1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ hương diên uẩn đến thị xã từ sơn biến đổi kinh tế, xã hội và văn hoá trên quê hương nhà lý

251 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 251
Dung lượng 11,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau này, tên gọi và diên cách có nhiều thay đổi, song hoàn toàn có thể xác định được vùng lõi của quê hương nhà Lý vẫn là hương Diên Uẩn thế kỷ VIII, tương đương với tổng Phù Lưu thế kỷ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

Nguyễn Thị Huệ

TỪ HƯƠNG DIÊN UẨN ĐẾN THỊ XÃ TỪ SƠN: BIẾN ĐỔI KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA

TRÊN QUÊ HƯƠNG NHÀ LÝ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VIỆT NAM HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

Nguyễn Thị Huệ

TỪ HƯƠNG DIÊN UẨN ĐẾN THỊ XÃ TỪ SƠN: BIẾN ĐỔI KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA

TRÊN QUÊ HƯƠNG NHÀ LÝ

Chuyên ngành: Việt Nam học

Mã số: 62 22 01 13

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VIỆT NAM HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được thu thập từ các nguồn khác nhau, có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện bất cứ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Nguyễn Thị Huệ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Ban Lãnh đạo Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Phòng Khoa học công nghệ và đào tạo, Phòng Nghiên cứu Khu vực học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc đã định hướng nghiên cứu và tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Các đồng nghiệp tại cơ quan công tác là Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tư liệu, khảo sát thực địa

UBND các xã, phường thuộc Thị xã Từ Sơn; cán bộ phòng, ban đang làm việc tại UBND thị xã Từ Sơn, đã nhiệt tình hợp tác và cung cấp tài liệu địa phương cho tôi trong quá trình điền dã và khảo sát thực địa

Tác giả

Nguyễn Thị Huệ

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, LỊCH SỬ

VẤN ĐỀ, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

13

1.1.1 Xác định vùng quê hương nhà Lý 13 1.1.1.1 Nhận diện hương Diên Uẩn (hương Cổ Pháp) từ nguồn sử liệu 13 1.1.1.2 Nhận diện quê hương nhà Lý qua dấu tích sông Tiêu Tương cổ 15

1.1.2 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 23

1.3.1 Các nghiên cứu giai đoạn trước Đổi mới (1986) 34

1.3.2 Các nghiên cứu từ năm 1986 đến nay 36 1.3.2.1 Các nghiên cứu trực tiếp về vấn đề quê hương nhà Lý 36

Trang 6

1.3.2.2 Các nghiên cứu về làng xã vùng quê hương nhà Lý 39

1.4.2 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 48

2.1 Kinh tế vùng quê hương nhà Lý trước năm 1954 54

2.1.2.1 Vai trò của vương triều Lý trong phát triển thủ công nghiệp 69

2.2 Kinh tế vùng quê hương nhà Lý giai đoạn 1954 - 2016 87

2.2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong giai đoạn đô thị hoá 92

Trang 7

Chương 3 XÃ HỘI VÙNG QUÊ HƯƠNG NHÀ LÝ 105

3.1 Xã hội nông thôn vùng quê hương nhà Lý trước năm 1954 105

3.1.3.2 Kết cấu theo quan hệ xã hội (dân chính cư và dân ngụ cư) 120

3.2.2 Sự biến đổi của các thiết chế tự trị 130

4.1 Di sản văn hoá vùng quê hương nhà Lý trước năm 1954

Trang 8

4.1.2.1 Nho giáo và truyền thống khoa cử trên quê hương nhà Lý 157

4.2.2.2 Phát huy truyền thống hiếu học trên quê hương nhà Lý 181

Trang 9

(m.s.th.t.p.l) Mẫu sào thước tấc phân li

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.7: Số lượng HTX được thành lập ở Đình Bảng, Tân Hồng và thị

trấn Từ Sơn giai đoạn 1954 - 1974

88

Bảng 2.9: Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện Từ Sơn phân theo

loại hình kinh tế giai đoạn 2009 - 2013 (giá cố định năm 2010)

thế kỷ XX

112

Bảng 3.6: Dân số thị xã Từ Sơn phân theo khu vực giai đoạn 2011 - 2015 134

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Phân bố diện tích công tư điền của tổng Phù Lưu đầu thế

Hình 2.1: Bản đồ KCN và CCN trên địa bàn thị xã Từ Sơn năm 2016 100

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, vương triều Lý luôn có một vị trí đặc biệt quan trọng Vấn đề này được các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm nhưng cho đến nay, vẫn tồn tại một số quan niệm chưa thật chính xác về quê hương nhà Lý Việc xác định và làm rõ vùng quê hương nhà Lý là một việc làm cần thiết, không chỉ để hiểu đúng một triều đại rạng rỡ văn trị, võ công trong lịch sử dân tộc mà còn vì sự phát triển bền vững của quê hương xứ Bắc

Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu cũng như dân địa phương đều mặc nhiên cho rằng làng Đình Bảng (nay là phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) là quê cha của Lý Công Uẩn Sang đầu những năm 90 của thế kỷ XX, vấn đề này được

nhìn nhận lại, đánh dấu bằng Hội thảo Khoa học Làng Dương Lôi và vấn đề quê

hương nhà Lý [51] Hội thảo tập hợp nhiều bài viết thuộc nhiều chuyên ngành, đã

mang đến một nhìn nhận khách quan hơn về vấn đề này Từ đây, hướng nghiên cứu mới về quê hương nhà Lý được mở ra; việc xác định quê cha, quê mẹ của Lý Công Uẩn được nhìn nhận cụ thể và chuẩn xác hơn Tuy nhiên, mục đích của luận án không phải tập trung chứng minh một làng quê cụ thể (quê nội hay quê ngoại) nơi sinh ra Lý Công Uẩn mà mong muốn mang đến một nhận thức đúng về vùng quê hương nhà Lý từ nhân lõi là hương Diên Uẩn (thế kỷ thứ VIII); và sự biến đổi của vùng đất này trong tiến trình lịch sử

Căn cứ vào các nguồn tư liệu có thể xác định vùng quê hương nhà Lý là hương Diên Uẩn Sau này, tên gọi và diên cách có nhiều thay đổi, song hoàn toàn có thể xác định được vùng lõi của quê hương nhà Lý vẫn là hương Diên Uẩn (thế kỷ VIII), tương đương với tổng Phù Lưu thế kỷ XIX và một số phường phố trung tâm (phường Đình Bảng, phường Đông Ngàn, phường Tân Hồng) của thị xã Từ Sơn ngày nay Đây là mảnh đất có vị thế địa - văn hoá, địa - chính trị, địa - kinh tế vô cùng quan trọng để kết nối các trung tâm lớn của đồng bằng Bắc Bộ từ thời đầu dựng nước, qua thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ quân chủ độc lập, thời kỳ Pháp thuộc và đến tận ngày nay

Trang 13

Trải qua thời gian, tên hương Diên Uẩn được thay thế bằng nhiều địa danh mới, song nó vẫn tồn tại như là một dấu mốc cho biết về thời gian cũng như không gian của vùng quê sinh ra vị vua đầu triều Lý Tuy nhiên, từ trước đến nay khi nghiên cứu về vấn đề nhà Lý hay quê hương nhà Lý nhiều người chỉ nghiên cứu ở chiều cạnh một sự kiện hay một vấn đề lịch sử nào đó; hoặc gần đây có các nghiên cứu về thực trạng hay biến đổi kinh tế xã hội nhưng là các nghiên cứu đơn lẻ, bộ phận mang tính biệt lập về một làng xã Việc tiến hành nghiên cứu toàn bộ vùng quê hương nhà Lý từ hương Diên Uẩn đến thị xã Từ Sơn được tổ hợp trong một không gian lịch sử văn hoá xã hội tổng thể là một vấn đề trước nay ít được nghiên cứu Do vậy, áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành và tiếp cận khu vực học

để làm nổi bật các đặc trưng về phát triển kinh tế, xã hội văn hoá trên quê hương nhà Lý ở cả mặt lịch đại và đồng đại là một việc làm cần thiết

Hơn nữa, vùng quê hương nhà Lý đang trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá một cách mạnh mẽ, sự phát triển nhanh của khu vực này đã, đang và sẽ kéo theo nhiều tác động không tích cực tới văn hoá, xã hội Việc nghiên cứu vùng quê hương nhà Lý là vô cùng cần thiết để có được những đóng góp kịp thời cho thị xã

Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trong việc quy hoạch đô thị giai đoạn hiện nay và trong tương lai; giúp cho đô thị Từ Sơn có thể phát triển hiện đại, văn minh nhưng vẫn gìn giữ được các giá trị văn hoá truyền thống

Với những lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Từ hương Diên Uẩn đến thị

xã Từ Sơn: Biến đổi kinh tế, xã hội và văn hoá trên quê hương nhà Lý” để thực hiện

luận án Tiến sĩ của mình

Trang 14

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu luận án tiếp cận vấn đề vùng quê hương nhà Lý từ các chiều cạnh khác nhau nhằm làm nổi bật được đặc trưng của không gian này

- Từ chiều cạnh lịch sử: Luận án phân tích các yếu tố kiến tạo nên vùng quê hương nhà Lý theo chiều lịch đại để thấy được sự biến Lđổi qua các giai đoạn Qua tiếp cận lịch

sử có thể có được những đánh giá khách quan về vị trí vương triều Lý, những dấu ấn của vương triều Lý trong sự phát triển của vùng

- Chiều cạnh kinh tế, xã hội: Kế thừa được những giá trị lịch sử nội tại, luận án phác hoạ nền kinh tế, xã hội vùng quê hương nhà Lý với những đặc trưng mang tính trội

và đặc điểm phát triển luôn đi theo những logic nội tại của riêng mảnh đất sinh vương

- Chiều cạnh văn hoá: Luận án phân tích và làm nổi bật những yếu tố văn hoá mang tính xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại Đồng thời cho thấy dấu ấn của văn hoá

Lý, sự tồn tại của vương triều Lý trong tiến trình lịch sử

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc trưng kinh tế, xã hội và văn hoá của vùng quê hương nhà Lý

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: phạm vi nghiên cứu của đề tài là vùng quê hương nhà Lý Vậy,

“vùng quê hương nhà Lý” được quan niệm như thế nào?

Theo tác giả luận án “vùng quê hương nhà Lý” ở đây mang tính tượng trưng nhiều hơn và được xác định một cách tương đối Chữ “vùng” ở đây giúp hiểu rõ hơn rằng “quê hương nhà Lý” không chỉ là một làng cụ thể mà là một số làng nằm trong vùng lõi - nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng Lý Công Uẩn, là vùng quê còn in đậm những dấu ấn về vương triều Lý từ thuở khai sinh cho đến nay Theo sử liệu, bằng các nguồn thư tịch và phương pháp tiếp cận liên ngành có thể xác định được vị trí của vùng quê hương nhà Lý một cách tương đối Theo đó, “vùng quê hương nhà Lý” được xác định trong luận án trước hết phải xuất phát từ “hương Diên Uẩn” (thế kỷ VIII); đến thế

kỷ XIX là tổng Phù Lưu và hiện nay là một số phường, phố trung tâm (phường Đình Bảng, phường Tân Hồng, phường Đông Ngàn) của thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh

Trang 15

Về thời gian: từ truyền thống (trước 1954) đến hiện đại (1954 đến 2016) Sở dĩ

tác giả chọn mốc thời gian trước năm 1954 và xem đó là truyền thống bởi trong giai đoạn từ 1945 - 1954, vùng quê hương nhà Lý nằm trong vùng tạm chiếm, mọi hoạt động kinh tế, chính trị xã hội và văn hoá cơ bản không có nhiều thay đổi so với giai đoạn trước Phải đến năm 1954, khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, vùng này mới

có những biến chuyển rõ rệt, đánh dấu những thay đổi trên vùng quê hương nhà Lý

trên mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế cho tới văn hoá, xã hội

5 Những đóng góp mới của luận án

Về mặt khoa học

- Từ chiều cạnh địa - lịch sử và địa - văn hoá, luận án đã nhận diện được một cách rõ ràng về vùng quê hương nhà Lý từ khi là hương Diên Uẩn (thế kỷ VIII) đến khi là vùng trung tâm của thị xã Từ Sơn (thế kỷ XXI)

- Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành và khu vực học, luận án đã tìm lại dấu vết của dòng Tiêu Tương cổ; từ đó đánh giá đúng vai trò và vị trí của dòng sông này đối với sự phát triển kinh tế, chính trị cũng như văn hoá của vùng

- Luận án đã phác hoạ và làm nổi bật đặc trưng riêng biệt của vùng quê hương nhà Lý trong suốt tiến trình lịch sử trên các chiều cạnh kinh tế, xã hội và văn hoá Tuy sự phát triển này trải qua nhiều thăng trầm song đặc trưng và dấu ấn của vương triều Lý trên mỗi lĩnh vực và qua mỗi giai đoạn đều khẳng định về logic nội tại của mảnh đất phát tích một vương triều lớn trong lịch sử

Về mặt thực tiễn

Các kết quả của luận án có thể được sử dụng trong việc nghiên cứu, tìm hiểu

về văn hoá làng xã khu vực thị xã Từ Sơn và tỉnh Bắc Ninh

Từ kết quả nghiên cứu, luận án sẽ góp thêm luận cứ khoa học cho việc đề ra các chính sách, giải pháp đối với phát triển quy hoạch đô thị của thị xã Từ Sơn trong giai đoạn hiện nay Định hướng trong việc bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trong quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ

Trang 16

6 Bố cục luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án

được trình bày trong 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu, lịch sử vấn đề, cơ sở lý thuyết

và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Kinh tế vùng quê hương nhà Lý

Chương 3: Xã hội vùng quê hương nhà Lý

Chương 4: Văn hóa vùng quê hương nhà Lý

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, LỊCH SỬ

VẤN ĐỀ, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Về địa bàn nghiên cứu

1.1.1 Xác định vùng quê hương nhà Lý

1.1.1.1 Nhận diện hương Diên Uẩn (hương Cổ Pháp) từ nguồn sử liệu

Cho đến nay quê hương nhà Lý vẫn luôn là một vấn đề được nhiều học giả quan tâm bởi những thông tin vừa mang tính lịch sử vừa có yếu tố huyền thoại Vấn

đề xác định một làng quê cụ thể nơi Lý Công Uẩn sinh ra đã được nhiều người nghiên cứu dù đến nay vẫn còn nhiều quan điểm chưa thật chính xác

Về quê hương nhà Lý, trong chính sử đều chép một cách hết sức rõ ràng Lý

Công Uẩn, người hương Diên Uẩn Theo Việt sử lược Lý Công Uẩn là "Người Cổ

Pháp, Bắc Giang, mẹ họ Phạm, ngày 17 tháng 2 năm Thái Bình thứ 5 (974) sinh ra vua", "lúc còn nhỏ du học ở chùa Lục Tổ"1 [130, tr 71] Tiếp đến, Đại Việt sử ký

toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, Lịch triều hiến chương loại chí… cho biết thông

tin cụ thể hơn về việc Lý Công Uẩn là người hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp:

“Tháng ấy ngày Quý Sửu, Lý Công Uẩn tự lập làm vua Trước đấy ở hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp có cây gạo bị sét đánh, người hương ấy xem kỹ dấu sét đánh thấy có chữ”2 [21, tr 237] là một bài thơ nói về việc họ Lê suy, nhà Lý nổi lên Sau

đó lại chép vua “họ Lý, tên huý là Công Uẩn, người châu Cổ Pháp, Bắc Giang" [21,

tr 240]

Theo Thiền uyển tập anh, hương Cổ Pháp “trước tên là hương Diên Uẩn”

[100, tr 160] Khoảng niên hiệu Trinh Nguyên nhà Đường (785 - 805), Thiền sư Định Không người hương Diên Uẩn cho xây chùa Quỳnh Lâm, khi làm móng chùa,

1 Chùa Lục Tổ, ở hương Dịch Bảng, nay thuộc xã Tương Giang, thị xã Từ Sơn Theo Thiên uyển tập anh

“Năm 21 tuổi (Vạn Hạnh) xuất gia, cùng Định Huệ theo hầu học đạo với Thiền Ông đạo giả ở chùa Lục Tổ”[100, tr 173] Đến ngày 15 tháng 5 năm Thuận Thiên thứ 9 (1018), Thiên sư Vạn Hạnh qua đời ở chùa Lục Tổ Theo khảo cứu của tác giả luận án hiện nay chỉ có duy nhất chùa Lục Tổ ở xã Tương Giang, thị xã

Từ Sơn

2 Chữ đó là bài thơ/ sấm ký tiên đoán về việc nhà Lê suy, nhà Lý nổi: “Thụ căn diểu diểu; Mộc biểu thanh thanh; Hoà đao mộc lạc; Thập bát tử thành; Đông a nhập địa; Mộc dị tái sinh; Chấn cung kiến nhật; Đoài

Trang 18

đào được một bình hương và mười chiếc khánh đồng Ông sai người đem ra sông rửa, có một chiếc khánh rơi xuống sông hồi lâu mới chạm đất, Thiền sư Định Không giải thích rằng: "Thập khẩu" là chữ "Cổ" ( ); "Thuỷ khứ" (xuống sông) là chữ "Pháp" ( ) Còn "thổ" là chữ đất tức chỉ hương ta Nhân đó đổi là hương Cổ Pháp” ( )[100, tr 160] Theo tư liệu cho thấy, tên hương Diên Uẩn có thể đã xuất hiện trước thời điểm 785-805, còn hương Cổ Pháp xuất hiện vào thời điểm 785-805

Như vậy, theo sử liệu hương Diên Uẩn/Cổ Pháp được khẳng định là quê hương của Lý Công Uẩn Tuy nhiên, cũng có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này: quê hương nhà Lý là một làng cụ thể (Dương Lôi hay Đình Bảng hay Mai Lâm) hoặc là vùng Kinh Bắc - Bắc Ninh Dù đó là quan điểm nào thì vùng quê hương nhà Lý phải bắt nguồn từ nhân lõi của nó là hương Diên Uẩn Bởi vậy, việc xác định sự thay đổi tên gọi và không gian vùng quê hương nhà Lý cơ bản cần dựa trên địa giới gốc của hương Diên Uẩn thế kỷ VIII Vậy, hương Diên Uẩn khi đó tương đương với khu vực nào trong giai đoạn hiện nay?

Theo quy định của nhà Đường, “huyện gồm có hương nhỏ, hương lớn và xã nhỏ, xã lớn Xã nhỏ có từ 10 đến 30 hộ và xã lớn từ 40 đến 60 hộ; mỗi hương nhỏ

có từ 70 đến 150 hộ và hương lớn từ 160 đến 540 hộ” [112, tr 164-165] Qua đây

có thể thấy, hương khi đó không phải đồng nhất với xã/làng mà có quy mô lớn nhỏ khác nhau được tính dựa trên số hộ dân Nếu tính theo hộ dân thì một hương nhỏ cũng phải bằng khoảng 2 đến 3 xã lớn và một hương lớn cũng phải bằng 6 đến 7 xã lớn Theo đó, vùng quê hương nhà Lý có thể tương đương với cấp tổng ở thế kỉ XIX

và gần bằng cấp huyện/thị xã sau này Do vậy, để xác định vùng quê hương nhà Lý trong tiến trình lịch sử, nghiên cứu dựa trên vùng lõi là hương Diên Uẩn

Trong khoảng thế kỷ VIII, đơn vị hương không đồng nhất với làng, theo đó rất khó để xác định chính xác một làng quê cụ thể trong hương Diên Uẩn - nơi vua sinh Nên, vùng quê hương nhà Lý là hương Diên Uẩn thế kỷ thứ VIII, tương đương với tổng Phù Lưu thế kỷ XIX và 3 phường trung tâm của thị xã Từ Sơn ngày nay (phường Đông Ngàn, phường Đình Bảng, phường Tân Hồng)

Trang 19

1.1.1.2 Nhận diện quê hương nhà Lý qua dấu tích sông Tiêu Tương cổ

Dấu vết sông Tiêu Tương cổ thể hiện qua tư liệu thư tịch cho phép nhận định

rõ hơn về diên cách của vùng quê hương nhà Lý Bởi Tiêu Tương là một dòng sông

có vị trí quan trọng đối với vương triều Lý cũng như vùng quê hương nhà Lý Trần Quốc Vượng từng nhận xét con người và nhân cách Lý Công Uẩn được hun đúc bởi

“khí thiêng của non Tiêu Sơn, nước Tiêu Tương” [134, tr 79] Tên hương Diên Uẩn cũng phần nào thể hiện các làng xã này nằm uốn khúc bên bờ Tiêu Tương Qua hệ thống di chỉ khảo cổ học phân bố dọc đôi bờ Tiêu Tương có niên đại cách ngày nay khoảng 3.400 năm [132, tr 17] cho thấy, ngay từ sớm sông Tiêu Tương đã có vị thế rất quan trọng đối với Bắc Ninh nói chung và vùng trung tâm quê hương nhà Lý nói riêng Tuy nhiên, việc xác định lại dấu vết của dòng Tiêu Tương cổ là một việc làm không dễ dàng, đòi hỏi phải vận dụng kiến thức của nhiều chuyên ngành Do vậy, luận án đã áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành với sự hợp tác khoa học của chuyên gia trong một số lĩnh vực như: sử học, địa lý học, khảo cổ học và phương pháp khảo sát thực địa để có thể có được nhận thức tổng hợp, toàn diện và sâu sắc

về dấu vết dòng sông cổ Tiêu Tương

Dựa trên nguồn tư liệu thư tịch còn lại đến nay như địa chí, văn bia, địa bạ,…

có thể phỏng đoán về dòng chảy của sông Tiêu Tương Theo đó, nó có thể là một chi lưu của sông Diên Uẩn/ Thiên Đức cổ, [83, tr.95], địa điểm chính xác nơi dòng Tiêu Tương tách ra có thể phỏng đoán là ở gần với địa phận khu rừng Cổ Pháp trước đây

Mặt sau tấm bia Cổ Pháp điện tạo bi có nói đến ngòi Cổ Pháp, rộng 17 mẫu

với 7 xứ Vị trí sông Tiêu Tương được mô tả: Xứ Đầu Sông Trên (8 mẫu), Đầu

Sông Dưới (4 mẫu 1 sào) [110, tr 374-379; 147, tr 21-22] Đầu thế kỷ XIX, địa bạ

xã Đình Bảng vẫn còn ghi lại tên các xứ đồng: xứ Đầu Sông, xứ Cầu Sông nằm ở

khu vực giáp ranh với Trùng Quán, Quy Mông (thị trấn Yên Viên ngày nay) Địa bạ

xã Đình Bảng cũng có mô tả về 6 khe tiểu khê chảy qua 6 xứ đồng (xứ Cầu Sông,

Ao Sâm, Ninh Sơn, Đầu Làng, Đầu Sông, Cạnh Làng) Theo tư liệu cho biết: “xứ Đầu Làng đất của Điện Cổ Pháp là 1 khu có 4 mẫu 6 sào 10 thước, nam giáp ngòi

Trang 20

Cổ Pháp”; “Cửa Đình xứ: 1 khu có 6 mẫu 1 sào 3 thước 5 tấc, tây giáp ngòi Cổ Pháp”; “Đầm ở xứ Cửa Miếu là một khu rộng 6 mẫu 2 sào; đầm dùng để phụng sự

tế lễ; đông giáp Điện Cổ Pháp; tây giáp khu dân cư của xã và đất Đền ở xứ Đầu Làng, nam giáp khe tiểu khê ở bản xã” [147, tr 52]

Theo như mô tả về các xứ đồng trong Cổ Pháp điện tạo bi thế kỷ XVII và địa

bạ đầu thế kỷ XIX (1805) có thể thấy tại những vị trí quan trọng như đầu làng, cạnh làng, cửa Miếu là những điểm mốc có thể đoán định về vị trí của dòng Tiêu Tương

chảy từ Yên Viên dọc đường cái quan về địa phận làng Đình Bảng Cũng theo địa

bạ xã Đại Đình, năm Gia Long thứ 4 (1805) mô tả về vị trí xã Đại Đình: “Nam giáp

xã Đình Bảng, lấy ngòi Cổ Pháp của xã ấy làm địa giới” [150, tr 1] Tư liệu bia ký thế kỷ XVII, tư liệu địa bạ thế kỷ XIX đều ghi rõ ba xã Đình Bảng, Đại Đình, Dương Lôi đều nằm dọc đôi bờ Tiêu Tương; dòng sông cũng là ranh giới tự nhiên giữa Đại Đình và Đình Bảng

Sau khi phân tích tài liệu thư tịch, nghiên cứu tiến hành so sánh dấu vết dòng chảy của sông Tiêu Tương với bản đồ phủ Từ Sơn thuộc bộ bản đồ Đồng Khánh (1886 - 1888) Bản đồ này tuy được vẽ tay và không có cơ sở toán học đầy đủ để có thể chồng ghép hay định vị chính xác tuy nhiên có thể sử dụng các phép định hướng của bản đồ và sử dụng vị trí các di tích cố định làm các điểm khống chế để định vị

và chỉ ra một cách tương đối vị trí của các đối tượng khác trên bản đồ Một số điểm quan trọng có vị trí cố định để sử dụng làm điểm chìa khóa trên bản đồ Đồng Khánh

là khu vực Cổ Loa, trục đường Thiên Lý (tức đường 1 cũ hiện nay); sông Đuống cũng có thể coi là các đối tượng định hướng tương đối bởi các sông này trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến nay cũng ít có thay đổi lớn Một hạn chế của bản đồ Đồng Khánh đó là chỉ vẽ sông Tiêu Tương (hình 1.1) đoạn từ sông Thiên Đức cổ (hình 1.1) qua khu vực trung tâm thị xã Từ Sơn và chảy qua phía Nam chùa Phật Tích mà không vẽ các nhánh sông từ phía đầm Phù Lưu đi lên Điều này có thể lý giải là đến thời Đồng Khánh các nhánh bên trên của sông Tiêu Tương đã không còn dòng chảy (hình 1.1) [xem thêm Hình 1.1; 1.2; 1.3; 1.4 của Phụ lục 1]

Trang 21

Hình 1.1: Sông Tiêu Tương trên tờ bản đồ huyện Đông Ngàn thuộc bộ bản đồ

Đồng Khánh thời Nguyễn (1886 - 1888) (Nguồn: [85, tr 93] và phụ chú của tác giả) Xác định sông Tiêu Tương qua dữ liệu hệ thống thông tin địa lý (GIS)

Một cơ sở quan trọng nữa để xác định sông Tiêu Tương là các dấu vết lòng sông cổ trên địa hình Đối với khoa học địa mạo, địa hình được coi là một thực thể

có nguồn gốc phát sinh, quá trình phát sinh phát triển và tàn lụi Vì thế, việc thay đổi dòng chảy hay biến mất của một con sông, đặc biệt là sông ở đồng bằng là phù hợp với các qui luật địa mạo và tất cả các hoạt động của sông luôn để lại những dấu

Cổ Loa

Sông Ngũ Huyện Khê

Sông Tiêu TươngSông Thiên Đức

Trang 22

vết nhất định trên địa hình Tìm lại những dấu vết này phần nào có thể khôi phục lại dòng chảy trong quá khứ Tuy nhiên cần kết hợp các nguồn tư liệu đặc biệt là sử liệu để xác định chính xác dòng chảy cổ của sông Tiêu Tương Các dấu vết cụ thể của một lòng sông cổ trên địa hình có thể được xác định bằng các dải địa hình trũng phân bố liên tục hoặc đứt đoạn theo dạng tuyến Ngoài ra, do trong quá trình hoạt động, các dòng sông cũng có thể dịch chuyển dòng chảy tạo thành các nhánh nhỏ khác nhau Đặc biệt trên địa hình khu vực nghiên cứu còn xuất hiện một số vị trí địa hình trũng có các tuyến phân nhánh, đây chính là các ngã ba sông cổ được xác định

ở khu vực Dốc Lã, Yên Thường với khu vực rừng Cổ Pháp, Đình Bảng là sông Tiêu Tương Hay khu vực Duệ Đông đầu thị trấn Lim là nơi sông Tiêu Tương tách làm hai nhánh một nhánh chảy về sông Ngũ Huyện Khê ở khu vực Hạ Giang, một nhánh chảy xuống phía chùa Dạm và đổ ra sông Đuống qua ngòi Con Tên Một số đoạn sông vẫn còn là một dòng liên tục tuy đã bị thu hẹp nhiều như ngòi Tào Khê chảy từ nhánh phía nam Phật Tích đổ ra sông Đuống

Bằng việc xác định dấu vết các lòng sông cổ trên địa hình và ảnh viễn thám, nghiên cứu sử dụng công nghệ GIS để đưa các dấu vết dòng sông cổ lên bản đồ Nền ảnh vệ tinh được sử dụng để xác định dấu vết sông cổ là dữ liệu ảnh Digitalglobe, CNES/Airbus và Earthstar Geographics được cung cấp qua server basemap của phần mềm ArcGIS Sau khi xác định các dấu vết sông cổ trên bản đồ

có thể cơ bản khôi phục lại hình ảnh của con sông Tiêu Tương trong quá khứ Các dấu vết và dòng chảy của sông ở khu vực từ Đình Bảng qua Phù Chẩn lên Dương Lôi, Phù Lưu là khá rõ ràng và khớp với bản đồ Đồng Khánh Phần dấu vết bị mờ nhất là khu vực từ Phù Lưu đi lên làng Viềng (xã Đồng Nguyên), các làng Tiêu (xã Tương Giang) Chỗ này được xem là vị trí ngã ba quan trọng để xác định điểm giới hạn dưới của vùng quê hương nhà Lý

Qua nguồn sử liệu, hệ thống thông tin địa lý (GIS) và khảo sát thực địa nghiên cứu cơ bản đã xác định được rõ ràng dấu vết dòng chảy của sông Tiêu Tương, từ đó

có thêm một căn cứ để xác định diên cách của vùng quê hương nhà Lý Theo đó, khởi nguồn của sông Tiêu Tương là từ Yên Thường (thị trấn Yên Viên), giáp với xã Đình Bảng, đây được xem là ngã ba trên của dòng Tiêu Tương cổ và là ranh giới

Trang 23

giữa vùng trung tâm của quê hương nhà Lý với các làng xã lân cận Từ đây, sông chảy dọc theo đường cái quan (quốc lộ 1A) vào làng Đình Bảng, Đại Đình, Phù Chẩn, Yên Lã, Phù Lưu (dấu tích còn lại là cái đầm lớn của làng Phù Lưu - Loa Hồ) Tại Loa Hồ, sông chia thành hai nhánh: một nhánh ra sông Ngũ Huyện Khê; một nhánh qua Dương Lôi, vòng xuống Phù Chẩn (thị xã Từ Sơn), qua Đại Đồng, Tri Phương, Phật Tích (huyện Tiên Du) và qua một số làng của huyện Quế Dương, cuối cùng theo ngòi Tào Khê đổ vào sông Đuống

a) Dấu vết sông Tiêu Tương được xác

định trên dữ liệu ảnh Earthstar

Geographics

b) Dấu vết sông Tiêu Tương được tách

khỏi nền ảnh

c) Ảnh Digitalglobe khu vực Đình

Bảng, Phù Lưu, Dương Lôi

d) Dấu vết các lòng cổ của sông Tiêu

Tương được xác định

Hình 1.2: Dấu vết lòng sông cổ Tiêu Tương xác định trên ảnh vệ tinh

(Người biên tập: Nguyễn Quang Anh)

Trang 24

Dòng chảy của sông Tiêu Tương khá dài (chảy qua 4 huyện), các làng xã trung tâm của vùng quê hương nhà Lý (Đình Bảng, Phù Lưu, Trang Liệt, Bính Hạ, Đại Đình, Dương Lôi, Thụ Chương) đều có dấu vết của sông là những hồ, đầm, ao, khe nước Qua đây, có thể thấy địa giới của vùng quê hương nhà Lý được xác định bằng điểm đầu là ngã ba sông trên ở khu vực giáp giới giữa Yên Thường và Đình Bảng (gần khu vực rừng Cổ Pháp, nơi có Thọ Lăng nhà Lý); và giới hạn điểm cuối là ngã

ba, nơi sông phân làm hai nhánh tại Loa Hồ (Phù Lưu) Qua phân tích có thể thấy vùng trung tâm của quê hương nhà Lý được nằm trọn vẹn trong các ngã ba sông, các làng xã đều có dòng Tiêu Tương chảy qua (xem hình 1.5)

Như vậy, qua một số di chỉ khảo cổ học đầu thời đại đồng thau (di chỉ Từ Sơn,

di chỉ Bãi Mịn, di chỉ Đồng Gio) và quá trình tụ cư từ rất sớm của người Việt dọc đôi bờ Tiêu Tương có thể thấy cách đây cả ngàn năm, Tiêu Tương đã là một dòng sông lớn của xứ Bắc Thế kỷ thứ VIII - X, dòng sông này gắn với hương Diên Uẩn

và có mối liên hệ mật thiết với Lý Công Uẩn và vương triều Lý Những truyền thuyết về các thiền sư và các ngôi chùa gắn với tuổi thơ Lý Công đều có nhắc đến Tiêu Tương Một số di tích lịch sử trước thời Lý như chùa Quỳnh Lâm (làng Dương Lôi), chùa Cổ Pháp (làng Đại Đình) đều nằm bên bờ Tiêu Tương Đến thời Lê, qua

tấm bia Cổ Pháp điện tạo bi (thế kỷ XVII) và tư liệu đia bạ đầu thế kỷ XIX (1805)

cho biết nhiều tên di tích và địa danh các xứ đồng có thể hiện dòng chảy của sông Tiêu Tương Các địa danh Đình Bảng, Dương Lôi, Đại Đình được nhắc đi nhắc lại nhiều lần và lưu lại nhiều dấu tích gắn với sông Tiêu Tương cổ Đến nay, mặc dù dòng Tiêu Tương đã mất đi, chỉ còn lại vài đoạn manh mún nhưng qua dấu vết sông

cổ còn lưu lại trên địa hình và trên thư tịch cho thấy vị trí địa chiến lược của dòng sông trong lịch sử, đặc biệt với sự hình thành vương triều Lý và vùng quê hương nhà Lý

Tìm lại vị trí dòng chảy của sông góp thêm một cơ sở quan trọng trong xác định lại vùng quê hương nhà Lý từ thế kỷ thứ VIII đến nay Theo đó, vùng lõi của vùng quê hương nhà Lý là hương Diên Uẩn (thế kỷ VIII); tương đương với các làng

xã nằm dọc đôi bờ Tiêu Tương, thuộc tổng Phù Lưu (thế kỷ XIX) (xem hình 1.3)

Trang 25

Sau Cách mạng tháng Tám (1945), các xã này bị chia tách và sáp nhập thành các xã: xã Tân Hồng, xã Đình Bảng, môt phần xã Đồng Nguyên, một phần xã Đồng Quang; và đến nay các xã đó thuộc 3 phường trung tâm của thị xã Từ Sơn (phường Đông Ngàn, phường Đình Bảng, phường Tân Hồng) (xem hình 1.4)

Hình 1.3: Vùng quê hương nhà Lý cuối thế kỷ XIX trên bản đồ thuộc tập bản

đồ Đồng Khánh (1886 - 1888) (Nguồn: [85, tr 93] và phụ chú của tác giả)

Trang 26

Hinh 1.4: Vùng quê hương nhà Lý trên bản đồ hành chính thị xã Từ Sơn năm 2016

(Người biên tập: Nguyễn Hà Trang)

Hình 1.5: Sơ đồ dòng chảy của sông Tiêu Tương

(Người biên tập: Nguyễn Quang Anh)

Trang 27

Từ chiều cạnh lịch sử, địa lý và kiểm chứng qua khảo sát thực địa có thể thấy

vị trí hương Diên Uẩn xưa cách không xa Thăng Long Bằng đường sông, các vua

Lý có thể qua sông Nhị, sông Thiên Đức rồi bắt vào Tiêu Tương để về quê bái yết tiên tổ Diên Uẩn cũng cách không xa Cổ Loa, kinh đô cổ của nước Đại Việt, từ Cổ Loa qua Ngũ Huyện Khê, nhập vào Tiêu Tương để đến vùng quê nhà Lý Diên Uẩn cũng rất gần với trung tâm Phật Giáo Kiến Sơ (Phù Đổng), trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Thuận Thành),… Qua sơ đồ dòng chảy và các điểm di tích phân bố dọc đôi bờ Tiêu Tương có thể thấy hầu hết các đại danh lam thời Lý đều nằm ở đây Từ các di tích ở Thăng Long, các di tích ở Mai Lâm, Đông Anh đến các di tích trong vùng lõi như đình Đình Bảng, Đền Đô, Đền Đầm, Đền Miễu, đình Dương Lôi/ Đình Sấm, chùa Tiêu, chùa Phật Tích, chùa Dạm,… đều được xây dựng dọc bờ sông Có thể nói với vị trí địa - chính trị, địa - văn hoá này, ngay từ trước thời Lý, trong thời Lý

và sau thời Lý, Diên Uẩn/Cổ Pháp, Đông Ngàn và thị xã Từ Sơn luôn có ưu thế vượt trội trong giao lưu kinh tế, văn hoá và vị trí chiến lược về quân sự Và có lẽ, chính yếu tố “địa lợi” này đã góp phần quan trọng hun đúc nên con người Lý Công Uẩn và sáng lập vương triều Lý

1.1.2 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

1.1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Vùng quê hương nhà Lý nằm trong khu vực trung tâm của hương Diên Uẩn (thế kỷ VIII) và thị xã Từ Sơn ngày nay (thế kỷ XXI); cách Thăng Long gần 20km, cách kinh đô cổ Cổ Loa khoảng hơn 10km, cách trung tâm Phật giáo Kiến Sơ (Phù Đổng) khoảng 6km, cách Luy Lâu chừng 20km Với vị trí địa lý này, vùng quê hương nhà Lý có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá và có một vị trí chiến lược trong quân sự Ngày nay, vùng quê hương nhà Lý - thị xã Từ Sơn cách không xa các khu đô thị lớn, điển hình là khu tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có đường quốc lộ 1A, 1B, 18, 38 và tỉnh lộ 287, 277 chạy qua tạo lợi thế cho phát triển kinh tế, xã hội Các phường này, nằm tiếp giáp gần thủ đô Hà Nội, là đô thị vệ tinh của thành phố Bắc Ninh cùng với

Trang 28

hàng loạt các khu đô thị mới mọc là sự phát triển của các hoạt động thương mại, dịch vụ

Điều kiện tự nhiên

Đồi núi: Thị xã Từ Sơn có địa hình bằng phẳng, ít đồi núi Hiện nay, chỉ còn

lại một số ngọn núi sót như núi Tiêu Sơn, thuộc địa phận xã Tương Giang, trên núi

có chùa Thiên Tâm và chùa Tràng Liêu - nơi tu hành của thiền sư Vạn Hạnh Cách núi Tiêu khoảng vài ki lô mét về phía Tây Bắc là núi Ba Sơn thuộc xã Tam Sơn,

Đại Nam nhất thống chí viết "giữa ruộng bằng đột nhiên nổi lên ba ngọn núi, giống

như chuỗi hạt châu Chân núi có những gờ đá nhọn như ngòi bút, chạy dài khuất khúc như hình con rồng Trên đỉnh có hang, gọi là mũi rồng Tổ mộ hai họ Ngô và Nguyễn ở đây, nối đời phát đường khoa giáp" [83, tr 85]

Sông ngòi: Tiêu Tương là một con sông cổ có vị trí quan yếu đối với sự hình

thành và kiến tạo vùng văn hoá quê hương nhà Lý Sông Tiêu Tương là một con sông nội vùng nhưng có mối liên hệ mật thiết với sông Thiên Đức, sông Nhị và sông Ngũ Huyện Khê Như đã phân tích (trong nội dung 1.1.1.2) về dòng chảy của sông Tiêu Tương có thể thấy, sông Tiêu Tương ngay từ thời Bắc thuộc và những năm đầu công nguyên đã là một tuyến giao thông huyết mạch nối Thăng Long, Cổ Loa, Kiến Sơ, Luy Lâu với vùng quê hương nhà Lý Các vua Lý khi về thăm quê cũng đi thuyền từ sông Nhị qua Thiên Đức nhập vào Tiêu Tương để đến Dương Lôi thăm mộ Tổ; về Thọ Lăng Thiên Đức thăm lăng mộ các vị tiên vương; về Tiêu Sơn, Phật Tích, Luy Lâu lễ Phật Trong giai đoạn này, việc đi lại bằng thuyền nhanh, thuận tiện và đỡ tốn sức hơn so với việc đi bộ hoặc đi ngựa, có lẽ bởi vậy mà theo dấu vết để lại trên địa hình cho đến nay, dòng chảy và sự phân nhánh của sông Tiêu

Tương khá phức tạp

Rừng: Bên cạnh hệ thống sông ngòi dày đặc, các khu rừng rậm cũng có vai trò

quan trọng đối với sự phát triển của vùng có thể kể đến: rừng Báng, rừng Miễu, rừng Sặt, rừng Tiêu,… Rừng Báng hay rừng Cổ Pháp ngay từ sớm đã được chọn là

nơi đặt khu lăng mộ của nhà Lý đến cuối thế kỷ XIX vẫn được chép trong Bắc Ninh

toàn tỉnh địa dư chí là “một khu rừng rộng chừng vài trăm mẫu” [128, tr 257] Đến

Trang 29

nửa đầu thế kỷ XX, theo ký ức của nhiều người, khu rừng này vẫn còn hoang vu, cây cối mọc um tùm Sau Cách mạng tháng Tám (1945), với nhiều chính sách hỗ trợ của nhà nước và địa phương, khu rừng Báng mới được khai thác để trở thành ruộng, một số chỗ trở thành khu dân cư, như xứ đồng Ao Sen trở thành xóm Ao Sen, xóm Nông Khu,… Đến nay, khu rừng Báng đã trở thành nhà, thành trang trại,… Đất thuộc quyền quản lý của xã Đình Bảng, sau đó xã cho xã viên thuê đất

và thu về hoa lợi để làm quỹ hoạt động chung

Rừng Miễu, cũng là khu rừng cấm địa của nhà Lý, trong rừng có lăng Ngoại tổ Thánh Mẫu nhà Lý Đây cũng là một khu rừng rậm rạp, có nhiều chim muông Khu rừng Miễu sau này được khai phá nhiều để trở thành ruộng canh tác, phần lớn chia cho dân, phần còn lại là ruộng thờ, ruộng phụng sự giao cho các giáp trong làng Dương Lôi để lo việc tế tự các vua Lý

Rừng Sặt ở làng Trang Liệt Làng có tên Nôm là Kẻ Sặt hay Sặt Đồng; tên chữ

là Tráng Liệt hoặc Trang Bà Liệt Theo các cụ cao niên trong làng, sở dĩ làng có tên

Kẻ Sặt là bởi làng nằm cạnh rừng Sặt Làng có từ trước thời Lý, đến thời Trần là thực ấp của Hoài Đức Vương Trần Bà Liệt1 Theo Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí thì

ở xã Bà Liệt (hay còn gọi là Trang Liệt) có một rừng cây gọi là rừng Trang Liệt hay rừng Sặt “Dân sống gần với rừng” [128, tr 414]; “Cây cối trong rừng thì tươi tốt, đồng ruộng thì phì nhiêu, thóc lúa năm nào cũng trĩu bông” [128, tr 414]

Có thể thấy đến cuối thế kỷ XIX, vùng quê hương nhà Lý vẫn còn diện tích rừng tương đối lớn, trong rừng có nhiều loại cây quý như Lim, Báng, củ Hoàng sơn (củ mài),… rừng rậm, núi sông từng có vai trò quan trọng trong đời sống của người dân nơi đây Rừng ở đây đa phần là rừng thiêng có gắn bó mật thiết với vương triều

Lý (rừng Báng, rừng Miễu) và vương triều Trần (rừng Sặt)

1 Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Nhâm Thìn, Kiến Trung năm thứ 8 (1232) phong con của Thượng hoàng là

Bà Liệt làm Hoài Đức Vương Xưa Thượng hoàng còn hàn vi, lấy người con gái thôn Bà Liệt Người đó có mang thì bị ruồng bỏ Đến khi Bà Liệt ra đời, thượng hoàng không nhận con Lớn lên, Bà Liệt khôi ngô, giỏi

võ nghệ, xin xung vào đội đánh vật Một hôm, Bà Liệt đánh vật với người trong đội, người kia vật ngã Bà Liệt, bóp cổ Liệt đến suýt tắc thở Thượng hoàng thét lên: “Con ta đấy” Ngay hôm đó Thượng hoàng nhận làm con.” [22, tr 13] Sau này, Hoài Đức Vương Trần Bà Liệt được phong thực ấp ở cạnh khu rừng Sặt, huyện Đông Ngàn, ông có công mở rộng làng xóm cũ nên tên làng đổi thành Trang Bà Liệt, hay xã Bà Liệt, rồi Trang Liệt

Trang 30

Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, vùng quê hương nhà Lý, từ xưa đến nay, ngoài hoạt động sản xuất nông nghiệp (chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa) thì thương nghiệp, thủ công nghiệp cũng sớm phát triển Cùng với yếu tố năng động của con người Kinh Bắc và truyền thống văn hiến đã đưa vùng quê này trở thành một địa phương có sự phát triển toàn diện cả về kinh tế cũng như văn hoá, xã hội Đặc biệt trong phát triển kinh tế, những làng nghề thủ công truyền thống đang ngày càng trở nên sầm uất, tạo đà cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công - thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và sớm trở thành đô thị công nghiệp đầu tiên của tỉnh Bắc Ninh

1.1.2.2 Quá trình hình thành dân cư

Vùng quê hương nhà Lý nằm trong vùng trung tâm của xứ Bắc, gần các con sông lớn nên quá trình tụ cư ở đây diễn ra từ rất sớm Theo kết quả điều tra khảo cổ học năm 1973, các nhà khảo cổ học đã tìm ra cụm di chỉ đầu thời đồng thau và chúng đều được phân bố trên đôi bờ Tiêu Tương thời cổ (thuộc huyện Đông Ngàn, nay là thị xã Từ Sơn) Bao gồm các di chỉ: 1) Di chỉ Từ Sơn phố Phủ (thuộc địa bàn Phù Lưu, ngay trên bãi Mịn, khu đất chợ Trâu bò thuộc chợ Giầu, (nay là Trung tâm Văn hoá Thể thao của thị xã Từ Sơn), và nằm trên bờ sông Tiêu Tương Ở Phù Lưu vẫn còn Đền Đầm - Loa Hồ, dấu tích của dòng sông Tiêu Tương chưa bị bồi lấp; 2)

Di chỉ Đồng Nguyên, khu lò gạch Đồng Nguyên, nay thuộc khu phố Đồng Nguyên, phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn 3) Di chỉ xưởng chế tác đá Tiêu Sơn - Bãi Tự, nằm trên đôi bờ sông Tiêu Tương, chảy len lỏi dưới chân núi Tiêu Sơn, nay là đất

xã Tương Giang, thị xã Từ Sơn; 4) di chỉ Vườn Mao thuộc xã Vân Tương, huyện Tiên Du; 5) di chỉ Thủng Lò thuộc thôn Xuân Ổ, xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh; 6) di chỉ Chùa Lái thuộc cánh đồng Bãi Miễu, thôn Xuân Ổ, xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh; 7) di chỉ Đồng Bạch, nằm trên vùng cửa sông Tiêu Tương đổ

ra sông Ngũ Huyện Khê, thuộc thôn Đống Cao, xã Phong Khê, huyện Yên Phong [132, tr 17] Khi phát hiện ra di chỉ này và nghiên cứu về các con sông xứ Bắc xưa các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra vùng Phù Lưu, Đình Bảng nổi tiếng của xứ Bắc trước đây nằm trên ngã ba sông của sông Tiêu Tương và sông Đuống Trên chặng đường nước dài khoảng 20km dọc đôi bờ Tiêu Tương các nhà khảo cổ học đã phát

Trang 31

hiện được 7 di chỉ và khi xem xét hiện vật cho thấy chúng giống nhau một cách kỳ

lạ về đồ gốm, đồ đá, chì lưới, thể hiện một trình độ phát triển tương đương và cùng là một cụm di chỉ đồng đại Đồng thời, ở các di chỉ này cũng tìm thấy vỏ trấu (lúa Oryza), gạo cháy và bào tử phấn hoa [132, tr 17], cho thấy đây là cư dân trồng lúa từ khá sớm

Dân ở đây định cư trong những xóm làng rộng hàng vạn, chục vạn mét vuông, tầng văn hoá được phát hiện khá dày, nhiều bình vại lớn, đường kính miệng tầm 70 - 80cm Ngoài trồng trọt còn có chăn nuôi (chó, lợn, trâu, bò, gà); đánh cá trên sông; nghề thủ công phát triển (chế tác đá, đan lát, se sợi, dệt vải, gốm, ) Ở

Từ Sơn còn tìm thấy cục đồng, xỉ đồng cho thấy người ta đã luyện kim ngay ở đây [132, tr 18] Cụm di chỉ đầu thời đại đồng thau trên dọc đôi bờ Ngũ Huyện Khê, Tiêu Tương cho thấy, giai đoạn này con người đã bắt đầu khai phá đồng bằng và một trong điểm tụ cư sớm ở đồng bằng châu thổ chính là lưu vực các con sông ở Từ Sơn, Bắc Ninh Có thể nói các di chỉ này và chủ nhân của chúng đã góp phần sáng tạo nên văn minh sông Hồng nói chung và văn minh xứ Bắc nói riêng

Như vậy, ngay từ buổi đầu của thời đá sớm và đồng thau, những cư dân Việt đầu tiên đã quần tụ ở ngay khu vực thị xã Từ Sơn ngày nay Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, Bắc Ninh nói chung và Từ Sơn nói riêng luôn là địa bàn trọng yếu về mặt chính trị, kinh tế cũng như là một trung tâm giao lưu tiếp biến văn hoá nổi bật, Luy Lâu, Long Biên là trị sở của chính quyền đô hộ phương Bắc Các nhà khảo cổ học

đã khai quật được không ít mộ Hán ở giai đoạn này như mộ Nghi Vệ (núi Và, Hạp Lĩnh) Vào năm 2000, khi tiến hành làm quốc lộ 1B đoạn qua Dương Lôi, xã Tân Hồng đã khai quật được một số mộ Hán ở khu rừng Miễu và nhiều tiền cổ Ngũ Thù

có niên đại rất sớm vào thời Lưỡng Hán (khoảng năm 206 trước Công nguyên đến năm 220 sau Công nguyên) Những phát hiện khảo cổ học nửa cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI ở Từ Sơn đã cho thấy đây là một khu vực trọng yếu, có nhiều người Hán đến cư trú, buôn bán, trao đổi tiền tệ Đó có lẽ cũng là một nguyên nhân dẫn tới

sự phát triển kinh tế hàng hoá sớm ở Từ Sơn những giai đoạn tiếp theo

Thời độc lập tự chủ dưới các thời Ngô - Đinh - Tiền Lê, vùng quê hương nhà

Trang 32

Lý nằm trong địa phận châu Cổ Lãm

Trong thời Lý - Trần - Lê, dân cư quy tụ tại khu vực này đã khá sầm uất Bởi

là vùng đất bản bộ của nhà Lý nên về cơ bản mảnh đất này từ sớm đã được các triều đại quan tâm Ngay khi lên ngôi, Lý Thái Tổ chia cả nước làm 24 lộ, đổi châu Cổ Pháp gọi là phủ Thiên Đức, sông Bắc Giang gọi là sông Thiên Đức [21, tr 241] Vua Lý cũng chọn rừng Cổ Pháp là nơi đặt lăng mộ các vua Lý, chọn Cổ Pháp là đất thang mộc để tế tự các vua Lý muôn đời Sang thời Trần, do quan hệ chính trị phức tạp, nhà Trần không có những chính sách ưu đãi đối với mảnh đất phát tích vương triều Lý Nhưng sang thời Lê, các vua Lê đã cho xây dựng lại nhiều chùa chiền, đền miếu ở khắp vùng, cho lập lại bia điện vốn bị đổ nát, hư hoại trong thời Minh thuộc Hệ thống di tích gắn với vương triều Lý (Đền Đô, đình Dương Lôi) đa phần được tu sửa lại trong giai đoạn này Cùng với phục hưng văn hoá, kinh tế giai đoạn này cũng được chú trọng hơn, hệ thống chợ được mở mang sầm uất (chợ Giầu, Phù Lưu được hình thành vào khoảng thế kỷ XVII)

Đầu thế kỷ XIX, vùng quê hương nhà Lý là các xã thuộc tổng Phù Lưu, bao gồm Đình Bảng, Dương Lôi, Đại Đình, Phù Lưu, Trang Liệt, Bính Hạ, Thụ Chương Đây là tổng lớn của huyện Đông Ngàn, có số lượng dân cư đông đúc, kinh

tế phát triển, có nhiều chợ lớn, buôn bán sầm uất

Đầu thế kỷ XX, theo điều tra dân số của Ngô Vi Liễn năm 1927 cho thấy, dân cư ở đây đông đúc hơn hẳn so với các làng lân cận Số lượng dân cư tập trung chủ yếu ở các làng lõi của vùng quê hương nhà Lý như Đình Bảng, Dương Lôi, Phù Lưu và cũng là ba làng buôn lớn của vùng Có thể nói, với vị thế là quê hương nhà

Lý nên trong nhiều thế kỷ hoạt động kinh tế cũng như việc xây dựng các công trình tín ngưỡng ở khu vực này luôn được chú ý

Từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã có nhiều thay đổi về việc điều chỉnh địa danh, đơn vị hành chính các địa phương trong đó có Bắc Ninh Giai đoạn 1945 - 1962, thị xã Từ Sơn có tên là huyện Từ Sơn thuộc tỉnh Bắc Ninh [7, tr 89] Giai đoạn 1963 - 1996 huyện Từ Sơn sáp nhập với huyện Tiên Du thành huyện Tiên Sơn thuộc tỉnh Hà

Trang 33

Bắc [88] Giai đoạn này, quá trình nhập cư từ nơi khác đến Từ Sơn diễn ra khá mạnh mẽ Một lượng lớn công nhân từ các tỉnh khác như Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Bình,… đến làm việc tại Nhà máy Quy chế Từ Sơn - nhà máy sản xuất bu lông, đinh ốc lớn của miền Bắc Có thể nói họ chính là nhóm thị dân sớm góp phần hình thành nên đô thị Từ Sơn thời hiện đại

Giai đoạn 1999 - 2008, huyện Tiên Sơn tách ra thành hai huyện là Từ Sơn và Tiên Du [60] Năm 2008, thị xã Từ Sơn được thành lập theo Nghị định số 01/NĐ-

CP ngày 24/09/2008, đơn vị hành chính của thị xã Từ Sơn lúc này gồm 7 phường, 5

xã với 63 thôn, xóm và khu phố [61] Vùng quê hương nhà Lý lúc này thuộc các phường trung tâm của thị xã Từ Sơn (phường Đông Ngàn, phường Đình Bảng và phường Tân Hồng) Do hoạt động công - thương nghiệp phát triển ngày càng mạnh

mẽ nên số lượng người nhập cư đến đây ngày càng lớn, khiến cho cơ cấu dân cư có nhiều biến động

Tính đến ngày 31/12/2015, theo điều tra dân số của phòng Thống kê, thị xã Từ Sơn dân số của toàn thị xã là 163.093 người (tăng 1,25 lần so với năm 2006) chiếm 1,34 % dân số của tỉnh Bắc Ninh Mật độ dân số thị xã cao nhất toàn tỉnh với 2.650 người/km² cao hơn mật độ dân số toàn tỉnh Bắc Ninh (1.403 người/km²) và gấp 2,67 lần mật độ dân số trung bình của đồng bằng sông Hồng (994 người/km²) Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của Từ Sơn cao hơn 0,8% so với toàn tỉnh và cao hơn 6,9% so với đồng bằng sông Hồng tương ứng với các tỷ lệ lần lượt là 15,7%, 14,9%, và 8,8% Xem bảng 1.1:

Bảng 1.1: Dân số và mật độ dân số thị xã Từ Sơn năm 2015

STT Tên xã/phường Dân số trung bình

(Người)

Mật độ dân số (Người/km 2 )

Trang 34

STT Tên xã/phường Dân số trung bình

(Người)

Mật độ dân số (Người/km 2 )

(Nguồn: Tài liệu số [78])

Dân số thị xã Từ Sơn phân bố không đồng đều, tập trung đông ở khu vực nội thị và thưa thớt dần ở khu vực ngoại thị Năm 2015 khu vực nội thị bao gồm 7 phường (Đông Ngàn, Đồng Kỵ, Trang Hạ, Đồng Nguyên, Châu Khê, Tân Hồng, Đình Bảng) chiếm 61,02% dân số thị xã với mật độ 2.948 (người/km²) Trong đó, các phường trung tâm của vùng quê hương nhà Lý luôn có mật độ dân số cao nhất, như phường Đông Ngàn chỉ chiếm 6,5% dân số nhưng mật độ dân số là 7.353 người/km²

Trải qua ngàn năm lịch sử từ hương Diên Uẩn đến thị xã Từ Sơn, địa giới vùng quê hương nhà Lý đã trải qua nhiều quá trình thay đổi, sáp nhập Song về cơ bản khu vực nhân lõi là hương Diên Uẩn xưa vẫn không có nhiều biến động Nó vẫn là vùng đất cổ nằm trong vùng trung tâm của văn hoá Kinh Bắc, là vùng đất cận

kề Thăng Long, vừa chịu tác động của văn minh đô thị Thăng Long vừa thấm đẫm

bề sâu văn hoá dân gian vùng Kinh Bắc; và là vùng đất sinh ra vị vua sáng lập vương triều Lý

1.2 Cơ sở tư liệu

1.2.1 Nguồn tư liệu văn bản

Các bộ sử như Việt sử lược; Đại Việt sử ký toàn thư; Đại Việt sử ký tiền biên,

đều ít nhiều viết về Từ Sơn, Bắc Ninh và vấn đề nhà Lý, quê hương nhà Lý

Ngoài các bộ thông sử thì địa chí là một nguồn tư liệu vô cùng phong phú và hữu ích cho công việc khai thác thông tin phục vụ luận án: Dư địa chí của Nguyễn

Trang 35

Trãi; An Nam chí lược của Lê Tắc; An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng;

Phong thổ Hà Bắc đời Lê hay Kinh Bắc phong thổ ký diễn quốc sự do Tri phủ Lạng

Giang Nguyễn Thăng biên soạn vào năm Gia Long thứ 6 (1807) [96]; Bắc Ninh

toàn tỉnh địa dư chí [128]; Bắc Ninh tỉnh địa dư [128]; Bắc Ninh phong thổ tạp kí

[128]; Bắc Ninh tỉnh khảo dị [128]; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú [14]; Đại Nam nhất thống chí [83] do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn;

Đồng Khánh địa dư chí [84; 85] do quan chức các tỉnh soạn theo sắc chỉ của vua

Đồng Khánh; Bắc Ninh địa dư chí do Đỗ Trọng Vỹ biên soạn [135]; Tên làng xã

Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra) [127]; Địa chí Hà Bắc

[10]; Địa lý hành chính Kinh Bắc của Nguyễn Văn Huyên [38]; Địa danh và tài liệu

lưu trữ về làng xã Bắc kỳ [40] do Viện Viễn đông Bác Cổ xuất bản

Có thể nói, các bộ Quốc chí được biên soạn dưới sự chỉ đạo của Nhà nước đã phác hoạ khá đầy đủ chi tiết về địa lý, địa giới hành chính, hình thế đất đai, sông núi

và các đặc trưng văn hoá, xã hội của các địa phương qua các thời kỳ Địa chí chính

là nguồn tư liệu đầu tiên, cần thiết khi nghiên cứu về quê hương nhà Lý Qua đây,

có thể có được những nhận diện đầu tiên mang tính tổng quát về địa bàn nghiên cứu

Ngoài ra, Bắc Ninh cũng có khá nhiều sách địa phương chí từ thời Lê tới thời Nguyễn và cho đến hiện nay

Bắc Ninh phong thổ tạp kí được biên soạn đầu thời Nguyễn, chia thành 5 mục: mục thứ nhất về Đền thần chùa phật, mục thứ hai về Hội hè dân gian, mục thứ ba về Địa thế kỳ danh, mục thứ tư về Nghề thủ công dân gian và mục thứ năm

về Thổ sản dân gian Bắc Ninh tỉnh địa dư được biên soạn năm Minh Mệnh thứ 14,

ghi chép về các trấn thành, địa danh trong toàn tỉnh, thống kê về số lượng quan lại, chợ, bến đò, thổ sản trong các phủ huyện đặc biệt có thống kê khá chi tiết về các ngạch thuế phải đóng cho triều đình ở từng huyện và toàn tỉnh Công trình này chủ

yếu mang tính thống kê, ít có mô tả và phân tích chi tiết Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư

chí được biên soạn năm Thành Thái thứ 3 (1891), công trình này được chia thành ba

quyển: quyển thượng ghi chép về địa dư toàn tỉnh, quyển trung ghi chép về các nhân vật nổi tiếng, đỗ đạt, các danh thần, võ tướng, và quyển hạ viết về cổ tích,

Trang 36

phong thổ Đây là một cuốn địa chí khá dày dặn và đầy đủ về các huyện, tổng trong toàn tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt phần khảo về Nhân vật rất đầy đủ, chi tiết

Bắc Ninh địa dư chí do Đỗ Trọng Vỹ (1829 - 1899) biên soạn, cuốn sách

chia làm hai phần: phần thứ nhất nói về nhân vật, chép về 747 vị đỗ đạt văn khoa trong tỉnh; phần thứ hai trình bày về phong tục tập quán của 26 phủ huyện trong tỉnh với các mô tả tỉ mỉ về lễ hội và tục lệ của các xã, tổng, huyện [135, tr 169]

Bắc Ninh tỉnh khảo dị do Phạm Xuân Lộc soạn năm 1920 Tây lịch khảo về các

thần tích, thần sắc, lễ hội của một số xã, tổng trong tỉnh như thần tích thần sắc của

xã Phù Lưu, xã Đình Bảng, xã Trang Liệt của tổng Phù Lưu; xã Phù Chẩn, tổng Phù Chẩn; xã Đồng Kỵ, tổng Nghĩa Lập, huyện Đông Ngàn, [128] Đối với mỗi xã đều

có chép đến Thần tích, lược chép về phong tục thờ thần, các bước tiến hành nghi lễ trong lễ hội

Các bộ sử cùng nguồn tư liệu địa chí đã mang đến những hình dung cơ bản về địa bàn nghiên cứu qua các giai đoạn lịch sử trên các khía cạnh đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội Cùng với tư liệu địa chí thì địa bạ là một trong những nguồn tư liệu quan trọng bậc nhất để khái quát nên tình hình sở hữu ruộng đất của thị xã Từ Sơn giai đoạn thế kỷ XIX, đồng thời, địa bạ cũng mang những gợi ý về địa danh, về vị trí di tích của vùng

Tư liệu địa bạ: Vào thế kỷ XIX, vùng quê hương nhà Lý được xác định tương

đương với tổng Phù Lưu nên luận án tập trung khai thác 7 địa bạ của 7 xã thuộc tổng Phù Lưu huyện Đông Ngàn bao gồm địa bạ các xã: Đình Bảng [147], Phù Lưu [148], Trang Liệt [149], Đại Đình [150], Thụ Chương [151], Dương Lôi [152], Bính

Hạ [153] Các xã này nằm trong vùng trung tâm của quê hương nhà Lý, đồng thời cũng là các xã thuộc vùng lõi của huyện Đông Ngàn trước đây nay là các phường phố trung tâm của thị xã Từ Sơn

Hương ước: hương ước cổ làng Nguyễn, xã Cẩm Giang [157]; hương ước cổ

Đồng Kỵ [154]; Hương ước làng Phù Khê Thượng [155]; hương ước làng Kim Thiều [156],…

Thần tích, thần sắc: Thần tích, thần sắc xã Phù Lưu; thần tích thần sắc xã Đình

Trang 37

Bảng; thần tích thần sắc xã Trang Liệt; thần tích thần sắc xã Dương Lôi

Gia phả: Gia phả họ Lê, gia phả họ Hoàng xã Phù Lưu; gia phả họ Nguyễn

Thạc xã Đình Bảng; gia phả họ Nguyễn, làng Nguyễn, xã Cẩm Giang; gia phả họ Ngô xã Trang Liệt; gia phả họ Đào xã Thụ Chương (nay là Xuân Thụ)

Phông lưu trữ thuộc địa ở Trung tâm lưu trữ quốc gia I: Demande formulée

par le village de Dinh Bang, phu de Tu Son (Bac Ninh) d'obtenir la concession de terrains domaniaux sis sur le territorie dudit village [158]

Các tư liệu nghị quyết, báo cáo thường niên, văn bản pháp quy, niên giám thống kê, hồi ký cá nhân, đã cung cấp nhiều nguồn tư liệu địa phương quý cho vấn đề mà đề tài đang quan tâm nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như sách chuyên khảo, bài báo, tạp chí, luận văn, luận án, giúp tác giả có thể tham khảo, kế thừa các nghiên cứu đi trước và bổ khuyết những vấn đề còn bỏ ngỏ

1.2.2 Nguồn tư liệu điền dã

Đây là nguồn tư liệu hết sức quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Nguồn tư liệu này được phân loại thành:

Tư liệu phỏng vấn hồi cố: đó là những lời kể lại theo hồi cố của các nhân

chứng lịch sử Trong quá trình sử dụng tư liệu này tác giả cũng có sự thẩm định, so sánh giữa nhiều đối tượng cũng như qua các nguồn tư liệu để có được sự tham khảo

chính xác nhất

Tư liệu kinh tế, văn hoá, xã hội thu thập tại địa phương: Qua quá trình điền dã

thực tế tại địa phương, nói chuyện, phỏng vấn trực tiếp người dân, quan sát bằng mắt và các ghi chép nhận định thực tế tại chỗ, sưu tầm các số liệu thực tế tại địa phương, niên giám thống kê các giai đoạn và các vấn đề có liên quan đến luận án

Nguồn tư liệu thống kê hàng năm tại địa phương: niên giám thống kê, các báo

cáo kinh tế thường niên, các thống kê của các phòng, ban thuộc UBND thị xã

Nguồn tư liệu vật chất: các di tích, nhà thờ họ, văn chỉ, từ chỉ, đình, đền, chùa

miếu, lăng tẩm, đường làng, ngõ xóm là nguồn tư liệu vật chất rất hữu ích cho việc đánh giá và đưa ra các nhận định thực tế về đối tượng nghiên cứu của đề tài

Trang 38

Ngoài ra còn có các tư liệu bi ký, hoành phi câu đối, tại các di tích mà đề tài tham gia khảo sát

1.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.3.1 Các nghiên cứu giai đoạn trước Đổi mới (1986)

Trước năm 1986, các nghiên cứu đa phần tập trung vào vấn đề lịch sử kinh tế,

xã hội, văn hoá thời Lý từ góc độ lịch sử, khảo cổ học; các công trình đề cập đến vấn đề “quê hương nhà Lý” không nhiều Nếu có, cũng được nhắc đến rất mờ nhạt Hơn nữa một số học giả còn đồng nhất hương với làng, Cổ Pháp với Đình Bảng và với quê hương Lý Công Uẩn

Có thể kể đến Lý Thường Kiệt Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý của

Hoàng Xuân Hãn Đây là công trình tiêu biểu viết về lịch sử vương triều Lý, đặc biệt là những đúc kết về nghệ thuật quân sự, ngoại giao của thiên tài quân sự Lý Thường Kiệt [29]

Thứ nữa phải kể đến Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần, cuốn sách tập

hợp nhiều bài nghiên cứu của các tác giả khác nhau tập trung vào 3 lĩnh vực chính: kinh tế ruộng đất thời Lý; xã hội thời Lý - Trần và văn hoá và tư tưởng thời Lý - Trần [123] Những nghiên cứu này cơ bản đã phác hoạ nên diện mạo kinh tế, xã hội, văn hoá và hệ tư tưởng thời Lý - Trần Đồng thời cung cấp những kiến thức nền tảng giúp tác giả có thể hiểu thêm về xã hội Việt Nam thời Lý Những hiểu biết này

là cơ sở để đánh giá được sự phát triển kinh tế, xã hội vùng quê hương nhà Lý dựa trên nền tảng được kiến tạo từ buổi đầu độc lập

Trương Hữu Quýnh với Chế độ ruộng đất Việt Nam tập 1, đề cập đến chế độ

ruộng đất giai đoạn thế kỷ X - XIV, trong đó phân tích khá rõ ràng, cụ thể về chế độ ruộng đất thời Lý (với các loại ruộng: ruộng tịch điền, ruộng sơn lăng, ruộng quốc khố, thác đao điền,….) [89]

Ngoài ra còn có một số nghiên cứu đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 3 (168) năm 1976, số 2 (173) năm 1977 của các tác giả Vũ Huy Phúc, Trần Thị Vinh, Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Danh Phiệt,… cũng nói về kinh tế, xã hội thời Lý - Trần Các nghiên cứu ngoài nước trong giai đoạn trước 1986 chủ yếu là các nghiên

Trang 39

cứu cơ bản của người Pháp về Bắc Kỳ phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa tại Đông Dương, những nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử cổ trung đại Việt Nam còn

rất ít ỏi Tiêu biểu có Yumio Sakurai với The Early Reclamation of the Red River

Delta [145] với chuyên luận nghiên cứu về buổi đầu khai phá đồng bằng sông

Hồng; và The Red River Delta during Ly Dynasty [146], nghiên cứu về đồng bằng

sông Hồng trong suốt triều đại nhà Lý

Một số nghiên cứu của người Pháp về Bắc Kỳ, Bắc Ninh có nói đến vương triều Lý, tuy nhiên chỉ là những ghi chép hết sức giản lược Công trình đầu tiên có

thể kể đến là Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của Pierre Gourou Đây là một công

trình đặc sắc nghiên cứu về vùng châu thổ sông Hồng từ góc độ địa lý nhân văn trên các khía cạnh: môi trường vật chất, cư dân nông thôn, phương tiện sống của nông dân và phần phụ lục về danh sách các làng thuộc vùng châu thổ sông Hồng được xếp theo đơn vị hành chính Có thể nói cuốn sách như một bức tranh chân thực phản ánh được không gian sống, quá trình định cư, di dân, địa vực cư trú và các loại hình sinh kế (thâm canh trong nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, đánh cá, công nghiệp và thương nghiệp nông thôn) của người nông dân châu thổ Bắc Kỳ Nghiên cứu đã kế thừa được khá nhiều phân tích của P Gourrou về cách xác định không gian địa lý của các làng vùng châu thổ và có những hình dung một cách sinh động về các làng bởi trong cuốn sách có khá nhiều minh hoạ bằng hình vẽ, sơ đồ, bản đồ, ảnh chụp,

Ví như, khi nói về làng Phù Lưu thuộc tổng Phù Lưu, huyện Đông Ngàn, Phủ Từ

Sơn, Bắc Ninh ông đặt tên là làng chen chúc [25, tr 375] và đưa ra không ảnh chụp làng Phù Lưu với mật độ dân cư dày đặc, chật chội Người nông dân châu thổ Bắc

Kỳ là một công trình có cả giá trị lý thuyết cũng như thực tiễn đối với đề tài

Như vậy, giai đoạn trước năm 1986 không có các công trình nghiên cứu trực tiếp về vấn đề quê hương nhà Lý mà chủ yếu là các nghiên cứu từ các góc độ lịch

sử, kinh tế, xã hội và văn hoá, nghệ thuật, điêu khắc thời Lý và những nghiên cứu chung chung của người Pháp về làng xã Kinh Bắc Các nghiên cứu này mang lại những hình dung đầu tiên về một giai đoạn quan trọng của Đại Việt khi mới giành được độc lập tự chủ và cũng là những tiền đề đầu tiên giúp tác giả tiến hành nghiên

Trang 40

cứu sâu hơn về vấn đề này

1.3.2 Các nghiên cứu từ năm 1986 đến nay

1.3.2.1 Các nghiên cứu trực tiếp về vấn đề quê hương nhà Lý

Trước Đổi mới (1986), đa phần là các nghiên cứu về lịch sử kiến tạo vương triều, lịch sử chính trị, quân sự, ngoại giao của nhà Lý Sau này là mỹ thuật và điêu khắc thời Lý Khi bàn về vấn đề quê hương nhà Lý, có nhiều ý kiến cho rằng hương

Cổ Pháp tức làng Đình Bảng và là nơi sinh ra Lý Công Uẩn Đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, quan điểm về vấn đề quê hương nhà Lý bắt đầu có sự thay đổi, xuất phát từ quan điểm của Trần Quốc Vượng - người có nhiều trăn trở và duyên nợ với

xứ Bắc Sau những cuộc khai quật khảo cổ học vào những năm 60, 70 của thế kỷ

XX, Trần Quốc Vượng và nhóm nghiên cứu đã đề xuất ý kiến xem xét lại về việc xác định vùng quê hương nhà Lý

Năm 1994, cuộc hội thảo Dương Lôi và vương triều Lý đã được tổ chức Sáu

năm sau cuộc hội thảo này (vào năm 2000), 21 bài hội thảo cùng với 18 bài mới đã

được tập hợp lại để xuất bản cuốn sách Làng Dương Lôi với vương triều Lý [51]

Đây là cuộc hội thảo quan trọng, đánh dấu những nghiên cứu mới nhằm xác định lại vùng quê hương nhà Lý, đồng thời cũng có bước tiến nhằm tìm hiểu không gian văn hóa làng Dương Lôi nói riêng và hệ thống làng xã Cổ Pháp nói chung trong tương quan với vương triều Lý

Năm 2001, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Lý Công Uẩn và Vương triều Lý (kỷ

niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội) [113] đã có những bài viết đề cập đến Dương

Lôi như: Trần Bá Chí với "Mấy ý nghĩ về ba nơi thờ Phạm Thái Hậu" ; Trần Quốc Vượng với "Cổ Pháp - Thiên Đức - Kinh Bắc quê hương nhà Lý"

Bài viết “Lý Công Uẩn, Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long”, trong Kỷ

yếu Hội thảo khoa học 1000 năm Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long [65] đã

tập trung được nhiều bài nghiên cứu về vương triều Lý từ góc độ lịch sử và khảo cổ Hầu hết đều tập trung lý giải nguồn gốc của Lý Công Uẩn dựa trên những dấu tích khảo cổ học còn lại tới ngày nay và phần lớn đã đi tới một nhận định khá đồng nhất rằng: quê nội của Lý Công Uẩn là làng Dương Lôi, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh và quê

Ngày đăng: 17/03/2021, 19:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w