1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình hình thành hệ thống thể chế quản lý đô thị ở việt nam từ 1945 đến 2010

14 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 276,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hệ thống này còn có nhiều mặt hạn chế, biểu hiện sự chậm trễ và tính dự báo thấp của các quy phạm: Hệ thống luật pháp về quản lý đô thị chưa đồng bộ, thiếu nhất quán, một số đ

Trang 1

QUẢN LÝ ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM (TỪ 1945 ĐẾN 2010)

Đỗ Kiên

Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, ĐHQGHN

1 Mở đầu

Song song với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ trong 2 thập kỷ gần đây, các đô thị vừa và nhỏ ở Việt Nam đang ở trong giai đoạn phát triển toàn diện mang tính đột biến cả về quy mô, tốc độ và chức năng, đem lại một diện mạo hoàn toàn mới cho đô thị Việt Nam Thực tế này đặt ra một đòi hỏi khách quan về sự phát triển tương ứng của các thể chế quản lý và định hướng phát triển đô thị nói chung và đô thị vừa và nhỏ nói riêng ở Việt Nam

Hệ thống thể chế về đô thị của Nhà nước Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đã tạo ra hành lang pháp lý cho công tác quản lý đô thị trong bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay Tuy nhiên, hệ thống này còn có nhiều mặt hạn chế, biểu hiện sự chậm trễ và tính dự báo thấp của các quy phạm: Hệ thống luật pháp về quản lý đô thị chưa đồng bộ, thiếu nhất quán, một số đạo luật quan trọng chưa được hình thành hoặc chưa phù hợp với đặc điểm đô thị Việt Nam; trong hệ thống chính sách đã xuất hiện những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển đô thị, còn lúng túng trong giải quyết mối quan hệ giữa phát triển đô thị với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; năng lực kiến tạo và vận hành thể chế của bộ máy quản lý nhà nước về đô thị còn những hạn chế; tính thích ứng của thể chế trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO vẫn còn mờ nhạt

Với mong muốn đưa ra một phác họa khái quát về hệ thống thể chế pháp luật trong quản lý đô thị nói chung và đô thị vừa và nhỏ nói riêng, chúng tôi sưu tầm và bước đầu phân tích tập hợp 150 văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý đô thị được ban hành từ

Trang 2

năm 1945 - 2010 Hệ thống này bao gồm các văn bản điều chỉnh trong lĩnh vực đô thị được lưu trữ và công bố chính thức tại 3 nguồn: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam1; Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam2 và Công báo Việt Nam3 Các nhận xét, đánh giá của chúng tôi trong bài viết này đều dựa trên kết quả nghiên cứu bước đầu và việc phân tích định lượng các văn bản pháp luật trên

2 Khái niệm về đô thị và hệ thống thể chế pháp luật đô thị ở Việt Nam

2.1 Khái niệm đô thị

Một số đồng nghiệp, nhà nghiên cứu nước ngoài khi đến làm việc tại Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội hay

có có thắc mắc với chúng tôi về khái niệm đô thị, quan niệm về đô thị của người Việt Nam (?) Phải chăng đã có sự không đồng nhất về vấn đề này? Khái niệm chính thống về đô thị hay quan niệm về đô thị của Việt Nam xuất phát từ hệ thống các quan điểm chính trị xã hội của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin Theo đó, “đô thị” được hiểu theo các tiêu chí kinh viện như sau:

Theo C.Mác và Ăngghen trong tác phẩm “Tư tưởng Đức” đã cho rằng, điều kiện quan trọng nhất hình thành đô thị là “Sự phân công lao động trong một quốc gia dẫn đến việc tách lao động công nghiệp, thương mại khỏi sản xuất nông nghiệp, từ đó tạo ra hai kiểu phân bố dân cư là đô thị

và nông thôn, chúng đối lập nhau về lợi ích”

Theo V.I Lê Nin: “Đô thị là trung tâm kinh tế, chính trị và tinh thần của đời sống nhân dân và là động lực của sự tiến bộ”

Theo V.Gu – Live: “Thành phố của một chế độ nào đó là một điểm dân

cư lớn, giữa vai trò là trung tâm chính trị - hành chính, văn hoá và kinh tế

có vai trò hấp dẫn và thúc đẩy vùng phụ cận phát triển”

Các quan điểm, thể chế về đô thị và phát triển đô thị của Việt Nam đều được xây dựng và kế thừa trên nền tảng các luận điểm trên

Được tìm thấy lần đầu tiên tại Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố đến khái niệm chính thức

1 http://www.vietlaw.gov.vn

2 http://www.chinhphu.vn

3 http://congbao.vn

Trang 3

về đô thị của nhà nước Việt Nam hiện nay được nêu tại Luật Quy hoạch đô thị1 và Thông tư 34/2009/TT-BXD2 ngày 30/9/2009 quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị như sau:

“Đô thị: là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ

yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”

2.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đô thị

Văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam là một hệ thống nhiều tầng bậc phức tạp, là sự cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Nhà nước mà trước hết là cụ thể hóa đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua các nghị quyết của đảng Hệ thống pháp luật về đô thị không nằm ngoài đặc điểm đó

Các văn bản có hiệu lực cao nhất điều chỉnh các quan hệ trong quản lý đô thị do Quốc hội ban hành gồm Hiến pháp, Luật, Bộ luật, Nghị quyết và văn bản do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành gồm Pháp lệnh, Nghị quyết Tiếp theo là văn bản do các cơ quan Nhà nước ở Trung ương ban hành

để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội bao gồm các Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định, (chỉ thị), thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang

Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội; Văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; Văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp như Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân

1 Điều 3, khoản 1 Luật Quy hoạch đô thị: 2009/QH12 ngày 17/6/2009

2 Điều 1 Thông tư 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị.

Trang 4

Nội dung cụ thể các loại hình văn bản pháp luật trong lĩnh vực đô thị

và liên quan đến điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực đô thị ở Việt Nam như sau:

- Luật, Nghị quyết của Quốc hội quy định các vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực trong tổ chức quản lý đô thị (đất đai, môi trường, kiến trúc, xây dựng đô thị ), những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức hoạt động của bộ máy chính quyền đô thị

- Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, dự toán ngân sách Nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước, phê chuẩn điều ước quốc tế

- Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định những vấn đề được quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành Luật Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Tòa

án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân và những vấn đề khác

- Các văn bản pháp quy là văn bản dưới luật thuộc phạm trù lập quy, chứa đựng các quy tắc xử sự chung nhằm thực hiện và cụ thể hoá văn bản luật Văn bản pháp quy gồm Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị + Nghị quyết và Nghị định do Chính phủ ban hành: Nghị quyết của Chính phủ dùng để ban hành các chủ trương chính sách, biện pháp lớn, nhiệm vụ kế hoạch, ngân sách Nhà nước và các mặt khác Nghị định của Chính phủ dùng để ban hành các quy định nhằm thực hiện luật, pháp lệnh của Quốc hội, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong đời sống xã hội; ban hành các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân nhằm thực hiện Hiến pháp và luật do Quốc hội ban hành; các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy các cơ quan Nhà nước; các điều lệ, các quy định về chế

độ quản lý hành chính Nhà nước về đô thị

+ Quyết định và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ dùng để điều hành các công việc thuộc quyền của Thủ tướng như quy định các chính sách cụ thể; quyết định về công tác tổ chức, nhân sự; phê chuẩn các kế hoạch, các phương án kinh tế kỹ thuật; bãi

bỏ các quyết định của các cơ quan cấp dưới Chỉ thị của Thủ tướng Chính

Trang 5

phủ dùng để truyền đạt các chủ trương, chính sách, biện pháp quản lý; chỉ đạo về tổ chức và hoạt động đối với ngành các cấp

+ Quyết định, thông tư do Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ được ban hành: Quyết định của Bộ trưởng dùng để ban hành các chế độ, thể lệ thuộc lĩnh vực công tác của ngành, lĩnh vực; quyết định về việc thành lập, giải thể, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy làm việc của cơ quan, đơn vị trực thuộc; bổ nhiệm quyền hạn tổ chức bộ máy làm việc của cơ quan, đơn vị trực thuộc; bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, nhân viên trong ngành, lĩnh vực; phê duyệt các phương án kinh tế kỹ thuật; ban hành các tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình, định mức kỹ thuật; nhiệm vụ công tác.v.v thuộc thẩm quyền

Chỉ thị của Bộ trưởng dùng để đề ra các chủ trương, biện pháp quản lý; chỉ đạo và kiểm tra việc kiện toàn tổ chức; chấn chỉnh công tác nâng cao năng lực quản lý của ngành, lĩnh vực; giao nhiệm vụ cho cơ quan, đơn vị

và cán bộ nhân viên thuộc quyền

Thông tư của Bộ dùng để hướng dẫn, giải thích các chủ trương, chính sách, các văn bản pháp quy của Chính phủ và Thủ tướng; đề ra các biện pháp thi hành các chế độ chính sách của chính phủ hoặc của ngành, lĩnh vực; giải quyết các mối quan hệ công tác nhằm thực hiện các quyết định của Nhà nước

3 Hệ thống thể chế về đô thị Việt Nam

3.1 Giai đoạn 1945 – 1975

Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, cùng với việc củng cố bộ máy Nhà nước ở trung ương, các văn bản pháp

lý cũng nhanh chóng được ban hành để thiết lập hệ thống chính quyền địa phương, vì đây là hệ thống chính quyền cơ sở, trực tiếp lãnh đạo nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản và Nhà nước Trong số đó phải kể đến hai sắc lệnh quan trọng: đó là Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945 quy định việc tổ chức Hội đồng nhân dân, ủy ban hành chính các cấp ở nông thôn và Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố Nội dung của hai sắc lệnh này

đã quy định rõ tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương

Trang 6

Sắc lệnh số 77 chính là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về vấn đề tổ chức quản lý đô thị Việc ban hành song song hai Sắc lệnh số 63 và 77 có một ý nghĩa rất quan trọng, đó là biểu hiện tư duy phân biệt rạch ròi thể chế quản lý đô thị với thể chế quản lý nông thôn của nhà nước trung ương lúc đó Điều này đã không được các giai đoạn sau này kế thừa và phát triển

Điều thứ nhất Sắc lệnh số 77 quy định: “Trừ các thành phố kể trong Điều thứ 3, thì các tỉnh lỵ và những nơi đô hội mà lâu nay về mặt hành chính được biệt lập và trực tiếp với tỉnh, từ nay sẽ gọi là thị xã Các Uỷ ban hành chính kỳ sẽ định rõ những nơi nào sẽ đặt làm thị xã”

Điều thứ 3 quy định: “Các thị trấn Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh - Bến Thuỷ, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt và Sài Gòn - Chợ Lớn đều đặt làm thành phố”

Như vậy, có thể thấy rằng, trong thời kỳ này Nhà nước Việt Nam đồng nhất khái niệm đô thị với khái niệm thành phố/thị xã Nói cách khác, đô thị bao gồm 2 loại là: các thành phố và thị xã Đồng thời, đồng nhất đô thị với các trung tâm chính trị (tỉnh lỵ, huyện lỵ) Chức năng chủ yếu của đô thị, đặc biệt là các đô thị vừa và nhỏ (thị xã, thị trấn) là trung tâm chính trị hành chính của địa hạt các huyện, tỉnh Về tổ chức, các đô thị là các đơn vị chính quyền độc lập theo Luật tổ chức chính

quyền địa phương: “Chính quyền địa phương tổ chức như sau: Các

khu tự trị, các thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh, châu, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, xã, thị trấn có Hội đồng nhân dân (HĐND) và

Uỷ ban hành chính (UBHC)”1 Đặc biệt, các đô thị nói chung và đô thị vừa và nhỏ, các thị xã được coi là các đơn vị hành cơ sở (tự trị), có ngân sách riêng Đặc điểm này giống thể chế đô thị các nước Tây Âu, Nhật Bản Tuy nhiên, chế định này cũng không tồn tại lâu dài Để phù hợp với các chế định chính trị khác, ngày 07/4/1947, nhà nước đã có sắc lệnh

số 42-SL bãi bỏ ngân sách các cấp kỳ, tỉnh, thành phố, thị xã tự trị và sáp nhập vào quỹ toàn quốc2

Theo các tiêu chí sưu tập dựa trên quan niệm “đô thị” của từng giai đoạn, đối tượng điều chỉnh của quy phạm pháp luật, chúng tôi tập hợp

1 Điều 1, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ngày 29/4/1958

2 Sắc lệnh 42-SL ngày 07/4/1947 bãi bỏ ngân sách các cấp kỳ, tỉnh, thành phố, thị xã tự trị và sáp nhập vào quỹ toàn quốc

Trang 7

được 18 văn bản pháp luật về đô thị trong giai đoạn 1945 – 1975 Kết quả phân tích định lượng cho thấy, theo thời gian, trước năm 1959, thực hiện hiệu lực của Hiến pháp 1946, các văn bản về đô thị hoàn toàn đề cập đến việc xây dựng, tổ chức và quản lý bộ máy chính quyền các thành phố, thị

xã, thị trấn Không có chế định về các lĩnh vực chuyên môn khác Điều đó cho thấy, sự giản đơn của các đô thị Việt Nam, nhất là các đô thị vừa và nhỏ Dường như, ngoài chức năng trung tâm chính trị và hành chính khu vực, các đô thị chưa hẳn là nơi tập trung dân cư thật sự đông đúc với đời sống sinh hoạt thị dân và các đặc điểm phức tạp đòi hỏi phải điều chỉnh bởi nhiều quy phạm pháp luật Sau năm 1959 đến 1975, thực hiện hiệu lực của Hiến pháp 1959, các văn bản pháp luật về quản lý đô thị chủ yếu tập trung vào hai lĩnh vực là đất đai và nhà ở đô thị Cụ thể, các chế định về đất đai chiếm tỷ lệ 17%, về nhà ở chiếm 50% tổng số các văn bản pháp luật được ban hành Điều này cho thấy rằng các đô thị đã có sự phát triển và biến đổi rất rõ nét về mật độ dân số Tính chất, giá trị của các yếu tố đô thị

đã tăng lên đáng kể

Bảng 1: Cơ cấu các văn bản pháp luật về đô thị (1945 – 1975)

theo thể thức văn bản Hình thức Luật Sắc lệnh Nghị Quyết Nghị định Thông tư Quyết định Công văn Chỉ thị

Bảng 2: Cơ cấu các văn bản pháp luật về đô thị (1945 – 1975)

theo thẩm quyền ban hành:

Thẩm

quyền

Quốc hội Chính phủ Các bộ Thủ tướng Khác Chủ tịch

nước Bí thưBan

Bảng 3: Cơ cấu các văn bản pháp luật về đô thị (1945 – 1975)

theo lĩnh vực điều chỉnh Lĩnh vực điều chỉnh Tổ chức chính quyền Đất đai Nhà ở

Trang 8

Tóm lại, các chế định về đô thị của nhà nước Việt Nam giai đoạn từ

1945 – 1975 có thể chia làm hai bộ phận, bộ phận trước năm 1959, chủ yếu bao gồm các văn bản quy định về xây dựng, tổ chức, quản lý bộ máy đô thị trong bối cảnh các đô thị đang ở trình độ phát triển thấp, bộ phận sau năm 1959 – 1975 chủ yếu tập trung giải quyết các vấn đề về nhà ở và đất đai đô thị Các đô thị vừa và nhỏ được đồng nhất với các tỉnh lỵ, huyện lỵ, với chức năng đơn giản, quy mô nhỏ Hệ thống thể chế cho nó đã đáp ứng nhu cầu duy trì hoạt động, xây dựng bộ máy chính quyền và đảm bảo điều kiện cư trú của cư dân Mặc dù có các chế định riêng cho quản lý nông thôn

và quản lý đô thị nhưng lại không có sự phân biệt rạch ròi giữa cho đô thị lớn và đô thị nhỏ

3.2 Giai đoạn 1976 – 1992

Năm 1975, sau sau khi hoàn thành việc thống nhất về mặt Nhà nước, quá trình thống nhất pháp luật trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam cũng được tiến hành Trong điều kiện của đất nước trên 20 năm chia cắt, Việt Nam có

hệ thống pháp luật song song tồn tại ở hai miền Miền Bắc đã xây dựng Hiến pháp 1959, đạo luật cơ bản và hàng nghìn văn bản khác Tuy nhiên, pháp luật xã hội chủ nghĩa chưa thích hợp ngay được với miền Nam Trong khi đó, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành khoảng 40 văn bản pháp luật1

Các văn bản pháp luật về đô thị trong thời kỳ này chủ yếu tập trung vào việc ổn định tình hình chính trị xã hội, khôi phục, phát triển nền kinh tế sau chiến tranh Tuy nhiên, ngay những năm đầu thập kỷ 90, trên cơ sở công cuộc “đổi mới” và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế xã hội, quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đã bước vào một thời kỳ phát triển mang tính đột phá Vấn đề đô thị và quản lý đô thị đã được nhà nước Việt Nam quan tâm Lần đầu tiên, Chính phủ (Hội đồng Bộ trưởng) tổ chức một hội nghị quy mô lớn bàn về vấn đề đô thị Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về đô thị đã khẳng định vị trí chiến lược và vai trò quan rọng của các đô thị đối với toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước Tại Việt Nam, kinh tế đô thị còn kém phát triển, công nghệ sản xuất lạc hậu, thiếu thốn, số người lao động thiếu việc làm đang tăng nhanh Tình hình nhà ở căng thẳng đang là một vấn đề xã hội gay gắt Các công trình công cộng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị còn thiếu và

1 Vũ Thị Phụng: Giáo trình Nhà nước và Pháp luật Việt Nam Nxb ĐHQGHN, Hà Nội, 2008.

Trang 9

xuống cấp nhanh, môi trường sống ngày càng xấu đi Việc cấp đất và cấp giấy phép xây dựng tuỳ tiện, làm cho bộ mặt kiến trúc đô thị lộn xộn, hỗn tạp Công tác quản lý đô thị còn bị buông lỏng, tình hình an ninh trật tự chưa đảm bảo Tổ chức quản lý, bộ máy hành chính và bố trí cán

bộ chưa thực phù hợp với đặc thù của đô thị1 Nguyên nhân của tình hình trên là do nền kinh tế còn nhiều khó khăn và mất cân đối, chính sách bao cấp về tài chính kéo dài, nhận thức về vai trò của đô thị và sự quan tâm đóng góp vào công tác xây dựng và quản lý đô thị chưa được thống nhất và coi trọng Luật lệ và chính sách còn thiếu và chậm thay đổi, ý thức chấp hành luật pháp ngày càng giảm sút Chiến lược phát triển đô thị còn thiếu, quy hoạch đô thị không sát thực tế Công tác xây dựng và quản lý đô thị ít được tổng kết

Để khắc phục tình trạng trên đây, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị số 19-CT ngày 22/1/1991 về việc chấn chỉnh công tác quản lý

đô thị Văn bản này chỉ thị cho các bộ ngành, các cấp chính quyền thực hiện sáu nhiệm vụ cấp bách về đô thị, đó là:

(1) Cần nhận thức rõ vị trí chiến lược và vai trò quan trọng của hệ thống

đô thị đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (2) Đổi mới công tác quy hoạch và tăng cường quản lý xây dựng đô thị (3) Gấp rút bổ sung, sửa đổi và xây dựng mới các luật lệ và chính sách

về xây dựng và quản lý đô thị, về kiến trúc và môi trường sinh thái

đô thị v.v hình thành đồng bộ hệ thống luật pháp mới để mở rộng dân chủ, đề cao pháp luật, lập lại trật tự kỷ cương, làm cho mọi người dân đô thị sống và làm việc theo pháp luật

(4) Huy động mọi nguồn tài chính vào việc phát triển đô thị, xoá bỏ bao cấp tràn lan trong quản lý đô thị, nhưng phải đảm bảo các chính sách xã hội

(5) Tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các đô thị trong việc quyết định sự phát triển và quản lý đô thị do mình phụ trách, củng cố và kiện toàn bộ máy chức năng, hệ thống chế tài trong quản lý đô thị

(6) Yêu cầu thủ trưởng từng bộ ngành, từng cấp chính quyền thực hiện một số công việc cụ thể mang tính cấp bách trong năm 1991

1 Chỉ thị số 19-CT ngày 22/1/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc chấn chỉnh công tác quản lý đô thị.

Trang 10

Xuất phát từ nhận thức đầy đủ về vai trò và hiện trạng thực tế của các

đô thị ở Việt Nam với đặc điểm phù hợp và cần thiết phát triển có định hướng đối các đô thị vừa và nhỏ, chính phủ đã có những chính sách điều chỉnh kịp thời Ngày 05/5/1990, Hội đồng bộ trưởng ban hành quyết định

số 132-HĐBT Quyết định về việc phân loại đô thị và phân cấp quản lý đô thị Quyết định này có sự phân định rõ ràng, phân biệt đô thị lớn với đô thị vừa và nhỏ Đô thị được chia làm 5 loại, từ loại I đến loại V Đô thị loại I

là đô thị rất lớn có quy mô dân số từ 1 triệu người trở lên Đô thị loại II là đô thị lớn có dân số từ 35 vạn đến dưới 1 triệu Đô thị loại III là đô thị trung bình lớn, dân số từ 10 vạn đến dưới 35 vạn Đô thị loại IV là đô thị trung bình nhỏ dân cư: từ 3 vạn đến dưới 10 vạn Đô thị loại V là đô thị nhỏ, dân số từ 4.000

đến dưới 3 vạn (vùng núi có thể thấp hơn)1

Đô thị được phân cấp về mặt quản lý hành chính Nhà nước như sau: 1- Đô thị loại I và loại II chủ yếu do Trung ương quản lý

2- Đô thị loại III và loại IV chủ yếu do tỉnh quản lý

3- Đô thị loại V chủ yếu do huyện quản lý2

Như vậy, có thể thấy các đô thị vừa và nhỏ được phân cấp quản lý tại địa phương, khác với các đô thị lớn được trung ương quản lý

3.3 Giai đoạn 1992 - 2010

Những năm đầu thập kỷ 1990, Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn

do tác động của cuộc khủng hoảng Xã hội Chủ nghĩa Thực hiện công cuộc

“Đổi mới” được đặt ra từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, với chính sách “mở cửa” để thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế thị trường theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tình hình kinh tế xã hội bước đầu đã có những thay đổi căn bản, làm tiền đề cho một giai đoạn phát triển mới Quá trình đô thị hóa cũng đi vào giai đoạn phát triển có tính đột biến với tốc độ ngày càng cao

Nếu như năm 1991 dân số đô thị cả nước là 13,619 triệu (chiếm gần 20% tổng dân số cả nước) với 458 đô thị gồm 3 thành phố trực thuộc Trung ương; 11 thành phố trực thuộc tỉnh, 62 thị xã, 382 thị trấn, thì đến năm 2001

đã có 651 đô thị gồm 4 thành phố trực thuộc trung ương, 20 thành phố

1 Quyết định số 132-HĐBT ngày 05/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quyết định về việc phân loại đô thị và phân cấp quản lý đô thị.

2 Điều 4, Quyết định số 132-HĐBT.

Ngày đăng: 17/03/2021, 18:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w