Ông Bùi Thiết đã viết: “Vương triều Trần cho đến nay hầu hết các sách sử đều công nhận một phả hệ hoàng đế không có Thái Tổ mà mở đầu bằng Thái Tông, với việc Lý Chiêu Hoàng 8 tuổi lấy T
Trang 1TS Alexey Polyakov
Liên bang Nga
Trong bài Triều đình Trần và những lãnh tụ của nó trong khủng hoảng chính
trị trong nước Đại Việt đầu thế kỷ XIII [1] viết năm 1975, (tôi cùng với giáo sư
Đ.V Đeopik là đồng tác giả), chúng tôi đã nêu giả thuyết hoàng đế đầu tiên nhà Trần là cha của Trần Cảnh - tức Trần Thừa (miếu hiệu Trần Thái Tổ) Tôi
cũng đã đặt giả thuyết này trong công trình nghiên cứu và bản dịch Việt sử
lược năm 1980 [2, tr 91, 253-255] Trong thời gian gần đây tôi đã bổ sung và
sửa đổi những tài liệu về đề tài này
Tôi cũng đã thảo luận vấn đề người sáng lập nhà Trần tại những hội thảo quốc tế về Việt Nam học song các nhà nghiên cứu Việt Nam đã không đồng ý với giả thuyết của tôi Tuy nhiên, vừa qua một nhà nghiên cứu Việt
Nam Bùi Thiết đã viết bài Vương triều Trần có Thái Tổ Trần Thừa trong niên giám Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2010 [3]
Ông Bùi Thiết chứng minh rằng vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần
là Trần Thừa (Thái Tổ) chứ không phải là Trần Cảnh (Thái Tông) Ông ấy
đã tìm được những dẫn chứng của giả thuyết này trong bộ sử Việt sử lược
Ông Bùi Thiết đã viết: “Vương triều Trần cho đến nay hầu hết các sách sử đều công nhận một phả hệ hoàng đế không có Thái Tổ mà mở đầu bằng Thái Tông, với việc Lý Chiêu Hoàng 8 tuổi lấy Trần Cảnh cũng 8 tuổi làm chồng, rồi trao ngôi hoàng đế cho Trần Cảnh để có vương triều Trần” [3,
tr 710] Tất nhiên có khả năng ông Bùi Thiết không biết về bài và công trình nói trên đã được viết bằng tiếng Nga Tuy nhiên, năm 1996 tôi đã
viết công trình nghiên cứu khoa học Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ
X-XIV đã được xuất bản bằng tiếng Việt Tên chương VII quyển sách này
là “Sự sụp đổ của triều Lý, triều Trần được thành lập Vấn đề người sáng lập nhà Trần” [7]
Trang 2Cần phải chú ý đến vấn đề như sau: những chứng minh giả thuyết người sáng lập ra nhà Trần là Trần Thừa của ông Bùi Thiết rất giống những chứng minh trong chương VII công trình của tôi Như vậy, ông ấy một cách cố ý hoặc không cố ý đã sử dụng những chứng minh đó mà không trích dẫn công trình của tôi Nhưng cũng có một khác biệt - ông Bùi Thiết không thừa nhận công chúa Lý Chiêu Hoàng lên ngôi hoàng đế Cần phải
nói rằng ý kiến này có căn cứ nào đấy Trong phần cuối quyển ba Việt sử
lược tác giả bộ sử này viết: “Trở lên là triều Nguyễn [Lý] từ Thái Tổ đến Huệ
Tông có tám vua…” [10, tr 216], tức là không có vua Lý Chiêu Hoàng Về khả năng này tôi cũng viết trong quyển sách của tôi [7, tr 176-177] Đồng
thời ông Bùi Thiết viết sai lầm rằng trong bộ sử Việt sử lược không có niên hiệu Thiên Chương Hữu Đạo của Lý Chiêu Hoàng [3, tr 711] Việt sử lược
cho rằng: “Tháng 6/1225, vua nhường ngôi cho công chúa thứ hai là công chúa Chiêu Thánh, hiệu là Chiêu Vương (Chiêu Hoàng), tôn vua là Thái Thượng Vương (Thái Thượng Hoàng), cải nguyên là Thiên Chương Hữu Đạo” [10, tr 213] Trong khi đó cũng có khả năng người ta đã đặt tin tức về
sự kiện này vào văn bản Việt sử lược muộn hơn.
Vì thế, bài này căn cứ theo bài nói trên của giáo sư Đ.V Đeopik và tôi,
chương VII của công trình Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X-XIV và
những phát hiện mới mà tôi đã tìm được suốt quá trình nghiên cứu tiếp theo Tác phẩm có tính kinh điển, một sử liệu phong kiến chính thống
của Việt Nam Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sĩ Liên soạn thảo hoàn thành
ở thế kỷ XV chép Trần Cảnh - miếu hiệu là Trần Thái Tông (1226-1258), là
vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần, được Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Việc này các sử liệu Việt Nam soạn sau thế kỷ XV đều viết như vậy
Tuy nhiên, việc so sánh các sử liệu đó với Việt sử lược - một bộ sử xưa nhất,
chúng ta thấy có những khác biệt trong việc ghi chép các sự kiện lịch sử Việc giải quyết vấn đề này có một ý nghĩa nhất định, bởi vì nó sẽ làm rõ được một số sự kiện lịch sử xảy ra trong thời kỳ này, làm rõ những hoạt động của nhiều nhà cai trị ở Đại Việt Như trong các sử liệu muộn hơn đã chép nhiều về Trần Thủ Độ - một thành viên của dòng họ Trần Trong khi
đó, các sử liệu sớm lại không thấy nói gì đến ông hoặc chỉ dành cho ông một vai trò rất khiêm tốn Theo các sử liệu này, Trần Thủ Độ đã chuẩn bị các điều kiện để nhà Trần lên ngôi và là người nổi tiếng về những hành động tàn bạo Suốt mấy chục năm, toàn bộ quyền hành trong nước dường
Trang 3như đều tập trung trong tay ông, ông sắp đặt việc lên ngôi của các hoàng
đế, nhưng chính mình thì lại không hề có kỳ vọng đoạt ngai vàng Các
sử liệu về sau cho biết, chính ông là người đã sắp đặt cuộc hôn nhân giữa người con trai tám tuổi của Trần Thừa là Trần Cảnh với hoàng đế Lý Chiêu Hoàng, và sau đó, vào đầu năm 1226 đã buộc bà phải chính thức nhường ngôi cho chồng mình Tất cả các sử liệu sau này đều xác nhận Trần Cảnh bắt đầu từ năm này đã trở thành vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần - tức Trần Thái Tông
Nếu căn cứ vào ghi chép của các sử liệu Việt Nam sau này, thì có một
số thời điểm quan trọng không được rõ ràng và trước hết là vai trò rất mờ nhạt của Trần Thừa, người đứng đầu họ Trần lúc đó
Tất cả các sử liệu đều cho biết, Trần Thừa không chỉ có tước vị cao dưới triều Lý mà còn nắm một quyền lực lớn trên thực tế Ông đã cầm đầu các lực lượng ủng hộ mình vào năm 1223, sau khi Trần Tự Khánh từ trần và tổ chức những cuộc hành quân chống lại các thế lực phong kiến chưa chịu khuất phục và phần lớn là thắng lợi Mặt khác, về Trần Thủ
Độ lần đầu tiên được nhắc đến trong bộ sử của Ngô Sĩ Liên là từ năm
1224, nhưng không hiểu bằng cách nào mà bỗng nhiên trong năm này, ông trở thành người nắm quyền hành trong nước, còn Trần Thừa thì tài liệu trên cho biết ông mất vào năm 1234 và chỉ được nhắc đến với tư cách một nhà hoạt động chính trị rất thưa thớt Ngoài ra, hoàng đế đầu triều Trần, có tên hiệu là Thái Tông, mà tên gọi này thường dùng cho hoàng đế thứ hai của một triều đại Như vậy, chính những sử liệu muộn này chứa đựng nhiều yếu tố không được rõ ràng Để làm rõ được vấn đề này, có
thể sử dụng nguồn sử liệu sớm hơn và tỉ mỉ hơn - Việt sử lược Bộ sử này
ghi chép các sự kiện xảy ra từ trước lúc nhà Trần lên ngôi, cho đến tận
cuối năm 1226 Việt sử lược trong trường hợp này là nguồn tài liệu quan
trọng, không chỉ vì trên thực tế nó là một tư liệu gốc, mà còn vì ở đó các
sự kiện xảy ra trước khi có sự thay đổi triều đại được ghi chi tiết hơn cả
Một chương của Việt sử lược nói về Lý Huệ Tông (1210-1225) và Lý Chiêu
Hoàng (1225-1226) có khoảng 6 nghìn rưỡi chữ Trong khi đó, hai chương
của Đại Việt sử ký toàn thư về hai hoàng đế này chỉ có hai nghìn chữ (không
kể lời bàn của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên) Do tính chi tiết của những ghi
chép trong Việt sử lược, trong đó các sự kiện cùng với những người tham
gia vào các sự kiện đó được miêu tả chi tiết hơn Ở đây, những nhân vật
Trang 4lịch sử mà chúng ta quan tâm được nhắc đến sớm hơn so với các sử liệu khác, nhất là giai đoạn đầu trên con đường công danh của họ (ở các sử liệu sau này không có) Điều này cho phép ta hình dung rõ hơn vai trò của họ trong quá trình diễn ra các sự kiện lịch sử
Ta có thể so sánh những lời nhắc đến đầu tiên về Trần Lý, Trần Tự
Khánh, Trần Thừa và Trần Thủ Độ trong bốn bộ sử Việt sử lược [kí hiệu 1],
Đại Việt sử ký toàn thư [kí hiệu 2], Đại Việt sử ký tiền biên [kí hiệu 3] và Khâm định Việt sử thông giám cương mục [kí hiệu 4]:
Trần Lý Trần Tự Khánh Trần Thừa Trần Thủ Độ
1 1209 1210 1211 1214
2 1209 1210 1216 1224
3 1209 1210 1216 1224
4 1209 1211 1216 1224
Điều quan trọng là vai trò của Trần Thủ Độ, với tư cách là một trong những quan lại cao cấp của triều đình, người có ảnh hưởng lớn trong dòng họ Trần, đã được mô tả một cách hết sức tỉ mỉ và nhất quán trong
Việt sử lược Ở đây, tác giả không hề giấu giếm các hành vi của ông
Nhưng đồng thời, sử liệu này cũng nhấn mạnh vị trí chi phối Nhà nước
và dòng họ của Trần Thừa Khác với các sử liệu sau này, ở Việt sử lược vị
trí đứng đầu nhà Trần trong những trận đánh quyết liệt của cuộc khủng hoảng là Trần Thừa; tài liệu này có lẽ xác thực hơn, vừa bởi nó xuất hiện sớm, vừa vì ở đây Trần Thừa thể hiện như một người đứng đầu dòng họ, điều mà các tài liệu sau này nhắc đến chỉ có tính chất hình thức Không
phải ngẫu nhiên mà Việt sử lược gọi Trần Thừa là “Thái Tổ ta” Vị hoàng
đế đầu tiên của nước Việt Nam độc lập từ thế kỷ XI, cũng có tên hiệu là Thái Tổ 太祖 Đây cũng là một đặc điểm đối với tuyệt đại đa số các triều đại ở Trung Quốc thời trung đại (Đường, Tống, Minh và thậm chí cả Nguyên) Còn với nhà Trần, không hiểu các sử liệu sau này lại ghi nó bắt đầu với tên gọi Thái Tông 太宗, mà đáng ra thường được đặt cho hoàng
đế thứ hai của triều đại Như đã nói ở trên Trần Cảnh, con của Trần Thừa
- miếu hiệu là Thái Tông Tuy nhiên trong nền sử học Việt Nam người
ta không giải thích vấn đề này Giáo sư Trần Quốc Vượng, người phiên dịch đầu tiên từ chữ Hán cổ ra tiếng Việt đã viết rằng “theo Toàn thư và Cương mục, nhà Trần không có Thái Tổ, chỉ có Thái Tông, Trần Cảnh là
Trang 5vua đầu nhà Trần, Trần Thừa, bố Trần Cảnh được truy tôn là Thái Tổ”
[10, tr 217] Người dịch Việt sử lược khác là ông Nguyễn Gia Tường ngay
cả sửa đổi văn bản phụ bản của bộ sử này và đã ghi Thái Tông thay cho Thái Tổ [5, tr 297]
Trên cơ sở phân tích những ghi chép trong Việt sử lược có thể nêu giả
thiết vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần không phải là Trần Cảnh (Trần Thái Tông) như đã được thừa nhận - mà là Trần Thừa Có thể nêu ra một
số căn cứ sau đây để chứng minh cho điều đó
Trong Việt sử lược, Trần Thừa không được chép với tên gọi như vậy mà
gọi là “Thái Tổ” - một danh hiệu dâng cho ông vua đầu tiên của triều đại,
có nghĩa là “người sáng lập” ra triều đại Ở các sử liệu thời sau này không gọi Trần Thừa là “Thái Tổ” mà chỉ gọi ông là Trần Thừa hoặc “Thượng
hoàng” Đặc biệt đáng lưu ý Việt sử lược gọi Trần Cảnh là “mỗ” hoặc “nhị
lang” chứ không phải là Thái Tông hoặc “thượng hoàng” Điều đó chứng
minh rằng tác giả đã viết quyển ba Việt sử lược sau khi Trần Thừa qua đời
và được tôn miếu hiệu Thái Tổ tức sau năm 1234 Bộ sử này được viết
suốt thời gian Thái Tông còn sống và cầm quyền, vì thế cho nên Việt sử
lược không gọi ông ấy là Thái Tông (băng năm 1277) hoặc thượng hoàng
(nhường ngôi năm 1258) Tức là tác giả đã viết quyển ba Việt sử lược trong
thời gian từ năm 1232 đến năm 1258 Cũng có khả năng tác giả này đã là người chứng kiến những sự kiện thay đổi triều đình
Cần chú ý đến phần “Phụ lục” của Việt sử lược chép niên biểu các vua
nhà Trần đến năm 1377 “Phụ lục” này bắt đầu từ sự cai trị của Trần Thừa (Trần Thái Tổ) Qua đó, dường như Trần Thừa cầm quyền từ năm 1226 đến năm 1258, không thấy nhắc gì đến Thái Tông Tất nhiên, điều này là không thể chấp nhận được Trong khoảng thời gian trên đã diễn ra ba lần thay đổi niên hiệu, một trong ba lần đó xảy ra vào năm 1232 Có thể nêu giả thiết, Trần Cảnh bắt đầu lên làm hoàng đế từ năm đó, sau khi Trần Thái Tổ lên làm thượng hoàng đã nhường ngôi cho Những sự kiện lịch sử diễn ra vào
thời điểm này mà Việt sử lược cho biết sẽ được xem xét dưới đây - có thể
chứng minh cho điều đó
Một mâu thuẫn nữa giữa Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư rất đáng
chú ý Ngoài việc Lý Huệ Tông bất đắc dĩ phải xuống chiếu gả công chúa Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh và lập làm con để “làm chủ xã tắc”, tức là sẽ kế
vị mình, trong Việt sử lược không thấy có những thông tin nói rằng cuộc hôn
Trang 6nhân này xảy ra trước khi một nhân vật không rõ ràng (chắc là Trần Thừa) lên ngôi Như vậy “đề nghị” của Lý Huệ Tông dường như là treo lơ lửng Có thể đây là một trong các phương án để đoạt ngôi của họ Trần Trong khi đó,
các sử liệu sau này, kể cả Đại Việt sử ký toàn thư, lại cho biết cuộc hôn nhân
của Lý Chiêu Hoàng với Trần Cảnh đã diễn ra trước, sau đó bà mới nhường ngôi cho chồng Các sử liệu muộn hơn muốn hợp thức hóa việc truyền ngôi
Khác với sử liệu viết sau Việt sử lược không có một phần riêng về Lý Chiêu
Hoàng Hơn nữa trong phần cuối của bộ sử này tác giả viết rằng triều Lý có tám vua [10, tr 216], tức không kể nữ hoàng
Việt sử lược có một đoạn văn bản chứng minh rằng Trần Thừa đã là
người sáng lập ra nhà Trần:
“冬十二月,命内侍判首馮佐周、内行遣左司郎中陳智宏,將内外文武
即位於天安殿” [11, tr 463] Ông Nguyễn Gia Tường đã dịch đoạn này như sau: “Mùa đông, tháng Chạp nhà vua sai quan Nội thị Phán thủ là Phùng
Tá Chu, quan Nội hành khiển Tả ty Lang trung là Trần Trí Hoành, các tướng văn võ trong ngoài và các viên quan lại hãy quản lãnh thuyền rồng, chuẩn bị pháp giá đến phủ Cương Tinh mà đón Thái Tổ ta (Trần Thừa) Đến ngày mùng một tháng Chạp năm đó (năm Ất Dậu - 1225 - ND) con của Trần Thừa là Trần Cảnh nhân việc nhường ngôi mà lên làm vua ở tại điện Thiên An” [5, tr 294-295] Giáo sư Trần Quốc Vượng đã dịch đoạn này như sau: “Mùa đông, tháng Chạp vua sai Nội thị phán thủ Phùng Tá Chu, Nội hành khiển tả ti lang trung Trần Trí Hoành đem văn võ bá quan, sửa soạn thuyền xe đến phủ Tinh Cương đón đức Thái Tổ ta Ngày mùng 1 tháng Chạp năm ấy (nhị lang) lên ngôi ở điện Thiên An.”[10, tr 214] Ta có thể thấy rằng ông Nguyễn Gia Tường thêm vào văn bản những chữ “con của Trần Thừa là Trần Cảnh”, chứ nguyên bản chữ Hán không có Còn giáo
sư Trần Quốc Vượng viết tóm tắt “sửa soạn thuyền xe” mà không viết rằng thuyền xe là của hoàng đế và cho thêm chữ “nhị lang” tức là Trần Cảnh (con thứ hai của Trần Thừa) vào văn bản chữ Hán Thế thì cả hai dịch giả đều cố gắng chứng minh rằng chính Trần Cảnh lên ngôi Nếu người ta đón Thái Tổ ta và chuẩn bị thuyền và xe của hoàng đế thì có thể đoán rằng Trần Thừa lên ngôi hoàng đế
Những tư liệu dẫn chứng trên đây được lấy từ một nguồn Việt sử
lược Bây giờ chúng ta hãy xem tư liệu của một công trình khác có thể xác
Trang 7nhận một cách trực tiếp cho giả thuyết vừa nêu - đó là cuốn An Nam tức
sự của một sứ giả người Trung Quốc, có tên là Trần Phu đến Đại Việt vào
cuối thế kỷ XIII Viên sứ này đã có những cuộc thương lượng hòa bình với người cháu bốn đời của Trần Thừa (tức Trần Nhân Tông), đồng thời
mô tả trong một số bài thơ và ký bằng văn xuôi về triều đình Đại Việt và
về các vị hoàng đế nhà Trần đến lúc đó An Nam tức sự viết về các sự kiện
mà chúng ta đang quan tâm như sau: “Nhà Trần gốc là một dòng họ từ đất Mân, Trần Kính [chắc là chỉ Trần Lý] tiếm xưng là Văn Vương Con rể ông ta là Lý Long Trát [Lý Cao Tông] đã già yếu lẫn lộn không quan tâm đến việc nước, nhân đấy Kính cùng em là Bân [trong các tài liệu của Việt Nam, không thấy nhắc đến nhân vật này] chiếm quyền trong nước Hạo Sảm [Lý Huệ Tông] trẻ người non dạ, vì thế con Kính là Thừa [Trần Thừa]
đã đoạt ngôi vua xưng là Thái thượng hoàng Sau khi Thừa mất, con là Quang Bình [Trần Cảnh] nối ngôi…” [8, tr 112] Từ đoạn trích này, một điều rõ ràng là chính Trần Thừa đã lên ngôi Việc Trần Phu gọi Trần Thừa
là Thái thượng hoàng, có lẽ vì ông nhầm sang tôn hiệu của Trần Thừa khi ông này đã nhường ngôi cho Trần Cảnh vào năm 1232 Trần Phu không
hề chép gì về Trần Thủ Độ
Cuốn An Nam chí lược của Lê Tắc, (vào khoảng năm 1333) viết về sự thay
đổi các triều đại hết sức ngắn gọn và có nhiều mâu thuẫn Ở đầu quyển XIII của tác phẩm này, những thông tin về mỗi vị hoàng đế triều Trần được trình bày ngắn gọn trong từng chương riêng theo thứ tự từ vị thứ nhất Điều thú
vị là Trần Thừa cũng được chép riêng thành một phần Cần chú ý là trong tác phẩm này có nhiều niên đại chép không nhất quán Ví dụ: “Vào năm thứ 14 niên hiệu Trị Nguyên [1277] Trần Cảnh mất Ở ngôi được 18 năm, thọ 60 tuổi” [6, tr 241] Ở phần sau nói về Trần Thánh Tông chép: “Năm Mậu Ngọ [1258] thay cha già lên làm vua…” [6, tr 244] Như thế, Trần Cảnh phải lên ngôi vào năm 1240 (các sử liệu muộn hơn chép sự kiện này xảy ra vào năm 1226) Lê Tắc thì mâu thuẫn khi chép ở cuối quyển XII phần về Lý Chiêu Hoàng “lên ngôi một năm, năm Canh Dần [1230] trao quốc chính cho chồng là Trần Nhật Cảnh.” [6, 242] Như vậy ở đây Lê Tắc cho rằng Cảnh lên ngôi hoàng đế năm
1230 Tuy nhiên năm Trần Cảnh nhường ngôi (1258) và năm hoàng đế này băng (1277) thì Lê Tắc viết rất chính xác
Thậm chí những tư liệu trong tác phẩm của Ngô Sĩ Liên cũng gián tiếp chỉ ra rằng vị hoàng đế đầu tiên nhà Trần là Trần Thừa Đoạn dẫn
Trang 8dưới đây, chép sự kiện trong năm 1231 khẳng định điều đó: “Thượng hoàng xuống chiếu rằng: trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng Phật để thờ Trước đây tục nước ta vì nóng bức, làm nhiều đình cho người đi đường nghỉ chân, thường quét vôi trắng, gọi là đình trạm Thượng hoàng khi còn hàn vi thường nghỉ ở đó, có một nhà sư bảo rằng: “Người trẻ tuổi này ngày sau sẽ đại quý” Nói xong thì không thấy nhà sư đâu nữa Đến nay, lấy được thiên hạ mới có lệnh này” [4, t
2, tr 11] Trong lời bàn về sự kiện này, Ngô Sĩ Liên cho rằng điều đó tựa như lời tiên đoán của sư Vạn Hạnh có liên quan đến Lý Thái Tổ, vì cả nhà Lý và nhà Trần đều sùng Phật Thượng hoàng trong đoạn trích trên
là Trần Thừa Những lời tiên tri kiểu như vậy thường dành cho những người sáng lập ra một triều đại như Lý Thái Tổ chẳng hạn Điều đặc biệt là Ngô Sĩ Liên, tuy không cho Trần Thừa là hoàng đế đầu nhà Trần, nhưng lại xác nhận sự giống nhau của hai trường hợp trên Do vậy, có thể đưa ra kết luận người lập ra triều đại mới, “lấy được thiên hạ” chính
là Trần Thừa Một điều lý thú nữa là, theo Ngô Sĩ Liên, việc điều hành toàn bộ công việc trong nước dưới thời Trần vẫn nằm trong tay vua cha,
dù họ đã nhường ngôi cho các con khi còn sống Trong một lời bàn, Ngô
Sĩ Liên đã nói về điều này [4, t 2, tr 29] Trong khi đó, về Thượng hoàng Trần Thừa không thấy có lời bình nào Rõ ràng ở đây đã lờ đi vai trò của ông, trong các sự kiện diễn ra lúc nhà Trần cướp chính quyền và sau đó một thời gian
Giả thuyết về việc Trần Thừa là hoàng đế đầu tiên của nhà Trần còn
có thể tìm thấy qua một bài minh khắc trên chuông tìm thấy ở Bạch Hạc Bài minh này được khắc ở thời Trần vào năm 1321 Trong tài liệu này có câu: “đế thứ hai nhà Trần Thái Tông hoàng đế…” (陳朝第二帝太宗皇帝) [9, t 2, tr 151] Bài minh này cũng nói về các hoàng đế khác của nhà Trần:
“đế thứ năm Anh Tông hoàng đế…” (第五帝英宗皇帝) [9, t 2, tr 152];
“Hoàng Việt triều Trần đế thứ sáu…” (皇越陳朝第六帝) [9, t 2, tr 153] Người ta chú thích đây là hoàng đế Trần Minh Tông [9, t 2, tr 159] Hai bài minh của chùa Đại Bi Diên Minh và chùa Diên Phúc cũng như chuông của chùa Sùng Quang cũng kể đến Trần Minh Tông như hoàng đế thứ sáu nhà Trần [9, t 2, tr 137, 193, 217] Số thứ tự của các hoàng đế nhà Trần như sau: 1 Trần Thái Tổ 2 Trần Thái Tông 3 Trần Thánh Tông 4 Trần Nhân Tông 5 Trần Anh Tông 6 Trần Minh Tông
Trang 9Những bằng chứng đưa ra trên đây là cơ sở để kết luận Trần Thừa
- miếu hiệu Thái Tổ - là người sáng lập và là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần - một triều đại đã tồn tại gần hai trăm năm Điều này giải đáp một vấn đề còn tồn đọng của lịch sử trung đại Việt Nam, giúp ta hiểu rõ những sự kiện có liên quan đến cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội ở đầu thế kỷ XIII
Một vấn đề nảy sinh là việc Trần Thừa lên ngôi đã bị che giấu đi là nhằm mục đích gì? Việc Trần Thừa lên ngôi là một hành động đoạt ngôi một cách trực tiếp, còn nếu Trần Cảnh, con ông lên ngôi, thì có vẻ hợp thức hơn, bởi vì Trần Cảnh là chồng của Lý Chiêu Hoàng và Lý Chiêu Hoàng có thể chính thức “nhường ngôi cho chồng” (mặc dù chưa có tiền lệ như vậy) Các nhà chép sử từ thế kỷ XV trở về sau đã đề cao Trần Cảnh bởi lẽ mỗi triều đại đều cần phải biện minh cho tính hợp thức của việc lên nắm chính
quyền Quyển ba Việt sử lược được viết dưới thời đầu Trần và bằng mọi
cách biện hộ cho các hành động đoạt ngôi của họ Trần, nhưng tác giả cũng không thể công khai xuyên tạc các sự kiện vừa mới xảy ra Ngoài ra tác giả quyển ba bộ sử này rất có thể là người chứng minh những sự kiện ấy
Chẳng hạn Việt sử lược có trình bày những sự kiện mâu thuẫn với những
kiến giải sau này về việc lên ngôi của nhà Trần
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Деопик Д.В., Поляков А.Б Феодальный дом Чан и его лидеры во внутриполитическом кризисе в Дайвьете в начале ХШ в Вестник Московского университета 1975, № 2
2 Краткая история Вьета (Вьет шы лыок).Перевод с вэньяня, вступительная
статья и комментарий Полякова А.Б Наука, Москва 1980
3 Bùi Thiết Vương triều Trần có Thái Tổ Trần Thừa Những phát hiện mới về khảo
cổ học năm 2010 Hà Nội 2011
4 Đại Việt sử ký toàn thư Hà Nội, t.1 - 1983, t.2 - 1985
5 Đại Việt sử lược Người dịch: Nguyễn Gia Tường, Người hiệu đính: Nguyễn
Khắc Thuần Nxb TP Hồ Chí Minh 1993
6 Lê Tắc An Nam chí lược Nxb Lao động Hà Nội 2002
7 A.B Poliakov Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X-XIV Nxb Chính trị Quốc
gia Hà Nội 1996
Trang 108 Trần Phú An Nam tức sự Tạp chí Văn học, số 1, 1972,
9 Văn khắc Hán Nôm Việt Nam Thời Trần Tập 2 2002
10 Việt sử lược Trần Quốc Vượng phiên dịch và chú giải Nxb Văn Sử Địa
H 1960
11 Việt sử lược Trần Quốc Vượng phiên dịch Nxb Thuận Hóa Huế 2005.