1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động học của sinh viên trường cao đẳng sư phạm sóc trăng

114 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động học của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Só

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

-

HUỲNH DƯƠNG TRUNG TRỰC

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA SINH VIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội – Năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

-

HUỲNH DƯƠNG TRUNG TRỰC

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM SÓC TRĂNG

Ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục

(Mã ngành đào tạo: 60140120)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Quý Thanh

Hà Nội – Năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Đánh giá một số yếu tố ảnh

hưởng đến mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động học của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng” hoàn toàn là kết quả nghiên

cứu của chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình

nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, đúng theo quy định

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình

Hà Nội, ngày 25 tháng 02 năm 2015

Tác giả luận văn

Huỳnh Dương Trung Trực

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Quý Thanh đã định hướng khoa học, hướng dẫn tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Xin được bày tỏ lòng biết ơn đến:

Lãnh đạo trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng cùng bạn bè đồng nghiệp

đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả được theo học chương trình sau đại học

và thực hiện luận văn này.

Quý thầy cô giáo cùng các anh chị thuộc Viện đảm bảo chất lượng giáo dục – ĐHQG Hà Nội và Trung tâm khảo thí và đánh giá chất lượng đào tạo – ĐHQG TP.Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập tại trường.

Xin đặc biệt cảm ơn cha mẹ và những người thân trong gia đình đã luôn giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này !

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN v

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 5

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6

5 Câu hỏi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 8

Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 9

1.2 Chuẩn năng lực CNTT cho sinh viên 17

1.3 Khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài 18

1.4 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 20

1.4.1 Hoạt động học của sinh viên 20

1.4.2 Ứng dụng CNTT trong hoạt động học 21

1.4.3 Mức độ ứng dụng CNTT 21

1.4.4 Các yếu tố được chọn trong nghiên cứu 22

Trang 6

Chương 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 25

2.1 Thực trạng ứng dụng CNTT của trường CĐSP Sóc Trăng 25

2.2 Mẫu nghiên cứu 26

2.3 Quy trình nghiên cứu 26

2.4 Xây dựng công cụ đo lường 28

2.4.1 Xác định các chỉ báo 28

2.4.2 Xây dựng công cụ đo lường 32

2.4.3 Đánh giá độ tin cậy, độ hiệu lực của công cụ 33

Chương 3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 40

3.1 Kết quả khảo sát mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên 40

3.1.1 Phân tích mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên 40

3.1.2 Phân tích từng yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên 45

3.2 Phân tích so sánh các đặc điểm về giới tính, khóa học, dân tộc 57

3.3 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) 64

Kết luận chương 3 69

KẾT LUẬN 70

Tài liệu tham khảo 72

Phụ lục 77

Trang 7

QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

ICT Công nghệ thông tin và truyền thông -

Information and Communication Technologies

LSD Giới hạn sai khác nhỏ nhất – Least Significant

Difference ANOVA Phân tích phương sai - Analysis of Variance CFA Phân tích nhân tố khẳng định - Confirmatory

Factor Analysis SEM Mô hình cấu trúc tuyến tính - Structural Equation

Modeling

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH

Hình 1 1 Mô hình khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài 20

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 27

Hình 3.1 Kết quả SEM đã chuẩn hóa……… 64

Bảng 2.1 Phân bố mẫu nghiên cứu theo khóa học 26

Bảng 3.1 Phân tích Post Hoc… theo phương pháp LSD 57

Bảng 3.2 Phân tích Post Hoc… theo phương pháp LSD 63

Bảng 3.3 Thống kê mô tả trung bình mức độ ứng dụng CNTT của sinh viên theo khóa học 100

Bảng 3.4 Kiểm nghiệm Homogeneity 101

Bảng 3.5 Phân tích ANOVA một yếu tố 101

Bảng 3.6 Thống kê mô tả trung bình mức độ ứng dụng CNTT của sinh viên theo dân tộc 102

Bảng 3.7 Kiểm nghiệm Homogeneity 102

Bảng 3.8 Phân tích ANOVA một yếu tố 102

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sinh viên là những người đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng

- nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội Sinh viên là người học tập, nghiên cứu, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức Khác với học sinh phổ thông, bên cạnh hoạt động chủ đạo là học tập, lĩnh hội tri thức của thầy, người sinh viên còn phải có nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập

Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy và học Chẳng hạn, sinh viên có thể làm việc

tự lực với máy tính, với Internet, học theo hình thức lớp học phân tán qua mang, học qua cầu truyền hình Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong

đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể như: bộ Office, Cabri, Crocodile, SketchPad/Geomaster SketchPad, Maple/Mathenatica, ChemWin, LessonEditor/VioLet… hệ thống WWW, Elearning và các phần mền đóng gói, tiện ích khác Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi người đều có trong tay nhiều công cụ

hỗ trợ cho quá trình học Nhờ có sử dụng các phần mềm này mà sinh viên trung bình, thậm chí sinh viên trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người Do đó, mục tiêu của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập của sinh viên.Tạo điều

Trang 10

kiện để sinh viên chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình

Chỉ thị 58 được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII ban hành ngày 17/10/2000 đã xác định: Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh

tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc dân, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thực hiện Chỉ thị 58, trong hơn 10 năm qua, lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Thành lập Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) đã góp phần thúc đẩy và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Môi trường chính sách cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông tương đối hoàn thiện Công nghiệp công nghệ thông tin dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tỉ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP đất nước ngày càng cao Ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, lọt vào nhóm 10 nước hấp dẫn nhất về gia công phần mềm xuất khẩu Từ năm 2002, Việt Nam đã có tên trên bản đồ công nghệ thông tin thế giới Hạ tầng viễn thông Việt Nam đã đạt chuẩn quốc tế Ứng dụng công nghệ thông tin được triển khai rộng khắp cả nước, từ hoạt động quản lý nhà nước đến sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động kinh tế xã hội

Trong Báo cáo tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính

Trang 11

trị về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức ngày 10/5/2013, đã đưa ra các thông tin tương đối đầy đủ về quá trình phát triển ngành công nghệ thông tin Việt Nam trong hơn 10 năm qua Tuy nhiên Báo cáo nói nhiều về mạng máy tính, chính quyền điện tử, chưa tập trung vào mảng kinh doanh và ứng dụng công nghệ thông tin Báo cáo chưa nói rõ về tình hình ứng dụng công nghệ thông tin của các ngành như giáo dục,

y tế, nông nghiệp…

Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập” Năm học 2008-2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài chính

và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, tạo bước đột phá về ứng dụng CNTT trong giáo dục và tạo tiền đề phát triển ứng dụng CNTT trong những năm tiếp theo Chỉ thị 55/2008/CT-BGDĐT nhấn mạnh: “Triển khai áp dụng CNTT trong dạy và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học…”

Ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy và học là một hướng đi mang tính chiến lược trong quá trình cải cách giáo dục ở Việt Nam CNTT đã đóng góp các công cụ, các phương thức và các giải pháp hữu hiệu hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp Xét một cách toàn diện, CNTT vừa là công cụ hỗ trợ vừa là nội dung và cũng là phương pháp nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục trong quá trình dạy học

Nghị quyết TW2, khóa VIII đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương

pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành

Trang 12

nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, bảo đảm điều kiện và thời gian

tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học.”[25] Cuộc cách

mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông đang tạo ra những điều kiện thuận lợi để đổi mới cơ bản nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, tiến tới một nền giáo dục điện tử đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân người học

Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 của Chính phủ Việt Nam[23]

đã nêu rõ: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy

và học, đến năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng và đến năm 2020, 100% giáo viên giáo dục nghề nghiệp và phổ thông có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học Biên soạn và sử dụng giáo trình, sách giáo khoa điện tử

Hướng dẫn nhiệm vụ CNTT năm học 2012-2013 của Bộ GD-ĐT[6] yêu cầu triển khai Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ trong đó nhấn mạnh: “Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học trong môn tin học Giáo viên các bộ môn chủ động tự soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng dụng CNTT”[22]

Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động học của sinh viên ở mức độ nào, những yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ ấy và làm thế nào để nâng cao mức

độ ứng dụng CNTT trong việc học cho sinh viên đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào được tiến hành trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng Trước thực trạng đó

chúng tôi chọn đề tài “Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ứng

dụng CNTT trong hoạt động học của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng” với mong muốn góp phần thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong

Trang 13

hoạt động học của sinh viên

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu đánh giá mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên đồng thời xác định mối tương quan giữa các yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng CNTT của sinh viên Kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy:

i) Thực trạng mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng

ii) Chỉ ra các yếu tố tác động và mức độ tác động của từng yếu tố đến mức

độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên

Từ đó nghiên cứu sẽ đề xuất một số gợi ý đối với lãnh đạo trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng, nhằm nâng cao mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

Với lãnh đạo: Từ bộ dữ liệu thu thập được và việc xác định những yếu

tố tác động đến mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên, nghiên cứu sẽ đề xuất những gợi ý nhằm thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong học tập

Trang 14

một cách có hiệu quả nhất Lãnh đạo trường có thể coi đây là một trong những luận cứ khoa học để xây dựng kế hoạch phát triển ứng dụng CNTT trong học tập cho sinh viên, phục vụ mục đích nâng cao chất lượng giáo dục

Với sinh viên: Kết quả nghiên cứu của Đề tài sẽ giúp các sinh viên nhận thức rõ được vai trò của việc ứng dụng CNTT trong HĐH và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này, từ đó chủ động khắc phục những khó khăn và

có kế hoạch phát triển chuyên môn của mình cũng như hỗ trợ bạn bè

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1.Khách thể nghiên cứu:

Sinh viên và giáo viên trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng

4.2.Đối tượng nghiên cứu

Một số yếu tố tác động đến mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên

5 Câu hỏi nghiên cứu

Mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động học của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố như thế nào?

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp thu thập thông tin

6.1.1.Các phương pháp thu thập thông tin định tính

Nghiên cứu tài liệu

Trang 15

Thu thập và phân tích các tài liệu lí luận, sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo… có liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong HĐH, phương pháp học tập,… nhằm hệ thống hóa để làm cơ sở lí luận cho nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn 15 sinh viên và 10 giáo viên về các tiêu chí đánh giá mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên đồng thời qua đó phát hiện những lỗi ngữ nghĩa của câu hỏi và cấu trúc bảng hỏi để điều chỉnh Phỏng vấn sâu các chuyên gia cũng là một trong những căn cứ để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên

6.1.2.Các phương pháp thu thập thông tin định lượng

Phương pháp điều tra xã hội học thu thập thông tin về việc ứng dụng

CNTT trong HĐH của sinh viên, mức độ, những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ứng dụng CNTT trong HĐH cũng như những khó khăn sinh viên gặp phải trong quá trình ứng dụng CNTT trong HĐH

Bảng hỏi được phát cho 289 sinh viên học tại trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo khóa học dạng tỉ lệ

6.2.Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

6.2.1.Phương pháp xử lý và phân tích thông tin định tính

Tác giả phân loại và chia nhóm các tài liệu thu thập được Thông tin thu thập được từ phỏng vấn sâu được phân loại, so sánh và tổng hợp để chỉnh sửa cho câu hỏi và bảng hỏi phù hợp hơn Sử dụng máy ghi âm và sổ ghi chép phục vụ phương pháp phỏng vấn sâu

Trang 16

6.2.2.Phương pháp xử lý và phân tích thông tin định lượng

Tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel và SPSS 16, AMOS 20 để

mã hóa, nhập liệu và phân tích thống kê

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để nhận biết mức độ ứng dụng CNTT của sinh viên Kế tiếp, dùng kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha để kiểm định các thang đo Sau cùng, phương pháp phân tích CFA và

mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để kiểm định độ tin cậy, giá trị phân biệt, giá trị hội tụ, tính đơn nguyên của các khái niệm trong nghiên cứu, đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng giữa các khái niệm

7 Giới hạn nghiên cứu của đề tài

Giới hạn về khách thể và địa bàn nghiên cứu của đề tài là giáo viên và sinh viên học tại trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Trong chương này, cơ sở để xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng sẽ được trình bày theo từng vấn đề cụ thể về những quan điểm khác nhau của các tác giả trong nước và trên thế giới về mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục nói chung cũng như các quan niệm

về mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động học của sinh viên; Những khái niệm về công nghệ thông tin, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, các yếu tố ảnh hưởng, công cụ đo cũng như việc sử dụng các kết quả đánh giá Từ những khái niệm về mức độ ứng dụng công nghệ thông tin, sẽ đi nghiên cứu thực tiễn đánh giá mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của một số cở sở giáo dục trong nước và tại trường Trên cơ sở đó

sẽ rút ra những vấn đề cơ bản trong các nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng và từ đây sẽ cụ thể hoá các tiêu chí để xây dựng một bộ công cụ đo phù hợp

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Trong phần này tác giả tiến hành khảo cứu và tóm tắt một số bài báo, bài viết và một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến

đề tài để có cái nhìn tổng thể về vấn đề nghiên cứu

Trước hết, tác giả tìm hiểu sơ lược về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam, một số đề án, kế hoạch của các tỉnh về phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực khác nhau như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Một số nghiên cứu đánh giá mức độ ứng dụng CNTT

Trang 18

trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp; Mức độ ứng dụng CNTT trong Y

ra Tin học cho các ngành đào tạo không chuyên Tin học là Chứng chỉ A Tin học Tác giả đã tiến hành tìm hiểu chương trình chứng chỉ A tin học của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo quyết định số 21/2000/QĐ-BGD&ĐT, ngày 3/7/2000 Kết quả tìm hiểu được tác giả sử dụng trong việc xây dựng công cụ đo

“Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công nghệ thông tin (CNTT), nhằm thúc đẩy triển khai công tác ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý điều hành và phục vụ người dân và doanh nghiệp, từ năm 2008, Bộ Thông tin và Truyền thông đã triển khai đánh giá thường niên mức độ ứng dụng CNTT (với khởi đầu là đánh giá đối với trang/cổng thông tin điện tử) của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.” - báo cáo đánh giá năm 2013 của Bộ thông tin và truyền thông (MIC) Báo cáo năm 2013 đã nhận định “nhìn chung, mức độ ứng dụng CNTT tại các

cơ quan tăng nhẹ so với năm 2012” Qua bản báo cáo đánh giá mức độ ứng dụng CNTT năm 2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông, tác giả thấy rằng thực trạng ứng dụng CNTT trong cả nước ngày càng phát triển Mức độ ứng dụng CNTT đều tăng qua các năm, về cơ sở hạ tầng, về công tác quản lý điều hành, về phục vụ người dân và doanh nghiệp Việc phát triển và ứng dụng CNTT phải được thực hiện thường xuyên, trong cả nước, ở nhiều lĩnh vực,

Trang 19

ngành nghề khác nhau Nhìn chung, mọi người, mọi cơ quan đều hưởng ứng thực hiện ứng dụng CNTT một cách tích cực.[1]

Bộ thông tin và truyền thông (MIC ) đã có văn bản Hướng dẫn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2015 Các mục tiêu và những định hướng được nêu ra cụ thể, chi tiết Các tỉnh và thành phố trong cả nước đã tích cực hưởng ứng, nhiều đề án, kế hoạch phát triển và ứng dụng CNTT đã được phê duyệt ở các tỉnh và thành phố.[2]

Thời gian qua, thành phố Cần Thơ đã tập trung đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin, trong đó, có ứng dụng và phát triển Phần mềm nguồn mở (PMNM) trong hoạt động của cơ quan nhà nước, góp phần phục vụ đắc lực cho công tác cải cách hành chính Lập kế hoạch phát triển và ứng dụng CNTT thành phố Cần Thơ năm 2014.[27]

Thành phố Sóc Trăng đã triển khai Kế hoạch ứng dụng CNTT năm

2014, với nhiều mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể Mức độ ứng dụng CNTT ngày càng được cải thiện, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thành phố Tác giả cho rằng, các lãnh đạo cần quan tâm nhiều hơn nữa, đặc biệt là ứng dụng CNTT trong giáo dục Tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu CNTT, có chính sách bồi dưỡng nhân tài CNTT Thành phố Sóc Trăng đã có những thay đổi lớn, hưởng ứng tích cực phát triển và ứng dụng CNTT trong nhiều lĩnh vực.[30]

Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2014, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã tổ chức một Đoàn khảo sát tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế Qua khảo sát, thực trạng ứng dụng CNTT trong công tác có nhiều thuận lợi, bên cạnh đó vẫn còn nhiều khó khăn cần khắc phục Nhìn chung, việc ứng dụng CNTT cần nhiều thời gian để điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế.[3]

Trang 20

Trần Quang Quý (2009) đã nghiên cứu đề xuất mô hình và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý điều hành của văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nghiên cứu đề xuất mô hình tổng thể ứng dụng CNTT phục

vụ quản lý điều hành, triển khai ứng dụng phần mềm quản lý văn bản và luồng thông tin văn bản Xây dựng và triển khai phần mềm quản lý phôi văn bằng chứng chỉ Kết quả nghiên cứu cho thấy CNTT được ứng dụng với nhiều cách khác nhau, ứng dụng linh hoạt sẽ giúp công việc hoàn thành tốt hơn.[26]

Nguyễn Vĩnh Khương(2012) đã nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học tại trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu cho kết quả đa số các giáo viên ứng dụng CNTT tốt vào nghiên cứu khoa học, công tác quản lý chưa được tốt, cần nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT Qua nghiên cứu trên, tác giả cho rằng công tác quản lý còn chưa tốt do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, để ứng dụng CNTT tốt thì người quản lý cần bổ sung kiến thức chuyên môn và kỹ năng CNTT hơn nữa.[10]

Qua các nghiên cứu khác nhau, các đề án, kế hoạch của các tỉnh, thành phố Tác giả đã khái quát sơ lược thực trạng ứng dụng CNTT trong bối cảnh hiện nay, để có cái nhìn tổng quát liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Vấn đề đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục ở Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong suốt những năm qua Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như

Ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục hướng đến một nền giáo dục điện tử

của Quách Tuấn Ngọc (2009), Công nghệ thông tin cho dạy học tích cực của Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thy (2011), E-Learning và ứng dụng trong dạy

học của Lê Huy Hoàng (2011), Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học tài

liệu chương trình Parner in learning của Microsoft (2008)… Những công trình

này chủ yếu nói về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục,

Trang 21

trong đó có việc ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên, đồng thời đưa ra các giải pháp cũng như hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng CNTT trong giáo dục

Bên cạnh những công trình nghiên cứu có thể kể đến một số lượng lớn các bài báo khoa học, các khóa luận, luận văn, nghiên cứu về đề tài ứng dụng CNTT trong giáo dục xong hầu hết cũng đều đề cập đến vai trò của ứng dụng CNTT trong giáo dục hoặc phương pháp ứng dụng CNTT vào môn học cụ thể nào đó Đặc biệt, hầu hết các công trình đều hướng đến đối tượng ở bậc cao đẳng, đại học

Nguyễn Văn Hòa (2010) đã tìm ra sự tác động của các yếu tố về thâm niên công tác và thông tin đào tạo đến năng lực ứng dụng CNTT trong HĐDH của giảng viên trường ĐH Sư phạm – ĐH Huế đồng thời cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trong giảng dạy của giảng viên Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu là chỉ giới hạn trong khuôn khổ Trường ĐH Sư phạm Huế, các kết quả nghiên cứu của luận văn được khảo sát trên mẫu chưa đủ lớn để có thể trở thành những đánh giá mang tính khái quát Mặc dù còn có những hạn chế nhưng nghiên cứu cũng đã đề xuất được mô hình các yếu tố tác động đến năng lực ứng dụng CNTT trong HĐDH của giảng viên trường ĐH Sư Phạm - ĐH Huế.[6]

Jef Peeraer và Peter Van Petegem (2010) khảo sát các yếu tố ảnh hưởng tới ứng dụng CNTT trong ngành sư phạm Việt Nam, một nước đang ở giai đoạn đầu của ứng dụng CNTT Phương pháp phân tích hồi quy đa khám phá (Exploratory multiple regression analysis) được sử dụng để đề cập tới tầm quan trọng của các yếu tố đối với giáo viên và tầm quan trọng của các trường

sư phạm đối với ứng dụng CNTT trong dạy học Nghiên cứu khẳng định việc

sử dụng các chương trình ứng dụng CNTT còn hạn chế, chủ yếu để thay cho phương pháp dạy học cũ Các yếu tố tác động đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học thực hành gồm: cơ hội tiếp cận với máy tính, cường độ sử dụng máy

Trang 22

tính, kỹ năng ICT, sự tự tin về ICT, và đặc điểm cá nhân (gồm thái độ với ICT và quan niệm về việc học tập ở học sinh) Nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý về cách ứng dụng hiệu quả CNTT vào ngành sư phạm Việt Nam.[34]

Đào Thái Lai cùng nhóm tác giả (2011) đã tiến hành đánh giá “Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học của giảng viên các trường ĐH” theo mức độ thường xuyên sử dụng thông qua các tiêu chí như: trình chiếu Power Point, khai thác thông tin trên mạng internet vào dạy học, thiết kế bài giảng điện tử, quản lí hồ sơ giảng dạy bằng máy tính, sử dụng phần mềm dạy học, thi trực tuyến, dạy học qua mạng, làm phim video, và sử dụng máy tính

hỗ trợ thí nghiệm.[11]

Một nghiên cứu khác của Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thy (2011) nghiên cứu “Ứng dụng Công nghệ thông tin trong giáo dục Việt Nam: Từ chính sách tới thực tế” đã khẳng định: “CNTT luôn được đề cao trong công cuộc đổi mới giáo dục như và một môn học cũng như là một công cụ quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học” Nghiên cứu đã cho thấy các nhà hoạch định chính sách đã rất quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và “học tập điện tử (e-Learning) và xây dựng, sử dụng bài giảng điện tử được hướng tới như là kết quả cuối cùng của ứng dụng CNTT trong giáo dục”.[23]

Nguyễn Văn Nghiêm (2013) đã tìm ra các yếu tố tác động đến mức độ ứng dụng CNTT trong HĐDH của giáo viên THPT tỉnh Bình Phước, đề xuất một số giải pháp nâng cao mức độ ứng dụng CNTT trong giảng dạy của giáo viên Đề tài cũng chỉ dừng lại ở khuôn khổ giới hạn của một tỉnh, chưa thể đánh giá mang tính khái quát Tuy nhiên, đề tài đã đưa ra mô hình các yếu tố tác động giúp lãnh đạo tỉnh Bình Phước có những định hướng cụ thể [13]

Khảo cứu những nghiên cứu kể trên giúp tác giả khái quát được về việc

Trang 23

ứng dụng CNTT trong nước Các nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cũng như mức độ ứng dụng CNTT Cũng qua khảo cứu này tác giả phát hiện việc nghiên cứu sâu về đề tài ứng dụng CNTT là cần thiết và đặc biệt tác giả cũng nhận thấy chưa có nghiên cứu nào về đánh giá mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên

Một nghiên cứu của Schacter (1999)đã chứng minh tác động tích cực của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bằng việc phân tích hơn 700 nghiên cứu về tác động của công nghệ giáo dục đến thành quả học tập của học sinh

và kết luận rằng học sinh được tiếp cận với công nghệ phục vụ giảng dạy và học tập đều có tác động tích cực đối với thành quả học tập.[44]

Luận án tiến sĩ của Mohammed I Isleem (2003), đại học Ohio (Hoa kỳ), đã nghiên cứu sâu về mối tương quan của các yếu tố cơ bản với mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học của giáo viên ngành công nghệ giáo dục (technology education teachers) Nghiên cứu đã chỉ ra được mối tương quan thuận của các yếu tố được lựa chọn với mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học tuy nhiên chỉ dừng lại ở khách thể nghiên cứu là giáo viên ngành công nghệ giáo dục trong phạm vi bang Ohio, Hoa Kỳ Trong nghiên cứu của mình, Mohammed đã xác định được các yếu cơ bản có tương quan đến mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học của giáo viên cùng với

bộ công cụ đo lường gồm 63 biến quan sát đã trở thành gợi ý hữu ích cho tác giả luận văn này trong việc xác định khung lý thuyết cũng như xây dựng công

cụ đo lường cho đề tài luận văn.[39]

“Teacher ICT skill”, một nghiên cứu của Sở giáo dục Tây Úc (Western Australia) đã tiến hành khảo sát và đánh giá mức độ kiến thức, kỹ năng của giáo viên trên địa bàn Western Australia trong lĩnh vực ứng dụng CNTT và truyền thông phục vụ dạy học Nghiên cứu đã chỉ ra rằng năng lực sử dụng

Trang 24

CNTT, nguồn lực của nhà trường về CNTT, thái độ và động lực của giáo viên, chính sách và sự quan tâm của lãnh đạo là những yếu tố chủ yếu tác động đến mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy Nghiên cứu cũng

đã chỉ ra các yếu tố tác động đến năng lực ứng dụng CNTT của giáo viên.[36]

Nghiên cứu của Naser Jamil Al-Zaidiyeen, Leong Lai Mei và Fong Soon Fook (2010), đã khảo sát trên 650 giáo viên ở Jordan và khẳng định có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa thái độ của giáo viên đối với việc ứng dụng CNTT và mức độ ứng dụng CNTT của họ.[34]

Sara Hennessy, David Harrison, và Leonard Wamakote (2010) chỉ ra rằng, ngoài các yếu tố bên ngoài thì kỹ năng và mức độ tự tin về trình độ công nghệ, nghiệp vụ sư phạm trong sử dụng công nghệ, vai trò của giáo viên là những yếu tố quan trọng có tác động đến “lớp học có ứng dụng CNTT”

(Classroom Use of ICT) trong một nghiên cứu tại Châu Phi Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đối với giáo viên cũng như giảng viên sư phạm, việc ứng dụng CNTT trong dạy và học, sử dụng phương pháp sư phạm hiện đại, là điều cần thiết.[38]

Cher Ping Lim, Ching Sing Chai, Daniel Churchill (2010) chỉ ra rằng

“Những phương tiện đánh giá từ các bài kiểm tra trình độ được chuẩn hóa đến

hồ sơ bài dạy điện tử đã được sử dụng để đánh giá trình độ tích hợp CNTT phục vụ cho giảng dạy của các giáo sinh Việc đánh giá dựa trên bốn phương diện: khả năng sử dụng CNTT, thái độ và niềm tin đối với việc sử dụng CNTT, lý luận sư phạm và việc sử CNTT trong thực tế” Và nhận định: “Mặc

dù đã có nhiều bằng chứng cho thấy CNTT có tiềm năng lớn trong việc cải thiện chất lượng dạy và học cũng như việc tiếp cận CNTT ngày càng dễ dàng hơn, đa số giáo viên trên thế giới ngày nay vẫn chưa sử dụng công nghệ thành thạo hay thường xuyên để có thể khai thác tiềm năng của nó.”[40]

Nhấn mạnh yếu tố nhân lực trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học,

Trang 25

Craig Barrett (2012) khẳng định: “Tất cả thiết bị công nghệ đang có trong trường học ngày nay sẽ chẳng có giá trị gì nếu giáo viên không biết sử dụng chúng một cách có hiệu quả Chính các giáo viên mới đem lại sự kỳ diệu, chứ không phải là chiếc máy vi tính”

Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước cũng cho thấy việc nghiên cứu

về ứng dụng CNTT được đặc biệt quan tâm Dựa trên các nghiên cứu đã khảo cứu tác giả rút ra được nhiều nội dung quan trọng để kế thừa như việc đánh giá tầm quan trọng và tác động tích cực của việc ứng dụng CNTT, các yếu tố

cơ bản ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng CNTT Dựa trên nghiên cứu của Isleem (2003), Jef Peeraer và Peter Van Petegem(2010)và một số nghiên cứu khác tác giả lựa chọn và bổ sung các tiêu chí để xây dựng bảng hỏi phù hợp với thực tế Việt Nam và địa phương nhằm phục vụ nghiên cứu này

1.2 Chuẩn năng lực CNTT cho sinh viên

Vào tháng 10/2010, Tổ chức Hợp tác Phát triển và Hỗ trợ kỹ thuật (VVOB) phối hợp với UNESCO Bangkok và Đại học Sư phạm Hà Nội (HNUE) tổ chức Hội thảo Phát triển chương trình CNTT Mục tiêu của hội thảo là hướng dẫn các trường CĐSP xây dựng chương trình tích hợp CNTT vào chương trình đào tạo sinh viên sư phạm

Vào tháng 5/2011, tổ chức Hội thảo tiếp theo Xây dựng chương trình CNTT của UNESCO Hội thảo giới thiệu các Tiêu chuẩn CNTT và nghiên cứu sâu các tiêu chuẩn CNTT được sử dụng để định hướng việc xây dựng chương trình Chuẩn năng lực CNTT cho giáo viên và sinh viên là một trong những chủ đề được thảo luận

Kết quả thảo luận: Chuẩn năng lực CNTT của UNESCO được xây dựng cho giáo viên Dựa trên chuẩn này, xây dựng chuẩn năng lực CNTT

Trang 26

dành cho sinh viên sư phạm Chuẩn năng lực CNTT cho sinh viên sư phạm được xây dựng dựa trên chuẩn năng lực CNTT cho giáo viên do UNESCO xây dựng Lý do của việc làm này là các chuẩn cho giáo viên thể hiện năng lực của giáo viên đang giảng dạy trong khi các chuẩn cho sinh viên là kết quả đầu ra của chương trình đào tạo sinh viên sư phạm ở trường ĐH/CĐSP: kiến thức về sư phạm và công nghệ mà sinh viên cần có khi tốt nghiệp

Do vậy, trong các buổi thảo luận tại hội thảo, Chuẩn năng lực CNTT của UNESCO đã được phân tích để xem xét mức độ phù hợp của Chuẩn này đối với sinh viên sư phạm Khi tốt nghiệp sinh viên sư phạm chưa thể đạt trình độ nâng cao là “Kiến tạo kiến thức” Điều quan trọng là sinh viên sư phạm có năng lực sử dụng các công cụ CNTT và ý thức được cách sử dụng chúng hiệu quả và mang tính sư phạm

Vì vậy, vấn đề mấu chốt của Chuẩn năng lực CNTT cho sinh viên sư phạm là phương pháp sư phạm, CNTT và việc tổ chức giảng dạy Vấn đề Chương trình và Chính sách ít được đề cập đến

Chuẩn được sắp xếp theo ba cấp độ khác Đầu tiên là Hiểu biết về CNTT (Technology literacy) Cấp độ thứ hai là Đào sâu kiến thức (Knowledge deepening) Cấp độ thứ ba là Kiến tạo kiến thức (Knowledge creation) Với mỗi cấp độ, Chuẩn được phân chia thành sáu khía cạnh (Phụ lục 4)

Trong nghiên cứu này tác giả vận dụng Khung ICT như một căn cứ khoa học nhằm xác định các chỉ báo về năng lực ứng dụng CNTT đồng thời cũng là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu cho đề tài

1.3 Khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài

Trang 27

Như đã trình bày trong phần 1.1 của chương này, đến nay đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu để xác định các yếu tố tác động đến năng lực ứng dụng CNTT cũng như mức độ ứng dụng CNTT Điển hình có thể kể đến luận án tiến sĩ của Mohammed I Isleem (2003)

Trong nghiên cứu của mình, Isleem đã chọn 5 yếu tố cơ bản tác động đến mức độ ứng dụng CNTT của giáo viên đó là (1) sự thành thạo (expertise), (2) cơ hội tiếp cận (access), (3) thái độ (attitude), (4) sự hỗ trợ (support), và (5) đặc điểm cá nhân của giáo viên (teacher characteristics) Một tác giả khác, Jef Peeraer (2010), đã xác định các yếu tố tác động đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học thực hành gồm: cơ hội tiếp cận với máy tính, cường độ sử dụng máy tính, kỹ năng ICT, sự tự tin về ICT, và đặc điểm cá nhân (gồm thái độ với ICT và quan niệm về việc học tập ở học sinh) Một nghiên cứu khác của Snoeyink và Ertmer (2004) đã chỉ ra 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT trong giáo dục là yếu tố “bên ngoài” như nguồn lực và sự hỗ trợ kỹ thuật; yếu tố “bên trong” như thái độ của giáo viên với việc ứng dụng CNTT vào dạy học

Khung Chuẩn năng lực ICT cho thấy việc ứng dụng CNTT được thể hiện qua các chỉ báo cụ thể liên quan đến kỹ năng sử dụng máy tính và đặc điểm cá nhân của sinh viên như hiểu biết, ý thức, thái độ đối với việc tích hợp CNTT trong HĐH

Kế thừa kết quả các nghiên cứu trước đây, dựa vào Khung chuẩn năng lực ICT, và tham khảo các ý kiến chuyên gia, trong phạm vi của đề tài này, tác giả xác định các yếu tố tác động đến mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên gồm: (1) điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin, (2) sự hỗ trợ của ban giám hiệu và bạn bè, (3) Thái độ của sinh viên Như vậy, Khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài được xác định như Hình 1 1 dưới đây:

Trang 28

Hình 1 1 Mô hình khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài

1.4 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

1.4.1 Hoạt động học của sinh viên

Theo Tâm lý học sư phạm, hoạt động học là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại Và để tái tạo lại, người học không có cách gì khác đó là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ýchí, …) càng phát huy cao bao nhiêu thì việc tái tạo càng diễn ra tốt bấy nhiêu Do đó hoạt động học làm thay đổi người học Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình Hoạt động học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học Nghĩa là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà học phải tiến đến những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao đã được khái quát hoá, hệ thống hoá

Mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động học của sinh viên

Thái độ của sinh viên

Điều kiện tiếp cận CNTT

Sự hỗ trợ

Trang 29

1.4.2 Ứng dụng CNTT trong hoạt động học

Công nghệ thông tin là thuật ngữ chỉ chung cho tập hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và các quá trình xử lí thông tin Theo nghĩa đó, CNTT cung cấp cho chúng ta các quan điểm, phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kĩ thuật hiện đại chủ yếu là các máy tính và phương tiện truyền thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá của con người

Luật CNTT Việt Nam (2006) giải thích: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này Thuật ngữ CNTT còn bao hàm nội dung truyền thông trong đó vì vậy trong nghiên cứu này tác giả sử dụng thuật ngữ CNTT thay cho cả thuật ngữ

“CNTT và truyền thông” (ICT) được nhiều tác giả sử dụng trong thời gian gần đây

Tóm lại, Ứng dụng CNTT trong HĐH là việc sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để khai thác, sản xuất và trao đổi thông tin số, phục vụ hiệu quả cho hoạt động học của sinh viên

1.4.3 Mức độ ứng dụng CNTT

Mức độ ứng dụng CNTT có thể hiểu theo nghĩa khác nhau theo từng

Trang 30

cách tiếp cận khác nhau Các tác giả Isleem (2003), Castillo (2002) đã tiếp cận theo khía cạnh tần số trong nghiên cứu của mình, mức độ ứng dụng CNTT là việc sử dụng máy tính và các phần mềm phục vụ cho việc chuẩn bị bài học, soạn bài, tham khảo tài liệu, trao đổi kiến thức,… theo đó mức độ ứng dụng CNTT được chia thành các mức: (1) chưa bao giờ, (2) hiếm khi, (3) thỉnh thoảng, (4) thường xuyên, và (5) rất thường xuyên[30] Nếu tiếp cận theo khía cạnh đánh giá kiến thức có thể chia theo các mức: (1) không có kiến thức, (2) kiến thức có giới hạn, (3) kiến thức đủ, (4) kiến thức tốt, (5) kiến thức rất tốt[37]

Trong luận văn này, tác giả tiếp cận mức độ ứng dụng CNTT ở khía cạnh sự tần số ứng dụng CNTT trong HĐH Mức độ được xác định theo 5 mức theo chiều hướng tăng dần về việc ứng dụng CNTT trong HĐH là: (1) chưa bao giờ, (2) hiếm khi, (3) thỉnh thoảng, (4) thường xuyên, và (5) rất thường xuyên

1.4.4 Các yếu tố được chọn trong nghiên cứu

1.4.4.1 Điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin

Nghiên cứu của tác giả Isleem (2003), Mumtaz (2000) chỉ ra rằng việc thiếu nghiêm trọng thiết bị máy tính và phần mềm có thể hạn chế đến việc ứng dụng CNTT Tiếp cận với công nghệ thông tin là một bước đầu tiên và cần thiết trong quá trình ứng dụng CNTT; mặc dù quá trình tiếp cận sẽ không dẫn đến việc sử dụng công nghệ thông tin phục vụ cho học tập Theo Campbell (Alampay, 2006) đề cập đến tình huống là có một khoảng cách đáng kể trong việc tiếp cận hay sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin Điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin được hiểu là cơ hội để tiếp cận, sử dụng các thiết bị CNTT như máy tính, internet, phòng dạy học đa phương tiện

Trang 31

(multimedia), máy chiếu, phần mềm… Các thiết bị CNTT này có thể là của

cá nhân, của bạn bè, của cơ quan hoặc của ai đó có thể tiếp cận và sử dụng nó, phục vụ cho HĐH của mình

Đánh giá cơ hội tiếp cận được tác giả chia làm 5 mức độ: (1) chưa có, (2) rất khó tiếp cận, (3) khó tiếp cận, (4) dễ tiếp cận, và (5) rất dễ tiếp cận

1.4.4.2 Thái độ của sinh viên

Đặc điểm cá nhân trong nghiên cứu bao gồm thái độ của sinh viên đối với việc ứng dụng CNTT trong HĐH, các đặc điểm thông tin cá nhân về giới tính, ngành học, dân tộc, khóa học

Nghiên cứu của tác giả Isleem (2003), Mumtaz (2000) kết luận trong một phân tích rằng thái độ là vấn đề cần quan tâm ảnh hưởng đến việc sử dụng CNTT Khái niệm thái độ được tiếp cận với nghĩa là “quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử của cá nhân đối với việc ứng dụng CNTT trong giáo dục” Đánh giá thái độ cũng được tác giả chia làm 5 cấp độ: (1) rất không đồng ý, (2) không đồng ý, (3) phân vân, (4) đồng ý, và (5) rất đồng ý

1.4.4.3 Sự hỗ trợ của ban giám hiệu và bạn bè

Theo nghiên cứu của tác giả Isleem (2003), khái niệm sự hỗ trợ của bạn

bè và ban giám hiệu là: mức độ hỗ trợ việc ứng dụng CNTT trong HĐH của ban giám hiệu và sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè Đánh giá yếu tố này được tác giả chia thành 5 mức độ: (1) Chưa có, (2) hiếm khi, (3) chưa thường xuyên, (4) thường xuyên, và (5) rất thường xuyên

Trang 32

Kết luận Chương 1

Trong chương này tác giả đã giải quyết các vấn đề cơ bản làm cơ sở lý luận xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài đồng thời khẳng định tính đúng đắn của hướng nghiên cứu đề tài Các vấn đề được giải quyết trong chương gồm:

i) Các nhà hoạch định chính sách cùng các cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương đều rất quan tâm đến vấn đề ứng dụng CNTT

ii) Có rất ít nghiên cứu đánh giá những yếu tố tác động đến mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH của sinh viên Điều này khẳng định tính cấp thiết và hướng nghiên cứu của đề tài là đúng

iii) Dựa trên quan điểm của giáo dục học, lý luận dạy học, và các nghiên cứu liên quan tác giả đã xác định và làm rõ được các khái niệm sử dụng trong đề tài

Trang 33

Chương 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Thực trạng ứng dụng CNTT của trường CĐSP Sóc Trăng

Hiện nay, trường CĐSP Sóc Trăng đào tạo rất nhiều sinh viên thuộc nhiều Ngành khác nhau như Mầm non, Tiểu học, Âm nhạc, Thể dục, Anh văn, Tin học Từ khá sớm, trường đã bắt đầu đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy Khai thác những ứng dụng to lớn của công nghệ thông tin, một trong những ứng dụng đó là việc sử dụng các phần mềm hỗ trợ giảng dạy cho các tiết học trên lớp

Hầu hết các giảng viên đều nhận thấy đây là vấn đề cấp thiết cần thực hiện ngay Các sinh viên sư phạm cũng đều coi khả năng thiết kế bài giảng bằng máy tính như một tiêu chuẩn nâng cao giá trị của mình khi xin việc vào các trường tốt Lãnh đạo trường khuyến khích và coi khả năng sử dụng giáo

án điện tử, bài giảng điện tử là ưu điểm của giảng viên

Do đó, các lớp tập huấn Tin học sử dụng Powerpoint, Violet, thường được các giảng viên, sinh viên tham gia rất đông Trong các cuộc thi giáo án điện tử, gần như 100% giảng viên đều tham gia với sản phẩm có chất lượng

Đa số các phòng học đều đã trang bị máy chiếu để phục vụ việc giảng dạy bằng máy tính Trường đã triển khai sử dụng phần mềm quản lí đào tạo trên website của trường rất hiệu quả Phần mềm quản lí thư viện cũng được đưa vào sử dụng phục vụ nhu cầu tra cứu tài liệu

Về cơ sở vật chất, trường có 5 phòng máy tính với hơn 100 máy tính bàn phục vụ các tiết thực hành Trung tâm hỗ trợ học tập (KLF) hoạt động thường xuyên, cung cấp đầy đủ thiết bị phục vụ dạy và học cho giảng viên và sinh viên

Trang 34

Nhà trường tổ chức nhiều cuộc thi, chuyên đề về CNTT cho sinh viên; tuyên truyền, hưởng ứng năm học ứng dụng CNTT và có nhiều hỗ trợ tích cực về thiết bị và kiến thức CNTT

2.2 Mẫu nghiên cứu

- Tổng thể: toàn bộ 865 SV hệ cao đẳng chính quy của Trường CĐSP Sóc Trăng

- Mẫu nghiên cứu: Bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên dạng tỉ lệ theo khóa học, tác giả đã tính cỡ mẫu với độ tin cậy 95% và mức sai

số 5%, mẫu được tính từ tổng thể 865 SV là 266 SV Để đảm bảo tỉ lệ phản hồi, mẫu được dự trữ thêm 10% (27 SV)

Bảng 2.1 Phân bố mẫu nghiên cứu theo khóa học

Tổng thể (865) 326 (38%) 270 (32%) 269 (30%)

Mẫu (293) 111 (38%) 94 (32%) 88 (30%)

- Cỡ mẫu: 293 sinh viên

* Quy trình chọn mẫu như sau:

- Khảo sát, lập danh sách các lớp đào tạo của trường

-Trong các lớp tiến hành phân tầng theo khóa học Sau khi có danh sách các sinh viên theo khóa, tiến hành phát phiếu khảo sát ngẫu nhiên cho các sinh viên thuộc các lớp Số lượng phiếu khảo sát hợp lệ trong giai đoạn điều tra chính thức sẽ được xử lý và phân tích để đánh giá

-Để làm rõ và sâu hơn mức độ ứng dụng CNTT, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 15 sinh viên và 10 giáo viên tại trường

2.3 Quy trình nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là định lượng và

Trang 35

định tính Việc nghiên cứu định tính được tiến hành nhằm xây dựng cơ sở lý luận, tham khảo ý kiến chuyên gia và phỏng vấn sinh viên trong nghiên cứu

sơ bộ để xây dựng công cụ đo lường (bảng hỏi) phục vụ nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu được tiến hành theo ba bước, bước một là nghiên cứu định tính (khảo cứu tài liệu) nhằm xây dựng cơ sở lý thuyết, tổng quan nghiên cứu vấn đề, và xác định các chỉ báo; bước hai là nghiên cứu sơ bộ bằng định tính nhằm thăm dò và điều chỉnh bảng hỏi; bước ba là nghiên cứu bằng định lượng Kết quả khảo sát được mã hóa và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu

i) Nghiên cứu sơ bộ theo phương pháp định tính, thông qua phương

Cơ sở lý thuyết

Kết luận

Mô hình lý thuyết Các chỉ báo thang đo

Kiểm định mô hình CFA & SEM

Nghiên cứu chính thức Kiểm định thang đo

Cronbach’s Alpha

Nghiên cứu sơ bộ Phát bảng hỏi thăm

dò, phỏng vấn Điều chỉnh

Trang 36

pháp phỏng vấn sâu và phát bảng hỏi thăm dò

Đầu tiên, tác giả tiến hành nghiên cứu tài liệu, dựa trên các cơ sở lý luận thiết kế khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài (Hình 1 1), xác định các chỉ báo và xây dựng bảng hỏi thô (Phụ lục 1); sau đó tiến hành xin ý kiến chuyên gia về sự cần thiết và phù hợp của từng câu hỏi trong bảng hỏi và tiến hành hiệu chỉnh Sử dụng bảng hỏi thăm dò (Phụ lục 2) để khảo sát đồng thời phỏng vấn sâu 15 sinh viên

Nghiên cứu sơ bộ này dùng để đánh giá cách sử dụng thuật ngữ trong bảng hỏi để điều chỉnh một số thuật ngữ cũng như cấu trúc bảng hỏi cho thích hợp, tránh trường hợp người được khảo sát hiểu sai ý cần hỏi; đồng thời loại

bỏ những chỉ báo không phù hợp và hoàn thành bảng hỏi đã điều chỉnh (Phụ lục 3)

ii) Nghiên cứu được tiến hành bằng phương pháp định lượng thông qua

kỹ thuật phát bảng hỏi và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS Số bảng hỏi

phát ra là 293 theo mẫu nghiên cứu đã được trình bày trong mục 2.2 Số bảng

hỏi thu về được kiểm lọc để loại bỏ những bảng hỏi không phù hợp do người trả lời bỏ trống nhiều hoặc chọn phương án trả lời mâu thuẫn Kết quả khảo sát được dùng để phân tích nhân tố khẳng định (CFA), mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

2.4 Xây dựng công cụ đo lường

2.4.1 Xác định các chỉ báo

Kế thừa các nghiên cứu của Isleem (2003), Jef Peeraer và Peter Van Petegem (2010) và phân tích chuẩn năng lực CNTT của sinh viên, bảng hỏi được thiết kế nhằm thu thập theo các yếu tố được xác định như khung lý thuyết bao gồm: Mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH, điều kiện tiếp cận với

Trang 37

CNTT của sinh viên, sự hỗ trợ của BGH và bạn bè, thái độ của sinh viên Qua

nghiên cứu tổng quan và cơ sở lý luận được trình bày trong Chương 1, tác giả

đã xác định được 40 chỉ báo (xem Phụ lục 1) Sau khi tiến hành xin ý kiến

chuyên gia, khảo sát thăm dò và phỏng vấn sâu 15 sinh viên, 10 giáo viên; 14 chỉ báo đã được loại bỏ hoặc thay thế và giữ lại 28 chỉ báo để xây dựng công

cụ đo lường gồm:

- Nhân tố “Mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH”

Các chỉ báo được loại bỏ gồm:

“Có dùng máy chiếu (projector)“

“ Có dùng bài giảng điện tử hay phần mềm mô phỏng”

“Học trên phòng máy vi tính hoặc phòng nghe nhìn

(multimedia)”

“ Trao đổi email với giảng viên”

“ Trao đổi email với bạn bè”

Chỉ báo “Có dùng máy chiếu (projector)“,“ Có dùng bài giảng điện tử

hay phần mềm mô phỏng”được loại bỏ vì đã bao hàm trong chỉ báo

“Sử dụng phần mềm trình chiếu” Chỉ báo “Học trên phòng máy vi tính hoặc phòng nghe nhìn (multimedia)” được loại bỏ vì trường

chưa có phòng nghe nghìn, và “dạy học trực tuyến còn rất xa lạ với giáo dục ở Việt Nam”[14]

Chỉ báo “ Trao đổi email với giảng viên”,“

Trao đổi email với bạn bè” được thay bằng “Sử dụng email trao đổi thông tin bài học với giảng viên, bạn bè”

Nhân tố “Mức độ ứng dụng CNTT trong HĐH” sẽ được đo bằng các chỉ báo sau:

“Soạn bài báo cáo”

“Sử dụng phần mềm trình chiếu”

Trang 38

“Tra cứu thông tin, tư liệu cho việc soạn bài”

“Sử dụng email trao đổi thông tin bài học với giảng viên, bạn bè”

“Làm phim, ảnh tư liệu, phục vụ bài học”

“Tham gia viết bài trên các diễn đàn sinh viên”

- Nhân tố “Điều kiện tiếp cận với CNTT”

Các chỉ báo được loại bỏ gồm:

“ Phòng nghe nhìn (multimedia)”

“Bảng thông minh”

“Máy tính cá nhân (máy để bàn)”

“Laptop cá nhân (máy tính xách tay)”

Các chỉ báo “ Phòng nghe nhìn (multimedia)”,“Bảng thông minh”

được loại bỏ vì lý do trường không đầu tư, sửa chữa các thiết bị này

Các chỉ báo “Máy tính cá nhân (máy để bàn)”,“Laptop cá nhân (máy

tính xách tay)”được thay bằng “Máy tính của cá nhân hoặc gia đình, bạn bè”

Nhân tố “Điều kiện tiếp cận với CNTT” sẽ được đo bằng các chỉ báo như sau:

“Máy tính tại phòng máy thực hành”

“Kết nối với Internet tại trường”

“Máy in”

“Máy tính của cá nhân hoặc gia đình, bạn bè”

“Phòng máy tính trung tâm hỗ trợ học tập”

“Máy chiếu (projector)”

“Phần mềm phục vụ soạn bài học”

Trang 39

- Nhân tố “Sự hỗ trợ từ BGH và bạn bè”

Các chỉ báo được loại bỏ gồm:

“Tổ chức thi bài giảng điện tử”

“ Hỗ trợ sinh viên cài đặt và cập nhật phần mềm”

Chỉ báo “Tổ chức thi bài giảng điện tử” được loại bỏ vì trường không

tổ chức thi bài giảng điện tử mỗi năm Chỉ báo “ Hỗ trợ sinh viên cài

đặt và cập nhật phần mềm” được loại bỏ vì nó được bao hàm trong các

chỉ báo còn lại

Nhân tố “Sự hỗ trợ từ BGH và bạn bè” sẽ được đo bằng các chỉ báo sau:

“Có chính sách khuyến khích sinh viên ứng dụng CNTT”

“Tổ chức tập huấn/hội thảo về kỹ năng ứng dụng CNTT”

“Cung cấp thiết bị, phần mềm phục vụ môn học”

“Có hỗ trợ của trung tâm hỗ trợ học tập”

“Có hỗ trợ của nhân viên kỹ thuật tin học”

“Bạn bè hướng dẫn nhau sử dụng CNTT”

- Nhân tố “Thái độ của sinh viên”

Các chỉ báo được loại bỏ gồm:

“Ứng dụng CNTT làm cho người sinh viên vất vả hơn”

“CNTT rất cần cho việc nâng cao trình độ chuyên môn”

“CNTT giúp tôi thu thập thông tin nhanh và chính xác hơn”

Các chỉ báo trên được loại bỏ vì nó được bao hàm trong các chỉ báo khác

Trang 40

Nhân tố “Thái độ của sinh viên” sẽ được đo bằng các chỉ báo sau:

“Ứng dụng CNTT trong dạy học chưa thật sự cần thiết”

“CNTT được tôi ứng dụng vào hầu hết các môn học”

“Tôi muốn tham gia tập huấn ứng dụng CNTT”

“CNTT cung cấp nhiều tài nguyên và công cụ”

“CNTT giúp tôi làm việc năng suất hơn”

Thông tin cá nhân của sinh viên gồm: giới tính, dân tộc, khóa học, ngành học

2.4.2 Xây dựng công cụ đo lường

Luận văn sử dụng kết hợp hai phương pháp định tính và định lượng Công cụ đo lường được sử dụng là thang đo định danh và thang Likert 5 điểm

Thang định danh là thang đo mà các con số được dùng để phân loại đối tượng hoặc sử dụng như một ký hiệu để phân biệt và nhận dạng đối tượng Thang đo định danh chỉ biểu hiện về mặt ý nghĩa định danh mà không biểu hiện về định lượng của đối tượng đó Một thang định danh được sử dụng với mục đích chỉ danh, nó tồn tại quan hệ tương ứng giữa con số và đối tượng: một đối tượng chỉ tương ứng một con số và mỗi con số chỉ gắn với mỗi đối tượng Trong luận văn, thang đo định danh dùng để biểu thị giới tính, khóa học, dân tộc, ngành học

Thang Likert được dùng trong phiếu khảo sát mức độ ứng dụng CNTT của sinh viên và các yếu tố ảnh hưởng: Điều kiện tiếp cận, Sự hỗ trợ của BGH và bạn bè, Thái độ của sinh viên tại trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng

Mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động học: Gồm 6 câu hỏi theo

thang Likert 5 điểm: 1-chưa bao giờ, 2-hiếm khi, 3-thỉnh thoảng, 4-thường

xuyên, và 5-rất thường xuyên

Ngày đăng: 17/03/2021, 19:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w