1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dân số học lịch sử một làng người hoa ở nam bộ nửa đầu thế kỷ xix trường hợp làng minh hương vĩnh long

16 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 353,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có ý kiến cho rằng: “Minh Hương là sự thông hôn giữa đàn bà Việt và di dân nhà Minh chạy sang Giao Chỉ vào cuối thế kỷ XVII”1, ý kiến khác chỉ rõ hơn: “Minh Hương là từ để gọi con cái củ

Trang 1

Ở NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

(Trường hợp làng Minh Hương, Vĩnh Long)

Ths Đặng Ngọc Hà

Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, ĐHQHN

1 Mở đầu

Người Hoa đã có mặt ở Việt Nam từ rất sớm Đến thế kỷ XVII có những nhóm lớn người Hoa di cư sang Nam Bộ, họ đã góp phần quan trọng trong

sự nghiệp khai phá vùng đất này Liên tiếp trong các thế kỷ XVIII, XIX, người Hoa tiếp tục di cư sang Nam Bộ làm ăn, sinh con đẻ cái Và rồi, quá trình lịch sử đã tạo nên người Minh Hương, đây là cầu nối hòa nhập của người Hoa vào dân tộc Việt Nam

Có nhiều định nghĩa khác nhau về người Minh Hương Có ý kiến cho rằng: “Minh Hương là sự thông hôn giữa đàn bà Việt và di dân nhà Minh chạy sang Giao Chỉ vào cuối thế kỷ XVII”1, ý kiến khác chỉ rõ hơn: “Minh Hương là từ để gọi con cái của các cuộc hôn nhân hỗn hợp Hoa – Việt, mặc

dù hồi đầu, từ này được dùng đề gọi những người Hoa đến Việt Nam vì muốn trung thành với nhà Minh”2, có quan niệm khác thiên hơn về vấn

đề ý thức, văn hóa hơn là dòng máu: “tại Việt Nam, người Minh Hương rõ ràng đã làm thành một nhóm riêng biệt Sự hòa nhập giữa Việt Nam với Trung Hoa và ý thức về sự khác biệt của mình, cả hai hợp lại tạo nên Minh

1 A.Schneiner, Les Institutions Annamites en Basse Cochinchine avaut comquête Francaise,

t II, p.66 (Dẫn theo: Nguyễn Cẩm Thúy (chủ biên), Định cư của người Hoa trên đất Nam

Bộ (từ thế kỷ XVII đến năm 1945), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr 13)

2 Zhou Nan Jing, A dictionary of Overseas Chinese, Peking University Press, 1993,

p.494-494 (Dẫn theo: Li Tana, Nguyễn Cẩm Thúy, Bia chữ Hán trong Hội quán người Hoa tại

thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1999, tr 20)

Trang 2

Hương”1 Người Minh Hương là con cháu những người Hoa sinh ra trên mảnh đất Việt Nam2 hoặc đã đến Việt Nam từ thế kỷ XVII, XVIII, phân biệt với người Hoa đến sau

Dân số học lịch sử là khoa học tìm hiểu về dân số của một cộng đồng

cư dân trên các phương diện quy mô, giới, nhóm tuổi, phân bố dân cư, dòng họ… Với những tư liệu khá đầy đủ, chi tiết, sinh động về người Minh Hương ở Vĩnh Long, trong bài viết này, người viết hy vọng phục dựng lại tình hình dân số của một cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ với hướng tiếp cận dân số học lịch sử Đây là nghiên cứu trường hợp (case study), làng này được thành lập vào cuối thế kỷ XVIII, tư liệu sớm nhất ghi nhận là năm 1783, sau đó phát triển mạnh vào thế kỷ XIX, đầu tiên thuộc trấn Vĩnh Thanh Đến khi tỉnh Vĩnh Long được thành lập vào những năm 30 của thế

kỷ XIX thì làng Minh Hương thuộc trong huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn Ngày nay, làng Minh Hương này không còn tồn tại độc lập nữa, nó đã hòa vào cộng đồng người Việt, và những di tích về làng Minh Hương vẫn còn tồn tại như Hội quán Minh Hương ở phường 5, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Bài viết này nhằm phác họa bức tranh sinh động về dân số của một cộng đồng dân cư trong môi trường văn hóa Nam Bộ

Tư liệu của bài viết là những văn bản Hán Nôm được dịch trong cuốn

sách Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ (từ thế kỷ XVII đến năm 1945) do

Nguyễn Cẩm Thúy chủ biên được nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 2000; chúng tôi chỉ lựa chọn các văn bản Hán Nôm về làng Minh Hương, Vĩnh Long từ năm 1804 đến 1866, tức là trước khi Pháp xâm chiếm toàn bộ miền Tây Nam Bộ

2 Việc nhập cư vào làng Minh Hương

Xã Minh Hương ở trấn Vĩnh Thanh, sau này là tỉnh Vĩnh Long được thành lập vào khoảng giữa đến cuối thế kỷ XVIII Theo ghi chép của Trịnh Hoài Đức, xã Minh Hương đầu tiên được lập ra ở Nam Bộ vào năm 1698:

1 Li Tana, Nguyễn Cẩm Thúy, Bia chữ Hán trong Hội quán người Hoa tại thành phố Hồ Chí

Minh, sđd, tr 20

2 William Skinner dùng khái niệm Creolized Chinese tức là Hoa lai để gọi người Minh Hương (William Skinner, Creolized Chinese Societies of Southeast Asia, in trong: Anthony Reid, Sojourvers and Settler: Histories of Southeast Asia and the Chinese, Sydney, Allen & Unwin, 1996, p.87 (Dẫn theo: Li Tana, Nguyễn Cẩm Thúy, Bia chữ Hán trong Hội quán

người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh, sđd, tr 20)).

Trang 3

“Con cháu người Hoa nếu ở Trấn Biên được quy lập thành xã Thanh Hà, còn ở Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương rồi cho phép vào hộ tịch”1,

sau này Quốc sử quán triều Nguyễn viết Đại Nam thực lục cho biết vào năm

1698: “Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở Trấn Biên lập làm xã Thanh Hà,

ở Phiên Trấn, lập làm xã Minh Hương Từ đó người Thanh ở buôn bán đều thành dân hộ [của ta]”2 Có sự khác nhau giữa hai miêu tả trên, Trịnh Hoài

Đức cho biết con cháu người Hoa thì chúa Nguyễn lập nên xã Minh Hương; nhưng Quốc sử quán triều Nguyễn cho biết là lấy người Thanh đến buôn bán

mà lập nên làng xã tên là Thanh Hà và Minh Hương Tài liệu Minh Hương Gia Thạnh lại cho biết làng Minh Hương ở Sài Gòn lập năm 17893

Theo tư liệu cho biết chức Trùm của làng Minh Hương, Vĩnh Long bắt

đầu được đặt năm 1783, như vậy làng Minh Hương ở đây được thành lập sớm hơn 1783 Xã Minh Hương thành lập ở Vĩnh Long để người Minh Hương: “theo trấn nộp thuế là sưu dịch, trông coi việc cân đo, thông ngôn, tào vụ”4 Như vậy, đối với cộng đồng người Hoa mới ở Vĩnh Thanh, Nguyễn Ánh đã thành lập làng xã cho họ và trách nhiệm của họ bên cạnh việc nộp thuế, sưu dịch cho nhà nước còn quản lý việc đo lường, thông ngôn cho chính quyền

Trong quá trình tồn tại của làng Minh Hương ở Vĩnh Thanh sau là Vĩnh Long, viêc nhập tịch vào xã là một vấn đề quan trọng Bởi sự khác nhau giữa người Minh Hương và người Hoa mới từ nhà Thanh sang, nên chính quyền Nguyễn Ánh rồi nhà Nguyễn đã có các biện pháp quản lý nhập tịch, điều này làm ảnh hưởng đến diễn biến dân cư của làng Minh Hương Diễn biến dân cư liên tục thay đổi do sự nhập vào của những người mới cũng như sự di chuyển của những người từ làng Minh Hương đến khu vực khác

Những người Hoa kiều sang Nam Bộ không lập gia đình với người

Việt thì được lập thành phố giống như các bang hội, những người Hoa kiều

1 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, 2005, tr 112.

2 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007,

tr 111.

3 Minh Hương Gia Thạnh, Sài Gòn, 4.1951, dẫn theo: Phan An, Người Hoa ở Nam Bộ, Nxb

Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005.

4 Văn bản Hán Nôm ngày 10 tháng 11 năm Gia Long thứ 11 (1812), Nguyễn Cẩm Thúy

(chủ biên), Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ (từ thế kỷ XVII đến năm 1945), Nxb

Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr 88.

Trang 4

ở Vĩnh Long được lập thành Đường bản phố Nhưng những người Minh

Hương ở Vĩnh Long không đồng ý như vậy, năm 1812 họ cho rằng cần:

“kiểm tra con cháu người Đường di trú, cho xã chúng tôi làm đơn đăng ký vào sổ để chịu việc công, người Đường còn lại ở bản phố xin được mông ơn truyền lệnh cử một người Đường để đứng đầu (…) xin tôn ông phê duyệt những ai là con cháu người Đường thì cho đăng ký vào xã chúng tôi”1 Quan phủ Định Viễn phê chuẩn lại: “Những ai đúng là con cháu người Đường sinh ở nước Nam thì cho phép bản xã theo lệ làm đơn đăng ký với Cai phủ Tuyệt đối không được mạo nhận là con cháu người Đường sẽ bị tội”2 Như vậy việc kiểm soát người Hoa, người Minh Hương nhằm thiết lập một cơ chế dân cư ổn định cho chính quyền

Những người nhập vào xã Minh Hương ở các độ tuổi rất khác nhau Không phải cứ đến tuổi đinh thì ngay lập tức con cháu người Hoa được nhập ngay vào xã Minh Hương, để được nhập vào cộng đồng Minh Hương có nghĩa được hưởng những quyền lợi mà người Hoa kiều không nhập cư không hề có: “Quá trình hòa nhập của người Hoa vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam diễn ra suốt chiều dài lịch sử, là quá trình chuyển từ “kiều dân” sang công dân Việt Nam nói chung và người Nam Bộ nói riêng”3 Thậm chí sau này: “sự

kỳ thị về thuế khóa do các chính quyền đương thời thi hành đã thúc đẩy con cháu những người nhập cư tách rời các nhóm Minh Hương để hòa nhập vào dân chúng địa phương”4 Trong việc đăng ký ở xã Minh Hương có thể do đích thân người cần đăng ký tiến hành trình báo, cũng có khi phải nhờ người thân,

họ hàng viết giấy minh chứng với xã rằng người đó đúng là con cháu người Hoa sinh ra ở Việt Nam và đôi khi người bảo lãnh cũng có thể không cần có quan hệ gì với người đề nghị được đăng ký ở xã Minh Hương

Có nhiều trường hợp tự khai báo để đăng ký vào xã Minh Hương Năm 1824, Nguyễn Dương Xuân là Hoa kiều ngụ cư tại thôn Long Hồ, phủ Định Viễn khai là con cháu người Hoa năm nay 28 tuổi, hiện chưa nhập cư vào xã Minh Hương nên xin được nhập cư để chịu sưu thuế5 Năm 1825, Liên Khánh Thanh người Hoa kiều ở xã Minh Hương khai rằng cha ông

1 Văn bản Hán Nôm ngày 10 tháng 11 năm Gia Long thứ 11 (1812), sđd, tr 88.

2 Văn bản Hán Nôm ngày 10 tháng 11 năm Gia Long thứ 11 (1812), sđd, tr 88.

3 Ngô Văn Lệ, Nguyễn Duy Bính, Người Hoa ở Nam Bộ, Nxb ĐHQG Tp Hồ Chí Minh,

2005, tr 19.

4 Ngô Văn Lệ, Nguyễn Duy Bính, Người Hoa ở Nam Bộ, sđd, tr 54-55.

5 Văn bản Hán Nôm ngày 3 tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), sđd, tr 114.

Trang 5

có tên trong sổ sách của xã, nhưng anh ta năm nay 18 tuổi chưa có tên nên xin được nhập cư vào xã Minh Hương để chịu sưu thuế1 Năm 1841, Trần Công Thông, 25 tuổi ở thôn Trường Xuân, phủ Định Viễn có khai cha là Trần Công Liệu ở Trung Quốc sang sinh sống ở Nam Bộ và sinh ra anh ta,

vì vậy xin nhập tịch và xã Minh Hương để chịu việc nộp thuế2

Nhiều trường hợp khác phải nhờ người thân chứng minh rõ nguồn mới được đăng ký vào sổ sách của xã Minh Hương Có khi ông phải khai nhận, chứng thực cho cháu, năm 1821, Mạc Chấn Quế khai người cháu nuôi là Dương Tiến Tòng đã 20 tuổi mà chưa được ghi vào sổ sách của xã, trong khi đó người anh ruột của Tòng là Nhật đã có tên trong sổ sách của

xã Minh Hương, vì vậy đề nghị cho Tòng được ghi trong sổ sách của xã để chịu sưu thuế3 Trường hợp khác bố là người khai nhận, xác minh cho con; năm 1821, Từ Văn Khương sống ở làng Long Hồ, phủ Định Viễn khai có cha là người ở Quảng Đông, sang Nam Bộ buôn bán rồi sinh ra ông, ông có người con trai là Từ Quan Hội năm nay 20 tuổi, xin cho người này được vào

sổ đăng ký của xã Minh Hương và chịu sưu thuế ở xã4; năm 1842, Nguyễn Công My ngụ ở thôn Long Phụng, phủ Định Viễn khai rằng con là Nguyễn Công Du 26 tuổi chưa từng nhập tịch vào thôn, xã hay bang nào, xin được nhập tịch vào xã Minh Hương để chịu thuế má sưu dịch5

Cũng có khi mẹ là người chứng nhận cho con được đăng ký vào xã Minh Hương Năm 1843, Nguyễn Thị Điền ngụ ở thôn Mỹ Thới, Định Viễn cho biết con là Lê Công Trí 18 tuổi là con cháu người Hoa kiều, chưa nhập tịch nên xin được nhập tịch vào xã Minh Hương để tiện đóng thuế và sưu dịch6; năm 1843, Phạm Thị Ngạn ngụ ở thôn Bình Đức, phủ Định Viễn khai

có con trai là Ngô Công Diên 18 tuổi, chưa nhập tịch ở đâu xin được nhập tịch vào xã Minh Hương để chịu sưu dịch7

Cũng có trường hợp anh trai phải chứng minh cho em như năm 1824,

Từ Quan Hội ở xã Minh Hương, Vĩnh Thanh khai có người em ruột là Từ Quan Lương 24 tuổi, chưa nhập cư vào xã Minh Hương, nên xin bảo lãnh

1 Văn bản Hán Nôm ngày 25 tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), sđd, tr 117.

2 Văn bản Hán Nôm ngày 22 tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 1 (1841), sđd, tr 147.

3 Văn bản Hán Nôm ngày 26 tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), sđd, tr 96.

4 Văn bản Hán Nôm ngày 7 tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), sđd, tr 108.

5 Văn bản Hán Nôm ngày 21 tháng 9 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), sđd, tr 154.

6 Văn bản Hán Nôm ngày 18 tháng 1 năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), sđd, tr 160.

7 Văn bản Hán Nôm ngày 6 tháng 6 năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), sđd, tr 163.

Trang 6

để Lương được đăng ký vào sổ sách của xã nộp sưu thuế, và hứa: “nếu khai gian không đúng sự thực và khách Lương bỏ chốn, y xin bồi thường các khoản sưu thuế và chịu trọng tội”1

Và, cũng có trường hợp người khai báo, chứng minh nguồn gốc của người đăng ký vào xã Minh Hương không có quan hệ ruột thịt với người đăng ký Năm 1821, Hoàng Quan Hạ là người Hoa kiều đệ đơn xin bảo lãnh cho một người Hoa kiều khác là Hứu Quan Trãi để Trãi được đăng ký vào sổ sách của xã Minh Hương, trấn Vĩnh Thanh để chịu sưu thuế: “Nếu sau này có thôn nào tranh chấp và khách Trãi bỏ trốn khỏi xã thì y [Hoàng Quan Hạ] xin bồi thường đầy đủ các khoản sưu thuế”2

Như vậy, muốn được công nhận là một suất đinh của xã Minh Hương phải trải qua công đoạn đầu tiên là khai lý lịch hoặc phải có người minh chứng rõ nguồn gốc xuất thân của người đăng ký, lúc đó xã mới tiến hành các thủ tục để xác nhận là người Minh Hương Công việc đăng ký quy củ như vậy cho thấy chính quyền rất coi trọng công việc này, vì đây không chỉ đơn thuần chống lại việc ẩn lậu dân, đóng thuế mà quan trọng hơn là

nó liên quan đến quốc tịch của một người dưới chính quyền nhà Nguyễn Khi có lý do nào đó phải dời làng Minh Hương đi nơi khác thì khi trở lại cũng phải tiến hành khai báo bằng giấy tờ để được xác nhận trở lại là người làng Minh Hương Năm 1821, Hồng Trung Quyền khai rằng, trước đây đã có trong sổ sách chịu thuế ở xã Minh Hương, sau đó “vì nghèo khó đã đem vợ con đi nơi khác”, đến 1821 khi 30 tuổi lại quay lại xã Minh Hương và xin xã ghi tên vào sổ sách để chịu sưu thuế3 Khi có người di dời khỏi làng Minh Hương thì người thân cũng phải có trách nhiệm khai báo,

vì vấn đề này liên quan đến đóng thuế Cũng năm 1821, Trương Thị Hợp

ở làng Tân Sơn, huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn khai có người cháu tên

là Kha Dữ Công trước có tên trong sổ sách của xã Minh Hương, sau này:

“nghèo khổ đã dẫn vợ con đi biệt tăm không biết tới đâu”, nên bà Hợp đã khai rõ ràng với xã về trường hợp bỏ đi này4

Trường hợp thay đổi nơi trú quán của người Minh Hương cũng trở nên khó khăn hơn nếu không được chính quyền chấp nhận Ngày 7/4

1 Văn bản Hán Nôm ngày 3 tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), sđd, tr 111.

2 Văn bản Hán Nôm ngày 29 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), sđd, tr 99.

3 Văn bản Hán Nôm ngày 2 tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), sđd, tr 102.

4 Văn bản Hán Nôm ngày 6 tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), sđd, tr 105.

Trang 7

(âm lịch, nhuận) năm 1830, quan Tổng trấn thành Gia Định cấp giấy cho Quách Phùng Phú, Giang Quang Lang ở xã Minh Hương mang theo sản nghiệp và gia đình theo thuyền thu thuế lên kinh làm phố hộ: “cấp giấy cho hai người Minh Hương này mang theo sản nghiệp, tiền bạc vật dụng, cùng thân nhân đi theo bốn người đáp thuyền này đến kinh, do quan bộ

Hộ giải quyết tiếp”1 Đến ngày 16/4 hai người này nhận được giấy tờ để lên Kinh làm phố hộ2 Nhưng ngày 15/5, Bộ Hộ căn cứ vào điều khoản: “Người Minh Hương sung làm dân phố thì theo địa hạt đuổi về nguyên quán, vẫn cho quan địa phương chiếu lệ thu thuế từ năm Minh Mệnh thứ 11 [1830] trở đi”, do đó Quách Phùng Phú, Giang Quang Lang và gia đình phải trở

về nguyên quán ở Gia Định và nộp thuế má tại xã Minh Hương như trước kia3 Trường hợp này cho thấy việc thay đổi chỗ ở của người Minh Hương khá phiền toái

Việc quản lý người Hoa, người Minh Hương, chính quyền Nguyễn Ánh ở Nam Bộ sau đó là nhà Nguyễn luôn có nhiều quyết sách quan trọng

để theo dõi và định hướng vấn đề này Năm 1787, Nguyễn Ánh cho phép di

dân người Hoa lập ra các bang: “Tổ chức Bang được thành lập trên cơ sở tập

hợp những di dân Trung Hoa đến miền Nam Việt Nam thuộc cùng một địa phương, cùng một ngôn ngữ địa phương”4 Năm 1790, di dân người Hoa thuộc các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu, Thượng Hải

ở Nam Bộ thì mỗi tỉnh đó đặt một Cai phủ và một Ký phủ5

Năm 1835, triều Nguyễn có chủ trương nhất hóa người Hoa vào các

xã Minh Hương Năm 1842 có quy định: “phàm các địa phương có người Thanh mới đến, phải theo lệ đã định, ghi vào sổ bang, chịu nộp thuế lệ, người bang ấy sinh ra con cháu, đều không được gọt tóc để đuôi sam, hễ tuổi đến 18, bang trưởng ấy phải báo quan, cho theo sổ Minh Hương, theo lệ Minh Hương mà chịu thuế, không được theo cha ghi vào sổ người Thanh”6 Năm 1844, xã trưởng xã Minh Hương là Hà Ngọc Lộ tâu với tỉnh Vĩnh Long: “con cháu các bang người Thanh, nếu đã mạo nhập hộ mạo nhận hộ

1 Văn bản Hán Nôm ngày 7 tháng 4 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), sđd, tr 129.

2 Văn bản Hán Nôm ngày 16 tháng 4 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), sđd, tr 126.

3 Văn bản Hán Nôm ngày 15 tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), sđd, tr 133.

4 Phan An, Người Hoa ở Nam Bộ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005, tr 41.

5 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr 256.

6 Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 4, Nxb Thuận Hóa,

Huế, 1993, tr 311.

Trang 8

tịch bang, thì theo lệnh khai báo, sức cho tôi nhận lãnh đăng ký vào sổ để nộp thuế, vì vậy tôi đội ơn được nhận lãnh, đăng ký trước bạ, công việc đã xong”1 Năm 1855 và 1856 trong khóa làm xã trưởng, Cao Tiến Lộc có đơn

đề nghị những con cháu những người Hoa cô đơn được thuộc về xã Minh Hương tỉnh Vĩnh Long2 Việc quản lý người Minh Hương được nhà nước quan tâm thường xuyên và luôn có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế

Tóm lại, việc nhập cư để trở thành người làng Minh Hương (Vĩnh Long) diễn ra theo quy trình quy định của nhà nước Chính quyền có những đạo dụ rõ ràng để quy định việc nhập cư của người Hoa Những bước, thủ tục nhập cư khá phức tạp cho thấy việc quản lý nhân khẩu diễn

ra khá khắt khe Điều này chứng tỏ cộng đồng người Hoa kiều muốn trở thành người Minh Hương phải trải qua quá trình sinh sống lâu dài, lý lịch được xác nhận rõ ràng

3 Quy mô dân số làng Minh Hương

Dân số làng Minh Hương từ khi thành lập vào cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX có nhiều biến đổi Dựa vào những ghi chép ít ỏi rất khó

có thể phục dựng được toàn bộ tình hình dân số, nhưng một phần nào đó cũng có thể hình dùng được sự tiến triển của dân số ở làng Minh Hương, Vĩnh Long Căn cứ vào sổ đinh bạ do các vị Trùm, Xã trưởng ghi chép về

số đinh từ 1783 đến 1863 có thể ước đoán được tình hình dân số của cộng đồng làng Minh Hương

Nghiên cứu về dân số Việt Nam thời kỳ tiền thực dân của Li Tana ước tính rằng mỗi hộ có 5 nhân khẩu3, vậy số đinh theo ước tính của chúng tôi

sẽ là 1/3 dân số, tức là 1 đinh sẽ đi kèm thêm với 2 người nữa là vợ hoặc con, cha quá tuổi đinh hoặc mẹ… Những trường hợp một gia đình có 5 khẩu trung bình mà có 2 đến 3 đinh sẽ bù trừ được cho những gia đình có con nhỏ Nhưng dù sao đây cũng chỉ là ước đoán dân số

1 Văn bản Hán Nôm ngày 16 tháng 4 năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), sđd, tr 167.

2 Văn bản Hán Nôm ngày 16 tháng 10 năm Tự Đức thứ 18 (1865), sđd, tr 264.

3 Li Tana, Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, Nxb Trẻ, Tp Hồ

Chí Minh, 1999, tr 49.

Trang 9

Biểu đồ trên cho thấy toàn bộ diễn trình của số đinh và dân số xã Minh Hương thuộc tỉnh Vĩnh Long từ năm 1783 đến 1863 Đường viền bên dưới biểu diễn số đinh, đường viền bên trên biểu diễn quy mô dân số tương ứng với số đinh

Những số liệu này chưa chắc đã phản ánh thật sự tình hình số đinh cũng như dân số của làng Minh Hương Tuy nhiên nếu nhìn tổng thể trên bình diện biểu đồ ở một thời gian tới 81 năm thì chúng ta phần nào đó có thể nhìn ra diễn tiến dân số của xã Minh Hương Những số liệu trên biểu

đồ thực sự đã phản ánh điều này

Dân số làng Minh Hương (Vĩnh Long) có diễn biến thất thường và luôn biến động Vào thời điểm năm 1848 đến 1850 khi số đinh có sự vượt trội hẳn với 1014 người và dân số ước tính là 3042, con số này cao gấp nhiều lần vào năm 1836, 1837, dân số ước tính chỉ 200 người?, sau đó vào những năm 1853, 1854 dân số chỉ còn 240 người? Như vậy, những số liệu cụ thể về

số đinh, dân số không chính xác về mặt vi mô chi tiết

Từ 1783 đến 1863, quy mô dân số xã Minh Hương diễn tiến bao gồm 4 giai đoạn Giai đoạn đầu tiên từ năm 1783 đến những năm cuối cùng của thế

kỷ XVIII, thời gian này dân số phát triển tương đối đồng đều, ít biến động Giai đoạn 2 là thời kỳ phát triển dân số trong 30 năm đầu thế kỷ XIX, từ năm

1800 đến 1828, thời gian này dân số phát triển mạnh hơn về số lượng và diễn biến tương đối đồng đều trừ một thời điểm đầu giai đoạn từ 1802 đến 1805 tăng đột xuất về dân số; có lẽ đầu thời Nguyễn, khi Gia Long lên ngôi có một

sự di chuyển dân cư đến Minh Hương, cũng có thể có nhiều người Hoa gia nhập Minh Hương kể từ sau chính sách năm 1802 của Gia Long tái thành lập các bang như một đơn vị hành chính Giai đoạn 3 là thời kỳ bùng nổ dân số

Biểu đồ 1 Tình hình số đinh, dân số ở làng Minh Hương từ 1783 đến 1863

Trang 10

từ năm 1829 đến giữa những năm 50 của thế kỷ XIX, thời điểm này dân số tăng đột biến với số lượng lớn Bước đệm của việc tăng dân số ở giai đoạn 3

là đầu những năm 30, lúc đó dân số bắt đầu tăng nhanh Và đỉnh cao của giai đoạn ba là những năm cuối của thập niên 40 thế kỷ XIX, dân số đạt mức đỉnh điểm nhất Giai đoạn 4 từ đầu những năm 1850 đến năm 1863 là thời điểm dân số giảm và dần trở về mức ổn định như giai đoạn 2, lúc này số lượng dân

số cũng tương tự như giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XIX

Như vậy, dân số làng Minh Hương (Vĩnh Long) có nhiều diễn biến thất thường Điều này cho thấy tính không ổn định của cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ Sự di chuyển dân cư diễn ra khá thường xuyên Ở thời điểm dân số đông nhất của làng Minh Hương là trên 3000 người, nếu so với quy mô dân

số của một làng hiện nay ở Bắc Bộ thì quy mô dân số này thuộc mức trung bình, nhưng ở vào giữa thế kỷ XIX thì đây là quy mô dân số khá lớn

4 Phân bố dân cư

Những tư liệu còn lại ở làng Minh Hương cho phép phục dựng lại sự phân bố dân cư của làng này Phần lớn người Minh Hương sống trong một địa vực cụ thể đây là trung tâm của làng, tuy nhiên số khác sống rải rác trong các làng khác của người Việt và chịu sự quản lý về nhân khẩu, thuế của làng Minh Hương Tính rải rác, phân bố không tập trung là đặc điểm quan trọng của cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ

Năm 1858, xã trưởng xã Minh Hương, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn là Trần Công Nhiên kê khai trong xã năm 1858 có 103 hạng dân đinh, trong đó 99 người là dân tráng đinh phải nộp thuế1 Trong 98 người được

kê khai rõ địa chỉ thôn năm 1858 thì phần lớn tập trung ở thôn Long Phượng thuộc tổng Bình Thành, huyện Vĩnh Bình phủ Định Viễn Đây là trung tâm làng xã người Minh Hương tỉnh Vĩnh Long thế kỷ XIX, ngoài

ra người Minh Hương còn sống rải rác ở 19 thôn thuộc 9 tổng khác nhau

Có 38 người được kê tên sống tại thôn Long Hồ, ngoài ra có 9 người sống tại thôn Tân Sơn, có 8 người sống ở thôn Trường Xuân… Nhưng cũng có nhiều người sống rải rác ở một số khu vực khác vẫn nộp thuế tại xã Minh Hương, như 3 trường hợp người Minh Hương ở thôn An Đức, huyện Bảo Hựu, phủ Hoằng Trị, trong khi đó khoảng cách từ huyện Vĩnh Bình đến

1 Văn bản Hán Nôm ngày 29 tháng 10 năm Tự Đức thứ 11 (1858), sđd, tr 185-191.

Ngày đăng: 17/03/2021, 18:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Những số liệu này chưa chắc đã phản ánh thật sự tình hình số đinh cũng như dân số của làng Minh Hương - Dân số học lịch sử một làng người hoa ở nam bộ nửa đầu thế kỷ xix trường hợp làng minh hương vĩnh long
h ững số liệu này chưa chắc đã phản ánh thật sự tình hình số đinh cũng như dân số của làng Minh Hương (Trang 9)
Tình hình dân số của các xóm trong xã Minh Hương năm 1866 có sự - Dân số học lịch sử một làng người hoa ở nam bộ nửa đầu thế kỷ xix trường hợp làng minh hương vĩnh long
nh hình dân số của các xóm trong xã Minh Hương năm 1866 có sự (Trang 12)
1 Văn bản Hán Nôm ngày 15 tháng 10 năm Tự Đức thứ 19 (1866), sđd, tr. 335-340. - Dân số học lịch sử một làng người hoa ở nam bộ nửa đầu thế kỷ xix trường hợp làng minh hương vĩnh long
1 Văn bản Hán Nôm ngày 15 tháng 10 năm Tự Đức thứ 19 (1866), sđd, tr. 335-340 (Trang 12)
Biểu đồ 7. Tình hình dòng họ ở làng Minh Hương vào năm 1858 - Dân số học lịch sử một làng người hoa ở nam bộ nửa đầu thế kỷ xix trường hợp làng minh hương vĩnh long
i ểu đồ 7. Tình hình dòng họ ở làng Minh Hương vào năm 1858 (Trang 15)
Biểu đồ 8. Tình hình dòng họ ở làng Minh Hương vào năm 1866 - Dân số học lịch sử một làng người hoa ở nam bộ nửa đầu thế kỷ xix trường hợp làng minh hương vĩnh long
i ểu đồ 8. Tình hình dòng họ ở làng Minh Hương vào năm 1866 (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w