Theo Điều 15 sắc lệnh này “thì kẻ nào phạm một trong những tội phản cách mạng được quy định trong sắc lệnh này, thì ngoài hình p h ạt chính như tù có thòi hạn, tù chung th â n hoặc tử hì
Trang 1TẠP CHl KHOA HỌC ĐHQGHN, KINH TẾ - LUẬT, T.XXII, số 3, 2006
HÌNH PHẠT TỊCH THU TÀI SẢN TRONG
LUẬT HÌNH S ự VIỆT NAM• • •
I Vài n ét vể sự tiế n triển của
h ìn h phạt tịc h th u tài sản
trong Luật h ìn h sự V iệt Nam
từ năm 1945 đ ến nay
1 Trước Cách m ạn g th á n g 8 năm
1945, L u ậ t h ìn h sự (LHS) nưốc ta đã
phân h ìn h p h ạ t th à n h 3 loại: Chính
hình, phụ h ìn h và bổ túc hình Bổ túc
hình hay còn gọi là h ìn h p h ạ t bổ sung
(HPBS) trong LHS thời kỳ này gồm có:
tịch th u tà i sản (tịch th u toàn sản hoặc
tịch th u đặc định), buộc phải bồi thường
chi phí hay tổn h ại, cấm quyền, tưốc
quyền công dân, lưu xứ, q uản thúc, câu
thúc th â n thể, niêm yết tê n tuổi phạm
nh ân nơi công cộng
Sau Cách m ạng th á n g 8, trong điều
kiện N hà nưổc ta chưa xây dựng được hệ
thống pháp lu ậ t kiểu mới, C hủ tịch Hồ
Chí M inh đã ban h à n h s ắ c lệnh sô" 47
ngày 10/10/1945 cho phép tạm thời áp
dụng pháp lu ậ t của c h ế độ cũ với điều
kiện là không trá i với nguyên tắc độc lập
của nưóc V iệt Nam và chính th ể D ân chủ
Cộng hoà N hưng đồng thời C hính phủ
cũng đã ban h à n h các văn b ản pháp lu ật
hình sự (PLHS) mới để kịp thời bảo vệ
các th à n h quả của cách mạng Trong các
văn bản pháp lu ậ t này, HPBS, trong đó
có tịch th u tà i sản đã được n h à làm lu ật
quy định từ r ấ t sớm
T rịn h Q uốc T oản(*)
Khoản 2 Điều 12 sắ c lệnh sô" 68 ngày 30/11/1945 (được sửa đổi theo sắc lệnh sô" 100/SL ngày 30/5/1950) về các tội vi phạm th ể lệ trưng thu, trư ng dụng, trưng tập đã quy định “Người không
tu ân h àn h lệnh trưng thu, trưng dụng sẽ
bị phạt tù từ 1 th án g đến 1 năm và một
số tiền ít n h ấ t bằng giá trị v ật sản bị
trưng th u hay trưng dụng Nếu tái phạm thì sẽ bị p h ạt tù từ 3 th án g đến 3 năm
Ngoài ra động sản hay bất động sản ghi trong lệnh trưng thu hay trưng dụng còn
có th ể bị tịch th u ”.
Theo Sắc lệnh sô" 21 ngày 14/2/1946 quy định, Toà án quân sự có thể tuyên
p h ạt tịch th u một phần hoặc tấ t cả tài sản vối tư cách là hình phạt chính đối với người phạm tội hoặc tuyên hình phạt này với tư cách là hình p h ạt phụ kèm theo hình p h ạt giam hoặc tử hình
Điều 1 Sắc lệnh sô" 223/SL ngày 17/11/1946 truy tô' các tội hôi lộ, phù lạm, biển th ủ công quỹ, quy định áp dụng với người phạm tội hình phạt khổ sai từ 5 đến 20 năm, phạt bạc gấp đôi tang v ật hối lộ, phù lạm hay biển thủ Tang v ật hối lộ bị tịch th u sung công,
người phạm tội còn có th ể bị xử tịch thu
nhiều nhất là 3 /4 gia sản Các đồng
phạm và tòng phạm cũng bị phạt như trên
n ThS, Khoa Luật, Đại học Q uốc gia Hà Nội.
Trang 2Hình phạt tịch thu tài sản trong Luật hình sự Việt Nam 31
Điều 4 Sắc lệnh sô" 200/SL ngày
7/8/1948 về việc trừ ng trị tội đào nhiệm
quy định viên chức bỏ việc vào trong
vùng tạm thời bị địch kiểm soát bị bắt
buộc phải p h ạ t ít n h ấ t là 5 năm tù,
không cho hưởng án treo và p h ạ t thêm
tịch thu một p h ầ n hoặc tất cả tài sản của
phạm nhân.
Đến năm 1953, căn cứ vào tình hình
và nhiệm vụ mới, dựa trên việc sơ kết rú t
kinh nghiệm đấu tra n h vởi bọn phản
cách mạng của các cơ quan chuyên
chính, Nhà nưốc ta ra sắ c lệnh sô' 133
ngày 20/01/1953 trừ ng trị các loại Việt
gian, phản động và xét xử những âm
mưu và h àn h động phản quốc Đây là
một văn bản PLHS tương đối hoàn chỉnh
hơn trước, nó đã đề ra một sô" điểm mới
thể hiện q uan điểm đấu tra n h có phân
hóa trong chính sách hình sự của Nhà
nước ta Theo Điều 15 sắc lệnh này “thì
kẻ nào phạm một trong những tội phản
cách mạng được quy định trong sắc lệnh
này, thì ngoài hình p h ạt chính như tù có
thòi hạn, tù chung th â n hoặc tử hình, sẽ
bị m ất quyền công dân và sẽ bị tịch thu
một phần hay tất cả tài sản.
Nếu kẻ phạm tội đã chết mà chưa bị
kết án, thì vẫn có thể bị tịch th u một
phần hay tấ t cả tà i sản”
2 Từ ngày hoà bình lập lại, N hà nước
ta tiêp tục b an h àn h nhiều văn bản pháp
lu ật hình sự mối có liên quan tói các
HPBS, trong đó có h ìn h p h ạt tịch th u tài
sản như:
Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/06/195(5
trừng trị những âm mưu, h ành động phá
hoại làm th iệ t h ại đến tà i sản của Nhà
nước, của hợp tác xã và của Iihân dân,
cản trở việc thực hiện chính sách, kê hoạch xây dựng k in h tế và văn hóa Điều
9 Sắc lệnh quy định: “Kẻ nào phạm
những tội ở Điều 7 và Đ iều 8 th ì có th ể
bị tịch th u m ột p h ầ n hoặc toàn bộ tài sản
và có th ể bị tước quyền công d ân ”
Từ năm 1964, đứng trưốc tìn h hình
đế quốc Mỹ tiến h à n h chiến tra n h phá hoại, tă n g cường các h o ạt động gián điệp
và chiến tra n h tâ m lý ở m iền Bắc, công tác đấu tra n h chông mọi h à n h vi phá hoại của bọn p h ản cách m ạng là một bộ phận q u an trọ n g của cuộc đấu tra n h của nhân d ân ta chổng đ ế quốc Mỹ xâm lược
T hế nhưng nh ữ n g văn b ản PLHS trong lĩnh vực An n inh quốc gia được ban hành trước đây đã bộc lộ nh ữ n g nhược điểm
n h ấ t định và không đáp ứng được yêu cầu đấu tra n h phòng chông các loại tội phạm p h ản cách m ạng trong giai đoạn mối Ngày 30/10/1967, ủ y ban Thường
vụ Quốc hội (UBTVQH) b an h à n h Pháp lệnh trừ n g trị các tội p h ản cách mạng Lần đầu tiên, tro n g m ột văn bản LHS có sự p h ân chia h ìn h p h ạ t chính với hình p h ạ t phụ H ình p h ạ t phụ gồm có tưốc một sô' quyền lợi của công dân; quản chế; cư tr ú b ắ t buộc; cấm cư trú ; tịch th u một p h ần hoặc toàn bộ tà i sản Trong đó tịch th u một p h ần hoặc toàn bộ tà i sản
có th ể được áp dụng đối vối m ột trong các tội phạm quy định "từ Điều 3 đến Điều 16 Trưốc đòi hỏi của công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc, tă n g cường pháp c h ế XHCN, góp p h ần tiếp tục xây c.ựng và bổ sung các chính sách, chế độ nhằm cải tiến và n ân g cao n ăn g lực quản
lý kitih t ế tà i chính, góp p h ần ngăn chặn những L ành động xâm phạrri/dấn tà i sản
T ạp chí Khoa học Đ H Q G H N K inh t ế - Luật, T.XXII, Sô '3, 2006
Trang 33 2 Trịnh Quốc Toàn
của công và của riêng n h ân dân, góp
ph ần đẩy m ạnh công tác giáo dục chính
trị tư tưởng và đạo đức XHCN, nâng cao
ý thức tôn trọng và bảo vệ tà i sản xã hội,
ý thức lao động chân chính, ý thức trách
nhiệm trong cán bộ và công dân, ngày
21/10/1970 UBTVQH đã ban h àn h Pháp
lệnh trừ n g trị các tội xâm phạm tà i sản
XHCN và P háp lệnh trừ ng trị các tội
xâm phạm tà i sản riêng của công dân
Trong Điều 18 P háp lệnh trừng trị
các tội xâm phạm tà i sản XHCN, hình
p h ạ t tịch th u tà i sản được quy định như
sau: “Người nào phạm một trong những
tội quy định từ Điều 4 đến Điều 17, trừ
Điểu 14, th ì tuỳ vào tín h chất nghiêm
trọng của tội phạm hoặc nguồn th u lợi
b ấ t chính mà có th ể bị p h ạt tiền từ 50
đồng đếnõOOO đồng hoặc bị tich thu một
p h ầ n hay là toàn bộ tài sản”.
Điều 16 Pháp lệnh trừ ng trị các tội
xâm phạm tà i sản riêng của công dân
cũng quy định phạm tội trong trường
hợp có tín h chất chuyên nghiệp th ì có thể
bị p h ạt quản chế, cư trú b ắ t buộc hoặc
cấm lưu tr ú ở m ột số địa phương n h ất
định từ 1 năm đến 5 năm; p h ạt tiền từ
50 đồng đến 500 đồng hoặc bị tịch thu
m ột p h ầ n hay là toàn bộ tài sản.
3 Sau đại th ắ n g m ùa xuân năm
1975, song song với việc th à n h lập TAND
và VKSND, C hính phủ cách m ạng lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban
h àn h Sắc lu ậ t số 03 SL/76, ngày
15/03/1976, quy định các tội phạm và
hình p h ạt, sắ c lu ậ t này quy định ngoài
hình p h ạ t chính mà điều lu ậ t về tội
phạm quy định TAND có th ể tuỳ nghi áp
dụng hình p h ạt tịch th u một phần hoặc
toàn bộ tà i sản vói tư cách là h ình p h ạ t phụ đổi với các tội phản cách m ạng (Điều 3), các tội xâm phạm đến tà i sản công cộng (Điều 4), các tội xâm phạm đến tà i sản riêng của công dân (Điều 8), các tội xâm phạm tr ậ t tự công cộng, a n toàn công cộng và sức khoẻ của công dân (Điều 9) Riêng đối với các tội kinh tế (đầu cơ, tích trữ, phá rối th ị trường, làm hàng giả ) được quy định tạ i L iều 6, hình p h ạ t tịch th u một phần hoặc toàn
bộ tài sản được quy định bắt buộc áp dụng
Do trong thực tiễn xét xử có sự n hận thức không thông n h ấ t khi việc áp dụng hình p h ạ t tịch th u tà i sản nên TANDTC
đã hướng dẫn là: “Không n h ấ t th iế t là chỉ tịch th u những tà i sản do nguồn th u lợi b ất chính mà có; còn có th ể tịch thu
cả những tài sản không do nguồn th u lợi
b ất chính mà có, nhưng xét tín h chất nghiêm trọng của tội phạm Toà án thấy cần tịch th u để biểu thị th ái độ nghiêm khắc của pháp h jậ t”[l; tr.74-75] và TANDTC còn nhấn m ạnh “Hiểu như vậy không những không trá i với tin h th ầ n và lời văn của hai pháp lệnh m à còn là nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tra n h chống tội phạm kiên quyết hơn, triệ t để hơn, vừa có tác dụng cao trừng trị kẻ phạm tội, vừa có tác dụng cao trong việc giáo dục, phòng ngừa chung ”
Vào những năm đầu của th ập niên 80 của th ế kỷ XX, do yêu cầu đâ'u tra n h phòng chống hối lộ trong giai đoạn mới, tăng cường hiệu quả và hiệu lực quàn lý Nhà nước, đấu tra n h phòng chông các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trá i phép, Hội đồng N hà nước nưốc CHXHCN V iệt Nam đã thông qua
Tạp ch í K hoa h ọc Đ H Q Ợ H N , K inh t ế - Luật, T.XXII, s ố 3 , 2006
Trang 4Hình phạt tịch thu tài sản trong Luật hình sự Việt Nam M
Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ ngày
20/5/1981, và P háp lệnh trừ ng trị các tội
đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh
doanh trá i phép ngày 30/06/1982 Trong
hai pháp lệnh này chỉ quy định hai
HPBS là tịch th u một phần hoặc toàn bộ
tà i sản và hình p h ạt tiền
Tóm lại: Nghiên cứu lịch sử tiến
triển của các HPBS trong các giai đoạn
trước khi pháp điển hoá LHS lần thứ
n h ất năm 1985 cho th ấy bên cạnh phạt
tiền, hình p h ạt tịch th u tà i sản là loại
HPBS được th iết lập sớm n h ấ t và cũng
được áp dụng nhiều n h ấ t trong LHS
nưốc ta H ình p h ạ t tịch th u tà i sản trong
thòi kỳ này đã trở th àn h một loại hình
phạt quan trọng, góp phần tích cực và có
hiệu quả vào cuộc đấu tra n h phòng
chống tội phạm Tịch th u tà i sản là loại
hình p h ạt này có tín h chất lưỡng tính,
tức là vừa có th ể được áp dụng với tư
cách là hình p h ạt chính, vừa có thể được
áp dụng với tư cách là HPBS Tuỳ vào
quy định cụ th ể của văn bản PLHS,
TAND có th ể tuỳ nghi hoặc b ắt buộc áp
dụng hình p h ạt này với những tội phạm
cụ thể TAND cũng có quyền quyết định
tịch th u một phần hoặc toàn bộ tà i sản
của người phạm tội, tu ỳ thuộc vào từng
vụ án cụ thể
Nghiên cứu cũng cho thấy, do những
nguyên n h ân khác nhau, nên trưóc đây
Nhà nước ta chưa có điều kiện pháp điển
hoá LHS, để quy định toàn diện và thông
n h ất những vấn đề về tội phạm và hình
phạt cũng như các vấn đề khác có liên
quan tới TNHS T ất cả các văn bản
PLHS trưốc đây đều là những văn bản
đơn hành (sắc luật, sắc lệnh, pháp lệnh,
thậm chí cả văn bản của C hính phủ như nghị định, thông tư ), mỗi v ăn b ản chỉ quy định một vấn đề riêng biệt Nhiều trường hợp, có những quy định về tội phạm và h ình phạt, trong đó có tịch thu tài sản lại chứa đựng, th ể hiện trong các văn bản quy phạm h àn h chính Ngoài ra, trong các văn bản PLHS không có sự phân biệt ràn h mạch giữa h ìn h p h ạt chính với HPBS Các hình p h ạt, trong đó
có tịch th u tà i sản lại chỉ được quy định
rấ t chung chung, không nêu rõ được nội dung, phạm vi, điều kiện, thời h ạ n áp dụng đối với từng loại h ình p h ạ t này Những h ạn chế đó đã ảnh hưởng n h ấ t định đến hiệu quả áp dụng của hình
p h ạt trong thực tiễn Nhưng có một điểm cần phải nhâ'n m ạnh là việc quy định và
áp dụng các HPBS nói chung và tịch th u tài sản nói riêng trong giai đoạn này là những kinh nghiệm quý báu cho pháp điển hoá LHS năm 1985
4 BLHS đầu tiên của nước ta đã được kỳ họp th ứ IX Quốc hội khóa VII thông qua ngày 27/06/1985, có hiệu lực
từ ngày 01/01/1986 BLHS năm 1985 th ể hiện tập tru n g chính sách h ìn h sự của Đảng và N hà nước, quy định m ột cách thông n h ất, tổng th ể và ,có hệ thống trong cùng một văn bản những v ấn đề về tội phạm và hình phạt
Lần đầu tiên BLHS đã quy định một
hệ thống h ình p h ạt hoàn chỉnh, được cấu
th à n h bởi 2 phần: h ình p h ạ t chính và HPBS Trong đó việc quy định các HPBS trong BLHS này đã có sự k ế th ừ a và
p h á t triển LHS nước ta trưốc đây
Điều 26 P h ần chung quy định các HPBS gồm có: Cấm đảm nhiệm chức vụ,
Tạp ch í K hoa h ọc Đ H Q G H N , K inh t ế - Luật, T X Q 1 ' S ố 3, 2006
Trang 5M Trịnh Quốc Toản
làm những nghề hoặc làm công việc n h ất
định; cấm cư trú; quản chế; tước một sô"
quyền công dân; tưốc danh hiệu quân
nhân; tịch th u tà i sản; p h ạ t tiền khi
không áp dụng là hình p h ạt chính
Trên cơ sở Điều 26, n h à làm lu ậ t đã
quy định cụ th ể khái niệm, nội dung,
điều kiện và phạm vi áp dụng chung đối
với từng HPBS cụ th ể trong từng Điều
lu ật ở P hần chung BLHS Còn trong
Phần các tội phạm của BLHS, HPBS cụ
thể được quy định tại điều cuổì cùng của
mỗi chương để áp dụng cho mỗi tội phạm
cụ th ể quy định trong chương đó
Trong BLHS năm 1985, hình phạt
tịch th u tài sản chỉ được quy định với tư
cách là HPBS chứ nó không có tính chất
lưỡng tính như trưốc đây Điều 32 quy
định “Tịch thu tài sản là tước tài sản của
người bị kết án sung quỹ N h à nước Tịch
thu tài sản chỉ áp dụng đối với người bị
kết án về tội nghiêm trọng trong trường
hợp do Bộ luật này quy định.
Có thể tịch th u toàn bộ hoặc một
phần tài sản Khi tịch th u toàn bộ tài
sản vẫn để cho người bị k ết án và gia
đình họ có điều kiện sinh sống”
Trên cơ sở Điều 32 này nhà làm luật
đã quy định áp dụng b ắ t buộc hình phạt
tịch th u tài sản cho các tội đặc biệt nguy
hiểm xâm phạm an ninh Quốc gia (từ
Điều 72 đến Điều 86) hoặc buộc phải lựa
chọn áp dựng giữa p h ạ t tiền và tịch thu
tài sản đối với các tội phạm về ma tuý
(từ 185b đến Điều 185k) và các tội phạm
về chức vụ quy định tạ i các Điều từ Điều
226, đến Điều 228a) H ình p h ạ t này được
quy định áp dụng tuỳ nghi đối vói các tội
khác xâm phạm An ninh quốc gia (Điều
/ >'
88 và các Điều từ Điều 94 đến Điều 98); Các tội xâm phạm sở hữu XHCN (từ Điều 129 đến Điều 141, trừ Điều 136,
139 và 140); Các tội xâm phạm sở hữu của công dân (từ Điều 151 đến 158); Các tội phạm về kinh tế (từ Điều 164 đến 169; từ Điều 172 đến 174 và Điều 183); Các tội xâm phạm tr ậ t tự công công (từ Điều 199 dến Điều 202)
5 Yêu cầu đổi mới mọi m ặt đời sông
đ ất nưốc đ ặt ra nhiệm vụ xem xét để sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985 - Bộ lu ật của thòi kỳ tập tru n g quan liêu bao cấp- một cách cơ bản, toàn diện nhằm kịp thời thể chế hoá chính sách hình sự của Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới, bảo đảm hiệu quả cao của công tác phòng chống tội phạm , góp phần phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong điều kiện đổi mói và hội nhập Việc Quổc hội chính thức thông qua BLHS năm
1999 đã đáp ứng được yêu cầu nêu trên
BLHS mới ra đời là một kết quả của
sự k ế th ừ a của cả một hệ thống các nguyên tắc, các chế định đã qua thực tế
áp dụng kiểm nghiệm của BLHS nảm
1985, đồng thời có sự bổ sung, sửa đổi nâng cao và p h át triển
Liên quan tới hình p h ạt tịch th u tài sản trong BLHS năm 1399 có những nội dung mối quan trọng sau:
- Theo Điều 40 BLHS năm 1999 so vối Điều 32 BLHS năm 1985 thì kỹ th u ậ t lập pháp đã có sự hoàn thiện hơn, có sự sửa đổi câu chữ cho chính xác hơn trưốc, trán h sự không thông n h ất trong việc áp dụng của TAND các cấp Nghiên cứu cho thấy có sự mở rộng phạm vi áp dụng
T ạp chí K hoa họ c Đ H Q G H N , K inh t ế - Luật, TJ0QỈ, S ố 3 ,2 0 0 6
Trang 6Hình phạt tịch thu tài sản trong Luật hình sự Việt Nam 3 5
hình p h ạt này Nếu trưốc đây Điều 32
BLHS năm 1985 quy định tịch th u tài
sản chỉ áp dụng đôi với người bị kết án
về tội nghiêm trọng, tức là tội mà mức
hình p h ạt cao n h ấ t m à khung hình phạt
lu ậ t quy định là từ trên 5 năm tù, tù
chung thân hoặc tử hình, th ì nay theo
quy định tại Điều 40 BLHS 1999 thì nó
được áp dụng đốì với người bị kết án về
tội nghiêm trọng (tức là tội mà khung
h ìn h phạt lu ậ t quy định đối với tội ấy là
trê n 3 năm tù), tội r ấ t nghiêm trọng và
tội đặc biệt nghiêm trọng
- Trước đây, trong mỗi chương ở Phần
các tội phạm BLHS 1985, nhà làm lu ật
đã xây dựng riêng một Điều lu ật quy
định các HPBS áp dụng đối với tội phạm
được quy định trong chương đó Còn ở
BLHS năm 1999, HPBS nói chung và
tịch thu tài sản nói riêng được quy định
trực tiếp trong một khoản riêng của Điều
lu ậ t về tội phạm , chỉ riêng ở Chương XI
BLHS có Điều 92 quy định các HPBS áp
dụng chung cho các tội phạm ở chương này
- Phần các tội phạm BLHS có 263
Điều lu ật quy định về tội phạm thì lu ật
quy định cho phép Tòa án áp dụng hình
p h ạt tịch th u tà i sản đối với người bị kết
án về một trong những tội được quy định
ở trong 38 Điều lu ậ t về tội phạm cụ thể
- Trong khi BLHS năm 1985 quy
định tịch th u tài sản với tích cách bắt
buộc áp dụng đôi với nhiều tội phạm, thì
trá i lại trong BLHS năm 1999 chỉ có một
một trường hợp được lu ậ t quy định có
tín h chất b ắ t buộc, đó là tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tà i sản (Điều 140)
II Vai trò, nội dung và phạm vi
áp dụng hình phạt tịch thu tài sản theo BLHS năm 1999
Điều 40 BLHS năm 1999 quy định
"Tịch th u tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tà i sản thuộc quyền sở hữu của người bị k ết án sung công quỹ nhà nưóc Tịch th u tà i sản chỉ được áp dụng đối vối người bị k ết án về tội nghiêm trọng, tội
r ấ t nghiêm trọng, hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp Bộ luật này quy định"
Tịch th u tà i sản là biện pháp cưỡng chế rấ t nghiêm khắc về m ặt kinh tế So sánh với các hình p h ạt chính không tưốc quyền tự do và cả vói một sô" HPBS khác thì hình p h ạt tịch th u tài sản còn nghiêm khắc hơn rấ t nhiều
Tính nghiêm khắc của hình p h ạ t này
th ể hiện ở chỗ người bị kết án có thể bị tịch th u một phần hoặc toàn bộ tà i sản thuộc sỏ hữu của họ sung vào quỹ Nhà nước, nhằm mục đích triệ t để th u hồi các
tà i sản của người bị k ết án do th u lợi bất chính mà có, đồng thòi triệ t tiêu cơ sở kinh tế của họ nhằm ngăn ngừa họ có thể sử dụng các tà i sản đó vào hoạt động phạm tội, gây nguy hại cho xã liội, thông qua đó giáo dục người bị kết án ý thức tôn trọng pháp lu ật, không phạm tội mới
và răn đe những người không vững vàng trong xã hội, thực hiện phòng ngừa chung trong xã hội Như vậy, chức năng
cơ bản của loại hình p h ạt này là chức năng phòng ngừa tội phạm
Theo Điều 40 BLHS th ì nội dung của hình p h ạ t tịch th u tà i sản là việc Toà án quyết định trong bản án kết tội đôì với người bị kết án là 'tịch th u một phần
T ạ p c h í K hoa học Đ H Q G H N , K inh t ế - Luật, T.XXII, S ấ 3 ,2 0 0 6
Trang 73 6 Trịnh Quốc Toản
hoặc toàn bộ tà i sản của họ vỏi mục đích
nhằm triệ t tiêu cơ sở kinh tế liên quan
đến tội phạm và phòng ngừa việc sử
dụng cơ sở kinh tế đó để tiếp tục phạm
tội và đồng thời cũng tỏ th ái độ rấ t
nghiêm khắc của N hà nước đối vói ngưòi
phạm tội N hư vậy tịch th u tà i sản được
áp dụng chỉ khi TAND xét thấy nếu để
những người bị k ế t án về những tội
phạm trong trường hợp BLHS quy định
tiếp tục còn có cơ sỏ kinh tế cho việc thực
hiện tội phạm, th ì sẽ dẫn tới nguy cơ tái
phạm của họ sau khi chấp h àn h xong
hình p h ạt chính
Khi quyết định hình p h ạt TAND cần
phải căn cứ tính chất và mức độ nguy
hiểm của h ành vi phạm tội, n hân th ân
ngưòi phạm tội và căn cứ vào tình hình
tài sản của ngưòi bị k ết án, những khoản
th u lợi b ất chính có liên quan đến tội
phạm mà người đó thực hiện, để quyết
định tưốc một phần hoặc toàn bộ tài sản
Tài sản ở đây không phải là những vật,
tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội
phạm, vì đó là những tan g v ật của vụ án
đương nhiên bị tịch th u và bị xử lý theo
những quy định của BLTTHS năm 2003,
mà được hiểu là tà i sản thuộc sở hữu của
người bị kết án, nó bao gồm vật có thực,
tiền, giấy tò trị giá được bằng tiền và các
quyền về tài sản (Điều 172 BLDS), cụ
thể là những tà i sản mà người đó đang
sử dụng, quyền sử dụng đất, n h à ỏ, trụ
sở của họ, tài sản cho vay, cho mượn, cho
thuê, gửi sửa chữa, tà i sản đang cầm co',
th ế chấp, tiền trong tài khoản ngân
hàng, tổ chức tín dụng hoặc kho bạc Nhà
nưỏc, tiền được bồi thường th iệt hại về
tài sản, trá i phiếu, tín phiếu, các khoản
tiền, giấy tờ có giá của người bị kết án
đang do người th ứ ba giữ, tài sản thực châ't là của người bị kết án nhưng lại đứng tên người khác có ý định tẩu tán Đối vói các tà i sản mà người bị k ết án
sở hữu với tư cách là người sở hữu chung theo phần, sỏ hữu chung hợp n h ấ t như: tài sản chung vợ chồng của người bị kết
án, tài sản mà người bị kết án góp vốn chung với ngưòi khác th ì tuyên bô" tịch
th u phần tà i sản của người bị k ết án, đồng thòi phải xác định rõ phần tà i sản thuộc sở hữu của người đó trong các khối tài sản chung là bao nhiêu, bao gồm những tà i sản gì và chỉ được tịch thu những tà i sản đó Trong trường hợp các khổì tài sản mà ngưòi bị kết án đứng tên
sở hữu chung không thể phân chia được thì Toà án và cơ quan thi hành án định giá tài sản chung đó và chỉ tịch th u phần giá trị tà i sản mà người bị kết án được hưởng trong khôi tài sản chung Khi tuyên bô" tịch th u một phần tài sản, Toà
án cần phải tuyên rõ tên tài sản bị tịch thu, nếu tài sản quá nhiều thì phải có danh mục các loại tài sản kèm theo bản
án và công bô' công khai tạ i phiên toà Để đảm bảo cho việc th i hành án có thể áp dụng biện pháp kê biên tài sản theo trình tự, th ủ tục quy định trong Pháp lệnh th i h àn h án dân sự năm 2004
Theo quy định tại đoạn 2 Điều 40 BLHS năm 1999 thì "khi tịch th u toàn
bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sông" Đây
là quy định th ể hiện rõ nét tính nhân đạo cao cả của LHS Việt Nam Trước đây TANDTC có hướng dẫn “Khi quyết định tịch th u tà i sản không nên đụng tới những tư liệu sản xuất cần th iết cho lao
Tạp chí K hoa h ọc Đ H Q G H N , K inh t ế - Luật, T.XXỈI, S ố 3, 2006
Trang 8Hình phạt tịch thu tài sản trong Luật hình sự Việt Nam 3 7
động chính đáng và những tư liệu sinh
hoạt cần th iế t tối thiểu về đời sống của
gia đình bị cáo, trá n h gây những khó
k hăn cho họ” [1; tr.74] Đến nay, mặc dù
chưa có văn bản chính thức nào của Nhà
nước trong lĩnh vực h ình sự quy định cụ
th ể về danh mục các tà i sản th iết yếu mà
người bị kết án có th ể giữ lại để đảm bảo
nhu cầu sinh sốn& tối thiểu của họ và gia
đình, nhưng căn cứ Điều 30 Pháp lệnh
th i h àn h án hiện h àn h và thực tiễn xét
xử của TÀND thì những tà i sản "để cho
người bị kết án và gia đình họ có điều
kiện sinh sông” là:
Lương thực, thực phẩm , thuốc men
cần th iế t cho người bị k ết án và gia đình;
Công cụ lao động thông thường cần
th iế t cho nghề nghiệp hoặc công việc
n h ấ t định của ngưòi bị k ết án và gia
đình họ sinh sống;
Đồ dùng sinh hoạt thông thường cần
th iết người bị k ết án và gia đình như
quần áo, chăn m àn, giường chiếu và
những đồ dùng sinh hoạt thông thường
khác;
Các đồ dùng để thờ cúng thông thường
Khi để lại một trong sô" các tài sản
trên cho người bị k ế t án và gia đình họ
sinh sống, Toà án cần tuyên cụ thể đó là
tà i sản gì, giá trị bao nhiêu, trán h các
trường hợc sai lầm khi th i h àn h án
Đoạn 1 Điều 40 BLHS năm 1999 quy
định: "Tịch th u tà i sản chỉ được áp dụng
đốì với người bị k ế t án về tội phạm
nghiêm trọng, tội r ấ t nghiêm trọng, hoặc
tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường
hợp Bộ lu ậ t này quy định"
Từ quy định trê n cho thấy:
1) Tịch th u tài sản có th ể được áp dụng kèm theo các hình p h ạt chính không tưỏc quyền tự do hoặc tưóc quyền
tự do, trừ hình p h ạt cảnh cáo, vì theo Điều 29 loại hình p h ạt này chỉ được áp dụng đối vói người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt 2) Tịch th u tà i sản chỉ được áp dụng đôl vói ngưòi bị kết án về tội phạm mà BLHS có quy định hình p h ạt này
Nghiên cứu P h ần các tội phạm BLHS năm 1999 cho th ấy có 38 Điều lu ậ t về tội phạm tương ứng với 111 khung chế tài quy định áp dụng HPBS này Cụ thể gồm: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (từ Điều 78 đến Điều 91); Các tội xâm phạm sở hữu tà i sản (các điều 133, 134,
135, 139, 140); Các tội phạm xâm phạm
tr ậ t tự quản lý kinh tế (các điều 153,
156, 157, 158, 165, 180, 181); Các tội phạm về ma túy (từ Điều 193 đến Điều 198); Các tội xâm phạm tr ậ t tư công cộng (các Điều 249, 250, 254); các tội phạm tham nhũng (các Điều 278 và 279)
Trong các điều lu ậ t về tội phạm có quy định hình p h ạt tịch th u tài sản, BLHS thường quy định nó cùng với những HPBS khác để TAND lựa chọn,
n h ấ t là vói p h ạt tiền Nghiên cứu cu thể cho thấy, ngoại trừ các tội xâm phạm an ninh Quốc gia (Điều 92) và tội cô' ý làm trá i quy định của N hà nước về quản lý kinh tế gây h ậu quả nghiêm trọng (Điều 165), còn vói các điều lu ậ t về tội phạm khác có quy định hình p h ạt tịch th u tài sản BLHS đều có quy định nó cùng vối
p h ạt tiền để TAND th u ận tiện trong cá
T ạp c h i K hoa h ọc Đ tìQ G H N , K inh t ế - Luật, T X Q l, S ố 3, 2006
Trang 938 Trịnh Quốc Toàn
thể hoá TNHS trong những trường hợp
phạm tội cụ thể
Như vậy, về lý thuyết, khi tuyên hình
phạt tịch th u tà i sản đôì vối người bị kết
án thì không có nghĩa là Toà án không
được phép áp dụng hình p h ạ t tiền là
HPBS đối vối họ nữa Tuy nliiên, thực
tiễn xét xử cho thấy, các Toà án thường
chỉ lựa chọn một trong h ai loại hình phạt
ấy để áp dụng đối với người phạm tội
Nếu áp dụng hình p h ạ t tiền mà mức tiền
phạt theo quy định của Bộ lu ậ t hình sự
chưa có tác dụng tước đoạt những khoản
th u nhập b ất chính của người bị kết án
thì Toà án áp dụng hình p h ạ t tịch th u
tài sản, nếu Điều lu ậ t quy định cả hai
loậi hình p h ạt này [3; tr.74]
Nghiên cứu so sánh hình p h ạt này
với LHS một sô' nưóc trên th ế giới cho
thấy mỗi nước có những quy định khác
nhau liên quan tói hình p h ạ t này
Tịch th u tà i sản có thể là tịch thu
toàn sản hoặc tịch th u đặc định Tịch thu
toàn sản là việc Toà án quyết định tưốc
toàn bộ gia sản của người bị k ết án sung
vào kho bạc của N hà nưốc Trước đây,
tịch thu toàn bộ tà i sản được quy định có
tính chất phổ biến trong LHS của các
nước trên th ế giới, ngày nay hình thức
tịch thu này chỉ được th iế t lập trong
LHS một sô" nước Trong BLHS của
Pháp, hình thức tịch th u toàn bộ tài sản
được quy định chỉ đối với các trường hợp
phạm tội buôn bán ma tuý rấ t nghiêm
trọng (khoản 2 Điều 222-49 BLHS) và
phạm tội chông loài người (Điều 213-1
BLHS)
ở Cộng hoà liên bang Đức, hình phạt
tài sản (Vermoegensstrafe) được th iết
lập theo một đạo lu ậ t năm 1991 và được đưa vào Điều 43a BLHS, nó là hình thức đặc biệt của hình p h ạt tiền có tính chất giông như hình p h ạ t tịch th u tài sản trong BLHS Việt Nam H ình p h ạt này được tín h bằng toàn bộ tà i sản của người phạm tội và chỉ được áp dụng đối vối một sô" loại tội để bổ sung cho h ìn h p h ạt tù trên 2 năm như các tội được thực hiện qua các băng, nhóm phạm tội có tổ chức như buôn bán ma tuý, làm tiền giả, tội rửa tiền, buôn người Việc chấp h àn h hình p h ạt này được quy định như hình phạt tiền Nếu hình p h ạt tà i sản không
th i h àn h được thì chuyển sang hình p h ạt
tù mà mức thấp n h ấ t là 1 th á n g tôi đa là
2 năm T h ế nhưng ngày 20/3/2002 hình
p h ạt tịch th u tà i sản theo Điều 43a BLHS đã bị Toà án H iến pháp Dức tuyên
là không hợp hiến vì vi phạm Điều 103 Hiến pháp 1949 [6, tr.150-151; Xem AZ.2 BvR 794, BGBL I S1340]
Riêng đối với các nước XHCN trước đây và hiện nay là các nước đang chuyển đổi, LHS đều có quy định hình phạt tịch
th u tài sản (tịch th u một p h ần hoặc toàn
bộ tà i sản) tương tự như LHS Việt Nam hiện nay
Khoản 3 Điều 45 BLHS năm 1996 của Nga quy định tịch th u tài sản là HPBS Điều 51 định nghĩa ‘T ịch th u tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản của người bị k ết án sung quỹ Nhà nước” H ình p h ạt này được áp dụng đôi vối tội r ấ t nghiêm trọng (tức là các tội phạm mà BLHS quy định h ìn h p h ạt cao
n h ấ t đối vói chúng là từ 5 năm tù đến không quá 10 năm tù) và tội đặc biệt nghiêm trọng (tức là các tội phạm mà
T ạp ch í K hoa h ọ c Đ H Q G H N , K inh t ế - L u ậ t , T.XXI1, S ố 3 ,2 0 0 6
Trang 10Hình phạt tịch thu tài sản ưong Luật hlnh sự Việt Nam 3 9
BLHS quy định h ình p h ạt cao n h ấ t đối
với chúng là từ trên 10 năm tù, tù chung
th ân hoặc tử hình) có động cơ vụ lợi và
chỉ trong trường hợp do BLHS quy định
Toà án không tịch th u những tài sản
thiết yếu của người bị kết án hoặc những
người sông nhò vào người bị k ết án, theo
danh mục do Bộ lu ậ t th i hành án của
Liên bang Nga Tuỳ thuộc vào các quy
định trong các điều lu ậ t về tội phạm,
hình p h ạt này được áp dụng có tính chất
bắt buộc, ví dụ như tội cưóp biển người
phạm tội bị p h ạt tù từ 8 năm đến 20
năm kèm theo tịch th u tà i sản (Điều
224) hoặc tuỳ nghi áp dụng ví dụ như
người nào phạm tội hoạt động phỉ theo
khoản 2 Điều 206, th ì bị p h ạt tù từ 8
năm đến 15 năm kèm theo tịch th u tài
sản hoặc không kèm theo hình phạt
này.[2; tr.54]
Còn trong BLHS năm 1997 của
Trung Quốc, tịch th u tài sản cũng được
quy định là HPBS Điều 59 BLHS định
nghĩa “Tịch th u tà i sản là tưóc một phần
hoặc toàn bộ tà i sản thuộc sở hữu riêng
của người bị k ết á n chuyển vào sở hữu
Nhà nước” Tịch th u một phần hoặc toàn
bộ tài sản là do Toà án quyết định trên
cơ sở cân nhắc toàn bộ các tìn h tiết của
hành vi phạm tội và n h ân th â n người
phạm tội Tài sản bị tịch th u là tài sản
riêng của người bị kết án và là tài sản
hợp pháp và không dùng vào việc phạm
tội Hình p h ạt này được áp dụng đối vói
các tội phạm nghiêm trọng như các tội
xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm
phạm tr ậ t tự kinh tế th ị trường, các tội
xâm phạm tà i sản, các tội xâm phạm
trậ t tự quản lý xã hội và tội th am ô Tịch
th u tài sản được áp dụng có thể là tuỳ nghi hoặc b ắ t buộc hoặc có thể được lựa chọn cùng vói h ình p h ạt tiền tuỳ thuộc vào quy định của Điều lu ậ t về tội phạm
Ví dụ đối với người phạm một trong những tội xâm phạm an ninh Quốc gia quy định tạ i chương I BLHS th ì ngoài hình p h ạt chính ra Toà án có thể áp dụng cả hình p h ạt tịch th u tà i sản đối vối họ (Điều 113 BLHS) Người phạm tội buôn lậu m à có tìn h tiế t đặc biệt nghiêm trọng th ì bị p h ạt tù chung th ân hoặc tử hình và ngoài ra còn bị tịch th u tài sản (Điều 151) Trong khi th i h ành hình phạt tịch th u tà i sản, Toà án được quyền lấy
tà i sản bị tịch th u để th an h toán các khoản vay hợp pháp mà người bị kết án vay, nợ trước khi bị tịch th u tà i sản theo yêu cầu của các chủ nợ (Điều 60 BLHS)[6; tr.3]
Kết qủa nghiên cứu nhìn chung cho thấy, ở r ấ t nhiều nước, trưốc đây trong LHS có quy định h ình p h ạ t tịch th u toàn sản, nhưng hiện nay theo LHS của các nước này, tịch th u tà i sản (tuỳ LHS của mỗi nước quy định mà tên gọi của nó khác nhau: hoặc là với tín h chất một hình p h ạt lưõng tính, hình p h ạt bổ sung, hình p h ạ t thay th ế hoặc là biện pháp đặc biệt, hoặc là h ậu quả phụ ) chỉ với tính chất đặc định (confiscation spéciale) Cụ thể như Điều 9 BLHS của N hật Bản quy định tịch th u tà i sản là HPBS duy nhất Nội dung của h ình p h ạ t này là: tịch thu những v ậ t là bộ phận cấu th àn h của hành vi phạm tội; đồ v ật được sử dụng hoặc định sử dụng để thực hiện tội phạm; v ậ t được làm ra hoặc kiếm được bằng cách phạm tội hoặc v ật kiếm được
là phần thưởng cho h àn h vi phạm tội;
Tạp ch í K hoa học Đ H Q G H N , K inh t ế - L uật, T.XXII, S ố 3 ,2 0 0 6