DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT AMOS Phân tích cấu trúc Mômen Analysis of Moment Structures AGFI Điều chỉnh chỉ số phù hợp AVE Chênh lệch trung bình được chiết xuất ATNĐ Áp thấp nhiệt đới BĐKH Bi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
PHẠM VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU Ý ĐỊNH THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN VEN BIỂN
ĐỒNG BẰNG CHÂU THỔ SÔNG HỒNG TRÊN CƠ SỞ
MÔ HÌNH HOÁ PHƯƠNG TRÌNH CẤU TRÚC (SEM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
PHẠM VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU Ý ĐỊNH THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN VEN BIỂN
ĐỒNG BẰNG CHÂU THỔ SÔNG HỒNG TRÊN CƠ SỞ
MÔ HÌNH HOÁ PHƯƠNG TRÌNH CẤU TRÚC (SEM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: 8900201.01QTD
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn An Thịnh
TS Trịnh Quốc Anh
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn An Thịnh và TS Trịnh Quốc Anh, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Phạm Văn Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, học viên xin được bày tỏ lòng biết ơn của mình đến thầy
giáo hướng dẫn trực tiếp là PGS.TS Nguyễn An Thịnh (Khoa Kinh tế Phát triển, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN) và TS Trịnh Quốc Anh (Khoa Toán – Cơ – Tin
học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN), các thầy đã cho học viên nhiều kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm việc, hướng dẫn và rèn luyện học viên trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Học viên xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các cán bộ và thầy cô trong khoa Các khoa học liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy cô không chỉ trang bị cho học viên những kiến thức chuyên ngành quý báu trong lĩnh vực nghiên cứu biến đổi khí hậu, mà còn tạo mọi điều kiện và chỉ bảo tận tình giúp đỡ học viên trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Học viên cũng xin cám ơn PGS.TS Lưu Thế Anh (Viện Địa lý, Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam), chủ nhiệm đề tài độc lập cấp Nhà nước “Đánh giá
tác động của Biến đổi khí hậu tới sử dụng đất tại các tỉnh ven biển Đồng bằng châu thổ sông Hồng” và các cán bộ thuộc Viện Nghiên cứu Tài nguyên và Biến đổi Khí hậu
(Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội) đã tạo điều kiện cho học viên được tham gia điều tra, khảo sát trong khuôn khổ đề tài Học viên cũng cám ơn các cán bộ tại
Bộ môn Xác suất - Thống kê, Khoa Toán - Cơ - Tin học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN đã giúp đỡ và hỗ trợ học viên trong quá trình nghiên cứu
Lời cuối cùng, học viên xin được cám ơn bạn bè và những người thân trong gia đình đã luôn chia sẻ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để học thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2018
Học viên
Phạm Văn Tuấn
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Phạm vi không gian 3
3.2 Phạm vi thời gian 3
3.3 Phạm vi khoa học 3
4 Câu hỏi nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa của đề tài 4
6.1 Ý nghĩa khoa học 4
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
7 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 5
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 12
1.1.3 Các công trình liên quan đến khu vực nghiên cứu 16
1.2 Cơ sở lý luận 22
1.2.1 Ý định thích ứng biến đổi khí hậu 22
1.2.2 Mô hình Thuyết động cơ bảo vệ (PMT) 23
1.2.3 Mô hình phương trình cấu trúc (SEM) 27
CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 29
2.1 Cách tiếp cận 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
Trang 62.2.1 Nhóm các phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 29
2.2.2 Các phương pháp xử lý số liệu 33
2.3 Trình tự các bước nghiên cứu 38
2.4 Giới thiệu về khu vực nghiên cứu 40
2.4.1 Vị trí địa lý 40
2.4.2 Diễn biến khí hậu trong quá khứ và kịch bản biến đổi khí hậu 41
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Xây dựng bộ chỉ số theo mô hình Thuyết động cơ bảo vệ 46
3.2 Phân tích thống kê mô tả 50
3.3 Phân tích nhân tố 59
3.3.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 59
3.3.2 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) 62
3.4 Mô hình hoá phương trình cấu trúc 66
3.4.1 Kiểm nghiệm mô hình lý thuyết phương trình cấu trúc 66
3.4.2 Kiểm nghiệm ước lượng mô hình bằng Bootstrap 67
3.4.3 Phân tích cấu trúc đa nhóm 67
3.5 Mô hình ý định thích ứng với biến đổi khí hậu cấp vùng và cấp địa phương 70
3.5.1 Mô hình ý định thích ứng với biến đổi khí hậu cấp vùng 70
3.5.2 Mô hình ý định thích ứng với biến đổi khí hậu cấp địa phương 71
3.5.3 Một số gợi ý chính sách để tăng cường tính hiệu quả của mô hình thích ứng biến đổi khí hậu 75
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 88
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AMOS Phân tích cấu trúc Mômen (Analysis of Moment Structures)
AGFI Điều chỉnh chỉ số phù hợp
AVE Chênh lệch trung bình được chiết xuất
ATNĐ Áp thấp nhiệt đới
BĐKH Biến đổi khí hậu
CFI Chỉ số phù hợp so sánh
CFA Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory factor analysis)
CB-SEM Mô hình phương trình cấu trúc dựa trên phương sai dựa trên cơ sở
Covariance CFI Chỉ số so sánh phù hợp
CR Xây dựng độ tin cậy
EFA Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory factor analysis)
IPCC Ủy ban liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu
MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường
NN và PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
NFI Chỉ số phù hợp tiêu chuẩn
PMT Lý thuyết Động cơ bảo vệ (Promotion Motivation Theory)
PTBV Phát triển bền vững
RNI Chỉ số phi trung tâm tương đối
RCSA Mô hình rủi ro, đối phó và đánh giá xã hội (The risk, coping, and
social appraisal model)
SEM Mô hình cấu trúc mạng (Structural Equation Modeling)
TPB Hành vi được hoạch định (The Theory of Planned Behaviour) TLI Chỉ số Tucker Lewis
TNMT Tài nguyên môi trường
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
TƯBĐKH Thích ứng với biến đổi khí hậu
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (United
Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số nghiên cứu lựa chọn kích thước mẫu cho mô hình SEM 30
Bảng 2.2 Thông tin về phiếu điều tra, khảo sát tại khu vực nghiên cứu 32
Bảng 2.3 Bảng chỉ số phù hợp của mô hình CFA trên AMOS 37
Bảng 2.4 Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm ( 0C) so với thời kỳ cơ sở 42
Bảng 2.5 Tần suất bão tại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 1960-2016 43
Bảng 3 1 Bảng mô tả các nhân tố ảnh hưởng đến ý định thích ứng 46
Bảng 3.2 Thống kê kết quả đánh giá của cộng đồng dân cư về “Suy nghĩ chủ quan về BĐKH” 51
Bảng 3.3 Thống kê kết quả đánh giá của cộng đồng dân cư về “Niềm tin về thiên tai và BĐKH” 51
Bảng 3.4 Thống kê kết quả đánh giá của cộng đồng dân cư về “Không thích ứng thiên tai và BĐKH” 51
Bảng 3.5 Thống kê kết quả đánh giá của cộng đồng dân cư về “Thói quen, tập quán sản xuất” 52
Bảng 3.6 Thống kê kết quả đánh giá của cộng đồng dân cư về “Nhận thức rủi ro về BĐKH” 52
Bảng 3.7 Thống kê kết quả đánh giá của cộng đồng dân cư về “Đánh giá khả năng thích ứng” 53
Bảng 3.8 Thống kê kết quả đánh giá của cộng đồng dân cư về “Sự không khuyến khích” 53
Bảng 3.9 Thống kê kết quả đánh giá của cộng đồng dân cư về “Sự khuyến khích” 53
Bảng 3.10 Thống kê kết quả đánh giá của cộng đồng dân cư về “Ý định thích ứng BĐKH” 54
Bảng 3.11 Bảng tóm tắt dữ liệu nghiên cứu 55
Bảng 3.12 Giá trị CrA của nhân tố PE và giá trị CrA thay thế khi xóa biến quan sát 55
Bảng 3.13 Giá trị CrA của nhân tố BN và giá trị CrA thay thế khi xóa biến 55
Bảng 3.14 Giá trị CrA của nhân tố NA và giá trị CrA thay thế khi xóa biến 56
Bảng 3.15 Giá trị CrA của nhân tố PH và giá trị CrA thay thế khi xóa biến 56
Bảng 3.16 Giá trị CrA của nhân tố ST và giá trị CrA thay thế khi xóa biến 57
Bảng 3.17 Giá trị CrA của nhân tố LA và giá trị CrA thay thế khi xóa biến quan sát 57
Bảng 3.18 Giá trị CrA của nhân tố EN và giá trị CrA thay thế khi xóa biến 57
Trang 9Bảng 3.19 Giá trị CrA của nhân tố DI và giá trị CrA thay thế khi xóa biến quan sát 58
Bảng 3.20 Giá trị CrA của nhân tố AI và giá trị CrA thay thế khi xóa biến quan sát 58
Bảng 3.21 Kết quả phân tích nhân tố khám phá lần cuối (Pattern Matrix) 60
Bảng 3.22 Kết quả kiểm định KMO and Bartletl's Test của mô hình CFA 60
Bảng 3.23 Các nhân tố và biến đo lường tương ứng 61
Bảng 3.24 Giá trị hồi quy cho mỗi nhân tố đối với các biến đo lường 63
Bảng 3.25 So sánh độ phù hợp của mô hình trước và sau khi hiệu chỉnh 64
Bảng 3.26 Hệ số CrA của các nhân tố đo lường và số lượng biến của mỗi nhân tố 65
Bảng 3.27 Kiểm tra ước lượng mô hình bằng Bootstrap 67
Bảng 3 28: So sánh và tính toán sai khác giữa mô hình khả biến và mô hình bất biến 70
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình lý thuyết về hành vi được lên kế hoạch (TPB) 22
Hình 1.2 Mô hình Thuyết động cơ bảo vệ (PMT) 23
Hình 1.3 Sơ đồ các giai đoạn của Thuyết động cơ bảo vệ PMT (nguồn: Floyd và nnk, 2000) 24
Hình 1.4 Quá trình trung gian nhận thức (Floyd và nnk, 2000) 25
Hình 1.5 Mô hình áp dụng thuyết động cơ bảo vệ trong nghiên cứu hành vi bảo vệ sức khoẻ (Milne và nnk, Orbell 2000) 26
Hình 2.1 Mô hình CFA trong nghiên cứu 36
Hình 2.2 Các bước phân tích và xử lý số liệu và xây dựng mô hình của nghiên cứu 38
Hình 2.3 Sơ đồ các bước nghiên cứu 39
Hình 2.4 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu 41
Hình 2.5 Xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình năm giai đoạn 1960-2017 tại khu vực ven biển Thái Bình – Nam Định – Ninh Bình 41
Hình 2.6 Xu thế biến đổi lượng mưa trung bình năm giai đoạn 1960-2017 tại khu vực ven biển Thái Bình – Nam Định – Ninh Bình 42
Hình 2 7 Diễn biến xâm ngập mặn bình quân tại cửa sông Thái Bình, Trà Lý (‰) ứng với 3 thời kỳ triều 45
Hình 3 1 Mô hình lý thuyết nghiên cứu và xác định các chỉ thị chính 48
Hình 3.2 Mô hình CFA của nghiên cứu sau khi hiệu chỉnh 65
Hình 3.3 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết 66
Hình 3.4 Mô hình bất biến về Ý định thích ứng BĐKH tại huyện Hải Hậu, Kim Sơn và Thái Thụy 68
Hình 3.5 Mô hình khả biến về Ý định thích ứng với BĐKH tại các huyện nghiên cứu 69
Hình 3.6 Mô hình nhân tố ảnh hưởng tới ý định thích ứng BĐKH của cộng đồng cư dân đồng bằng sông Hồng 71
Hình 3.7 Mô hình tác động của các nhân tố độc lập đến nhân tố Ý định TƯBĐKH huyện Thái Thụy 72
Hình 3.8 Mô hình tác động của các nhân tố độc lập đến nhân tố Ý định TƯBĐKH huyện Hải Hậu 73
Hình 3.9 Mô hình tác động của các nhân tố độc lập đến nhân tố Ý định TƯBĐKH huyện Kim Sơn 74
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thích ứng biến đổi khí hậu là một chủ đề nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, được thực hiện tại nhiều khu vực khác nhau trên thế giới (Adger và nnk., 2003; Deressa và nnk., 2011; Moss và nnk., 2013; Hoa Le Dang và nnk., 2014) Thích ứng biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp càng trở nên cấp bách tại các quốc gia đang phát triển do hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện khí hậu và các nguồn lực tự nhiên khác (Bryant và nnk., 2000; Bradshaw và nnk., 2004; Bryan và nnk., 2009; Mertz và nnk., 2009; Apata và nnk., 2009; Deressa và nnk., 2011; Below và nnk., 2012; Pachauri và nnk., 2014)
Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng và là nguồn thu nhập chính cho phần lớn nông dân nghèo ở nông thôn Việt Nam (Viện Môi trường Nông nghiệp, 2014) Đất nông nghiệp (không tính đất rừng) chiếm diện tích 27,302 triệu ha (xấp xỉ 35% diện tích tự nhiên) (Tổng cục thống kê, 2016) Theo kịch bản BĐKH, nước biển dâng lên 50 cm sẽ làm ngập khoảng 6,93% tổng diện tích đồng bằng sông Hồng; nước biển dâng lên 100 cm gây ngập tới 16,8% tổng diện tích, trong đó Thái Bình và Nam Định có nguy cơ ngập cao nhất (tương ứng 50,9% và 58%) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016) Nguy cơ mất đất nông nghiệp kéo theo hàng loạt các tác động đến quá trình sinh trưởng, thời vụ và năng suất cây trồng, và nguy cơ lây lan sâu bệnh hại Thời gian thích nghi của cây trồng nhiệt đới mở rộng và của cây trồng á nhiệt đới thu hẹp lại (UNDP, 2015) Gió mùa, bão và nước biển dâng cũng góp phần tăng các trận mưa có cường độ mạnh, tổng lượng mưa lớn vượt thiết kế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự
an toàn của đập và hồ chứa, gây ngập lụt tại khu vực hạ lưu, tăng nhanh tốc độ xói mòn
bờ biển, phá hủy rừng ngập mặn, tàn phá môi sinh của hàng ngàn sinh vật và ảnh hưởng đến sinh kế người dân (Phạm Thị Trầm và Nguyễn Song Tùng, 2010; Lương Ngọc Thuý
và Phan Đức Nam, 2015)
Nghiên cứu thích ứng biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp đã được triển khai rộng rãi theo các cách tiếp cận khác nhau (Apata và nnk, 2009; Deressa và nnk, 2009; Deressa và nnk, 2011; Hoa Le Dang và nnk, 2012; Davis và Ali, 2014; Lee và nnk, 2018) Trong đó, cách tiếp cận nghiên cứu sử dụng SEM (mô hình hóa phương trình cấu trúc) đã được áp dụng hiệu quả trong nghiên cứu điều tra thái độ và hành vi
Trang 12của nông dân trồng lúa theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu (Diggs, 1991; Vedwan and Rhoades, 2001; Maddison, 2007; Mertz và nnk, 2009; Gbetibouo, 2009; Deressa và nnk, 2011; Hoa Le Dang và nnk, 2013) Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, cách người nông dân nhận thức, cảm nhận về biến đổi khí hậu sẽ giúp hình thành nên các biện pháp thích nghi của riêng họ Quá trình nghiên cứu cần tập trung vào phân tích động cơ bảo
vệ (PMT) trong mối liên hệ với ý định và hành vi thích ứng của người nông dân Cách tiếp cận này đảm bảo tính tin cậy và tổng quát của các kết quả nghiên cứu (Weinreich 1996) Tại Việt Nam, mô hình SEM được kết hợp với mô hình PMT để nghiên cứu tác động và thích ứng biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long (Hoa Le Dang và nnk., 2013)
Trên thực tế, hướng nghiên cứu nhằm thu thập, phân loại ý định thích ứng vì thế cũng ngày càng được quan tâm nhiều hơn, góp phần xây dựng chiến lược ứng phó hiệu quả (Fussel and Klein 2006; Thomas và nnk, 2007; Adger và nnk, 2009; Below và nnk, 2012) Mô hình này được học viên lựa chọn để nghiên cứu ý định thích ứng biến đổi khí hậu của cộng đồng cư dân ven biển đồng bằng châu thổ sông Hồng Do đó, đề tài luận
văn thạc sĩ: “Nghiên cứu ý định thích ứng biến đổi khí hậu của các cộng đồng cư dân ven biển đồng bằng châu thổ sông Hồng trên cơ sở mô hình hoá phương trình cấu trúc (SEM)” được lựa chọn nghiên cứu
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu: “Áp dụng khung Thuyết động cơ bảo vệ (PMT) với Mô hình phương
trình cấu trúc (SEM) để thử nghiệm đánh giá định lượng ý định thích ứng với biến đổi khí hậu và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thích ứng của người dân các xã ven biển đồng bằng châu thổ sông Hồng”
Để đạt được mục tiêu của đề tài, các nhiệm vụ sau cần được thực hiện:
- Tổng quan tài liệu, xây dựng cơ sở lý luận và khung nghiên cứu
- Phân tích diễn biến khí hậu trong quá khứ, kịch bản biến đổi khí hậu và những thiệt hại do thiên tai ảnh hưởng đối với trồng trọt tại các xã ven biển khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng;
- Xây dựng bộ chỉ số đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân trong trồng trọt;
- Mô hình hóa và phân tích định lượng ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân;
- Đề xuất một số gợi ý chính sách để thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu
Trang 13- Huyện Hải Hậu lựa chọn 6 xã ven biển là TT Thịnh Long, Hải Chính, Hải Triều, Hải Lý, Hải Đông, Hải Lộc Tổng diện tích là 4.626 ha, dân số là 50.789 người, mật độ dân số 1.097 người/km2
- Huyện Kim Sơn lựa chọn 6 xã ven biển là Kim Tân, Kim Mỹ, Cồn Thoi, Kim Hải, Kim Trung và Kim Đông Đây là các xã trọng điểm về kinh tế của huyện với tổng diện tích đất tự nhiên trên 4.042 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp trên 2.792 ha; toàn vùng có 10.965 hộ với 40.934 nhân khẩu
3.2 Phạm vi thời gian
- Luận văn xem xét, nghiên cứu số liệu về các đặc trưng của khí hậu (Lượng mưa,
nhiệt độ, ) từ thời điểm năm 1960 đến năm 2017; phân tích diễn biến khí hậu các giai đoạn 2016 – 2035; giai đoạn 2046 – 2065; giai đoạn 2080 – 2099
- Số liệu điều tra khảo sát trong năm 2017 và bổ sung năm 2018
3.3 Phạm vi khoa học
- Điều tra ý định thích ứng của người nông dân đối với biến đổi khí hậu trên cơ sở
mô hình thuyết động cơ bảo vệ (PMT)
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định thích ứng với BĐKH của người dân được phân tích định lượng trên cơ sở mô hình phương trình cấu trúc (SEM)
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới ý định thích thích ứng với biến đổi khí hậu trong trồng trọt của người dân tại các xã ven biển vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng?
- Có hay không sự khác nhau về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định thích ứng ở các địa phương nghiên cứu?
- Những vấn đề gì cần chú ý để nâng cao hiệu quả các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu cho người dân trồng trọt vùng ven biển đồng bằng sông Hồng?
Trang 146 Ý nghĩa của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Phương pháp tiếp cận tổng hợp và liên ngành được áp dụng nhằm phân tích quá trình ra quyết định của người nông dân trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu Kết quả nghiên cứu của luận văn làm phong phú tri thức khoa học về thích ứng với biến đổi khí hậu quy mô hộ gia đình Đây là cơ sở tài liệu cho hướng nghiên cứu ý định và hành
vi thích ứng của cộng đồng địa phương đối với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu khoa học cho các cơ quan quản lý tại huyện Thái Thụy (tỉnh Thái Bình), huyện Hải Hậu (tỉnh Nam Định) và huyện Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình) hiểu rõ hơn về ý định thích ứng của người dân với biến đổi khí hậu; các yếu
tố ảnh hưởng đến ý định của người dân để thích ứng
- Những nội dung này cũng có thể được điều chỉnh và áp dụng cho các bối cảnh hoặc vùng khác, trong đó một số điều kiện khí hậu và kinh tế xã hội tương đối tương tự như
ở khu vực nghiên cứu
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 2 Cách tiếp cận, phương pháp và khu vực nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu về ý định thích ứng BĐKH của cư dân ven biển
Biến đổi khí hậu đề cập đến bất kỳ thay đổi nào về khí hậu theo thời gian, dù đó là tiến trình phát triển của tự nhiên hay do kết quả từ hoạt động của con người (IPCC, 2007) Thích ứng với BĐKH là quá trình điều chỉnh nhằm làm giảm những tác động bất lợi hoặc sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại (Adger và nnk., 2003I; PCC, 2007; Trần Thục và nnk, 2008) đối với hoạt động nông nghiệp, sinh
kế và cuộc sống của con người (Bryant và nnk, 2000) Sự thích ứng có thể là tự phát được thực hiện bởi chính cá nhân, cộng đồng chịu tác động của BĐKH; hay được lên
kế hoạch trong các chính sách, chiến lược của địa phương; và có thể được thực hiện để đối phó với những biến đổi trong nhiều điều kiện tự nhiên khác nhau (Trần Thục và nnk, 2008; Hoa Le Dang và nnk, 2012) Bối cảnh BĐKH và mức độ nhạy cảm của sản xuất nông nghiệp đối với sự thay đổi của các điều kiện tự nhiên đã có ảnh hưởng trực diện tới nhận thức, ý định và hành vi thích ứng của người nông dân (Bryant và nnk., 2000) Đây cũng là chủ đề nghiên cứu được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm
Nghiên cứu ý định thích ứng BĐKH xuất phát từ kinh tế học hành vi (behavioural economics) (Hoa Le Dang và nnk, 2012) Theo đó, các khái niệm tâm lý học và kinh tế được sử dụng giải thích quá trình ra quyết định của cá nhân (Simon, 1994) Cư dân ven biển sống dựa vào các dịch vụ hệ sinh thái như tài nguyên nhiên nhiên, đặc biệt những người nghèo nhất là đối tượng chịu mức tổn thương cao nhất (Morton, 2007) Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, họ là những người có được nhận thức rõ ràng nhất về sự thay đổi của khí hậu và tự điều chỉnh chính hoạt động, thói quen, tập quán của mình để thích nghi với sự thay đổi đó (Thomas và nnk, 2007; Ishaya và Abaje 2008; Mertz và nnk, 2009) Nông dân sống ở những vùng khô hạn có nhận định được các biểu hiện của sự gia tăng nhiệt độ ấm và khô tốt hơn những người nông dân sống ở khu vực ẩm ướt (Diggs, 1991) Quá trình thích ứng với biến đổi khí hậu có thể xảy ra trên các quy mô khác nhau, từ địa phương cho tới khu vực (Bryant và nnk., 2000) Mặc dù chịu ảnh hưởng nghiêm trọng
và toàn diện của BĐKH nhưng dưới tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội và môi trường khác nhau, ý định của mỗi cá nhân hay cộng đồng trong thích ứng với BĐKH
Trang 16luôn tồn tại sự khác biệt (Semenza và nnk, 2008; Sampei và Aoyagi-Usui, 2009; Akter
và Bennett, 2009; Deressa và nnk, 2011)
Thích ứng với BĐKH bao gồm hai quá trình: nhận thức được việc thay đổi của khí hậu và phản ứng với những thay đổi đó thông qua sự thích ứng (Maddison, 2004) Grothmann và Patt (2005) xây dựng mô hình giải thích vai trò của các yếu tố xã hội ảnh hưởng tới ý định thích ứng dựa trên Thuyết động cơ bảo vệ (Protection Motivation Theory – PMT) Ngay sau đó, mô hình này được kiểm chứng thông qua hai nghiên cứu điển hình, một từ đô thị Đức và một từ nông thôn Zimbabwe Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình là công cụ đắc lực hỗ trợ xây dựng các mô hình lý luận và góp phần giải thích các yếu tố ảnh hưởng tới ý định thích ứng
Hassan và Nhemachena (2008) vận dụng Thuyết động cơ bảo vệ nghiên cứu vai trò của đất đai, nâng cao khoa học công nghệ trong cảnh báo thiên tai và các chính sách
hỗ trợ vốn đối với ý định thích ứng của nông dân tại Châu Phi Cũng tại đây, Deressa và Hassan (2009) sử dụng phương pháp Lợi thế so sánh - Ricardian trong phân tích hiệu quả của các ý định thích ứng đối với BĐKH trong nông nghiệp tại Ethiopia So sánh các lợi ích mang lại cho phép lựa chọn được biện pháp phù hợp Frederick và nnk (2014) tập trung vào xây dựng các cuộc thảo luận và phỏng vấn sâu với 30 nhóm nông dân khác nhau tại Ghana Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, hạn hán, lũ lụt, bão và sự gia tăng nhiệt
độ là những biểu hiện có tác động mạnh nhất tới sản xuất nông nghiệp tại khu vực Và
vì vậy, ý định thích nghi tập trung vào phát triển các cây trồng chịu hạn, thay đổi lịch canh tác, trồng rừng tăng cường độ ẩm của đất và chắn gió
Ngoài ra, các yếu tố như trình độ học vấn, giới tính, tuổi, quy mô canh tác,… cũng được nhiều nghiên cứu chứng minh có ảnh hưởng tới ý định thích ứng của người nông dân (Maddison 2006; Gbetibouo 2009) Kinh nghiệm canh tác, thường gắn liền với tuổi tác, đóng một vai trò quan trọng trong nhận thức về biến đổi khí hậu (Diggs 1991; Maddison 2006; Ishaya và Abaje, 2008) Việc tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng làm tăng nhận thức và mối quan tâm về thiệt hại liên quan đến biến đổi khí hậu (Sampei và Aoyagi-Usui, 2009; Akter và Bennett, 2009) Semenza và nnk (2008) chỉ ra rằng những người có thu nhập cao hơn đánh giá sự thay đổi của các yếu tố khí tượng ở mức lớn hơn so với những người có thu nhập thấp
Nhìn chung, các nghiên cứu trên phần lớn dựa trên Thuyết động cơ bảo vệ (PMT) tiếp cận, xây dựng và phát triển mô hình lý luận trong nghiên cứu ý định thích ứng với
Trang 17BĐKH Vai trò của nhận thức đã được nhấn mạnh trước khi hình thành các ý định và hành vi thích ứng Tuy nhiên, hạn chế của các nghiên cứu này là không cho thấy được mối liên hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng cũng như quá trình hình thành nên các ý định thích ứng của người nông dân Số lượng các nghiên cứu vẫn khá ít, chỉ tập trung phần lớn tại các quốc gia như Etiopia, Ghana, Anh, Zimbabwe và khu vực châu Phi Các nghiên cứu tại Đông Nam Á và Việt Nam khá khiêm tốn
1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu ứng dụng mô hình SEM
Tiếp cận định lượng đã được sử dụng để ước lượng, phân tích mối quan hệ giữa các biến và ứng dụng rộng rãi trong các khoa học nghiên cứu về hành vi (Denzin và Lincohn 2008) Các phương pháp thường được sử dụng đều dựa trên lý thuyết phân tích hồi quy như: mô hình probit (đơn vị xác suất) (Bryan và nnk, 2009); mô hình probit đa biến (Yegbemey và nnk, 2013); mô hình logit (mô hình hồi quy logistic) (Fosu-Mensah
và nnk, 2012); mô hình logit đa thức (Deressa và nnk, 2009), mô hình hồi quy tuyến tính (Hisali và nnk, 2011); mô hình Tobit (Idrisa và nnk, 2012); mô hình phương trình cấu trúc SEM (Hoa Le Dang và nnk, 2014); mô hình hồi quy đa biến (Arimi 2013),… Trong các lớp mô hình, SEM (Structural Equation Modeling, mô hình hóa phương trình cấu trúc) là một dạng mô hình thống kê tổng quát, kết hợp giữa phân tích nhân tố và hồi quy hay phân tích đường dẫn (Hair và nnk, 2010; Reut Sadia và nnk, 2017)
Kể từ khi ra đời, SEM trở thành một trong những phương pháp thống kê nhiều chiều được sử dụng phổ biến nhất nhằm áp dụng để nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực (như tâm lý học, giáo dục, xã hội học, quản lý, khoa học chính trị, y tế công cộng) Một nghiên cứu ứng dụng SEM thường bắt đầu từ việc xác định các nhóm nhân tố có tác động tới đối tượng nghiên cứu, xây dựng sơ đồ tổng quát với nhiều giả định về mối quan hệ giữa các nhóm và các biến đại diện cho nhân tố đó Giai đoạn tiếp theo, bảng hỏi khảo sát được thiết kế, và được gửi tới đối tượng phỏng vấn, thu thập đánh giá của họ về vai trò
và định lượng tầm quan trọng của từng biến thông qua thang đo giá trị Cuối cùng, dựa trên kết quả thống kê, các phương trình (tương tự như các phương trình hồi quy bội) được thiết lập và cho biết mối quan hệ phụ thuộc giữa các biến đồng thời chứng minh các giả thiết đã đưa ra Trong phương trình cấu trúc, một biến có thể đóng vai trò là biến phụ thuộc trong mối quan hệ này nhưng vẫn có thể là biến độc lập trong mối quan hệ với một yếu tố khác Ngoài ra, biến độc lập cũng sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến từng biến phụ thuộc (Hair và nnk, 2010) Nói cách khác, SEM cho phép ước lượng đồng thời
Trang 18một số phương trình các biến độc lập và phụ thuộc mà nhờ đó nó cho phép tính toán và biểu diễn trực quan mối quan hệ giữa các biến (Kline, 2010; Reut Sadia và nnk, 2017) Washington và nnk (2010) cho rằng SEM cũng có khả năng biểu diễn các biến ẩn (biểu diễn các khái niệm không quan sát được) và tính đến sai số đo lường trong quá trình ước tính Biến ẩn được ám chỉ bởi hiệp tương quan giữa hai hay nhiều biến quan sát hoặc đóng vai trò là nhân tố giải thích cho phương sai, hiệp phương sai trong một nhóm quan sát Dựa trên cơ sở lý thuyết chung, mục đích chính của nghiên cứu là xác định lượng và chất của các biến ẩn này Nhờ đó, việc ứng dụng và mở rộng các mô hình SEM thường được sử dụng trong các nghiên cứu liên quan đến ý định, hành vi được lên
kế hoạch, thói quen, đánh giá mức độ hài lòng,… Các nghiên cứu theo hướng này cũng được chứng minh là mang lại ưu điểm hơn và phù hợp cho quá trình nghiên cứu ở cấp
độ cộng đồng, hệ sinh thái,… so với nhiều mô hình thống kê khác (Valdés và García, 2011)
Các mô hình SEM có thể chia ra hai nhóm: nhóm các mô hình cấu trúc hiệp phương sai cơ sở SEM (Covariance Base – CB SEM) và nhóm các mô hình cấu trúc bình phương tối thiểu (Partial Least Squares – PLS SEM) (Hair và cộng sự 2013) Dựa trên đặc điểm của đối tượng và cơ sở dữ liệu có được mà các tác giả quyết định việc lựa chọn mô hình hợp lý trong nghiên cứu của mình
Trước đây, SEM được ứng dụng trong các nghiên cứu nhằm kiểm tra và xác nhận các giả thuyết và sau đó tiến tới tiếp cận xây dựng phát triển các lý thuyết ở một số nghiên cứu Kalim và nnk (2013) nghiên cứu cách xác định và phát triển các chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) đối với các quốc gia đang phát triển Quá trình phân tích tập trung vào khảo sát ý kiến của hai đối tượng là hộ gia đình, cán bộ địa phương Các chỉ số tổn thương là kết quả phân tích tổng hợp từ kết quả điều tra về điều kiện tự nhiên và các đặc điểm kinh tế - xã hội tại khu vực (như nhân khẩu học, tài sản sinh kế, ) cùng tính hiệu quả của các kế hoạch thích ứng Ngoài ra, việc áp dụng tại hai khu vực khác nhau là Trinidad và Tobago là cơ sở để áp dụng rộng rãi tại các khu vực và quốc gia khác nhau Một nghiên cứu khác về xây dựng chính sách bảo tồn rừng tại lưu vực sông Magdalena, Mexico của Andrade và nnk (2015), chiến lược được xác định dựa trên các chỉ số đa dạng sinh học (cấu trúc, thành phần, chức năng của hệ sinh thái), chất lượng môi trường (vị trí địa lý, độ ẩm, nhiệt độ không khí, đô dốc, lớp phủ thổ nhưỡng, ) và áp lực từ hoạt động phát triển (du lịch, rác thải, tỷ lệ cháy, ) trên 21 phân vùng môi trường Kết quả
Trang 19nghiên cứu cho thấy, các áp lực từ hoạt động của con người có tác động mạnh nhất tới thành phần, cấu trúc và tác dụng nhỏ nhất các chức năng của hệ sinh thái Gianluca Grilliv và nnk (2018) ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá vược biển của ngư dân Ireland Sử dụng hai cách tiếp cận khác nhau nghiên cứu cho thấy chi phí, chất lượng thuỷ sản có thể ảnh hưởng tới phương thức đánh bắt của người dân và sản lượng cá khai thác được cũng bị phụ thuộc
Xuất phát từ khả năng ước tính và biểu thị mối tương quan giữa nhiều biến mà các
mô hình SEM đã được sử dụng trong xây dựng các chiến lược giảm thiểu chất thải trong các dự án xây dựng (Saheed O Ajayi và nnk, 2018) Ưu điểm nổi bật khi sử dụng SEM trong nghiên là phân tích nhân tố khẳng định (CFA) giúp xác nhận mối quan hệ giữa các biến đo lường được đưa ra và chiến lược thiết kế hiệu quả về chất thải như một biến độc lập Công cụ đã giúp xác định biến số quan trọng dựa trên độ lớn của các giá trị tương quan
Qua các phân tích ở trên, có thể thấy SEM là phương pháp phân tích thống kê tổng quát Nó được sử dụng trong nhiều nghiên cứu phân tích đa biến và kế hoạch hành vi bởi khả năng ước lượng và biểu diễn trực quan mối quan hệ tương tác giữa các biến độc lập, biến phụ thuộc và đặc biệt là các biến ẩn Đồng thời SEM cũng cho thấy ưu điểm vượt trội trong các nghiên cứu liên quan tới xây dựng chính sách dựa trên kết quả tham vấn cộng đồng Tuy nhiên để làm được điều này đòi hỏi các nghiên cứu phải xây dựng được phương pháp luận rõ ràng, chính xác và cơ sở dữ liệu được thu thập trên quy mô lớn để đảm bảo tính tin cậy và tổng quát của kết quả
1.1.1.3 Các công trình nghiên cứu ý định thích ứng BĐKH trên cơ sở mô hình SEM
Như đã nói ở trên, các nghiên cứu ý định thích ứng đều xuất phát dựa trên Thuyết động cơ bảo vệ (PMT) Dưới áp lực của BĐKH, những thay đổi về tần suất và mức độ nghiêm trọng của các sự kiện thời tiết khắc nghiệt, mực nước biển dâng,… sẽ có tác động đối với sinh quyển và tạo nên các mối nguy hiểm mà cộng đồng địa phương trước đây chưa từng trải qua Những tác động này được người nông dân nhận thức rõ ràng và
nó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới phương thức canh tác cũng như các biện pháp thích ứng với thiên tai của họ Nhận thức và ý định thích ứng của người nông dân vì thế cũng được hình thành và khi nghiên cứu nó có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chiến lược phát triển tại mỗi địa phương Tuy nhiên, do ý định là một hàm được quyết định bởi nhiều
Trang 20yếu tố nên việc xác định vai trò của các yếu tố đó là mục đích chính mà nhiều nghiên cứu hướng tới Việc áp dụng các phương pháp định lượng trong ước lượng và phân tích mối quan hệ giữa các biến cũng được quan tâm triển khai Trong đó, mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được nhấn mạnh như là một phương pháp định lượng tiên tiến để phân tích các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường dựa trên các trọng số
Islam và nnk (2013) đã sử dụng SEM để khám phá mức độ hoài nghi biến đổi khí hậu chiếm ưu thế trong nông dân chăn nuôi bò sữa, các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ hoài nghi của họ và những bài học có thể xuất phát để đối phó với thách thức này Gandure và nnk (2013) nghiên cứu nhận thức, ý định của người nông dân Nam Phi Các câu hỏi mở đã được sử dụng để tìm kiếm thông tin về biện pháp thích ứng mà người nông dân thực hiện để thích nghi với những thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức của nông dân về rủi ro khí hậu chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội và chính trị Chính sách của chính phủ đã tạo ra sự phụ thuộc và không khuyến khích nhu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu Kỹ thuật thu hoạch nước mưa được hỗ trợ từ bên ngoài và các chiến lược thích ứng bền vững Giáo dục và nhận thức về các vấn đề biến đổi khí hậu ở cấp cộng đồng, lập trình và chính sách cần được
ưu tiên
Alauddin và nnk (2014) đã xác định các yếu tố kinh tế - xã hội và khí hậu quan trọng trong chiến lược thích ứng bằng cách sử dụng dữ liệu từ 1.800 hộ nông dân Bangladesh ở 8 huyện bị hạn hán và nước ngầm ở ba khu vực khí hậu Kết quả cho thấy một số yếu tố củng cố ý định của người dân để thích nghi Chúng bao gồm mức độ hạn hán, mức độ cạn kiệt nước ngầm, trình độ học vấn, quy mô trang trại, tiếp cận thông tin khí hậu và điện cho tưới tiêu và trợ cấp nông nghiệp Bài báo cũng thảo luận về các hàm
ý chính sách cho thích ứng cũng như hỗ trợ các chiến lược dựa trên cở sở khoa học Cũng trong năm này, Somayeh và nnk (2014) lại thảo luận về các mô hình liên quan đến hệ thống canh tác bền vững để ứng phó với các tác động từ BĐKH Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn lấy ý kiến từ 183 cán bộ tư vấn trong các công ty kỹ thuật nông nghiệp Kết quả phân tích từ mô hình cấu trúc cho thấy các biện pháp cải tiến kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc thích ứng Các động lực tâm lý (PMT) của người được hỏi là yếu tố quyết định quan trọng nhất tới các đánh giá về ý định của họ trong quá trình áp dụng các biện pháp thích ứng
Trang 21Bahinipati và Venkatachalamb (2015) đã đánh giá một số yếu tố quyết định sự thích ứng ở cấp độ trang trại với các cực đoan khí hậu Đó là khuyến nông, tiếp cận với Chương trình bảo đảm việc làm nông thôn , nhận bồi thường thiệt hại cây trồng và tiếp cận tín dụng phi chính thức tại Mahatma Gandhi Một cuộc khảo sát về tác động của bão
và lũ lụt được tiến hành đối với 285 hộ nông dân ở Odisha Nghiên cứu tìm ra rằng một
số yếu tố quyết định có thể được giải quyết như là một phần của chương trình phát triển nông thôn Và vì không cần thiết xây dựng, nó cần một chính sách thích ứng riêng biệt Truelove và nnk (2015) nhấn mạnh vai trò của các cơ chế tâm lý đối với hành vi thích ứng của nông dân đối với biến đổi khí hậu Một mô hình tâm lý xã hội về ý định thích ứng đã được đề xuất trong một nỗ lực để phân tích thích ứng với biến đổi khí hậu
ở Sri Lanka Mô hình rủi ro, đối phó và đánh giá xã hội (The risk, coping, and social appraisal model - RCSA) được xây dựng dựa trên dữ liệu về nhận thức rủi ro hạn hán, niềm tin hiệu quả, nhận dạng thôn và chỉ tiêu mô tả nhận thức của 192 nông dân trồng lúa ở Sri Lanka Người ta tin rằng RCSA là một công cụ tốt hơn để dự đoán ý định thích nghi nông nghiệp hơn là một mô hình nhân khẩu học Mô hình cho thấy rằng niềm tin hiệu quả là yếu tố tiên đoán mạnh nhất về ý định hành vi Kết quả là thông tin đáng tin cậy cho phát triển nông nghiệp địa phương
Arunrat (2017) đã áp dụng mô hình hồi quy logistic để tìm hiểu ý định thích ứng của nông dân đối với biến đổi khí hậu ở lưu vực sông Yom và Nan, tỉnh Phichit của Thái Lan Một lý thuyết về hành vi được lên kế hoạch được xây dựng để đánh giá ý định của nông dân Phân tích dữ liệu cho thấy người dân địa phương nhận thức được những thay đổi khí hậu cũng đáng chú ý từ dữ liệu thời tiết Nghiên cứu này đưa ra 05 yếu tố ảnh hưởng nhất bao gồm kinh nghiệm nông nghiệp, thu nhập nông nghiệp, đào tạo, vốn xã hội và truyền thông thích ứng khí hậu hiệu quả Những yếu tố này có tác động bất bình đẳng đối với hai nhóm hành vi (nông dân thích ứng thực tế và dự định) Các chính sách thành công để nâng cao nhận thức của nông dân và khả năng thích ứng có thể khuyến khích cả hai
Wang (2018) áp dụng SEM để điều tra vai trò của các động lực tâm lý (động cơ bảo vệ) như kiến thức của người nông dân và nhận thức về rủi ro của họ tới cơ chế hình thành hành động loại bỏ dư lượng thuốc trừ sâu Kết quả điều tra với 333 đối tượng cho thấy khi nhận thức được tăng lên thì người dân sẽ nhận thấy mức độ đe doạ lớn hơn và
ý định thích ứng sẽ được đánh giá cao hơn
Trang 22Nhìn chung, khi ứng dụng SEM trong nghiên cứu thích ứng với BĐKH các nghiên cứu đều đặt trọng tâm vào xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro của người nông dân đối với biến đổi khí hậu, đánh giá của nông dân về các biện pháp thích ứng cá nhân, ý định của nông dân để thích nghi và tầm quan trọng của những ảnh hưởng đó Quá trình nghiên cứu bắt đầu từ việc chọn mẫu trong một quẩn thể lớn hơn, phát triển bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu và sử dụng các kỹ thuật thống kê để kiểm tra các giả thiết Cách tiếp cận này đảm bảo tính tin cậy và tổng quát của các kết quả nghiên cứu, do đó nó cho phép các ý nghĩa chính sách kỹ lưỡng được rút ra cho cả khu vực nghiên cứu và các bối cảnh hoặc khu vực khác
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, BĐKH đã trở thành mối quan tâm cấp bách của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và là chủ đề nghiên cứu quan trọng trong nhiều nghiên cứu khác nhau (MONRE, 2010; Trương Quang Học, 2010; Phan Văn Tân và Ngô Đức Thành, 2013) Nghiên cứu về BĐKH cũng là lĩnh vực đòi hỏi sự liên kết của nhiều ngành khoa học khác nhau Việc nghiên cứu có thể chia thành ba nhóm bài toán lớn: (i) Tìm hiểu nguyên nhân, cơ chế cũng như bản chất của BĐKH; (ii) Đánh giá tính dễ bị tổn thương và các tác động từ BĐKH; (iii) Từ các kết quả nghiên cứu từ trên, nhóm này nghiên cứu, đánh giá về các giải pháp thích ứng, góp phần xây dựng chiến lược, kế hoạch giảm thiểu tác động BĐKH (Phan Văn Tân và Ngô Đức Thành, 2013)
Nhiệm vụ của các bài toán theo nhóm 1 là nhằm đánh giá sự biến đổi của khí hậu (hay đánh giá BĐKH) Các nghiên cứu theo hướng này góp phần đưa ra bằng chứng của
sự BĐKH hiện tại, chứng minh được những nguyên nhân gây ra BĐKH và trả lời các câu hỏi liên quan Đồng thời các nhà khoa học cũng đang tiến tới phát triển các bộ công
cụ, kỹ thuật mô phỏng khí hậu, phát triển các mô hình, tính hợp lý của các kịch bản phát thải khí nhà kính, kết quả dự tính khí hậu tương lai bằng các mô hình
Công trình tiêu biểu theo hướng này là các Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam Các bộ kịch bản được công bố lần đầu vào năm 2009 sau đó cập nhật tới kịch bản năm 2012 và gần đây nhất là năm 2016 Sau mỗi lần cập nhật, mức độ chi tiết
và phương pháp tính toán của các mô hình khí hậu cũng được tăng lên Các kịch bản cũng được chi tiết hoá theo từng năm từ việc chỉ giới hạn cho 7 vùng khí hậu tới khi chi tiết đến một số đơn vị hành chính Đặc biệt từ năm 2012, các kịch bản còn bổ sung thêm phân tích xu thế và dự tính sự biến đổi của các yếu tố cực trị khí hậu Điều này góp phần
Trang 23hỗ trợ hiệu quả công tác tính toán và thiết kế quy hoạch Cuối cùng, một trong những điểm mới đáng chú ý là trong cập nhật kịch bản BĐKH và NBD năm 2016 là dựa trên cách tiếp cận mới về kịch bản phát thải là kịch bản phát thải chuẩn, hay đường nồng độ khí nhà kính đại diện và thời kỳ cơ sở được lựa chọn để so sánh là 1986 - 2005, thay cho thời kỳ 1980 - 1999 như lần công bố trước đây…
Ngoài ra, có một số nghiên cứu khác cũng theo hướng này có thể kể tới như: BĐKH
và tác động ở Việt Nam (Viện Khoa học KTTV và MT, 2010); Xu thế và mức độ biến đổi của nhiệt độ cực trị ở Việt Nam trong giai đoạn 1961 - 2007 (Hồ Thị Minh Hà và Phan Văn Tân, 2009); Kiểm nghiệm phi tham số xu thế biến đổi của một số yếu tố khí tượng cho giai đoạn 1961 – 2007 (Ngô Đức Thành và Phan Văn Tân, 2012); Đánh giá BĐKH ở Việt Nam bằng các chỉ số BĐKH (Trịnh Hoàng Dương; 2012); Biến đổi nhiệt
độ bề mặt và lượng mưa ở Việt Nam giai đoạn 1971 – 2010 (Nguyễn Đăng Quang và nnk, 2014);…
Từ các kết quả nghiên cứu nguyên nhân, cơ chế tác động của BĐKH các tác giả hướng tới việc đánh giá tác động, mức độ tổn thương, khả năng chống chịu cũng như gợi ý các chính sách, chiến lược thích ứng BĐKH cho khu vực Các tác động của BĐKH
sẽ bảo gồm cả tác động tích cực và tiêu cực, tuy nhiên việc đánh giá trong nhóm này thường thiên về các tác động tiêu cực của BĐKH Đây cũng là nhóm bài toán được nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quan tâm và có một số công trình như:
Nguyễn Thám và Nguyễn Hoàng Sơn (2010), nghiên cứu “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu ở lưu vực sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế” Tác động của BĐKH được đánh giá qua các yếu tố Dòng chảy (hạn, lũ), bão nước biển dâng, nhiệt độ, lũ quét, trượt lở đất, mưa thay đổi và sạt lở bờ sông Nghiên cứu kết luận rằng, hai thiên tai ảnh hưởng nặng nề nhất đến vùng lưu vực sông Hương là bão và áp thấp nhiệt đới Trong
đó, bão là yếu tố có tác động mạnh nhất tới hầu hết các khu vực, các ngành và các lĩnh vực Các giải háp cơ bản nhằm thích ứng được đưa ra là tuyên truyền nâng cao nhận thức, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng; nâng cao năng lực dự báo và xây dựng các công trình, đê, sông biển, chuyển đổi cây trồng ứng phó với BĐKH
Tiếp theo, “Nghiên cứu tác động của BĐKH toàn cầu đến các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam, khả năng dự báo và giải pháp chiến lược ứng phó (2009-2010)” được tiến hành trong khuôn khổ Chương trình khoa học Công nghệ trọng điểm KC08 Mục tiêu của đề tài là: Nghiên cứu đánh giá những tác động của BĐKH toàn cầu
Trang 24đến các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam, từ đó đề xuất các phương pháp để dự báo
Liên quan tới đánh giả khả năng thích ứng, Nguyễn Thị Hảo và nnk (2016) có nghiên cứu “Đánh giá khả năng thích ứng với BĐKH cấp hộ gia đình tại huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng” Bộ chỉ số đánh giá khả năng thích ứng với BĐKH cấp hộ gia đình được xây dựng bao gồm 31 chỉ số của các hợp phần: con người, kinh tế, sinh
kế, xã hội, khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng và quản trị Kết quả điều tra và đánh giá cho thấy mức độ nhận thức, kỹ năng và kinh nghiệm thích ứng với BĐKH của các độ gia đình ở huyện Hoà Vang vẫn còn thấp Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng, sinh kế và quản trị là các yếu tố chi phối KNTƯ với BĐKH cấp hộ gia đình Bộ chỉ số KNTƯ, các quy trình và phương pháp đánh giá sử dụng trong bài báo có thể được mở rộng áp dụng cho các khu vực khác của Việt Nam
Trần Duy Hiền (2016) thực hiện “Nghiên cứu xây dựng mô hình đánh giá tác động của BĐKH đến một số lĩnh vực kinh tế - xã hội cho thành phố Đà Nẵng” Các lĩnh vực được xét đến bao gồm: Tài nguyên nước; Nông nghiệp; Công nghiệp, năng lượng và một số lĩnh vực khác như lâm nghiệp, dân cư, sức khoẻ cộng đồng, du lịch… Kết quả tính toán chỉ sỗ dễ bị tổn thương cho các quận huyện của thành phố Đà Nẵng cho kết quả cụ thể: Lĩnh vực xã hội (0,4 – 0,6); Năng lượng và công nghiệp (0,4 – 0,65); Giao thông và đô thị (0,4 – 0,95) Từ đây, dựa trên các phân tích giải pháp cho thích ứng cũng được đề xuất cho từng khu vực
Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác như: Tài liệu hướng dẫn “Đánh giá tác động của BĐKH và xác định các giải pháp thích ứng” (Viện Khoa học KTTV và Môi trường, 2011); Đánh giá tác động của BĐKH đến tài nguyên nước tỉnh Hà Giang và đề xuất giải pháp ứng phó (Nguyễn Long Biên, 2012); Đánh giá tác động nước dân do BĐKH đến dải ven biển tỉnh Khánh Hoà (Nguyễn Kỳ Phùng, Bùi Chí Nam, 2011); Dự báo ảnh hưởng của BĐKH đến nuôi tôm nước lợ ven biển: Mối tương quan giữa nhiệt độ nước
và nhiệt độ khí trong mô hình dự báo (Cao Lệ quyên và nnk, 2016);…
Các nghiên cứu thuộc nhóm đánh giá tác động thường được dùng để cung cấp thông tin cho việc xác định và tìm giải pháp thích ứng với BĐKH Các nghiên cứu gần đây như:
Mai Hạnh Nguyên và nnk (2015), nghiên cứu giải pháp quản lý sử dụng đất nông
Trang 25Nghiên cứu thực hiện đánh giá mức độ ảnh hưởng của BĐKH (như nhiệt độ, lượng mưa thay đổi, nước biểng dâng, hạn hán, xâm nhập mặn) dẫn đến thay đổi cơ cấu diện tích các loại hình sử dụng đất các thời điểm hiện nay và các năm 2020, 2030 và 2050 Kết hợp các dữ liệu điều tra thực địa, mô hình khoá khô hạn (tính khả năng bốc thoát hơi tiềm năng- CROPWAT ), ngập úng (ArcGIS) và tích hợp bằng công cụ của hệ thống thông tin địa lý, tác giả đã đưa ra số liệu và phân bố không gian của các đơn vị đất bị tác động bởi BĐKH và NBD cũng như sự thay đổi các loại hình sử dụng đất Từ đó, kết quả nghiên cứu hướng tới xây dựng các giải pháp thích ứng để sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất nông nghiệp của Vùng
Trần Thị Hiền và nnk (2015) nghiên cứu “Đánh giá các mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu góp phần quản lý tài nguyên ven biển bền vững tại Khu dự trữ Sinh quyển quần đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng” Nghiên cứu sử dụng khung đánh giá tổn thương do BĐKH, khung phân tích sinh kế bền vững (DFID), mô hình SWOT, các chỉ tiêu về tính bền vững và khả năng thích ứng để có thể đánh giá một cách toàn diện và hiệu quả Bên cạnh đó, các công cụ như tham quan thực địa, họp nhóm cộng đồng, phỏng vấn sâu cán bộ… cũng được thực hiện nhằm thu thập thông tin thực
tế về hiệu quả các mô hình phát triển sinh kế Kết quả cho thấy, BĐKH gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới sinh kế của người dân Các yếu tố BĐKH có ảnh hưởng chính tới sinh kế khu vực này là mực nước biển dâng, gia tăng bão lũ, xâm nhập mặn, nắng nóng, mưa lớn và sương muối kéo dài
Huỳnh Quang Tính và nnk (2012) nghiên cứu “Canh tác lúa ít khí thải nhà kính tại tỉnh An Giang vụ đông xuân 2010 – 2011” Nhằm tạo ra mô hình vừa giúp nâng cao năng suất lừa, lợi nhuận cao vừa giúp giảm lượng phát thải của khí CH4, các tác giả đã thực hiện 04 mô hình nghiên cứu trên qui mô 100 ha Kết quả phân tích nông học cho thấy, mô hình áp dụng tưới ngập khô xen kẽ và áp dụng phân đạm theo bảng so màu lá đáp ứng được yêu cầu đưa ra cả về năng suất, lợi nhuận và lượng phát thải CH4 Tuy mới chỉ là bước đầu nhưng với quy mô thí nghiệm lớn và là một dự án hoàn toàn mới,
dự án được coi là mang tính tiên phong trong việc giảm thiểu tác động của BĐKH và có thể phát triển tại các vùng tồng lúa ở Việt Nam
Tiếp theo, Lưu Thị Thu Giang và nnk (2015) với nghiên cứu “Làm thé nào để sử dụng thông tin khí hậu nông nghiệp trong phát triển sinh kế nông nghiệp thích ứng với BĐKH” Các tác giả phân tích tới việc xem xét xem các thông tin khí hậu bao gồm tài
Trang 26nguyên khí hậu, tình hình biến đổi khí hậu trong quá khứ và tương lai sẽ hỗ trợ việc xác định các giải pháp sinh kế nông nghiệp thích ứng BĐKH ra sao Phát hiện chính của nghiên cứu này giúp đề xuất tiến trình xác định các giải pháp phát triển sinh kế nông nghiệp như sau: (1) Phân tích tài nguyên khí hậu nông nghiệp của địa phương (2) Xác định cơ cấu mùa vụ dựa trên nguồn tài nguyên đó (3) Phân tích tác động của BĐKH với
cơ cấu cây trồng (4) Xác định cây trồng cụ thể thích ứng với đặc trưng và điều kiện khí hậu địa phương (5) Xác định những thay đổi tiềm năng cần thiết về mặt kỹ thuật để năng cường tính thích ứng hơn nữa của cây trồng đó với BĐKH và rủi ro thiên tai
Nhìn chung, BĐKH trở thành vấn đề cấp bách và dường như không còn xa lạ đối với mọi người dân, đã và đang có tác động tiêu cực đến điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường Số lượng các nghiên cứu về BĐKH tại Việt Nam vì thế cũng khá đồ sộ
và được phân tích theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Quá trình nghiên cứu đi từ đánh giá tác động của BĐKH sau đó tới việc phân tích và đưa ra các gợi ý về chiến lược, kế hoạch ứng phó Các nghiên cứu phần lớn được thực hiện theo hướng xây dựng bộ chỉ
số đánh giá, tiến hành điều tra thu thập thông tin thông qua các cuộc phỏng vấn với cộng đồng, những người chịu tác động trực tiếp từ BĐKH Tuy nhiên, có một số nghiên cứu thực nghiệm hạn chế về thích ứng của người nông dân nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thích ứng của nông dân Các quy trình ra quyết định của nông dân chưa được giải quyết đầy đủ Không có nghiên cứu nào đã xác định các yếu tố tâm lý như những yếu tố có ảnh hưởng để thích ứng Hơn nữa, không có điều tra tổng hợp các yếu tố kinh tế xã hội và tâm lý để thích ứng với nông dân
1.1.3 Các công trình liên quan đến khu vực nghiên cứu
1.1.3.1 Các công trình nghiên cứu về thích ứng BĐKH của cư dân Đồng bằng châu thổ sông Hồng
Đồng bằng châu thổ sông Hồng là vùng kinh tế năng động nhưng đồng thời đây cũng là một trong hai châu thổ chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu của Việt Nam
Cư dân ven biển, người dân nghèo trở thành đối tượng chịu tổn thương cao với sinh kế chủ yếu là nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên và khí hậu khu vực Ba lĩnh vực chịu tác động trực tiếp là kinh tế; xã hội và môi trường Ngập lụt và các ảnh hưởng khác của biến đổi khí hậu là một trong các nguồn áp lực đối với cuộc sống và sinh kế có thể đẩy những nhóm người dễ bị tổn thương di cư tạm thời hoặc vĩnh viễn để tìm cuộc sống an toàn hơn và ổn định
Trang 27Các đánh giá bước đầu về tác động của BĐKH đối với nông nghiệp cho thấy, với kịch bản mực nước biển dâng cao 1m, khoảng 240.000ha đất sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSH bị ảnh hưởng; năng suất lúa giảm từ 8% đến 15% vào năm 2030 và có thể lên tới 30% vào năm 2050; tính rủi ro của ngành lâm nghiệp như giảm đa dạng sinh học, cháy rừng giai đoạn đến năm 2020 tăng từ 6% đến 40% Kèm theo đó là nhiều mối đe dọa lớn như thiếu nước sinh hoạt, xâm nhập mặn và môi trường nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản bị ảnh hưởng… TS Nguyễn Văn Hiệp, Viện Khí tượng, thủy văn và môi trường Việt Nam cho biết, đi đôi với nhiệt độ tăng sẽ làm mất đất, có tỉnh như Thái Bình, mực nước biển dâng 1m, 31,2% diện tích đất bị mất, với tỉnh Nam Định là 24%, TP Hải Phòng 17,4%…
Lưu Bích Ngọc và nnk (2012) nghiên cứu về “Ảnh hưởng của BĐKH đến sử dụng
đất và biến đổi sinh kế của cộng đồng cư dân đồng bằng sông Hồng” Các nhóm vấn đề
được nghiên cứu bao gồm: (i) ảnh hưởng của BĐKH đến biến đổi sử dụng đất; (ii) phân tích ảnh hưởng của BĐKH đến biến đổi sinh kế của hộ gia đình (việc làm, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu nguồn thu, cơ cấu thu nhập, cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi); (iii) nhận định của các hộ gia đình về ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp
và phương thức ứng phó của họ; cuối cùng (iv) đề xuất các chiến lược sinh kế ứng phó BĐKH của hộ gia đình Quá trình khảo sát thu thập ý kiến được thực hiện tại 5 xã thuộc
5 tỉnh ĐBSH là: xã Cồn Thoi, Kim Sơn, Ninh Bình; xã Thái Đô, Thái Thuỵ, Thái Bình;
xã Giao Thiện, Giao Thuỷ, Nam Định; xã Vân Nội, Đông Anh và xã Tản Lĩnh, Ba Vì,
Hà Nội Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ mang tính chất định tính, các tác động của BĐKH chưa được lượng hoá
Bài viết về “Tác động của BĐKH đến sinh kế vùng ven biển đồng bằng sông Hồng” của Vũ Thị Hoài Thu (2011) tại Hội thảo quốc gia về “Định hướng đào tạo nhân lực về Kinh tế - Quản lý Tài nguyên và Môi trường trong điều kiện đẩy mạnh hội nhập
và phát triển bền vững” đã phân tích một số ảnh hưởng của BĐKH đến sinh kế vùng ven biển ĐBSH Theo tác giả, các sinh kế bị ảnh hưởng bởi BĐKH là sản xuất nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản Dải ven biển ĐBSH là khu vực có mật độ dân
cư cao với sinh kế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp Những ngành này phụ thuộc vào điều kiện khí hậu và nguồn nước do đó chịu ảnh hưởng rất lớn do BĐKH Trong đó, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Nam Định là một trong những tỉnh bị ảnh
Trang 28hưởng nặng nề nhất với các tác động về diện tích đất, số người và người nghèo bị ảnh hưởng
Nghiên cứu của Nguyễn Mậu Dũng (2010) về “BĐKH và sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSH: Thực trạng và giải pháp” chỉ ra rằng đến năm 2100, nhiệt độ ở vùng ĐBSH
sẽ tăng thêm 1,6 đến 3,10C; mực nước biển sẽ dâng thêm 65-100 cm: những hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ xuất hiện thường xuyên hơn BĐKH gây nên tình trạng ngập lụt, làm giảm đáng kể diện tích đất canh tác cũng như năng suất cây trồng của vùng BĐSH
và đặt ra những thách thức lớn về vấn đề đảm bảo an ninh lương thực Tuy nhiên, nhận thức về BĐKH và những tác động tiềm tàng của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp của cán bộ và người dân địa phương vùng ĐBSH còn chưa đầy đủ Một số biện pháp thích ứng với BĐKH như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thay đổi lịch thời vụ, sử dụng giống mới và thay đổi kỹ thuật canh tác, tăng cường đầu tư nâng cấp hệ thống thuỷ lợi,… đã
và đang được triển khai trong vùng và thu được những kết quả nhất định Nghiên cứu kết luận rằng để chủ động ứng phó với BĐKH và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực
do BĐKH gây ra đối với sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn trong thời gian tới thì việc tăng cường năng lực thích ứng và tiếp tục triển khai các hành động thích ứng với BĐKH là rất cần thiết
HST rừng ngập mặn cũng là một trong những đối tượng cần được bảo tồn và phát triển như là một biện pháp nhằm thích ứng với BĐKH Nghiên cứu về khả năng thích ứng của hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng của Nguyễn Thị Kim Cúc và Trần Văn Đạt (2012) cho thấy HST có nguy cơ suy thoái trước các ảnh hưởng của BĐKH là tốc độ bồi lắng phù sa, nước biển dâng tác động tổng hợp từ điều kiện tự nhiên và con người
Xâm nhập mặt cũng là một trong những yếu tố tác động đến các ngành nghề nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản cũng như sinh hoạt và gây khó khăn cho phát triển kinh tế vùng ĐBSH Phạm Hoài Thu và nnk (2015) phân tích hiện trạng, nguyên nhân cũng như
dự báo những ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sinh kế cộng đồng cư dân ven biển Bắc
Bộ Từ đó hai nhóm giải pháp thích ứng được đề xuất là giải phá công trình và phi công trình Trong thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu để tiếp tục thu thập thêm thông tin, đánh giá chính xác các tác động và ảnh hưởng do mặn xâm nhập đến các ngành nghề
Từ đó, đưa ra giải pháp và mô hình sinh kế đúng đắn, phù hợp nhất cho vùng và từng địa phương
Trang 291.1.3.2 Các công trình nghiên cứu về thích ứng BĐKH của cư dân tại tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình
Ngoài các nghiên cứu liên quan tới ĐBSH, các thích ứng với BĐKH của cư dân tại Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình cũng được nhắc đến trong một số nghiên cứu:
a) Đối với tỉnh Thái Bình
Tỉnh Thái Bình có trên 50 km đường bờ biển cùng với ba cửa sông lớn là sông Hồng, Trà Lý và Diêm Hộ nên nước biển dâng có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nếu mực nước biển dâng thêm 1m, một phần khá lớn diện tích tỉnh Thái Bình (và cả các tỉnh/thành phố Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên
và một phần của các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình) có cao độ thấp hơn mực nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nề Để chủ động đối phó với vấn đề này, Sở Khoa học và Công nghệ Thái Bình đã phối hợp với Viện Hàn lâm KH và CN Việt Nam thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, đánh giá tác động của BĐKH tới tỉnh Thái Bình, đề xuất các giải pháp thích ứng, giảm thiểu thiệt hại” Kết quản nghiên cứu cho thấy nước biển dâng do BĐKH đã tác động nghiêm trọng đến tài nguyên đất sử dụng cho nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm thay đổi mức độ thích hợp giữa cơ cấu cây trồng, vật nuôi, kể cả thuỷ sản nuôi trồng và mùa
vụ sản xuất Điều này gây nhiều khó khăn cho công tác thuỷ lợi, làm tăng nguy cơ ngập lụt, giảm khả năng tiêu thoát nước thải… Tài nguyên nước bị tác động rõ nhất do BĐKH
là sự xâm nhập mặn gia tăng mạnh mẽ và quá trình xâm nhập mặn sâu vào nội địa các sông
Nguyễn Minh Thảo (2013) nghiên cứu “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” Trong nghiên cứu này, các yếu tố của BĐKH gây tổn thương tới NTTS và khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên bao gồm: nước biển dâng, lũ lụt, xâm nhập mặn, hạn hán, bão ) Các bản đồ chuyên đề cũng được thành lập (hiện trạng NTTS, ảnh hưởng của nước biển dâng, định hướng NTTS, ) phục
vụ cho công tác đề xuất giải pháp sử dụng bềền vững tài nguyên và thích ứng với BĐKH Năm 2015, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ phối hợp thực hiện với Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD), Viện Quản lý và Phát triển châu
Á (AMDI) và Trung tâm nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR) triển khai dự
án “Thúc đẩy vai trò tiên phong của thanh niên trong thích ứng với BĐKH ở đồng bằng
sông Hồng” đã có những kết quả nghiên cứu, báo cáo đánh giá tác động của của biến
đổi khí hậu tới huyện Tiền Hải (Thái Bình)
Trang 30Trong một nghiên cứu khác, Lưu Thế Anh và cộng sự (2017) tiếp cận theo hướng phân vùng chức năng sinh thái để tổ chức lãnh thổ tại tỉnh Thái Bình Mức độ tác động của BĐKH tại khu vực có sự phân hoá theo loại hình, cường độ tuỳ thuộc vào các đặc trưng của cảnh quan Do đó, nghiên cứu hướng tới việc xây dựng bản đồ cảnh quan và phân vùng canh quan cho khu vực trên cơ sở phân tích đặc điểm tự nhiên (điều kiện địa chất, địa hình, địa mạo và địa động lực, thảm thực vật, thổ nhưỡng, ) cũng như hiện trạng sử dụng đất cùng với các kịch bản BĐKH Kết quả phân vùng cung cấp cơ sở khoa học cho đề xuất định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ, PTBV trong bối cảnh BĐKH
b) Đối với tỉnh Ninh Bình:
Ninh Bình là một trong ba tỉnh nằm trong “Khu dự trữ sinh quyển đồng bằng châu thổ sông Hồng” được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 02/12/2004 Huyện Kim Sơn có 7 xã nằm trong danh sách thì trong đó có 3 xã thuộc vùng đệm là Kim Trung, Kim Đông, Kim Hải với tổng diện tích là 9.780 ha Các bãi bồi của huyện nằm giữa cửa Đáy và cửa Càn là nơi có nguồn tài nguyên đất, nước, rừng phong phú và có vai trò quan trọng trong sinh kế của người dân nơi đây Tuy nhiên, việc quản lý và sử dụng các bãi bồi hiện nay vẫn chưa bền vững, cần có nhiều giải pháp để định hướng, quy hoạch sử dụng một cách bền vững Một số nghiên cứu liên quan đến tài nguyên và môi trường khu vực ven biển huyện Kim Sơn đã được thực hiện có thể kể đến như sau:
Chương trình VINOGEO – SRV 07/056: Tăng cường năng lực giảm thiểu và thích ứng với địa tai biến liên quan đến môi trường và phát triển năng lượng ở Việt Nam, báo cáo đánh giá mức độ tổn thương do tai biến ở cửa Đáy (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011) Chi cục Thủy sản Ninh Bình, nhiệm vụ KH và CN cấp tỉnh 2016 của Ninh Bình,:
“Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nuôi cá Nác hoa thương phẩm tại vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn” Đề tài này đã xây dựng mô hình nuôi cá nác hoa thương phẩm tại vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn, mô hình này cho kết quả với năng suất cao và góp phần đa dạng hóa đối tượng con trồng, phát triển ngành nghề nuôi cá nước mặn, lợ Trịnh Văn Hạnh với đề tài nghiên cứu khoa học: “Nghiên cứu giải pháp trồng cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ đê ven biển Thanh Hóa và Ninh Bình” Nghiên cứu này đã đưa ra kết luận: tại các bãi triều ngập mặn tỉnh Ninh Bình có chế
độ thủy triều, đặc điểm lý – hóa học của thể nền, độ mặn nước biển phù hợp với
Trang 31điều kiện trồng cây ngập mặn Các giải pháp ươm và trồng cây ngập mặn cũng được
đề xuất dựa trên điều kiện khu vực nghiên cứu
Tác giả Bùi Cẩm Phượng đã thực hiện nghiên cứu Ứng xử với biển của cư dân huyện Kim Sơn, Tỉnh Ninh Bình, trong đó, tác giả đã phân tích, tìm hiểu cách ứng xử của ngư dân trên hai bình diện: quai đê lấn biển để làm nông nghiệp và từng bước nhận thức về biển để khai thác giá trị về biển Cả hai bình diện này đều được thể hiện thông qua quá trình: quai đê lấn biển, hình thành các nghề - làng nghề và tổ chức đời sống xã hội
c) Đối với tỉnh Nam Định:
Nam Định là địa phương có nhiều nghiên cứu về BĐKH nhất trong ba tỉnh Một
số nghiên cứu liên quan đến BĐKH và thích ứng tại Nam Định có thể kể tới là:
“Nghiên cứu sử dụng hợp lý các bãi triều lầy cửa sông ven biển Việt Nam”, do
Nguyễn Chu Hồi và đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu từ năm 1985-1990 Phạm vi nghiên cứu của đề tài là phía Bắc Việt Nam, các đặc trưng về động lực hình thành xu thế tiến hóa bãi triều, đặc trưng các hệ sinh thái tại khu vực ven bờ đã được xem xét, đánh giá tổng hợp Các tư liệu trên cạn và dưới nước đã được hiệu chỉnh một cách có hệ thống
Huyện Giao Thủy, Nam Định là một trong những nơi chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu như nhiệt độ tăng, thay đổi lượng mưa, nước biển dâng, xâm nhập mặn
và các hiện tượng thời tiết cực đoan Dự án “Hỗ trợ cộng đồng nghèo ven biển iệt Nam tạo sinh kế bền vững và bảo vệ môi trường tại Nam Định” do Liên minh Châu Âu tài trợ đã hỗ trợ phát triển nhiều mô hình sinh kế ven biển, trong đó có 5 mô hình thích ứng nổi bật: Mô hình cải tạo vườn tạp bằng phân vi sinh, mô hình nuôi giun quế, mô hình nuôi và sản xuất ngao giống, mô hình du lịch sinh thái Có thể thấy rằng, các mô hình này đã tạo ra những tác động tích cực, giảm thiểu những tác động rủi ro của biến đổi khí hậu, đồng thời cải thiện sinh kế cho cộng đồng người dân địa phương
Nguyễn Thu Hà (2012) nghiên cứu nhằm tìm hiểu những biện pháp cộng đồng địa phương sử dụng để đối phó với BĐKH và các hình thức thiên tai nguy hiểm khác nhằm
đề xuất các giải pháp thích ứng với BĐKH dựa vào người dân Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng là một cách thức tiếp cận mới trên thế giới và ở Việt Nam Đây được xem là hướng tiếp cận bền vững
Trang 321.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Ý định thích ứng biến đổi khí hậu
Khái niệm thích ứng trong tâm lý học được hiểu là sự thích nghi đặc biệt của cá nhân với điều kiện, hoàn cảnh mới, là sự thâm nhập vào những điều kiện mới một cách không gượng ép (Andreeva, 1972); là quá trình thích nghi của con người trước đặc điểm và điều kiện nhất định (Ermolaeva, 1969) Hành vi thích ứng do đó cũng bao gồm
03 thành phần: động lực thúc đẩy hành vi; bối cảnh tác động và phản ứng nhằm giải quyết hoặc thoả mãn động lực đó Và vì vậy, nó là quá trình phức tạp, phụ thuộc bởi nhiều yếu tố như: áp lực; đặc điểm của tác động và khả năng thích ứng, đối phó (Bryant
và nnk, 2000)
Áp lực gây ra do BĐKH là sự thay đổi các điều kiện khí hậu trung bình hoặc tần suất, mức độ tác động của các sự kiện thời tiết cực đoan (Smithers and Smit, 1997) Các tác động này có ảnh hưởng đáng kể tới các hệ thống canh tác (Bryant và cộng sự, 2000) hoặc thúc đẩy các phản ứng của người nông dân thay đổi các biện pháp canh tác thích ứng với thay đổi của khí hậu (Bryan nnk, 2009) Như vậy, ý định thích ứng BĐKH có thể hiểu là quá trình cư dân tiếp cận và trải qua những thay đổi của khí hậu, hứng chịu tổn thất và từ đó chủ động thay đổi nhận thức, thái độ và tiến tới thực hiện các hành vi nhằm hạn chế rủi ro cũng như dần thích nghi với những thay đổi (Rogers 2000; Hoa Le Dang và nnk, 2012, 2014; Deressa và nnk., 2009)
Lý thuyết về hành vi được lên kế hoạch (The Theory of Planned Behaviour - TPB), được Ajzen đưa ra năm 1988 và hoàn chỉnh vào năm 1991 Theo lý thuyết TPB, hành
vi cụ thể của cá nhân được xác định bởi ý định của họ để thực hiện những hành vi và ý định hành vi như vậy có thể được dự đoán bởi ba tiền lệ: thái độ đối với hành vi, nhận thức chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi (Ajzen, 1985)
Hình 1.1 Mô hình lý thuyết về hành vi được lên kế hoạch (TPB)
Các biến bên ngoài:
Biến nhân khẩu học
Niềm tin chuẩn mực
Niềm tin kiểm soát
Thái độ
Chuẩn mực chủ quan
Ý định
Hành
vi
Nguồn: Ajzen, 1988
Trang 33Ý định thích ứng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nhận thức, thái độ và các nguồn lực kinh tế xã hội, sự khuyến khích và không khuyến khích từ bối cảnh tác động (Hassan and Nhemachena, 2008; Bryan và nnk, 2009; Deressa và nnk, 2009, 2011) Một
sự thích ứng tối thiểu với biến đổi khí hậu dường như là kết quả từ sự nhận thức của nông dân và thái độ đối với sự thay đổi khí hậu đối với nông dân phương Tây Úc (Evans
và nnk., 2010) Các yếu tố nhân khẩu học (ví dụ như trình độ học vấn, quy mô hộ gia đình và giới tính) cũng chiếm ảnh hưởng đáng kể đến sự thích ứng của nông dân (Deressa và cộng sự, 2011) Tiếp cận thông tin BĐKH được nhấn mạnh để ảnh hưởng đến thái độ của nông dân (Evans và cộng sự, 2010) Việc tiếp cận chính sách hỗ trợ đất đai được chứng minh có vai trò đáng kể với ý định thích ứng của người trồng cà phê hơn là nhận thức trước rủi ro gây ra bởi BĐKH (Tucker và nnk, 2010)
1.2.2 Mô hình Thuyết động cơ bảo vệ (PMT)
Lý thuyết động cơ bảo vệ (Protection Motivation Theory - PMT) ban đầu được giới thiệu bởi Rogers vào năm 1975 và mở rộng vào năm 1983 như một lý thuyết quan trọng trong nhận thức xã hội về các hành vi bảo vệ (Floyd, Prentice-Dunn và Rogers 2000; Maddux và Rogers 1983; Rogers 1975) Nó là một trong những lý thuyết chính trong nghiên cứu hành vi bảo vệ sức khỏe
Hình 1.2 Mô hình Thuyết động cơ bảo vệ (PMT)
Nhìn chung, lý thuyết PMT được sử dụng trong hai dạng sau: (i) Thứ nhất, lý thuyết PMT được dùng như một khung lý thuyết để đánh giá và phát triển thông tin liên lạc; (ii) Thứ hai, lý thuyết PMT dùng để tiên đoán hành vi sức khoẻ Khung lý thuyết PMT được mô tả trong Hình 1.2
Có ba giai đoạn trong Thuyết động cơ bảo vệ (Floyd, Prentice-Dunn và Rogers 2000): quan sát thông tin, các quá trình trung gian nhận thức và hành vi đối phó (xem hình 1.3)
Đánh giá các mối đe doạ
(threat appraisal)
Đối phó với các đánh giá
(coping appraisal)
Động cơ bảo vệ (protection motivation)
Hành vi (behaviour)
(Nguồn: Roger, 1983)
Trang 34Hình 1.3 Sơ đồ các giai đoạn của Thuyết động cơ bảo vệ PMT
(nguồn: Floyd và nnk, 2000)
Thứ nhất, các cá nhân quan sát hai loại thông tin: thông tin môi trường từ bạn bè, người thân, hàng xóm hoặc tự quan sát; và thông tin cá nhân từ các biến cá tính và trải nghiệm cá nhân Với thích ứng với biến đổi khí hậu, nông dân có thể quan sát thông tin
về biến đổi khí hậu và thực hành thích ứng từ phương tiện truyền thông công cộng, khuyến nông, hợp tác xã nông nghiệp, nông dân khác, người thân hoặc kinh nghiệm của
họ
Thứ hai, việc đánh giá thích ứng chính xảy ra trong các quá trình trung gian nhận thức (xem hình 1.4) Mối đe dọa và đối phó với thẩm định được bắt giữ trong giai đoạn này Các cá nhân xem xét các lợi ích và chi phí của các phản ứng thích nghi và không thích nghi để đưa ra các đánh giá về các mối đe dọa và biện pháp đối phó của họ Lợi ích nhận thức tăng lên trong khi chi phí nhận thức làm giảm khả năng chọn lựa Với phản ứng không thích nghi, lợi ích bao gồm phần thưởng nội tại và ngoại lai1 và chi phí
đề cập đến mức độ nghiêm trọng và mức độ dễ bị tổn thương của mối đe dọa đối với cá nhân Việc phân tích chi phí là lợi ích của các hoạt động thích ứng, các cá nhân kết thúc với việc đối phó với thẩm định, sau đó ý định tự bảo vệ mình chống lại mối đe dọa, hoặc động cơ bảo vệ (Floyd và nnk, 2000)
Nguồn thông tin
Đối phó với thẩm định:
Đánh giá đáp ứng thích nghi
Động cơ Bảo vệ
Sự đối phó thích nghi
Không thích hợp đối phó
Trang 35Hình 1.4 Quá trình trung gian nhận thức (Floyd và nnk, 2000)
Cuối cùng, đối phó với hành vi theo các quá trình trung gian nhận thức và cho biết những gì cá nhân được chọn làm Tuy nhiên, Floyd, Prentice-Dunn và Rogers (2000) không đưa ra hướng liên kết giữa động cơ bảo vệ và hành vi thực tế Một phiên bản thay thế của Thuyết động cơ bảo vệ (xem hình 1.5) của Milne, Sheeran và Orbell (2000) về
cơ bản tương tự như Floyd, Prentice-Dunn và Rogers (2000), nhưng bao gồm các hướng
cụ thể về mối quan hệ giữa các khái niệm và các hình thức cụ thể các phản ứng không thích hợp như từ chối, gây tử vong, suy nghĩ mơ ước, tránh né hoặc tuyệt vọng Một mối quan hệ tích cực giữa động cơ bảo vệ và hành vi được đề xuất trong lý thuyết
Ngoài các ứng dụng trong nghiên cứu nguy cơ sức khỏe, Thuyết động cơ bảo vệ
đã được áp dụng trong việc kiểm tra các hành vi bảo vệ khác như hành vi phòng ngừa chiến tranh hạt nhân (Wolf, Gregory và Stephan 1986); truyền thông tiếp thị (Cismaru
và Lavack 2006; Tanner Jr, Day và Crask, 1989) và hành vi bảo tồn nước (Kantola, Syme và Nesdale, 1983); mô hình ra quyết định chung về một số mối đe dọa (Maddux,
Mức độ nghiên trọng
dễ bị tổn thương
Đánh giá mối đe doạ
Hiệu quả đáp ứng
Tự hiệu quả
Chi phí đáp ứng thích ứng
Đánh giá đối phó
bảo vệ
Trang 36Hình 1.5 Mô hình áp dụng thuyết động cơ bảo vệ trong nghiên cứu hành vi bảo vệ sức khoẻ (Milne và nnk, Orbell 2000)
Cũng từ đó, lý thuyết PMT được coi là một mô hình ra quyết định chung liên quan đến các mối đe dọa (Maddux, 1993) như: Ứng dụng PMT trong nghiên cứu các mối nguy hiểm tự nhiên và vấn đề môi trường bị hạn chế ngoại trừ hành vi chuẩn bị động đất (Mulilis và Lippa, 1990) và rủi ro ngập lụt (Grothmann và Reusswig, 2006; Zaalberg và Midden, 2010) Khung lý thuyết của PMT là nền tảng cho mô hình khái niệm về sự thích ứng chủ động tư nhân đối với biến đổi khí hậu (Grothmann và Patt, 2005) PMT cũng đã được áp dụng để hiểu động lực cá nhân để thích ứng với biến đổi khí hậu (Osberghaus và nnk, 2010)
Một số yếu tố đã được đưa ra giả thuyết để ảnh hưởng đến các đánh giá của nông dân về tư nhân các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu: Nhận thức rủi ro; niềm tin
về thiên tai; thói quen, tập quán; tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ và chính sách (Grothmann
và Patt 2005) Suy nghĩ chủ quan; nhận thức, niềm tin vào biến đổi khí hậu; đánh giá khả năng thích ứng (ví dụ sự hỗ trợ của chính quyền, tiếp cận KHKT, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thời vụ, ) và các yếu tố nhân khẩu học (trình độ học vấn, độ tuổi, giới tính, ) cũng đã được thảo luận (Hoa Le Dang và cộng sự 2012) Trong nghiên cứu này, học viên tập trung xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thích ứng với BĐKH của cư dân ven biển Các chỉ số đo lường và mô hình áp dụng sẽ được nêu ở Chương 3
Đối phó với thẩm định Nhận thức tự hiệu quả
Nhận thức hiệu quả đáp ứng
Chi phí trả lời nhận thức
Đối phó thích nghi Không tốt
Ví dụ tránh
Từ chối Thuyết định mênh Suy nghĩ mơ hồ
Vô vọng Động lực bảo vệ
Hành vi bảo
vệ sức khởe Động cơ
bảo vệ
Trang 371.2.3 Mô hình phương trình cấu trúc (SEM)
Mô hình SEM là một dạng mô hình thống kê nhằm giải thích mối quan hệ giữa nhiều biến Để làm điều đó, nó khảo sát cấu trúc của mối tương tác giữa một loạt các phương trình, tương tự các phương trình hồi quy bội Các phương trình này mô tả các mối quan hệ giữa các nhân tố (constructs) các biến phụ thuộc và độc lập liên quan đến việc nghiên cứu Nhân tố là nhân tố không quan sát được (unobservable) hay ẩn (latent) được đại diện bằng những biến quan sát
Một mô hình SEM bình thường gồm hai mô hình: Mô hình đo lường (chỉ các biến cùng nhau đại diện cho nhân tố như thế nào) và mô hình cấu trúc (chỉ mối quan hệ giữa các nhân tố) Trong đó: (i) Mô hình đo lường chỉ rõ quan hệ giữa các biến tiềm ẩn (Latent Variables) và các biến quan sát (observed variables), cung cấp thông tin về thuộc tính đo lường của biến quan sát (độ tin cậy, độ giá trị); (ii) Mô hình cấu trúc chỉ rõ mối quan hệ giữa các biến tiềm ẩn với nhau
Khác với những kỹ thuật thống kê khác chỉ cho phép ước lượng mối quan hệ riêng phần của từng cặp nhân tố (phần tử) trong mô hình cổ điển (mô hình đo lường), SEM cho phép ước lượng đồng thời các phần tử trong tổng thể mô hình, ước lượng mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm tiềm ẩn (Latent Constructs) qua các chỉ số kết hợp
cả đo lường và cấu trúc của mô hình lý thuyết Với kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định (CFA) mô hình SEM cho phép linh động tìm kiếm mô hình phù hợp nhất trong các
mô hình đề nghị
* Cấu trúc của mô hình SEM bao gồm:
- Biến quan sát (Observed variable): Trong nghiên cứu này, có 52 biến quan sát
thể hiện các nội dung liên quan đến thích ứng với BĐKH của cộng đồng cư dân ven biển Cụ thể, các biến quan sát được kí hiệu lần lượt tương ứng với các nhân tố: từ P-1 đến P-5, từ B-1 đến B-3, từ NA-1 đến NA-5, Từ PH-1 đến PH-6, ST-1 đến ST-7, LA-1 đến LA6, EN-1 đến EN-7, DI-1 đến DI-3, AI-1 đến AI-9 (Theo ký hiệu phụ lục 28)
- Biến ẩn (Latent Variable): còn gọi là nhân tố, đóng vai trò thể hiện khung lý
thuyết nghiên cứu, không thể đo trực tiếp được mà phải thông qua các biến quan sát và được biểu diễn dưới dạng hình ellipse Số lượng nhân tố tùy vào mục đích nghiên cứu
và quá trình loại biến quan sát sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA Trong nghiên
Trang 38cứu này, mục đích là nghiên cứu ý định thích ứng với BĐKH của cộng đồng cư dân ven biển nên số biến tiềm ẩn tổng hợp dữ liệu cho cả khu vực là 9 nhân tố
- Phương sai có thể được chỉ ra bằng mũi tên hai đầu kết thúc tại cùng một biến,
hoặc đơn giản hơn, ký hiệu bằng số trong hộp vẽ biến hay cung tròn
- Các hệ số hồi quy được trình bày dọc theo mũi tên một chiều chỉ ra đường dẫn
được giả thiết giữa hai biến (có trọng số được áp dụng cho các biến trong các phương trình hồi quy tuyến tính)
- Hiệp phương sai được kết hợp với các mũi tên vòng cung hai đầu giữa hai biến
hoặc các sai số và biểu thị vô hướng (no directionality) Dữ liệu cho SEM là các phương sai mẫu và hiệp phương sai mẫu lấy từ tổng thể (ký hiệu S, phương sai mẫu quan sát được và ma trận hiệp phương sai)
SEM là “quy trình quyết định sáu giai đoạn”, cụ thể các bước như sau:
(i) Giai đoạn đầu tiên là vận hành các cấu trúc riêng lẻ Trong bước này, các biến
ẩn được được ước lượng thông qua thang đo đánh (thường là thang đo Likert được điều chỉnh từ kết quả nghiên cứu trước) (Hair và nnk, 2010)
(ii) Xây dựng và phát triển các biến đo lường cùng với các mối quan hệ tương quan giữa các cấu trúc (Hair và nnk, 2010)
(iii) Đánh giá tính hợp lệ của mô hình đo lường bao gồm đánh giá tính phù hợp (GOF) Mô hình cơ bản phổ biến nhất giả định tất cả các biến quan sát là không tương quan Chúng bao gồm chỉ số phù hợp tiêu chuẩn (NFI), chỉ số Tucker Lewis (TLI), chỉ
số phù hợp so sánh (CFI) và chỉ số phi trung tâm tương đối (RNI)
(iv) Loại bỏ biến không phù hợp bằng các biện pháp khác nhau: kích thước của tải trọng yếu tố; phương sai trung bình chiết xuất (AVE); và xây dựng độ tin cậy (CR)
(v) Xác định gán các mối quan hệ phụ thuộc giữa các cấu trúc dựa trên khuôn khổ khái niệm được đề xuất
(vi) Giai đoạn cuối cùng là đánh giá tính hợp lệ của các mô hình cấu trúc và để giải thích các mối quan hệ lý thuyết đưa ra giả thuyết
Trang 39CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Cách tiếp cận
Trong qua trình thực hiện nghiên cứu, tiếp cận liên ngành được sử dụng trong xây dựng khug lý thuyết nghiên cứu và triển khai thực hiện Khung lý thuyết nghiên cứu được xây dựng dựa trên tích hợp lý thuyết tâm lý học, lý thuyết động cơ bảo vệ trong hình thành ý định thích ứng BĐKH; sử dụng kiến thức điều tra xã hội học để thu thập thông tin và cuối cùng là mô hình toán học được ứng dụng để phân tích kết quả
Thuyết động cơ bảo vệ là lý thuyết chính, góp phần giải thích các yếu tố liên quan đến nhận thức về rủi ro đối với biến đổi khí hậu, đánh giá thích ứng, giảm nhẹ và Ý định thích ứng Trong nghiên cứu này, các nhân tố khác có tác động đến ý định thích ứng với BĐKH của cư dân ven biển được xác định là thói quen, tập quán sản xuất, suy nghĩ chủ quan chủ quan
Quá trình thực hiện nghiên cứu cũng cho thấy rằng, để đi đến kết quả nghiên cứu tổng hợp thì hướng tiếp cận liên ngành có lợi thế vượt trội so với tiếp cận chuyên ngành
ở chỗ: thứ nhất, nó có thể tích hợp được những kết quả của các nghiên cứu chuyên ngành
về một khu vực để nhận thức tổng hợp về khu vực đó, và thứ hai, nó có thể khai thác những khía cạnh của tri thức mà các chuyên ngành, do yêu cầu phải thiết lập và duy trì
sự khác biệt với những chuyên ngành khác, có thể bỏ qua
Việc sử dụng tích hợp các phương pháp giúp cho kết quả nghiên cứu được rõ ràng
và thể hiện được mức độ tác động cũng như tầm quan trọng của từng yếu tố trong nghiên cứu ảnh hưởng đến ý định thích ứng với BĐKH của người dân
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nhóm các phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
* Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu
Đây là phương pháp không thể thiếu trong các nghiên cứu khoa học góp phần thu thập các tài liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu Các tài liệu thu thập cần thiết bao gồm: số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội; các loại bản đồ, tài liệu, liên quan tới BĐKH, thống kê thiệt hại thiên tai tới sản xuất nông nghiệp Những dữ liệu trên các bài báo, tạp chí trong và ngoài nước về khu vực nghiên cứu trong những năm gần đây được thu thập và sàng lọc kỹ lưỡng Trên cơ sở này, các tài liệu được phân loại theo vấn đề và mục tiêu nghiên cứu cũng như phương hướng lựa chọn phương pháp thích hợp để giải quyết vấn đề cũng như mục tiêu nghiên cứu Ngoài ra, phương pháp
hỗ trợ làm rõ cơ sở khoa học cũng như định hướng tốt hơn trong quá trình thu thập tài liệu trong và ngoài nước về hướng phân tích ý định thích ứng với BĐKH trong sản xuất
Trang 40* Phương pháp chọn mẫu
Việc chọn mẫu cũng là một trong các bước quan trọng quyết định tới kết quả nghiên cứu Kích thước mẫu không chỉ phụ thuộc vào mức độ chi tiết của mô hình mà còn phụ thuộc vào mức độ phổ biến của dữ liệu, đối tượng chọn làm mẫu, phạm vi khu vực nghiên cứu
Một số nghiên cứu ứng dụng mô hình SEM thường có số lượng mẫu tối thiểu trong khoảng 200-400 mẫu, với số lượng biến tối đa 10-15 biến quan sát để đạt được mức ý nghĩa tối thiểu Tuy nhiên, đến nay chưa có một quy chuẩn cụ thể nào về việc lựa chọn mẫu trong ứng dụng mô hình SEM, mô hình vẫn đạt mức ý nghĩa thực tiễn cao với
số lượng biến tương đối nhỏ (100-150) (Hoyle, 1999; Hoyle và Kenny, 1999; Marsh và Hau, 1999) và đây được coi là cỡ mẫu tối thiểu để tiến hành xây dựng mô hình (Tinsley
và Tinsley, 1987; Anderson và Gerbing, 1988; Ding và nnk, 1995; Tabachnick và Fidell, 2001) Ở cỡ mẫu lớn hơn là khoảng 200 mẫu (Hoogland và Boomsma 1998; Boomsma
và Hoogland, 2001; Kline, 2005) với phạm vi nghiên cứu tương đương cấp huyện và liên huyện thì ý nghĩa thực tiễn của dữ liệu đạt mức cao và rất cao Một số nghiên cứu phân tích sự hài lòng của nhân viên đối với lãnh đạo, trong phạm vi một công ty thì số lượng mẫu đảm bảo để tiến hành chạy phân tích nhân tố khẳng định (CFA) là 150 (Muthén, 2002), như vậy số lượng mẫu tiến hành kiểm định CrA và trước khi loại biến
là gấp số mẫu để chạy CFA
Phần lớn số mẫu trong một nghiên cứu được lựa chọn dựa trên cơ sở là số biến quan sát, số lượng biến quan sát càng lớn thì số lượng mẫu càng lớn Đối với những nghiên cứu thông thường thì số mẫu tối thiểu cho một biến là 5 mẫu (Bentler và Chou (1987)) Tuy nhiên, có một quy tắc được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu ứng dụng mô hình SEM là 10 mẫu khảo sát cho một biến quan sát (Nunnally, 1967)
Bảng 2.1 Một số nghiên cứu lựa chọn kích thước mẫu cho mô hình SEM
(a)- Vì quá trình phân tích đa biến được tiến hành trong nghiên
cứu nên số lượng mẫu khảo sát cần đủ lớn;
(a)- Các kích thước mẫu gợi ý dựa trên ước tính của quá trình phân tích đa biến Trong ước lượng mẫu, Jackson (2003) đã đề xuất rằng các nhà nghiên cứu nghĩ về kích thước mẫu tối thiểu theo tỷ lệ các trường hợp (N) đối với số lượng mô hình yêu cầu ước tính thống kê (q) Tỷ lệ cỡ mẫu-tham số mẫu lý tưởng sẽ là 20: 1 Ví dụ, nếu tổng số q = 10 tham số mô hình yêu cầu ước lượng thống kê, thì kích thước mẫu tối thiểu lý tưởng sẽ là 20 ×
10, hoặc N = 200
Hu và Bentler
(1999); Yu và ≥ 250 - Số lượng mẫu này sẽ đảm bảo đủ tin cậy cho một khu vực
nghiên cứu rộng thông qua giá trị chỉ số chi-square;