Trong đó ba khía cạnh của phát triển vùng bao gồm mật độ, khoảng cách, sự chia cắt; cùng với các tác lực thị trường là sự tích tụ, di cư và chuyên môn hoá cũng như các công cụ liên quan
Trang 1MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG
Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ CÁCH TIẾP CẬN
CỦA BÁO CÁO PHÁT TRIỂN THẾ GIỚI 2009
TS Trương Thị Kim Chuyên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM
Sự phát triển của các quốc gia không mang lại sự thịnh vượng kinh
tế cho tất cả các vùng cùng một lúc, thực tế cho thấy thị trường chỉ ưu đãi một số vùng Do đó, các quốc gia thành công về kinh tế vừa phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự tập trung hóa vừa phải đề ra các chính sách
để mức sống giữa các vùng đồng đều hơn
Báo cáo Phát triển Thế giới 2009 với tiêu đề Tái định dạng Địa kinh tế
đã đưa ra một cách tiếp cận mới nhằm định dạng lại khung tranh luận trong chính sách phát triển vùng về đô thị hoá, phát triển lãnh thổ và hội nhập vùng Trong đó ba khía cạnh của phát triển vùng bao gồm mật
độ, khoảng cách, sự chia cắt; cùng với các tác lực thị trường là sự tích
tụ, di cư và chuyên môn hoá cũng như các công cụ liên quan đến phát triển đô thị, phát triển lãnh thổ và hội nhập vùng tương ứng với ba cấp
độ địa phương, quốc gia và quốc tế được phân tích và minh họa bằng các ví dụ cụ thể của các vùng, quốc gia trên toàn thế giới
Dựa trên cơ sở đó, bài viết này sẽ trình bày, hệ thống hóa cách tiếp cận trên, so sánh với cách tiếp cận theo kiểu địa lý truyền thống.Trên cơ
sở đó nhìn nhận lại một số chính sách phát triển vùng, đặc biệt các chính sách liên quan đến sự phát triển của các vùng tụt hậu ở Việt Nam
1 Một cách tiếp cận mới trong việc nghiên cứu về chính sách phát triển vùng
Qua sơ đồ tổng hợp các yếu tố, các tác lực thị trường và các chính
sách ở ba cấp độ địa lý, Báo cáo Phát triển Thế giới 2009 đã đưa ra một
cách tiếp cận mới trong việc nghiên cứu phân tích thực trạng của vùng cũng như chính sách phát triển vùng
Trang 2Rõ ràng, trong các hoạt động kinh tế ngày nay nếu không giải quyết được câu hỏi “ở đâu” thì sẽ không thể nào giải quyết được câu hỏi “cái gì” và “như thế nào” Từ đó, báo cáo đã đưa ra ba khía cạnh cần chú ý trong các chính sách phát triển vùng phải là i/ Mật độ cao ‑ sự tăng trưởng gắn liền với sự tích tụ tập trung của các thành phố; ii/ Khoảng cách ngắn hơn – tạo điều kiện để lao động và các doanh nghiệp di cư lại gần những nơi có mật độ cao; iii/ Ít sự chia cắt hơn ‑ khi các nước làm mỏng các đường biên giới kinh tế và tạo điều kiện để các vùng tham gia vào thị trường thế giới
Hình 1 Sơ đồ các sự kiện thực tế, các tác lực thị trường
và các chính sách ở ba cấp độ địa lý1
1.1 Ba khía cạnh địa kinh tế: mật độ, khoảng cách và sự chia cắt
Mật độ (Density) biểu hiện mức độ tập trung của hoạt động kinh tế
trên đơn vị diện tích đất được đo bằng các hoạt động kinh tế hoặc sản lượng tạo ra trên một km² (tổng GDP/km²)
Thực tế, sự phân bổ các hoạt động kinh tế theo vùng địa lý là không đồng đều, kể cả là nước phát triển hay đang phát triển Hơn nữa, sự
1 Ngân hàng Thế giới (2009), Tái định dạng địa kinh tế, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà
Nội, tr 149.
Trang 3chênh lệch này không đơn giản là giữa vùng nông thôn và thành thị, có khi một chuỗi các mật độ khác nhau sẽ xuất hiện tương ứng với các địa điểm khác nhau Vì vậy, sự chênh lệch này diễn ra bên trong đô thị đôi khi rất lớn
Vì thế, mật độ có liên quan chặt chẽ với mức độ đô thị hóa và tập trung kinh tế Dù vậy, ưu thế của mật độ cao không chỉ dừng lại ở thu nhập và của cải mà còn bao gồm cả khía cạnh xã hội Điều này lý giải vì sao các thành phố lớn có các chỉ số về sức khỏe tốt hơn nông thôn, điển hình là ở các nước đang phát triển
Báo cáo cho rằng chính sách để giải quyết được vấn đề liên quan đến mật độ là phải nỗ lực cải thiện dịch vụ công ở nông thôn, làm cho mật
độ trở nên hợp lý để khai thác được các tác lực thị trường nhằm khuyến khích sự tập trung hoá ở các vùng
Khoảng cách (Distance) biểu hiện các chi phí để đến được những nơi
có mật độ kinh tế cao nhằm ám chỉ sự di chuyển dễ dàng hoặc khó khăn của hàng hoá, dịch vụ, lao động, vốn, thông tin và ý tưởng Đối với thương mại và dịch vụ, khoảng cách liên quan đến thời gian và chi phí tài chính Trong sự dịch chuyển lao động, khoảng cách có thể bao hàm
“chi phí tinh thần” vì cư dân phải xa rời nơi ở thân quen Rõ ràng, báo cáo đã chú ý đến khoảng cách tương đối thay vì khoảng cách tuyệt đối Khoảng cách đến nơi có mật độ cao ảnh hưởng đến hầu hết các hoạt động có mối quan hệ tương tác theo không gian Vì thế, khoảng cách quá xa là nguyên nhân dẫn đến thu nhập bình quân theo đầu người, năng suất lao động và tiền lương thấp Thêm nữa, những rào cản do con người tạo ra, kể cả chính sách cũng làm tăng khoảng cách (ví dụ điển hình là các trạm thu phí giao thông…) Ngoài ra, chất lượng cơ sở hạ tầng cùng với phương tiện giao thông sẵn có ảnh hưởng rất nhiều đến khoảng cách kinh tế giữa các địa điểm có cùng khoảng cách tuyệt đối Báo cáo cũng đã chỉ ra rằng nhiều vùng có khoảng cách lớn đến nơi
có mật độ cao thường là vùng tụt hậu không thể thu hút đầu tư và lao động Hơn nữa, vùng tụt hậu thường là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số nên càng dễ gia tăng thêm tình trạng căng thẳng, có thể dẫn đến những xung đột Sự khác biệt về ngôn ngữ, tôn giáo, sắc tộc cũng
có thể là trở ngại lớn cho sự di cư từ các vùng này
Trang 4Vấn đề vùng nghèo và người nghèo cũng được phân biệt trong báo cáo Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới lập luận rằng các vùng tụt hậu có tỷ lệ nghèo cao hơn vùng dẫn đầu (vì tỷ lệ nghèo có liên quan tới khoảng cách), ngược lại các vùng dẫn đầu có số lượng người nghèo cao hơn (vì số lượng người nghèo có liên quan đến mật độ) Hơn nữa, người nghèo có nhiều lí do để di chuyển khỏi vùng nghèo và họ chấp nhận trả giá để đến được những vùng giàu có hơn
Đối với các nước có nền kinh tế tương đối khép kín, khoảng cách đến các vùng có mật độ cao rất quan trọng đối với sự phát triển của các vùng tụt hậu Đối với các quốc gia mở cửa, khoảng cách đến thị trường thế giới quan trọng hơn, do đó vùng biên giới và duyên hải có xu hướng phát triển nhanh
Báo cáo khuyến khích các nước thực hiện chính sách mở cửa để thu ngắn khoảng cách Phương thức tự nhiên để giảm khoảng cách là cho phép người dân di cư Do đó, nếu giảm chi phí về khoảng cách sẽ gia tăng sự di chuyển của người dân Tuy nhiên, sự di cư để mang lại sự đồng nhất tương đối về mức sống phải cần đến những dòng di dân trong nhiều thế hệ
Sự chia cắt (Division), theo báo cáo trên, khái niệm biên giới và sự
chia cắt không đồng nghĩa với nhau Một đường biên giới ổn định và rõ ràng sẽ đảm bảo an ninh và đem lại lợi ích kinh tế Trong khi đó, sự chia cắt chỉ xảy ra khi các đường biên giới không được quản lí tốt
Nếu sự chia cắt diễn ra sẽ gây nên những ảnh hưởng rất lớn đến việc lưu thông hàng hoá, vốn, con người và ý tưởng Đôi khi, sự chia cắt còn dẫn đến các cuộc tranh chấp lãnh thổ, xung đột giữa các nước và nội chiến dai dẳng, từ đó làm giảm sự tăng trưởng của các vùng trong nước
Do đó, sự chia cắt cần được giải quyết để duy trì sự tiến bộ cho mỗi quốc gia bằng kết hợp cả ba công cụ chính sách đó là thể chế thống nhất, cơ
sở hạ tầng kết nối và các cơ chế khuyến khích có mục tiêu
Tóm lại, tầm quan trọng của ba khía cạnh trên có sự tương ứng với
ba cấp độ địa lý Ở phạm vi địa phương, mật độ là yếu tố quan trọng nhất vì khoảng cách thường ngắn và ít sự chia cắt Trong phạm vi quốc gia, yếu tố quan trọng nhất lại là khoảng cách đến nơi có mật độ cao vì
sự chia cắt trong phạm vi quốc gia thường ít (trừ một số nước) Ở phạm
vi quốc tế, sự chia cắt lại là yếu tố quan trọng nhất
Trang 5Phân tích ba khía cạnh ‑ mật độ, khoảng cách và sự chia cắt ‑ đã giúp chúng ta gợi nhớ tới hình ảnh tương ứng ‑ địa nhân lực, địa vật chất và địa chính trị‑xã hội Điều này giúp các quốc gia xác định các tác lực thị trường chính và những chính sách phù hợp tương ứng với ba cấp độ địa lý
Báo cáo Phát triển Thế giới 2009 cho rằng sự chuyển đổi của ba khía
cạnh địa kinh tế trên là then chốt cho sự phát triển và cần được khuyến khích Mật độ, khoảng cách và sự chia cắt của một vùng đã thể hiện và minh họa tốt nhất điều kiện tiếp cận thị trường của vùng đó ‑ xác định “ở đâu” hoạt động kinh tế có thể phát triển Vì thế, ba vấn đề cần được quan tâm và giải quyết là i) mật độ thấp gắn với lực tích tụ yếu; ii) khoảng cách
xa làm tăng chi phí vận chuyển và giảm tính cơ động của các yếu tố sản xuất và iii) sự chia cắt sâu sắc làm cản trở hoặc tăng chi phí vận chuyển
1.2 Ba tác lực thị trường: sự tích tụ, di cư và chuyên môn hóa
Để hoạch định chính sách vùng trên cơ sở ba yếu tố đã phân tích trên, chính phủ có thể thúc đẩy các tác lực thị trường nhằm tạo ra sự tập trung hoá và giảm sự chênh lệch về mức sống
Tính kinh tế nhờ sự tích tụ
Tính kinh tế nhờ sự tích tụ được tăng cường theo mật độ và suy yếu theo khoảng cách Điều này có thể giải thích vì sao người dân thường chọn nơi có mật độ cao và chấp nhận trả giá để đến được vùng giàu có hơn Do đó, số lượng người nghèo ở những vùng dẫn đầu thường đông đúc hơn vùng nghèo
Trên thực tế, các doanh nghiệp (DN) có nhiều lí do để phân bố gần nhau Một là các DN có thể chia sẻ khả năng tiếp cận đầu vào Hai là lao động có thể dễ dàng thích ứng vì sẽ ít rủi ro hơn khi sống ở địa bàn có nhiều DN có cùng nhu cầu về lao động Ba là cả DN và người lao động
sẽ có cơ hội và môi trường để học hỏi và thúc đẩy tác động lan toả của tri thức Ngoài ba lí do trên, các thành phố cũng muốn thúc đẩy loại hình kinh tế theo qui mô vì các nhà máy đặt ở địa điểm mật độ cao sẽ tận dụng được lợi ích cạnh tranh liên quan đến sự tích tụ
Ngoài ra, báo cáo cũng đã đề cập đến một số nước mắc phải nỗi lo
sợ vô cớ về đô thị hoá trong quá trình phát triển Ví dụ ở Việt Nam tuy
cư dân đô thị chỉ chiếm 30% nhưng GDP trong sản lượng quốc gia do
Trang 6khu vực này mang lại chiếm đến 70%, và sẽ rất vô ích nếu các nhà hoạch định chính sách tốn công để hạn chế việc nhập cư vào đô thị
Tuy nhiên các thành phố mật độ cao chưa hẳn đã hấp dẫn được nhà đầu tư nếu thành phố không thoả mãn các nhu cầu về đất đai và địa điểm của những ngành kinh tế chủ đạo của mình Bên cạnh đó, qui mô
và mức độ tập trung cao của thành phố cũng gây nên những vấn nạn như vấn đề tội phạm, ô nhiễm…
Tóm lại, sự tích tụ sẽ được nhiều lợi ích chỉ khi cơ sở hạ tầng được đáp ứng đầy đủ Thông thường trách nhiệm phát triển cơ sở hạ tầng giao cho địa phương, nhưng không phải nguồn lực và năng lực của địa phương lúc nào cũng có Bên cạnh đó, các thành phố mới sẽ khó hoạt động tốt nếu không được bố trí gần các thành phố đã phát triển Tuy nhiên điều này phụ thuộc nhiều vào vai trò quản lí của chính phủ
Tính cơ động của các nhân tố di cư
Trong báo cáo này khái niệm di cư nhấn mạnh đến sự chuyển dịch nguồn nhân lực Trên thực tế dòng di cư lớn nhất là dòng di cư giữa các vùng trong quốc gia, không phải là dòng di cư quốc tế và cũng không đơn thuần là dòng di cư từ nông thôn lên thành thị
Thông thường, lợi ích từ sự tích tụ chi phối đến sự di chuyển vốn và lao động Báo cáo khẳng định rằng “Ở đây, thách thức chính sách không phải là giữ chân các hộ gia đình mà là làm cách nào để họ không di chuyển
vì các lí do sai lầm”1 Nếu sự di cư vì thiếu các dịch vụ công thì sẽ làm tăng chi phí tắc nghẽn ở các thành phố Vì thế, chính phủ cần cung cấp các dịch
vụ giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội tại các vùng tụt hậu tốt hơn Khi đề cập đến sự di cư quốc tế, báo cáo lưu ý lực lượng lao động lành nghề không “mất đi” mà chỉ “luân chuyển” giữa các quốc gia, không nên xem xét dưới khía cạnh “được – mất” Do đó, chính phủ cần khuyến khích sự đóng góp kinh tế tại quê nhà, và tạo điều kiện cho họ vẫn giữ được quyền công dân và đáp ứng nguyện vọng tái định cư
Chuyên môn hóa và chi phí vận tải
Ngày nay, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đem lại nhiều lợi ích cho thế giới Trong đó, ngành vận tải đã cắt giảm được chi
1 Ngân hàng Thế giới (2009), Tái định dạng địa kinh tế, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà
Nội, tr 218.
Trang 7phí và đẩy nhanh tốc độ vận chuyển Việc giảm chi phí vận tải đồng nghĩa với việc tập trung sản xuất theo vùng lớn hơn, tạo điều kiện thuận lợi để phối hợp các mạng lưới sản xuất quốc tế, tăng sự giao thương giữa các nước láng giềng và sự tập trung thương mại giữa các vùng trong nước
Báo cáo cho rằng cần phải ưu tiên cho hai chính sách i) giảm tác động tiêu cực trong ngành vận tải (như tắc nghẽn, khí thải, ô nhiễm, tai nạn, ) ii) cải thiện điều kiện thúc đẩy thương mại và phối hợp theo vùng Hai yếu tố này sẽ thúc đẩy các tác lực từ sự tích tụ và đôi khi mang lại nhiều kết quả hơn là chỉ chú ý đầu tư vào cơ sở hạ tầng
1.3 Ba vấn đề trong chính sách: đô thị hóa, phát triển lãnh thổ
và hội nhập vùng
Vấn đề đô thị hóa
Ba khía cạnh về không gian ‑ mật độ, khoảng cách và sự chia cắt ‑ cho thấy rõ những thách thức về chính sách ở ba cấp độ địa lý Ở các vùng chủ yếu là nông thôn, chính sách cần tạo điều kiện thúc đẩy mật
độ Ở vùng đã có đô thị hóa, chính sách cần kết hợp thúc đẩy mật độ
và giải quyết các vấn đề về khoảng cách do tắt nghẽn gây ra Đối với các khu vực đô thị hóa cao, các thành phố lớn cần khuyến khích mật
độ và vượt qua khoảng cách, đồng thời cần xóa bỏ sự chia cắt ngay bên trong các thành phố gây nên sự cách biệt cho những người nghèo (chính sách có mục tiêu về không gian)
Khi đô thị hóa tăng cao, những công cụ chính sách phải thay đổi từ không có mục tiêu về không gian sang có mục tiêu về không gian Trong đó quan trọng nhất là các chính sách về quản lí đất đai Vì nếu không có quyền sở hữu rõ ràng về đất đai sẽ rất dễ xảy ra mâu thuẫn trong các chính sách đền bù giải toả Các qui định quá chặt chẽ về việc chuyển quyền sử dụng đất cũng gây nên sự khan hiếm nhà giá rẻ cho những người di cư đến thành phố Vấn đề cốt lõi ở đây là một mạng lưới giao thông kết nối dễ dàng nhằm tăng khả năng lựa chọn phương tiện đi lại Mặt khác, chính sách cần ưu tiên phát triển các công trình mới dọc các tuyến giao thông mới được thành lập nhằm giải quyết các vấn đề liên quan tới các khu ổ chuột
Trang 8Vấn đề phát triển lãnh thổ
Các quốc gia có lực lượng lao động và nguồn vốn lưu động cao, sự cách biệt do khoảng cách giữa các vùng miền cần được giải quyết chủ yếu bằng các chính sách tạo điều kiện cho người dân di cư hướng tới các cơ hội kinh tế Đối với vùng tụt hậu có dân số ít và số lượng người nghèo chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ thì các biện pháp tăng cường di dân là cốt lõi trong các chính sách Đối với các vùng chậm tăng trưởng có nhiều người nghèo nhưng trở ngại về di chuyển, chính sách cần tăng cường các cơ sở hạ tầng kết nối không gian Nếu giữa các vùng có sự chia cắt
về ngôn ngữ, chính trị, tôn giáo hay sắc tộc, có thể phải cần thêm các cơ chế khuyến khích Tuy nhiên, nếu không có thể chế và cơ sở hạ tầng thì
cơ chế khuyến khích sẽ khó thành công và rất tốn kém
Đối với thể chế và chính sách, việc phân bổ nguồn lực cho địa phương trước tiên có thể dựa vào đầu vào, sau đó dựa vào các kết quả tác động Đối với cơ sở hạ tầng, các quyết định quy hoạch phải có chính quyền địa phương tham gia Đối với các cơ chế khuyến khích, trung ương chỉ đạo nhưng việc thực hiện cụ thể phải do địa phương quyết định Tuy nhiên, các biện pháp “phi vùng” như đánh thuế thu nhập luỹ tiến, an sinh xã hội và phúc lợi thất nghiệp cũng vô cùng quan trọng
Vấn đề hội nhập vùng
Có ba công cụ chính sách có thể sử dụng để hội nhập vùng và cũng
là công cụ hỗ trợ cho sự hội nhập toàn cầu:
Hợp tác thể chế, chính sách để giải quyết vấn đề cần sự phối hợp trong phạm vi liên vùng/liên quốc gia và thúc đẩy hiệu quả kinh tế nhờ qui mô
Cơ sở hạ tầng khu vực, thường là liên kết chiến lược giữa các vùng/khu vực lân cận với các thị trường dẫn đầu thế giới, và có thể làm giảm chi phí vận chuyển
Các cơ chế khuyến khích có điều phối bao gồm tất cả các bên liên quan, những yếu tố có thể thúc đẩy sự di chuyển và hội tụ mức sống giữa các vùng dẫn đầu và vùng tụt hậu trong khu vực lân cận
2 So sánh cách tiếp cận mới và cách tiếp cận truyền thống
Dựa trên cách tiếp cận và phân tích mới về khung tranh luận cho chính sách phát triển vùng, chúng tôi bước đầu đưa ra một khung so
Trang 9sánh cách tiếp cận mới và cách tiếp cận địa lý truyền thống Từ đó có thể
lí giải vì sao nhiều chính sách phát triển cho những vùng nghèo trong những năm qua không mang lại nhiều hiệu quả và lãng phí Trên cơ sở
đó cũng cho thấy nhiều thống kê và các nghiên cứu ở Việt Nam trong nhiều năm qua, cách tiếp cận trong chính sách phát triển vùng thường phân tích theo các hợp phần riêng lẻ như điều kiện tự nhiên, kinh tế ‑ xã hội, cơ sở hạ tầng, thể chế… Trong khi đó, với cách tiếp cận mới của các chuyên gia Ngân hàng thế giới, các hợp phần trên được phân tích một cách tổng hợp và toàn diện dựa trên ba khía cạnh, ba tác lực thị trường
và ba vấn đề trong chính sách, tương ứng với ba phạm vi lãnh thổ
Bảng 1: So sánh cách tiếp cận mới
và cách tiếp cận địa lý truyền thống
Cách tiếp cận mới Cách tiếp cận truyền thống
Ba khía cạnh
1 Mật độ - Mật độ biểu hiện mức độ tập
trung của hoạt động kinh tế trên đơn vị diện tích đất (tổng GDP/km²)
- Chính sách chú trọng đến nỗ lực cải thiện dịch vụ công ở nông thôn
- Mật độ chỉ sự tích tụ của dân
cư (người/km²).
- Tập trung vào chính sách về
đô thị hoá.
2 Khoảng cách - Khoảng cách biểu hiện các chi
phí để đến được những nơi có mật độ kinh tế cao
- Đôi khi còn ám chỉ “chi phí tinh thần” cho việc xa rời lãnh thổ thân quen.
- Chính sách chính là tập trung khuyến khích mở cửa và cho phép di cư.
- Khoảng cách thường ám chỉ chiều dài giữa hai địa điểm (khoảng cách tuyệt đối).
- Chưa quan tâm đến khía cạnh kinh tế và chi phí tinh thần.
- Tập trung chính sách phát triển cơ sở hạ tầng để kết nối.
3 Sự chia cắt - Sự chia cắt diễn ra khi các đường
biên giới giữa các quốc gia không được quản lí tốt
- Giữa các vùng trong quốc gia, sự chia cắt diễn ra khi có sự phân hóa sâu sắc về văn hoá, ngôn ngữ, sắc tộc và tôn giáo.
- Kết hợp cả ba công cụ: thể chế,
cơ sở hạ tầng và cơ chế khuyến khích có mục tiêu rõ ràng.
- Sự chia cắt thường xem xét giữa vùng phát triển và vùng nghèo
- Vùng cao, vùng sâu, vùng xa xem là vùng bị chia cắt.
- Các công cụ chính sách thường dàn trải và ít mục tiêu.
Trang 10Ba tác lực thị trường
4 Sự tích tụ - Sự tích tụ là sự cần thiết để tận
dụng được tính kinh tế nhờ qui mô
- Không khuyến khích việc hạn chế nhập cư.
- Các chính sách để hạn chế tính
“phi kinh tế” do tích tụ là cần thiết.
Thường xem sự tích tụ dưới khía cạnh “phi kinh tế” do tích tụ mang lại như vấn đề
ô nhiễm, tội phạm… Các chính sách thường cố gắng để hạn chế nhập cư vào đô thị.
5 Sự di cư - Di cư không đơn thuần là dòng
di cư từ nông thôn lên thành thị
- Thách thức chính sách là làm cách nào để các hộ gia đình không di cư vì lí do thiếu các dịch
vụ công.
- Di cư thường chú trọng đến dòng di cư từ nông thôn lên thành thị
- Chưa chú trọng đến chính sách tăng cường các dịch vụ công ở nông thôn.
6 Chuyên môn hóa - Ưu tiên cho hai chính sách:
I)Giảm tác động tiêu cực trong ngành vận tải.
II) Cải thiện điều kiện thúc đẩy thương mại và phối hợp theo vùng hơn là chỉ chú ý đầu tư vào
cơ sở hạ tầng.
- Chú ý nhiều đến phát triển
cơ sở hạ tầng.
- Chưa chú ý nhiều đến các tiêu cực trong ngành vận tải.
Ba vấn đề trong chính sách
7 Vấn đề đô thị hoá - Chính sách cho đô thị hóa giải
quyết trên nhiều cực khác nhau.
Không đơn giản hóa thành hai cực là nông thôn và thành thị.
- Quan trọng nhất là các chính sách về quản lí đất đai.
- Vấn đề đô thị hóa thường chỉ được chú trọng ở các khu vực đô thị lớn, chưa quan tâm đến vùng nông thôn và các vùng chuyển tiếp từ nông thôn sang thành thị.
- Các chính sách về quản lí đất đai chưa được chú trọng dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong vấn đề đền bù giải tỏa
và vấn đề nhà ở giá rẻ cho dân nhập cư.
8 Vấn đề phát triển
lãnh thổ
- Giải quyết vấn đề phát triển lãnh thổ trên cơ sở thể chế, cơ sở hạ tầng kết nối và cơ chế khuyến khích tương ứng với ba khía cạnh mật độ, khoảng cách và sự chia cắt.
- Các chính sách “phi vùng” cũng
vô cùng quan trọng
- Các chính sách phát triển lãnh thổ thường quá chú trọng vào đầu tư cơ sở hạ tầng
- Các chính sách “phi vùng” chưa được quan tâm
9 Vấn đề hội nhập
vùng
- Hợp tác thể chế, chính sách để giải quyết vấn đề cần sự phối hợp trong phạm vi liên vùng.
- Hợp tác thể chế giữa các vùng chưa được chú ý.