tiết mục hý khúc “mỗi
khi đến cảnh chém Quan Vũ, nó khóc sướt mướt, nước mắt ướt đầm dải áo” (Trương
Lỗi 1983) thì có thể thấy sân khấu Bắc T ng khai thác đề tài Quan Công lâm nạn khá cảm động lòng người
Bên cạnh hý khúc, thoại bản đời T ng phát triển khá mạnh Những câu chuyện khai thác về sự kiện, nhân v t Tam Qu c được các thuyết thoại nhân kể, trong đó có chuyện Quan Vũ chắc hẳn khá nhiều, tiếc rằng hiện không còn một bản kể nào Đời Nguyên
xuất hiện bản kể Tam Qu c chí bình thoại
nói về quá trình tam phân ba nước Ngụy Thục Ngô mang màu sắc luân hồi báo ứng nhà Ph t Bản kể này được cho rằng có m i quan hệ kế thừa từ các bản kể của thuyết thoại nhân đời T ng Riêng chuyện Quan
Vũ được kể với tám đầu m i như sau: Thiên Công ban thánh thư, chạy tr n ở Trác qu n, kết nghĩa đào viên, đầu quân báo qu c cho đến các sự kiện bắt Vu Cấm ở tr n thủy chiến, sau đó bị bắt và bỏ mạng tại Đông
Ngô Ngoài thoại bản Tam Qu c chí bình thoại, sách Tuyên Hòa di sự đời T ng còn
đề c p đến truyền thuyết Quan Vũ hiển thánh trị thủy quái ở Diêm Trì vào những năm Sùng Ninh triều T ng Huy Tông (Lỗ Tấn 2002)
Đời Nguyên, tạp kịch là thể loại phát triển hưng thịnh nhất Theo kết quả nghiên cứu của Khâu Chấn Thanh, tạp kịch Nguyên
đã để lại s lượng sáng tác lấy đề tài từ Tam
Qu c khá đồ sộ với hơn 40 vở (Khâu Chấn Thanh 1983), trong đó có 13 vở lấy nhân v t
Quan Vũ làm chủ đề chính như: Quan đại vương độc phó đơn đao hội, Quan Trương song phó Tây Thục mộng (Quan Hán Khanh), Hổ lao Quan tam chiến Lã B (Trình Đức Huy), Quan đại vương nhị tróc hồng y quái (Thiện Phu), Thọ Đình hầu nộ trảm Quan Bình, Quan Vân Trường đại phá Xuy Vưu, Quan đại vương nguyệt hạ trảm Điêu Thuyền, Quan Vân Trường cổ thành tụ nghĩa, Quan Vân Trường đơn đao phách tứ
Trang 3khấu, Thọ Đình hầu ngũ quan trảm tướng,
Quan Vân Trường thiên lý độc hành, Trảm
ái Dương, Quan Vân Trường đào viên kết
nghĩa (khuyết danh)
Những sáng tác văn học nghệ thu t trong
hàng ngàn năm, nhất là hý khúc, thoại bản,
tạp kịch thời T ng Nguyên đã trở thành tư
liệu vô cùng quan trọng để tác giả tiểu
thuyết La Quán Trung sáng tạo lên hình
tượng nh t v t bất hủ: Tuyệt nghĩa Quan Vũ
2 Quá trình diễn hóa hình tượng từ nhân vật
lịch sử đến nhân vật văn học
Các tác phẩm, đặc biệt các tác phẩm văn
học thời T ng Nguyên đã gia công, cải biên
khiến cho hình tượng Quan Vũ từ lịch sử
đến văn học có nhiều sự khác biệt Quá trình
diễn hóa hình tượng thể hiện ở mấy nét lớn
sau:
2.1 Cải biên, thêm bớt, bổ sung tình tiết
vào các sự kiện lịch sử
Dựa trên nền tảng sự thực lịch sử được
các sử gia ghi chép, các tác phẩm văn học đã
tiến hành gia công, bổ sung và thêm bớt các
tình tiết làm cho các sự kiện lịch sử liên
quan đến nhân v t được sáng rõ như: Giết
Nhan Lương, Văn Xú, cạo xương chữa
thu c, nước ng p bảy cánh quân
Đọc Tam Qu c diễn nghĩa, độc giả đều
biết chiến công lẫy lừng của Quan Vũ là
chém chết hai đại tướng của Viên Thiệu là
Nhan Lương và Văn Xú, gián tiếp gây nên
thất bại thảm bại của quân Viên Thiệu Sự
kiện lịch sử này đã được Trần Thọ, sử gia
đời Tấn ghi chép trong Tam Qu c chí-Quan
Vũ truyện như sau: Năm Kiến An thứ 5,
Viên Thiệu cử đại tướng Nhan Lương công
phá Đông qu n, Tào Tháo cử Trương Liêu
và Quan Vũ làm tiền bộ tiên phong nghênh
chiến “Vũ từ xa thấy Nhan Lương có vẻ
hiền lành, liền thúc ngựa phi vào trong đám
vạn quân đâm Nhan Lương, cắt lấy thủ cấp đem về” (Trần Thọ 1975) Sự kiện Văn Xú
bị giết được chép như sau: “Viên Thiệu qua sông truy kích quân Tào đến tận phía nam Diên Tân; Tào Tháo phải bỏ cả quân nhu, lương thực chạy tr i chết; quân Viên Thiệu thấy thế tranh nhau thu nhặt chiến lợi phẩm; quân Tào quay lại thả sức chém giết, đại phá được Viên Thiệu, giết được Văn Xú”
(Trần Thọ 1975) Sự kiện giết Nhan Lương của Quan Vũ trong chính sử ghi chép sau
này đã được thoại bản Tam Qu c chí bình thoại tiến hành gia công, bổ sung chi tiết:
“Đại tướng Nhan Lương dẫn 10 vạn đại quân chinh phạt Tào, liên tiếp đánh bại tướng tiên phong Hạ Hầu Đôn, đại tướng Tào Nhân Tào Tháo than rằng-Nhan Lương thật anh hùng, bây giờ biết tính làm sao? Quan Vũ cười đáp, người này tuy nhỏ mà có thể nâng đao trên ngựa, ta ở trên cao có thể thấy hết sự vui mừng, trấn giữ đại doanh Viên Thiệu mà không một chút nghi ngờ trở ngại nào, (tôi) có thể một đao chém rơi đầu Nhan Lương xu ng đất” (Chung Triệu Hoa 1989) Hồi 25 của Tam Qu c diễn nghĩa lại
cực tả sự thần dũng của Quan Vũ gấp nhiều
lần so với thoại bản: “Quan Công nhảy phắt lên mình ngựa, cắp ngược thanh long đao,
tế xu ng núi, mắt phượng trợn lên, mày tằm dựng ngược, xông thẳng vào trận bên kia, đi đến đâu quân Hà Bắc rẽ như sóng nước Quan Công đến thẳng chỗ Nhan Lương Nhan Lương đang đứng dưới lọng, thấy Quan Công đến, vừa mu n hỏi thì ngựa Xích Th chạy mau đã đến trước mặt Nhan Lương trở tay kkhông kịp, Quan Công đưa một lưỡi đao, Lương chết ngay dưới chân ngựa” (La Quán Trung 1995) Như v y, việc
giết Nhan Lương là khá rõ ràng, so với ghi chép lịch sử thì thoại bản và tiểu thuyết có
sự gia công, bổ sung tình tiết làm sáng ngời
sự thần dũng của Quan Vũ Tuy nhiên, cái chết của Văn Xú lại không được sử sách nói
rõ là do ai giết Thiên Vũ đế kỷ sách Tam
Qu c chí của Trần Thọ chỉ chép sau khi Tào
Trang 4Tháo phá được Viên Thiệu, giết được Văn
Xú mà không nói rõ là đại tướng nào? Các
tác giả sau Trần Thọ đ i với cái chết của
Văn Xú đều quy cho Quan Vũ, song ghi
chép khác nhau Hồng Mại trong Dung trai
tục bút có miêu tả “Quan Vũ giết hai tướng
Nhan Lương, Văn Xú của Viên Thiệu trong
đám vạn quân” (Hồng Mại 1996) Đến Tam
Qu c chí bình thoại, các thuyết thoại nhân
đã tiến hành chi tiết hóa, bổ sung tình tiết,
miêu tả cụ thể Quan Vũ sau khi giết Nhan
Lương, Văn Xú liền đem quân khiêu chiến,
Vũ xông đến đánh Văn Xú, Văn Xú bại tr n
chạy tr n, Vũ truy kích tới 30 dặm, giơ đao
chém xu ng, Văn Xú liền giơ tay đỡ bị Vũ
chém đứt làm hai đoạn Còn trong Tam
Qu c diễn nghĩa, La Quán Trung miêu tả
chi tiết này thành một đoạn văn phô trương
Đầu tiên miêu tả Văn Xú trong đám loạn
quân c sức đánh nhau với hai tướng
Trương Liêu, Từ Hoảng với sự dũng mãnh
khác thường, Quan Vũ xuất hiện phi ngựa
vung đao giết chết Văn Xú
Một sự kiện trong Tam Qu c cũng được
lịch sử ghi chép khá tường t n, nhưng đến
thoại bản và tiểu thuyết đã có sự biến đổi-sự
kiện Quan Vũ khơi sông làm nước lụt bảy
cánh quân Vu Cấm Sự kiện này được Trần
Thọ chép “mùa thu, mưa lâu ngày, nước
sông Hán Thủy tràn bờ, mặt đất nước ngập
hàng trượng, đến lúc này bảy cánh quân của
Vu Cấm không thể chịu được nữa Vũ liền
tấn công Vu Cấm, Cấm đầu hàng, duy chỉ có
Bàng Đức không đánh mất khi tiết mà chịu
chết” (Trần Thọ 1975) Sự kiện được sử
sách ghi chép đơn thuần là thiên tai làm
hỏng nhân sự thì đến các tác phẩm văn học
đã biến thành chuyện Quan Vũ đa mưu túc
trí, lợi dụng địa hình, khai sông cho nước
ng p thành thu được thắng lợi Tam Qu c
chí bình thoại chép sự kiện này như sau:
“Quan Vũ thấy Vu Cấm đóng trại gần con
sông nhỏ, không để ý mưa lâu ngày, Quan
Vũ cho khai sông, nước sông tràn ngập bờ
Quân Vu Cấm đều bị chết vì nước lụt” Hồi
74 trong Tam Qu c diễn nghĩa, La Quan Trung có lẽ dựa trên nền tảng Tam Qu c chí bình thoại đã thêm thắt, miêu tả cảnh mưa
thu lâu ngày, Quan Vũ bỗng nghĩ ngay kỳ mưu, phái người ra đóng ngoài cửa sông, mưa ngày càng kéo dài, nước sông ngày càng dâng cao dữ dội, Quan Vân Trường liền cho nước lụt ng p thành, quân Tào trong thành biến thành ba ba, thuồng luồng chết vô kể Như v y, từ sự kiện lịch sử qua thoại bản đến tiểu thuyết, Quan Vũ đã trở thành viên đại tướng tài ba, không những thần dũng mà còn là b c thầy “túc trí đa mưu” có tài dùng binh
2.2 Diễn giải và di chuyển sự kiện- tình tiết, làm thay đổi ý nghĩa sự kiện- tình tiết ban đầu
Trong Tam Qu c, một s sự kiện như
hàng Hán không hàng Tào, Cổ thành tụ nghĩa, đơn đao phó hội là những loại sự
kiện lịch sử đã bị tác giả văn học diễn giải khác đi so với sự kiện ban đầu nhằm làm cho hình tượng Quan Vũ thêm sáng ngời đẹp đẽ theo quan điểm tư tưởng của thời đại
Sự kiện Quan Vũ ra điều kiện “hàng Hán không hàng Tào” được Trần Thọ chép trong
Tam Qu c chí-Quan Vũ truyện như sau:
“Năm Kiến An thứ 5, Tào Tháo đông chinh, Tiên chủ nương nhờ Viên Thiệu Tào công bắt được Quan Vũ trở về, bái Vũ làm tướng quân, đ i xử rất hậu” Sau này, Vũ được tin Lưu Bị chưa chết bèn “gói hết những thứ được ban thưởng đem trả, viết thư cáo từ”
Như v y, việc Quan Vũ hàng Tào được ghi chép chưa thấy nói đến điều kiện là hàng Hán và Quan Vũ bị Tào Tháo bắt chứ không phải là Tào Tháo mời, cơ sở để Quan Vũ đưa điều kiện hàng Hán Sự kiện này được
Tam Qu c chí bình thoại chép thành Quan
Vũ đặt 3 điều kiện để về với Tào Tháo: “Ta
và phu nhân một nhà chia hai phòng; nếu biết tin hoàng thúc ở đâu thì sẽ đi tìm; hàng
Trang 5Hán chứ không hàng Tào”(Chung Triệu Hoa
1989) Tào Tháo đồng ý tất cả các điều kiện
và Quan Vũ đầu hàng Đến Tam Qu c diễn
nghĩa, La Quán Trung đã tiến thêm một
bước bổ sung b i cảnh quy hàng của Quan
Vũ: Khi Quan Vũ bị vây kh n, Trương Liêu
lên núi khuyên hàng, nói Quan Vũ nếu liều
chết sẽ có ba tội lớn-tội thứ nhất là bỏ huynh
đệ chết một mình quên mất lời thề đồng sinh
đồng tử khi kết nghĩa vườn đào, tội thứ hai
là để hai chị dâu không biết nương dựa vào
đâu, tội thứ ba là không thể cùng huynh đệ
khuông phò nhà Hán Nếu Quan Vũ hàng
Tào sẽ có ba lợi lớn-thứ nhất là có thể bảo
vệ hai chị dâu không quên lời ủy thác của
huynh trưởng, thứ hai là không bội ước lời
thề kết nghĩa, thứ ba là có thể bảo vệ được
tính mạng của mình Quan Vũ khi nghe
Trương Liêu phân tích xong cũng đưa ra ba
điều kiện: Thứ nhất là chỉ hàng Hán chứ
không hàng Tào, thứ hai là Tào Tháo phải
đ i xử t t với hai phu nhân, thứ ba là sau
này nghe tin Lưu Bị ở đâu sẽ l p tức đi tìm
Tào Tháo đáp ứng cả ba điều kiện, Quan Vũ
hỏi ý kiến hai chị dâu rồi sau đó mới hàng
Tào Tiểu thuyết đã trên cơ sở thoại bản bổ
sung thêm ba cái tội, ba điều lợi, ba điều
kiện hàng Tào đã làm rạng rỡ vẻ đẹp trung
nghĩa hiếm thấy của Quan Vũ
Nếu sự kiện “hàng Hán không hàng Tào”
được các tác phẩm văn học bổ sung, gia tăng
tình tiết hợp lý theo chiều hướng ca ngợi
trung can nghĩa đảm của Quan Vũ theo tiêu
chuẩn nho gia đề cao “phú quý bất năng
dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng
khuất” thì sự kiện “đơn đao phó hội” hoàn
toàn là một sự kiện không liên quan gì đến
Quan Vũ nhưng đã được các tác giả đời sau
di chuyển từ nhân v t Lỗ Túc gán cho Quan
Vũ không ngoài mục đích tôn sùng đề cao
phẩm chất nghĩa dũng của nhân v t này
“Đơn đao phó hội” v n chỉ liên quan đến
nhân v t Lỗ Túc của Đông Ngô Tam Qu c
chí-Lỗ Túc truyện chép sự kiện này như sau:
“Vũ mời Túc gặp mặt, binh mã dừng lại trước 100 bộ, nhưng Túc một mình một đao
dự hội” (Trần Thọ 1975) Bùi Tùng Chi khi dẫn Ngô thư cũng có chép lại sự kiện này tương tự: “Túc mu n cùng Vũ hội đàm, chư tướng nghi ngờ có biến, khuyên Túc không nên qua Túc nói-việc ngày hôm nay là thích hợp cởi mở với nhau Lưu Bị gánh vác trọng trách qu c gia, quyết định mọi việc, Vũ nào dám to gan phạm lệnh! Liền đi nhanh tới gặp Vũ” Truyền thuyết dân gian chép sự
kiện này cũng quy “đơn đao phó hội” cho
Lỗ Túc Đại để tình tiết liên quan đến việc
Lỗ Túc đòi Kinh Châu, đưa thư mời Quan
Vũ dự tiệc Quan Vũ đồng ý, nói: “Gặp nhau là sáng kiến của Tử Kính; Làm chủ nhà đương nhiên phải là ta; Ta dọn bàn tiệc
ở bắc sông Tứ mời Tử Kính ngày mai nhất định quá bên này này dự tiệc” Quân sĩ khuyên Lỗ Túc không nên dự tiệc vì “Quan
Vũ là con chồn đi chúc tết con gà, không nên sang” Lỗ Túc không nghe, nói “Quan
Vũ không sang đây, cũng là vì nghi ngờ ta như vậy; Nếu ta cũng không chịu đi trước một bước thì gặp nhau thế nào dược” (T ng
Công Yếu 1997) Như v y, những ghi chép lịch sử gần với thời đại Tam Qu c cho thấy nhân v t chính “đơn đao phó hội” là Lỗ Túc chứ không phải Quan Vũ
Tuy nhiên, đến thoại bản Tam Qu c chí bình thoại, tạp kịch Quan đại vương độc phó đơn đao hội của Quan Hán Khanh và tiểu thuyết Tam Qu c diễn nghĩa đã biến sự
kiện của Lỗ Túc thành sự kiện liên quan đến Quan Vũ, hay nói cách khác là các tác phẩm văn học đời sau đã “di hoa tiếp mộc“ Cả thoại bản và tạp kịch nội dung sự kiện này được thu t lại là Lỗ Túc đem một vạn quân qua sông, mời Quan Vũ một mình đến dự hội Quan Vân Trường biết rõ bên trong có
âm mưu mờ ám, nhưng không hề sợ hãi, mặc giáp phục, lưng cài thanh long đao đến quân doanh của Lỗ Túc Hình tượng Quan
Vũ trong thoại bản và đặc biệt tạp kịch
Trang 6Quan đại vương độc phó đơn đao hội được
tán tụng miêu tả như một anh hùng mã
thượng, hào khí cao ngất uy hiếp tướng sĩ
Đông Ngô Tam Qu c diễn nghĩa đã kế thừa
cảm hứng ngợi ca trên của thoại bản và tạp
kịch đồng thời tiến thêm một bước hư cấu
kịch tính Tôn Quyền mu n đòi Kinh Châu
mà Lưu Bị thực lòng không mu n trả lại Lỗ
Túc nghĩ ra mưu kế mời Quan Vũ đến Đông
Ngô dự yến, trước mặt sẽ đòi Vũ trả Kinh
Châu, nếu Vũ không trả thì sẽ cho quân mai
phục giết ngay Nhược bằng nếu Vũ sợ
không dám đến, đó sẽ là cái cớ để phát binh
đoạt lại Kinh Châu Quan Vũ tiếp nh n lời
mời và khẳng khái một mình một đao đến
dự hội Trong tiệc rượu, Vũ biết có quân mai
phục song vẫn nói cười, u ng rượu tự nhiên,
Lỗ Túc hoàn toàn bị áp đảo bởi phong thái
của Quan Vũ Lỗ Túc đề c p đến việc đòi
Kinh Châu, Quan Vũ trước sau không trả lời
trực tiếp, sau đó chớp thời cơ liền một tay
nắm lấy thanh long đao, tay kia kéo Lỗ Túc
ra đến bờ sông mới thả Lỗ Túc, lên thuyền
rời bến thong dong trong sự tức t i và bất
lực của Đông Ngô
Tình tiết Ôn tửu trảm Hoa Hùng (chém
đầu Hoa Hùng trở về, chén rượu lúc tiễn đưa
còn nóng) cũng là một tình tiết nằm trong
mạch di chuyển tình tiết từ nhân v t khác
sang Quan Vũ Trần Thọ trong Tam Qu c
chí-Tôn Phá Lỗ thảo nghịch truyện chép:
“Tôn Kiên bề ngoài ra vẻ thu binh mà trong
lại hợp lực chiến đấu đại phá được quân
Đổng Trác, đến lúc đó Hoa Hùng xuất
hiện” Như v y, có thể thấy Tôn Kiên là
người giết Hoa Hùng chứ không phải Quan
Vũ và lại càng không có chi tiết “chén rượu
còn nóng” Tam Qu c diễn nghĩa của La
Quán Trung hồi thứ 5 đã tiến hành di
chuyển tình tiết này sang Quan Vũ và thêm
chi tiết “chén rượu còn nóng” như sau: 18 lộ
quân hưng binh đánh Đổng Trác, bộ tướng
của Đổng Trác là Hoa Hùng xuất hiện lần
lượt chém chết Pháo Trung, Tổ M u, đánh
bại Tôn Kiên Viên Thiệu vội vàng triệu t p chư hầu bàn kế đ i phó với Hoa Hùng Quần hùng chỉ biết im lặng cúi đầu, chẳng một tướng nào dám ra tr n đ i đầu với Hoa Hùng Khi đó, Hoa Hùng lại đến khiêu chiến, chẳng ai dám ra tr n Lúc đó, Quan
Vũ xin ra nghênh chiến Tào Tháo đã rót một chén rượu tiễn Quan Vũ, Quan Vũ nói hãy để chén rượu này thành chén rượu mừng chiến thắng Một lát sau, quần hào nghe thấy
“tiếng người reo ầm ầm, tựa hồ như trời long đất lở, núi đổ non nghiêng, ai nấy thất kinh” (La Quán Trung 1995) thì thoắt đã
thấy ngựa về đến trung quân, Quan Vũ ném đầu Hoa Hùng xu ng đất La Quán Trung đã đặc tả sự thần dũng và tài năng của Quan Vũ chỉ bằng một câu “chén rượu vẫn còn nóng” Như v y, có thể thấy xu hướng mĩ hóa hình tượng theo tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức Nho gia được văn học nghệ thu t thời
T ng Nguyên chú ý tiến hành là sự phù hợp với ý thức hệ Nho giáo th ng trị được xác
l p mạnh mẽ từ đời T ng Những sự kiện lịch sử liên quan đến nhân v t đã được giải thích, được bổ sung, được di chuyển nhằm phục vụ cho sự th ng nhất và tính chính danh của tư tưởng “huyết th ng” dòng chính đang là vấn đề được đặt ra trong b i cảnh lịch sử cụ thể ra đời của các tác phẩm văn học thời T ng-Nguyên
2.3 Hư cấu thuần túy sự kiện, tình tiết nhằm tăng thêm tài năng, khí tiết, phong độ của nhân vật
Trong Tam Qu c diễn nghĩa, có nhiều sự kiện liên quan đến Quan Vũ như Phó nghĩa Trác quận, Dưới trăng chém Điêu Thuyền hay Vì nghĩa thả Tào Tháo hoàn toàn không
được ghi chép đã được văn học hư cấu, sáng tạo nhằm tăng thêm khí độ anh hùng, tài năng của nhân v t
Về sự kiện Quan Vũ họ gì và vì sao phải
tr n khỏi Trác Qu n thì Tam Qu c chí của
Trang 7Trần Thọ không ghi chép và giải thích Tuy
nhiên, truyền thuyết dân gian Quan Tây cho
biết Quan Vũ v n không phải họ Quan, lúc
trẻ là một người rất khỏe và hay gây sự, cha
mẹ cũng không thể kiềm thúc nên giam vào
căn phòng tr ng Đêm đến Quan Vũ mở cửa
vượt tường ra ngoài, thấy phía đông có cô
gái và ông già khóc, lấy làm lạ liền hỏi han
Ông già nói, con gái ông đã hứa hôn, nh n
sính lễ nhà trai, nhưng công tử con quan
huyện cưỡng bức lấy về làm thiếp, ông già
khiếu nại với quan huyện thì bị chửi mắng
th m tệ Quan Vũ nghe nói nổi gi n đùng
đùng, vác gươm xông vào dinh phủ giết chết
quan huyện và công tử rồi tr n đi Tr n đến
Đồng Quan nhưng không thể ra khỏi thành
vì khắp b n cổng thành đã dán đồ hình truy
nã, Quan Vũ liền nằm phục xu ng lạch
nước, lấy nước rửa mặt thì thấy mặt biến
thành màu đỏ, không thể nh n ra hình dạng
ban đầu Quan Vũ thấy v y mừng rỡ, vươn
thẳng người đi tới cổng thành, người coi giữ
thành c t vấn họ tên, Vũ liền buột miệng nói
họ Quan, sau đó cũng không thay đổi họ
nữa Như v y, có thể thấy truyện dân gian
Quan Tây đã hư cấu tình tiết chạy tr n của
Quan Vũ thành chuyện “hành hiệp trượng
nghĩa” đồng thời giải thích họ Quan Vũ
bằng câu chuyện “chỉ quan vi tính” (chỉ
cổng thành làm họ) Sau này, La QuánTrung
viết tiểu thuyết tiếp tục quá trình hư cấu hóa
tình tiết này và bổ sung ý nghĩa chính trị gắn
với việc “khôi phục Hán thất”
Một tình tiết liên quan đến Quan Vũ
cũng được các tác phẩm văn học biến cải,
hư cấu hoàn toàn khác là tình tiết Dưới
trăng chém Điều Thuyền Nếu coi Ngụy thị
xuân thu (được Tam Qu c chí-Minh đế ký
của Trần Thọ dẫn lại) là sử liệu ghi chép
sớm nhất và gần với thời đại nảy sinh sự
kiện thì tình tiết này được chép hoàn toàn
khác với cách tác phẩm văn học đời sau mô
tả về tính cách và phẩm chất Quan Vũ Ngụy
thị xuân thu cho biết Quan Vũ nhân lúc Lã
B bị vây kh n, mu n lấy vợ Lã B nên sai
vợ cả là Tần Nghi Lộc làm m i Nếu tình tiết có khả năng là sự thực sẽ làm hỏng mất hình tượng chính nhân quân tử Quan Vũ đang trên đà thẩm mĩ hóa Do v y, các tác phẩm văn học T ng Nguyên, nhất là tạp
kịch Quan đại vương nguyệt hạ trảm Điêu Thuyền đã tiến hành tẩy rửa vết nhơ này
bằng cách xây dựng hình tượng Quan Vũ thành một nhà nho tiết nghĩa, thích đọc Kinh Xuân thu, thấu hiểu đạo nghĩa cương thường, liên hệ việc dâng tiểu thiếp Điêu Thuyền của Lã B mà ngộ ra họa mất nước đều từ nữ nhi, đã nảy sinh ý định giết Điêu Thuyền Điêu Thuyền v n đã sinh lòng mến
mộ yêu thầm người anh hùng Quan Vũ, nhân cơ hội Quan Vũ đọc Kinh Xuân thu dưới trăng có nhờ Quan Vũ giải nghĩa thì chính lúc đó đao ảnh thanh long đao yển nguyệt đã hạ xu ng kết thúc đời mĩ nhân nghiêng nước nghiêng thành Đây là một sự biến cải và hư cấu tình tiết thực sự tuyệt vời của tạp kịch, không những đã gột sạch vết nhơ của Quan Vũ mà trái lại càng làm tăng khí độ, phẩm chất “phú quý bất năng dâm” của Quan Vũ Sự biến cải, hư cấu tình tiết này rõ ràng cho thấy sự tác động của quan niệm trung nghĩa theo tinh thần Nho gia đã chi ph i tư tưởng văn học T ng Nguyên trong quá trình diễn giải hình tượng lịch sử theo quan điểm chính th ng
Một tình tiết mà thoại bản và tiểu thuyết đời sau đã tô vẽ là tình tiết Quan Vũ vì nghĩa thả Tào Tháo ở Hoa Dung tiểu lộ
Trần Thọ trong Tam Qu c chí-Vũ đế kỷ có dẫn ơn Dương Công tải ký cho biết, Tào
Tháo sau khi đại bại ở Xích Bích đã theo đường Hoa Dung chạy về Hứa Đô, nhưng không hề thấy chép tình tiết Quan Vũ phục binh chặn Tào Tháo và vì hàm ơn mà thả
Tào Tháo Thoại bản Tam Qu c chí bình thoại lần đầu tiên đã thêm thắt tình tiết Quan
Vũ phục binh chặn Tào Tháo, Tào Tháo dùng lời nói m t ngọt kể lể ân tình Quan Vũ
Trang 8vì l p quân lệnh trạng với Khổng Minh nên
không cho Tào Tháo qua nhưng nhìn “nét
mặt ủ rũ như sương mù” của Tháo nên đã
thả ra Chi tiết “mặt ủ rũ như sương mù” giải
thích việc Tào Tháo được Quan Vũ thả hoàn
toàn là sự suy diễn của thoại bản
Tam Qu c diễn nghĩa của La Quán
Trung đương nhiên về cơ bản dựa trên thoại
bản mà sáng tạo nên đã biến cải chi tiết “mặt
ủ rũ như sương mù” thành “trượng nghĩa thả
ra” nhằm xây dựng Quan Vũ thành một hình
tượng nhân v t trung nghĩa, tín nghĩa đầy
đủ, có ơn phải trả, có oán phải báo Do đó,
thấy Tào Tháo nói chuyện tình cảm, ra ơn
ngày xưa cũng như thảm não khóc lóc khiến
Quan Vũ tha cho đi bất chấp việc mình đã
l p quân lệnh trạng Sự biến cải và hư cấu
tình tiết này, cũng như các tình tiết đã nói ở
trên đã cho thấy xu hướng thẩm mĩ hóa, đề
cao vẻ đẹp trung nghĩa, sức mạnh thần dũng
nhân v t của văn học nghệ thu t đời T ng
Nguyên đã góp phần vào sự hình thành kết
tinh vẻ đẹp của hình tượng Quan Vũ trong
đời s ng tinh thần xã hội
2.4 Hạn chế khuyết điểm, gia tăng khí độ
nhà Nho
Cái chết của Quan Vũ liên quan đến sự
kiện mất Kinh Châu vào tay Đông Ngô đánh
dấu sự đổ vỡ liên minh Ngô Thục mà sau
này dù hai nhà có n i lại vẫn không bao giờ
hết hiềm nghi từ sự kiện cái chết Quan Vũ
Về sự kiện này, tiểu thuyết đã không những
làm giảm đi tội của Quan Vũ mà trái lại còn
biểu dương cái chết oanh liệt trung nghĩa
của Quan Vũ khi quyết giơ cổ chịu chém
chứ không hàng Đông Ngô Điều này cũng
là cách xử lí nhất quán của tác giả tiểu
thuyết nhằm hạn chế bớt những nhược điểm
của hình tượng lý tưởng Tuy nhiên, nhìn
vào lịch sử có thể thấy Quan Vũ là một võ
tướng ít mưu lược, kiêu căng tự phụ Mặc dù
tiểu thuyết đã nói giảm nhưng cũng không
thể che dấu hết Kiêu căng tự phụ nên mới
không đồng ý kết thông gia với Tôn Quyền
vì khinh con gái Tôn Quyền không bằng chó lợn; vì ít mưu nên mới trả lời sứ giả từ
Thành Đô về việc l p tự của Lưu Bị: “việc lập tự theo đích chứ không theo trưởng” và
gián tiếp tự gây họa sát thân của mình do Lưu Phong (con trưởng và là con nuôi Lưu Bị) ghi h n không đem quân ứng cứu
Nhân v t lịch sử Quan Vũ trước sau vẫn
là nhân v t đại diện cho giới võ tướng, song trong phong khí xã hội thời T ng Nguyên
“trọng văn” hơn “trọng võ” hoặc ít ra cũng phải “văn võ song toàn” thì đó lại là một hạn chế của hình tượng Quan Vũ trên đà trở thành một hình tượng lý tưởng của xã hội
Do v y, văn học nghệ thu t đã tiến hành việc bổ sung, gia tăng khí tiết nhà Nho cho hình tượng Quan Vũ trở thành hình tượng toàn mĩ toàn bích, vừa là nho tướng vừa là
võ tướng Văn học nghệ thu t T ng Nguyên
đã đề cao khí tiết nhà Nho của Quan Vũ
bằng việc Quan Vũ thích đọc Xuân thu, Tả truyện (thoại bản), giớí thiệu xuất thân hàn
nho, là b c nho tướng mười phần phong độ
(tạp kịch Quan đại vương độc phó đơn đao hội) hay đang đêm đọc Kinh Xuân thu ngộ
đạo lý, hiểu ra Điêu Thuyền là họa sát thân,
vong qu c (tạp kịch Quan đại vương nguyệt
hạ trảm Điêu Thuyền) Ngoài thoại bản, tạp
kịch, các truyện dân gian về Quan Vũ như
Quan vương sự tích do Hồ Kỳ biên t p còn
bổ sung tình tiết Quan Vũ để lại trước tác là tám bức thư, tổng cộng hơn hai ngàn chữ, trong đó có ba bức gửi Trương Phi thanh minh chuyện hàng Hán chứ không hàng
Tào, trong đó có đoạn viết “gian kế của Tháo có trăm ngàn, không phải Vũ không biết bị trói buộc trong phú quý nhung lụa, tướng quân gán tội cho Vũ như vậy là không hiểu Vũ vậy” (Cô Chính Tùng Sái Đông
Châu 2003)
Tiếp mạch hình tượng hóa khí tiết nhà Nho của Quan Vũ, thời Minh Thanh còn xuất hiện các tác phẩm “trung nghĩa kinh”,
Trang 9“giác thế kinh” và các tác phẩm thư họa
nhằm làm tăng thêm khí tiết, phong độ nhà
Nho của Quan Vũ
3 Nguyên nhân của sự diễn hóa hình tượng
Quan Vũ-nhìn từ bối cảnh văn hóa, tư tưởng
Diễn hóa hình tượng Quan Vũ diễn ra
song song ở cả hai lĩnh vực văn học nghệ
thu t và tín ngưỡng tôn giáo Quá trình mĩ
hóa hình tượng nhân v t lịch sử trong văn
học nghệ thu t đã trở thành tiền đề trực tiếp
cho sự hình thành tín ngưỡng sùng bái Quan
Vũ su t chiều dài lịch sử Về nguyên nhân
của quá trình diễn hóa hình tượng trong văn
học nghệ thu t T ng Nguyên có b i cảnh xã
hội đặc thù và nguồn g c văn hóa tư tưởng
sâu sắc Chế độ phong kiến Trung Qu c đạt
đến sự thịnh vượng huy hoàng nhất ở triều
Đường trước loạn An-Sử, sau cuộc chiến
tranh nội chiến này đã diễn ra tình trạng xã
hội hỗn loạn chưa từng có, đặc biệt thời kỳ
tàn Đường và Ngũ đại Chuyện “lập vua dễ
như thay đổi quan lại, biến qu c gia đại sự
như chuyện đùa”, tình trạng hỗn loạn đến
nỗi bọn quân phiệt ngang nhiên trương khẩu
hiệu “thiên tử đâu phải giữ mãi được ngôi
báu, ngựa t t binh nhiều có thể làm thiên
tử” (Tân Ngũ đại sử 1974) đã được Âu
Dương Tu tổng kết Vì thế “binh quyền còn
tất sẽ hưng phục, binh quyền mất tất sẽ bại
vong”(Phạm Tuấn 1983) Chính vì lẽ đó, từ
triều Hán đến T ng, các nho sĩ và quân
vương nhiều lần đề xướng và ra sức bảo vệ
tr t tự chế độ th ng trị chuyên chế và thanh
toán những triều đại đã suy tàn
Ưu tiên hàng đầu của giới nho sĩ là khôi
phục lại tr t tự đẳng cấp phong kiến Giới sĩ
phu phong kiến luôn tin rằng “việc xây dựng
thiên hạ là việc của đấng quân chủ và nho
sĩ” (Lí Đào 1985) Những năm Khánh Lịch
(1041-1048) triều T ng Nhân Tông dấy lên
trào lưu tư tưởng văn hóa chỉnh đ n cương
thường nho gia Âu Dương Tu khi hiệu đính
Đường thư, Ngũ đại sử thì động cơ chủ yếu lấy bút pháp khen chê của Kinh Xuân thu để khích lệ trung thần Tác phẩm Xuân thu tôn vương phát huy của Tôn Phục bản ý là “tôn
Vương trừ Di”, “trừ loạn giết giặc”(Mã Đoan Lâm,1991) B i cảnh trào lưu tư tưởng
xã hội là nguồn g c quan trọng cho sự sùng tín đề cao nhân v t Quan Vũ, bởi hơn ai hết
sự trung nghĩa mẫu mực của Quan Vũ tự nhiên trở thành tấm gương chói lọi để giới nho học đời T ng phát huy, biểu dương Việc chính quyền nhà T ng tăng cường
và bảo vệ quan niệm chính th ng dẫn đến việc ca ngợi giá trị Quan Vũ từ chỗ ca ngợi anh hùng thiện chiến chuyển thành ca ngợi
tư tưởng khôi phục nhà Hán Bắt đầu từ đời
T ng về sau, sự diễn giải hình tượng và giá trị hình tượng lịch sử đã có sự tham gia của nhân t chính trị, có thể thấy điểm này trong
đánh giá của Trịnh Thành:“Xưng tụng Hầu anh hùng vũ dũng thiện chiến là nói khả năng địch nổi muôn người Điều này không
đủ để hiểu biết về Hầu vậy”(Nguyên Hựu Giải Châu trùng tu Quan miếu ký) Trịnh
Thành còn cho rằng các nhà nho đã phân
biệt rõ nghĩa lợi của Quan Vũ: “ch ng Tào mạnh mà giúp Lưu yếu” hoàn toàn xuất phát
từ tư tưởng chính th ng, vì “Tiên chủ thuộc dòng họ Lưu chính th ng” Tư tưởng tôn
Lưu ức Tào trong xã hội không chỉ phản ánh quan điểm của tầng lớp chính trị nhà T ng
đương thời mà còn có “m i liên hệ sâu xa với tâm lí dân gian phản ánh mâu thuẫn Nam Bắc kéo dài từ thời Nam T ng cho đến Nguyên” (Lê Thời Tân 2003) Như v y,
quan niệm dòng chính, dòng ngụy của trào lưu tư tưởng Nho học đương thời là nguyên nhân trực tiếp hình thành chủ thuyết tư tưởng “ủng Lưu phản Tào” trong tiểu thuyết của La Quán Trung có nguồn g c từ đây Hình tượng Quan Vũ dưới tác động quan niệm tư tưởng chính th ng đã trở thành một
Trang 10Nho tướng đại nghĩa có vị trí sâu sắc trong lí
lu n đạo đức Nho giáo
Nhà T ng lui xu ng phía nam, miền bắc
Trung Hoa rơi vào cảnh hỗn loạn trầm luân,
Mông Cổ diệt Kim thay T ng th ng trị miền
Bắc Những thất bại chính trị và quân sự liên
tiếp của nhà T ng trước ngoại bang đã khiến
cương thổ nhà T ng bị mất dần vào tay
Mông Cổ Trên chiến trường, quân T ng
liên tiếp thất bại thảm hại, khiếp nhược
trước đội quân thiện chiến Mông Cổ càng
làm cho sĩ khí, dũng khí người Hán mất hết
Sự thay đổi cục diện chính trị cu i cùng đã
dẫn đến xuất hiện tư tưởng ca ngợi trung
nghĩa Các nho sĩ đương thời đã ra sức
phóng đại khí tiết trung dũng của Quan Vũ,
phát hiện và khai thác tinh thần trung dũng
ẩn chứa trong các sự tích Đầu đời Kim,
Nam Đào đề xuất “trung nghĩa khí tiết,
không ai địch nổi sự dũng cảm của Quan
Vũ” (Giải Châu trùng tu Quan miếu ký)
(Trương Trấn 1992) Đồng Thứ cu i đời
Kim ca ngợi “tinh thần khí tiết trung dũng
sáng như nhật nguyệt, kỳ công to lớn được
người đời ghi chép trong tín sử, tiết tháo
phẩm hạnh dù trăm lần mua chuộc cũng
không lay động, việc dù nghìn lần hiểm nguy
cũng không lùi, uy linh lúc mất còn trợ
giúp”(Đồng Thứ 1983) Hồ Kỳ khi biên
soạn Quan vương sự tích không ngoài biểu
dương gương sáng trung nghĩa của Quan Vũ
để giáo hóa chúng dân Điều này đã được
xác nh n trong lời tựa của Cổ Lý Giám
trong Đề khắc Hồ Kỳ tân biên sự tích tự cho
rằng sách này “khiến cho những kẻ làm tôi,
làm con đời sau lấy đó mà làm gương, quan
hệ (của nó) không ngoài cương thường đạo
đức” (Trương Trấn 1992) Dưới sự Nho giáo
hóa của Nho sĩ T ng Nguyên, Quan Vũ bị
mĩ hóa trở thành hình tượng kiểu mẫu về
trung hiếu nhân nghĩa, đại biểu cho luân lí
đạo đức cương thường
Với nhiệm vụ trở thành người xiển
dương tư tưởng học thuyết “trung nghĩa”
của Nho gia, Quan Vũ không chỉ được Nho
sĩ T ng Nguyên mà còn được triều đình coi trọng, nhiều lần gia phong tước hiệu Những
tư liệu hiện còn đã cho thấy việc gia phong tước hiệu Quan Vũ bắt đầu từ triều T ng
T ng Công yếu tập cảo có chép “miếu Hán Thọ Đình hầu, một cái ở Đương Dương, tháng 5 năm Thiệu Thánh thứ 2 (1095) đời Triết Tông được ban bức hoành phi “Hiển liệt”, năm đầu niên hiệu ùng Ninh (1102) đời Huy Tông được gia phong Vũ Huệ Công, năm thứ 2 niên hiệu Đại Quan (1108) tiếp tục được gia phong Vũ An Vương Quan
Vũ v n là Thọ Đình hầu đời Hán, thông qua hai lần gia phong của T ng Huy Tông mà một bước từ người trở thành thần, được triều
T ng biên nh p vào “Chính từ lục”, thành phúc thần được phụng thờ của qu c gia Đến thời Nam T ng, Quan Vũ lại được gia phong hai lần nữa: lần thứ nhất vào năm Kiến Viêm thứ 3 (1129), Cao Tông phong
Tráng Miếu Vũ An Vương; lần thứ hai vào
năm thứ 14 niên hiệu Thuần Hy đời Hiếu
Tông phong làm Anh Tế Vương” Hai lần gia
phong sau này của Cao Tông, Hiếu Tông đã cho thấy giá trị biểu dương hình tượng đã có
sự mở rộng nội hàm, không còn chỉ khuôn vào tinh thần trung nghĩa, dũng cảm Cao Tông trong bài Cáo đã xưng tụng Quan Vũ
là người “ghét sự trộm cắp, tà dâm hàng đầu, cứu vớt lê dân trong cơn cùng quẫn”
(Trương Trấn) Hiếu Tông trong bài Chế ra
sức ca ngợi Quan Vũ “s ng có khí tiết lưu truyền cùng nhật nguyệt, không phải thần thánh mà bất hủ cổ kim” Càng về sau, hình
tượng Quan Vũ với phẩm chất, tài năng, khí tiết, nhân cách v n được định hình trong văn học nghệ thu t đã được diễn hóa theo hướng thần thánh (Vương Tế Châu 1996) Nếu trước thời kỳ Nguyên Minh Thanh, sự thần thánh hóa Quan Vũ chủ yếu diễn ra trong đời s ng dân gian thì thời Nguyên Minh Thanh chính thức điển phạm hóa sức mạnh trừ tà ma của Quan Vũ ở cấp độ nhà nước với việc Nguyên Thế Tổ phong Quan Vũ