BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆCHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, MÃ SỐ KHCN-BĐKH/11-15 ĐỀ TÀI K
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CHƯƠNG TRÌNH
MỤC TIÊU QUỐC GIA ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, MÃ SỐ KHCN-BĐKH/11-15
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP QUỐC GIA
Đề tài:
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
NHẰM HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TRONG ỨNG PHÓ VỚI TÁC ĐỘNG
CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM
(MÃ SỐ: BĐKH-59)
Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện Chính trị khu vực I
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Hoàng Văn Hoan
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CHƯƠNG TRÌNH
MỤC TIÊU QUỐC GIA ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, MÃ SỐ KHCN-BĐKH/11-15
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP QUỐC GIA
Đề tài:
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
NHẰM HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TRONG ỨNG PHÓ VỚI TÁC ĐỘNG
CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM
(MÃ SỐ: BĐKH-59)
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Hoàng Văn Hoan
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
GIÁM ĐỐC
Đoàn Minh Huấn
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
AFD Cơ quan phát triển Pháp
AfDB Ngân hàng Phát triển Châu Phi
AGBM Nhóm hỗ trợ trên cơ sở ủy thác Berlin
AIJ Các hoạt động Đồng thực hiện
APFT Kết quả ưu tiên hóa
APP Thỏa thuận của liên hiệp Châu Á - Thái Bình Dương về khí hậu và phát triển sạchAPRT Qui trình ưu tiên hóa
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
AuSAID Cơ quan Hỗ trợ phát triển quốc tế Australia
AWG-DP Nhóm công tác đặc biệt của Diễn đàn Durban về hành động tăng cườngAWG-KP Nhóm công tác theo hướng Nghị định thư Kyoto
AWG-LCA Nhóm công tác về hợp tác dài hạn theo hướng Công ước khí hậu
BAT Về phương pháp luận kỹ thuật tốt nhất
BCĐQG Ban Chỉ đạo quốc gia
BĐKH Biến đổi khí hậu
BEP Kinh nghiệm môi trường tốt nhất
BKHCN Bộ Khoa học Công nghệ
BKHĐT Bộ Kế hoạch đầu tư
BNNPTNN Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
BTNMT Bộ tài nguyên và môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
CBD Công ước về Đa dạng sinh học
CBO Các tổ chức cộng đồng
CCD Thực hiện ứng phó với Biến đổi khí hậu
CDM Chương trình cơ cấu phát triển sạch
CEO Trưởng ban điều hành
CERs Chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính
CFO Lựa chọn tài chính khí hậu
CFTF Tổ công tác về tài chính cho biến đổi khí hậu
CGE Mô hình cân bằng tổng thể
CI Tổ chức Bảo tồn quốc tế
CIDA Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Canada
Trang 4CLQG Chiến lược quốc gia
CMP Hội nghị các bên tham gia Nghị định thư Kyoto
COP Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi
khí hậu
CPEIR Rà soát chi tiêu công và đầu tư cho Biến đổi khí hậu
CPMT Bộ phận quản lý chương trình ở cấp toàn cầu
CTC Trung tâm công nghệ khí hậu
CTCN Mạng lưới Công nghệ khí hậu
CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia
DBSA Ngân hàng Phát triển Nam Phi
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐDSH Đa dạng sinh học
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DPEA Diễn đàn Durban về hành động tăng cường
EBRD Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Châu Âu
ERU Chứng chỉ giảm phát thải
ET Các dự án Mua bán quyền phát thải
FAO Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc
FCCC Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu
FSCM Chiến lược Tài khóa
G77 Nhóm các quốc gia đang phát triển
G8 Nhóm các cường quốc công nghiệp
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GEF Quỹ Môi trường toàn cầu
GFPRR Quỹ phục hồi và giảm thiểu rủi ro thiên tai toàn cầu
GNRRTT Giảm nhẹ rủi ro thiên tai
GTVT Giao thông vận tải
Trang 5HĐH Hiện đại hóa
HĐND Hội đồng nhân dân
IADB Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ
IBRD Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển
IFAD Quỹ quốc tế về Phát triển Nông nghiệp
INC Ủy ban đàm phán quốc tế
IPCC Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
IUCN Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên
LDCF Quỹ Các nước kém phát triển
LDCF Quỹ dành cho các nước kém phát triển
LEAP Mô hình Lập kế hoạch năng lượng thay thế dài hạn
LULUCF Lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp
M&E Giám sát và đánh giá
MARD Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
MIE Các đơn vị thực hiện đa phương
MONRE Bộ tài nguyên và môi trường
MP Nghị định thư Montreal
MSP Các dự án qui mô trung bình
MTFF Khuôn khổ Tài chính Trung hạn
NAMAs Hành động giảm thiểu phù hợp ở cấp quốc gia
NAMAs Các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia
Trang 6NAP Kế hoạch thích ứng quốc gia
NCCC Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu
NCCS Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu
NCKH Nghiên cứu khoa học
NFMS Hệ thống theo dõi diễn biến rừng toàn quốc
NGOs Các tổ chức phi chính phủ địa phương
NIE Quốc gia Triển khai thực thể
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NPIF Quỹ thực hiện Nghị định thư Nagoya
NSNN Ngân sách nhà nước
NTP-EE Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quảNTP-NRD Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới
NTP-RCC Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu
ODA Viện trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PA Phương pháp tiếp cận theo chương trình
PCGG Ủy ban Tổng thống về Tăng trưởng xanh
PEFA Chương trình Tăng Cường Trách Nhiệm Tài Chính và Chi Tiêu Chính PhủPFD Văn bản khung chương trình
PG Chính sách và quản trị
PMR Các hoạt động trong khuôn khổ Đối tác thị trường các-bon
POPs Công ước Stockholm về các chất hữu cơ khó phân hủy
PPG Quỹ chuẩn bị văn kiện dự án
PTBV Phát triển bền vững
QELRCs các mục tiêu hạn chế và giảm phát thải khí nhà kính định lượng
QELROs Các cam kết giảm phát thải khí nhà kính định lượng
QHQT Quan hệ quốc tế
QLRRTT Quản lý rủi ro thiên tai
REDD+ Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng
SAR Báo cáo đánh giá lần thứ hai
Trang 7SBI Ban Bổ trợ về Thực hiện
SBSTA Ban Bổ trợ về Tư vấn Khoa học và Công nghệ
SCCF Quỹ Biến đổi khí hậu đặc biệt
SCF Quỹ khí hậu chiến lược
SGP Chương trình Tài trợ nhỏ
SIDS Các quốc đảo nhỏ đang phát triển
SP-RCC Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu quốc gia
ST Phát triển khoa học kỹ thuật
STAP Ban Tư vấn khoa học và Kỹ thuật của Quỹ môi trường toàn cầuTABMIS Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc
TAR Báo cáo đánh giá lần thứ ba
TCCRD Phương pháp phân loại chi tiêu cho Biến đổi khí hậu
TCCRE Danh mục Hoạt động theo phân loại
TEC Ủy ban điều hành công nghệ
TN&MT Tài nguyên và môi trường
TTLT Thông tư liên tịch
UBQG Ủy ban quốc gia
UBTVQH Ủy ban thường vụ quốc hội
UNCCD Công ước của Liên hiệp quốc về Chống Sa mạc hóa
UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc
UNEP Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc
UNFCCC Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu
UNIDO Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc
UNOPS Văn phòng Dịch vụ Dự án Liên Hợp Quốc
VEPF Quĩ bảo vệ môi trường Việt Nam
VPCP Văn phòng chính phủ
WFP Chương trình Lương thực Thế giới
WMO Tổ chức Khí tượng Thế giới
WWF-US Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã thế giới
Trang 8PHẦN THỨ NHẤT: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ
CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬDỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 11.1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM HUY ĐỘNG,
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔIKHÍ HẬU 11.1.1 Khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu 11.1.2 Khái niệm liên quan đến cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử
dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu 21.1.3 Đánh giá hiệu quả cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng
các nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu 61.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế, chính sách huy động, quản lý và sử dụng nguồn
lực tài chính ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu 81.2 CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ CƠ
CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI NHẰM HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNGNGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 111.2.1 Các định chế tài chính/ các đối tác phát triển đa phương ứng phó với
BDKH 111.2.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia về cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động,
quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với BDKH 231.2.3 Bài học chung cho Việt Nam trong hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm
huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính trong ứng phó với……… 48PHẦN THỨ HAI: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH HUY
ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓVỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 592.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH BAN HÀNH CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH VỀ HUY ĐỘNG,
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH VÀ LIÊN QUAN ỨNGPHÓ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 592.1.1 Tình hình chung về ban hành văn bản pháp luật 602.1.2 Chiến lược, kế hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH 642.1.3 Cơ chế, chính sách tài chính ứng phó với BĐKH trong hệ thống chính sách 672.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ
VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI BĐKH 772.2.1 Thực trạng cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng nguồn
lực tài chính từ Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương cho ứng phó vớiBĐKH 782.2.2 Thực trạng cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng nguồn
lực tài chính qua chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC) và kếtquả đạt được 122
Trang 92.2.3 Thực trạng cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng nguồn
lực tài chính từ nguồn ODA tài trợ cho dự án ứng phó với biến đổi khí hậu và kết
quả đạt được 134
2.2.4 Cơ chế, chính sách tài chính huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính và đầu tư của khu vực tư nhân ứng phó với biến đổi khí hậu 147
2.2.5 Quĩ bảo vệ môi trường Việt Nam (VEPF) 152
2.2.6 Huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu của người dân 153
2.2.7 Chủ thể xây dựng, thực hiện cơ chế, chính sách tài chính huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu 153
2.3 KẾT LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 163
2.3.1 Thành công và hạn chế 163
2.3.2 Nguyên nhân của thành công và hạn chế 169
2.3.3 Những vấn đề cần tiếp tục giải quyết 172
PHẦN THỨ BA: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 174
3.1 DỰ BÁO VÀ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM ĐẾN 2020 VÀ TẦM NHÌN 2030 174
3.1.1 Dự báo và thách thức về ứng phó với biến đổi khí hậu 174
3.1.2 Nhiệm vụ trọng tâm ứng phó với biến đổi khí hậu 175
3.2 NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN 2050 178
3.2.1 Nhu cầu nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam 178
3.2.2 Các nguồn lực tài chính có khả năng huy động để ứng phó với BĐKH 181
3.3 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ HIỆU QUẢ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 185
3.3.1 Quan điểm hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính huy động, sử dụng và quản lý nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam 185
3.3.2 Định hướng hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính trong ứng phó với BĐKH 190
3.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 192
3.4.1 Giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính huy động nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu 192
3.4.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm quản lý nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu 217
3.4.3 Giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính tài chính nhằm sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu 238
KẾT LUẬN 251
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 254
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các biện pháp can thiệp tài khóa dự kiến của Indonesia 44
Bảng 1.2: Khuôn khổ tài chính khí hậu 49
Bảng 1.3: Thể chế tài chính và công nghệ cho BĐKH các quốc gia trong vùng 57
Bảng 2.1: Một số văn bản liên quan đến huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu 75
Bảng 2.2:Dự toán kinh phí hoạt động thường xuyên giai đoạn 2012÷2015 110
Bảng 2.3: Đánh giá chất lượng nội dung KHHĐ 113
Bảng 2.4:Lồng ghép và thực thi ứng phó BĐKH trong các ngành/lĩnh vực 114
Bảng 2.5:Tổng tài trợ của các nhà tài trợ cho Chương trình SP-RCC 130
Bảng 2.6: Danh mục dự án Chương trình SP-RCC đã được phân bổ vốn 131
Bảng 2.7: Những dự án ứng phó với biến đổi khí hậu được quốc tế tài trợ đang thực hiện tại Việt Nam 140
Bảng 2.8:Kết quả tổng hợp đánh giá về mức độ đồng bộ của các chính sách điều hành có liên quan đến ODA 146
Bảng 2.9: Đánh giá cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam 163
Bảng 3.1: Tổng quan 3 nghiên cứu dự tính thiệt hại do BĐKH 179
Bảng 3.2:Dự báo GDP và nhu cầu vốn cho CTMTQG về ứng phó với BĐKH giai đoạn 2016 - 2030 181
Bảng 3.3: Các cơ chế, công cụ và giải pháp có thể hiện có để tăng cường các hành động thích ứng 239
Bảng 3.4: Mô tả chi tiết các bước lồng ghép các kết quả ưu tiên hóa vào quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năm 245
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Các nguồn tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu 3
Hình 1.2: Trung Quốc lồng ghép BĐKH vào lập kế hoạch phát triển 35
Hình 1.3: Khung chính sách của Trung Quốc trong phát triển các-bon thấp 35
Hình 1.4: Phát thải GHG của Indonesia 42
Hình 1.5: Cơ chế tài chính ở Indonesia 44
Hình 1.6: Sự phát triển của các nguồn tài chính đa phương 55
Hình 1.7: Các cấu trúc tài chính khí hậu (nguồn: Climate Funds,2014) 57
Hình 2.1: Nguồn tài chính cho BĐKH tại Việt Nam 78
Hình 2.2: Tổng kinh phí đã bố trí thực hiện NTP- RCC ứng phó với biến đổi khí hậu (2010-2015) 85
Hình 2.3: Ngân sách cho BĐKH (đầu tư và chi thường xuyên) của 5 bộ, CTMTQG ứng phó với BĐKH và CTMTQG sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, giai đoạn 2010 – 2013 89
Hình 2.4: Tổng chi cho BĐKH (đầu tư và chi thường xuyên) theo Bộ, giai đoạn 2010 – 2013 (đơn vị:tỉ đồng) 90
Hình 2.5: Chi cho các hoạt động thích ứng (đầu tư và chi thường xuyên) 92
Hình 2.6: Chi cho các hoạt động giảm nhẹ (đầu tư và chi thường xuyên) của các Bộ (đơn vị: tỷ đồng) 92
Hình 2.7: Chi cho cả Thích ứng và Giảm nhẹ ( đơn vị: tỷ đồng) 93
Hình 2.8: Tổng chi cho BĐKH (đầu tư và chi thường xuyên) (16.627 tỷ đồng) cho 5 Bộ 94
Hình 2.9: Chi tiêu cho ứng phó với BĐKH của Bộ NN&PTNT (12.811 tỷ đồng) 95 Hình 2.10:Tổng đầu tư cho ứng phó với BĐKH của Bộ GTVT (2.248 tỷ đồng) 96
Hình 2.11:Tổng kinh phí ứng phó với BĐKH của Bộ TN&MT (Đầu tư và chi thường xuyên) (1.044 tỷ đồng), 97
Hình 2.12:Tổng chi tiêu cho ứng phó với BĐKH của Bộ Công thương 98
Hình 2.13: Tổng đầu tư cho ứng phó với BĐKH của Bộ Xây dựng 99
Hình 2.14:Chi thường xuyên cho ứng phó với BĐKH của 5 Bộ 100
Hình 2.15: Số lượng các dự án ứng phó với BĐKH của 5 bộ được nghiên cứu 101
Hình 2.16:Tổng chi cho BĐKH (đầu tư và chi thường xuyên), 102
Trang 12Hình 2.17:Tổng chi cho BĐKH (đầu tư và chi thường xuyên), 104
Hình 2.18: Tổng chi cho ứng phó với BĐKH phân theo nguồn vốn 104
Hình 2.19: Quy mô tương đối về chi tiêu cho BĐKH tại một số tỉnh khảo sát 106
Hình 2.20: Chi tiêu BĐKH của các tỉnh chia theo loại 112
Hình 2.21 Các ngành mục tiêu và Bộ phụ trách (nguồn: PCU, SP-RCC) 124
Hình 2.22:Chu trình hoạt động của SP-RCC trong 1 năm (nguồn: SP-RCC) 125
Hình 2.23: Cơ chế tài chính 125
Hình 2.24:Cam kết ODA cho ứng phó với BĐKH tại Việt Nam 142
Hình 2.25: Cam kết ODA phân theo các trụ cột của phương pháp phân loại theo chi cho BĐKH 143
Hình 2.26:Đánh giá sự hài hòa về khung thể chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA .145
Hình 2.27:Mức độ sẵn lòng đầu tư vào các dự án ứng phó với BĐKH của doanh nghiệp 149
Hình 2.28: Nguyên nhân cản trở thu hút đầu tư từ khu vực doanh nghiệp đầu tư dự án ứng phó với biến đổi khí hậu 150
Hình 4.1: Gợi ý định hướng cho các giải pháp 191
Hình 3.2: Cơ cấu tổ chức của Quỹ khí hậu Quốc gia 210
Hình 3.3: Minh họa sự thay đổi các tiêu chí lựa chọn 237
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang nổi lên như một trong những thách thức lớnnhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Nhiệt độ trung bình toàn cầu, thước đo phổbiến nhất hiện nay về thực trạng khí hậu toàn cầu, đã cho thấy xu hướng ấm lên củakhí hậu toàn cầu Trong 100 năm qua (1906-2005) khí hậu toàn cầu đã tăng 0.70C(UNDP 2008, tr 34) Nhiệt độ toàn cầu tăng lên sẽ dẫn đến hiện tượng băng tan tạicác cực khiến cho mức nước biển dâng lên Các nghiên cứu về số liệu quan trắc trêntoàn cầu cho thấy mực nước biển trung bình toàn cầu trong thời kỳ 1961-2003 đã dângvới tốc độ 1.8+-0.5mm/năm (MONRE 2012, tr 5) Nước biển dâng đã và đang gâyngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối vớicông nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội Theo Stern (2006) BĐKH sẽ ảnh hưởngnghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới: đến
2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2-4%, giá tăng 13-45%, tỷ lệ dân số chịu ảnhhưởng của nạn đói chiếm 36-50% Cũng theo Stern (2006), đến 2050, các hình tháithời tiết cực đoan, kết quả của BĐKH, sẽ làm giảm GDP toàn cầu 1% và nếu chúng takhông có hành động gì để giảm thiểu, thì BĐKH có thể khiến GDP toàn cầu tổn thất ítnhất 5% mỗi năm Nếu kịch bản xấu nhất xảy ra, thì tổn thất có thể lên đến hơn 20%GDP
BĐKH tác động tiêu cực trên phạm vi lớn như vậy đã buộc các quốc gia trênthế giới phải có những điều chỉnh mang tính chất hệ thống trong các chính sách pháttriển của mình cũng như phối hợp với các quốc gia khác Tại Rio de Janeiro, Braxintháng 5 năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất đã được tổ chức với sự tham dự củacác nguyên thủ và người đứng đầu của 155 nước trên thế giới; tất cả các thành viêntham dự đã ký Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH làm cơ sở cho nỗ lựcchung ứng phó với BĐKH trên toàn cầu Năm 1997, Hội nghị các bên tham giaUNFCCC lần thứ 3 họp tại Kyoto (Nhật Bản) đã ký kết Nghị định thư về cắt giảm khínhà kính (được gọi tắt là Nghị định thư Kyoto) Theo đó, 36 nước công nghiệp pháttriển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi được yêu cầu phải cắt giảm phát thải khínhà kính Mỹ là nước có tổng lượng phát thải khí nhà kính đứng thứ 2 thế giới (sauTrung Quốc), không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto Trung Quốc, Braxin và Ấn Độ
là những nước có tổng lượng phát thải khí nhà kính lớn nhưng không bị ràng buộc
Trang 14phải cắt giảm khí nhà kính Phải mất đến 8 năm để các nước phê chuẩn, Nghị định thưKyoto chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 02 năm 2005.
Tuy nhiên, trong khi hầu hết các điều chỉnh và nỗ lực quốc tế của các quốc giađều tập trung vào các vấn đề về hạn mức khí thải, cấu trúc quản lý khí hậu thì có rất ít
sự chú ý dành cho một thành tố quan trọng khác của các chính sách về BĐKH toàncầu là các cơ chế tài chính ứng phó với BĐKH Steward và cộng sự (2009) đã chỉ rarằng để các quốc gia có thể đạt được các mục tiêu bức thiết về giảm khí thải mà khôngphải hy sinh các mục tiêu tăng trưởng của mình, các cơ chế tài chính ứng phó BĐKHtoàn cầu cần được chú ý nhiều hơn nữa Theo tính toán của Steward và cộng sự(2009), để đạt được mức giảm thiểu BĐKH cần thiết, các nước đang phát triển cầnkhoản đầu tư từ 55-80 tỷ USD mỗi năm cho giai đoạn 2010-2020 và tăng lên 92-96 tỷUSD mỗi năm cho đến 2030 Cũng theo Steward và cộng sự (2009), thị trường các-bon sẽ giải quyết được một phần nhu cầu này nhưng không phải tất cả, các phươngthức tài trợ mới đi kèm các quy định và quản lý hiệu quả mới là các giải pháp căn bản
Việt Nam là một nước đang phát triển, có bờ biển kéo dài trên 3000km Vì thế,Việt Nam sẽ là một trong các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH TheoUNDP (2008, tr 105-106), BĐKH đe dọa Việt Nam ở nhiều cấp, lượng mưa dự kiến
sẽ gia tăng và bão nhiệt đới sẽ mạnh hơn Mực nước biển dự kiến dâng cao 33cm vàonăm 2050 và 1m vào năm 2100 Mực nước biển cao như dự báo vào năm 2030 sẽkhiến 45% diện tích của đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ nhiễm mặn cực độđồng thời gây ra thiệt hại mùa màng do lũ lụt, năng suất lúa dự báo giảm 9% Nếumực nước biển dâng cao 1m, phần lớn đồng bằng này sẽ hoàn toàn ngập trắng nhiềuthời gian dài trong năm Tính trên phạm vi cả nước, sẽ có 22 triệu người mất nhà cửavới thiệt hại lên đến 10%GDP Ban cán sự Đảng Chính phủ (2013, tr 5) cũng đã tổngkết chỉ trong 15 năm trở lại đây các loại thiên tai như: bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úngngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người
và tài sản, đã làm chết và mất tích hơn 10.711 người, thiệt hại về tài sản ước tínhchiếm khoảng 1,5% GDP/năm
Nhận thức rõ những tác động nghiêm trọng của BĐKH đến sự phát triển bềvững của đất nước, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã sớm có các chính sách ứng phóvới BĐKH Đối với hợp tác quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã sớm tham gia và phêchuẩn Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH và Nghị định thư Kyoto Bên
Trang 15cạnh đó, Chính phủ cũng chỉ đạo từng bước hoàn thiện các văn bản pháp luật, tạohành lang pháp lý cho công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó vớiBĐKH Có thể kể ra một số chính sách mà Chính phủ đã ban hành như: Chương trìnhmục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH đã được phê duyệt vào tháng 12 năm 2008,Chiến lược quốc gia Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020; Chiến lượcPhát triển ngành Khí tượng Thủy văn đến năm 2020; Chiến lược Phát triển Thủy lợiđến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050; Chiến lược Tăng trưởng xanh; Luật Đê điều;Luật Tài nguyên nước; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Luật Sử dụng năng lượng tiếtkiệm và hiệu quả; Pháp lệnh Phòng, chống lụt bão; Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ cáccông trình thủy lợi; Pháp lệnh Bảo vệ công trình khí tượng thủy văn Đặc biệt là tháng
12 năm 2011, Thủ tướng đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về BĐKH giai đoạn
2012-2015 và sau đó là Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH
Trong số các chính sách đó, chính phủ đã có quan tâm đến vấn đề cơ chế tàichính đối với hoạt động ứng phó BĐKH và bước đầu hình thành cơ chế huy độngnguồn lực hợp tác quốc tế và từ xã hội để ứng phó với BĐKH Nhà nước đã có những
ưu tiên bố trí kinh phí từ ngân sách cho các chương trình ứng phó với BĐKH, nghiêncứu khoa học và công nghệ về BĐKH Bên cạnh đó, Nhà nước cũng ưu tiên huy độngvốn vay ưu đãi và khai thác nguồn hỗ trợ không hoàn lại từ các tổ chức quốc tế vàChính phủ các nước cho ứng phó với BĐKH Nguồn vốn vay và tài trợ quốc tế choứng phó với BĐKH từ năm 2010 đến nay đạt trên 500 triệu USD (Ban cán sự ĐảngChính phủ 2013, tr 13) Hàng năm, Nhà nước ưu tiên và tăng dần nguồn đầu tư từngân sách cho công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, các chương trình mục tiêu cụthể như trồng rừng, nâng cấp hệ thống đê điều, hồ chứa nước, phòng chống sạt lở,chung sống với lũ, an toàn cho tàu thuyền Nhà nước cũng bố trí một tỷ lệ ngân sáchnhất định và dự trữ một số vật tư thiết yếu để cứu trợ khẩn cấp, nhanh chóng khắcphục hậu quả thiên tai Các địa phương đã huy động tốt nguồn lực tại chỗ, tranh thủđóng góp, tham gia của nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, từ thiệntrong công tác cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên tai
Tuy nhiên, các chính sách về cơ chế tài chính ứng phó BĐKH tại Việt Namhiện nay vẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu ứng phó BĐKH trongtương lai Thứ nhất, Chính phủ hiện nay chưa có cơ chế, chính sách phù hợp, thuận lợi
để khuyến khích, huy động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước
Trang 16tham gia đầu tư cho ứng phó với BĐKH trên cơ sở mang lại lợi ích cho nhà đầu tư và
xã hội Hiện nay, gần như chưa huy động được các nguồn lực từ doanh nghiệp vàcộng đồng cho ứng phó với BĐKH Còn nhiều bất cập về cơ chế tài chính, thủ tụchành chính trong tiếp nhận và quản lý nguồn vốn ứng phó với BĐKH, nên chưa tạo ramột môi trường pháp lý hấp dẫn với các nhà tài trợ quốc tế, khối doanh nghiệp và tưnhân đầu tư cho giảm nhẹ BĐKH ở Việt Nam
Thứ hai là việc huy động nguồn lực từ các tổ chức tài chính quốc tế, Chính phủkhai thác nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), cũng như huy động các nguồn hỗtrợ kỹ thuật và công nghệ cho ứng phó với BĐKH chưa hiệu quả Đầu tư cho phòngtránh, giảm nhẹ thiên tai còn dàn trải, chưa đáp ứng yêu cầu Chưa cân đối đượcnguồn lực từ ngân sách cho một số dự án trọng điểm, đặc biệt là chương trình nângcấp đê sông, đê biển, an toàn hồ chứa
Bên cạnh đó, mặc dù đã thiết lập và duy trì được một số mối quan hệ hợp tác, đốitác quốc tế, song chủ yếu vẫn còn ở phạm vi hẹp, ngắn hạn Các cơ chế, thể chế tàichính có tầm chiến lược, dài hạn chưa được thiết lập để đón đầu, thu hút nguồn lực tàichính và sự hỗ trợ công nghệ từ đối tác về BĐKH toàn cầu
Theo Ban cán sự Đảng Chính phủ (2013, tr 38), một trong các nguyên nhânchính của thực trạng nêu trên là do thiếu các nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn vềứng phó BĐKH Các kết quả nghiên cứu khoa học chưa cung cấp đầy đủ luận cứ choviệc hoạch định chính sách, pháp luật về chủ động ứng phó với BĐKH nói chung vàcho các chính sách tài chính nói riêng Đặc biệt là hầu như vắng bóng các nghiên cứuđịnh lượng đánh giá tác động của các chính sách Nguyễn Danh Sơn (2013) đã chỉ rangay chính nhu cầu nghiên cứu của quốc gia đã được xác định trong Chương trìnhkhoa học công nghệ về BĐKH giai đoạn 2009-2015 là “Phân tích đánh giá hiệu quảkinh tế - xã hội (chi phí lợi ích) của các hoạt động ứng phó với BĐKH“ hiện vẫn cònchưa có được các kết quả nghiên cứu cụ thể của các nhà kinh tế Việt Nam Hầu nhưcác số liệu về hiệu quả kinh tế, phân tích chi phí lợi ích của các hoạt động ứng phóBĐKH ở Việt Nam thường được viện dẫn lại từ các công bố của nước ngoài như đánhgiá thiệt hại, tổn thất kinh tế so với GDP, dự báo kinh tế về các tác động của BĐKH,hiệu quả đầu tư ứng phó với BĐKH, đầu tư cho giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, v.v
Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của các
cơ chế, chính sách tài chính nhằm ứng phó với BĐKH hiện nay Trên cơ sở đó cung
Trang 17cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam nhằm phục vụ cho việc hoạch địnhcác chủ trương, chính sách ứng phó của Chính phủ và các cơ quan chức năng cũngnhư hình thành cơ chế huy động, sử dụng và quản lý nguồn lực tài chính nhằm giảmthiểu và thích ứng với BĐKH ở Việt Nam.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất nào về "tài chính choứng phó với biến đổi khí hậu", xong tổng hợp từ lý thuyết và thực tiễn có thể rút rakhái niệm tài chính cho ứng phó với BĐKH là tài chính dành cho quá trình chuyểndịch sang nền kinh tế toàn cầu có mức các bon thấp, dành cho các hoạt động nhằmgiảm nhẹ tác động tiêu cực của BĐKH và thích ứng với BĐKH diễn ra trong hoạtđộng hàng ngày của cả khối nhà nước và tư nhân (Brent Cloete và Yash Ramgowlan,2011) Do đó, nguồn tài chính với quy mô lớn này đòi hỏi sự tham gia đóng góp của
cả khối nhà nước và tư nhân, ít nhất là trong ngắn hạn Trong đó, nhà nước đóng vaitrò chủ đạo về tài chính cho ứng phó với BĐKH
a) Các nghiên cứu về vấn đề huy động, sử dụng hiệu quả tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu
Van Melle và các cộng sự (20110 cho rằng vấn đề tài chính cho ứng phó vớiBĐKH đang trở thành mối quan tâm lớn trên diễn đàn quốc tế về BĐKH, đặc biệttrong khuôn khổ của UNFCCC Vấn đề còn tranh cãi trên bàn đàm phán là ai, cácnước phát triển hay đang phát triển, sẽ đảm nhiệm vấn đề tài chính trang trải cho cáchoạt động ứng phó với BĐKH ở các nước đang phát triển, và vấn đề không thể bỏ qua
là với cơ chế, chính sách tài chính nào để quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực này.Nguồn huy động tài chính chủ yếu hỗ trợ các nước đang phát triển ứng phó vớiBĐKH trong Thỏa thuận Cancun trong COP 16- duy trì thay đổi nhiệt độ dưới 20C là
từ các nước phát triển với nhận thức rằng các quốc gia này gây ra phần lớn khí thảidẫn đến BĐKH Với tổng nguồn lực tài chính huy động từ các nước này trong thỏathuận là 100 tỷ đô là từ năm 2020 sẽ được thực hiện dưới hình thức viện trợ phát triển.Còn một số khoản viện trợ nhanh thực hiện sớm hơn, 2010-2012, với tiêu chí ưu tiêncho các nước kém phát triển nhất và châu Phi Do bản chất nguồn tài chính này tương
tự như khoản viện trợ phát triển do đó cơ chế quản lý như giám sát, báo cáo, thẩm tra
Trang 18tài chính tương đối nhạy cảm Dẫn đến đặc thù và cơ chế phân bổ tài chính cho nguồnnày hiện còn chưa thống nhất.
Các tác giả cũng nhận định rằng nguồn huy động tài chính này rất đa dạng: Từkhu vực công, tư, hợp tác song phương, đa phương và có thể từ nguồn tài chính tiềmnăng cho đổi mới thay thế, với cơ chế phân bổ dự kiến thông qua Quỹ khí hậu xanh
Cụ thể là từ các nguồn thu từ các bon ở các nước đang phát triển, như thuế các bon,phí năng lượng (như trong ngành điện), nhiên liệu hóa thạch thuế giao dịch tài chính
và phí giao thông vận tải toàn cầu và hiện nay nguồn thu tiềm năng có thể từ thịtrường các bon, tuy nhiên còn phụ thuộc vào thỏa thuận toàn cầu về giá, hạn ngạchcũng như tính thanh khoản của thị trường
Marquard và Tyler (2010) trong nghiên cứu của mình chỉ ra diễn biến ứng phóvới BĐKH đã có sự thay đổi với sự nhận diện rằng vấn đề ứng phó với BĐKH là vấn
đề toàn cầu, xu thế hướng tới tăng trưởng các bon thấp và bền vững là toàn thế giớikhông chỉ cho các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển và do đó nguồn nộilực của mỗi quốc gia cần coi trọng và tận dung Hay nói cách khác, nguồn huy độngtài chính ứng phó với BĐKH không chỉ tập trung ở các nước phát triển, mà từ cácnước đang phát triển, không chỉ từ nguồn viện trợ đầu tư nước ngoài, mà là từ trongnước Với cơ chế tài chính là các khoản chi tiêu phải tuân thủ các ưu tiên trong ứngphó với BĐKH Cũng theo định hướng này, Brent Cloete và Yash Ramgowlan (2011)
đã hiện rằng Nam Phi theo đuổi chính sách tài chính khai thác tối đa nguồn lực trong
và ngoài nước cho ứng phó với BĐKH nhằm chuyển dịch nền kinh tế sang hướng tăngtrưởng xanh, tăng trưởng các bon thấp Quốc gia này cũng khẳng định để ứng phó vớinhững biến đổi khó tránh khỏi của khí hậu, tất yếu phải có cơ chế và chính sách tàichính phù hợp cho hoạt động ứng phó với BĐKH
Ngân hàng thế giới (2009) đánh giá chi phí cho ứng phó, bao gồm thích ứng vàgiảm nhẹ, đối với BĐKH trên thế giới rất lớn, được huy động từ nhiều nguồn khácnhau, trong ngắn hạn và cả trong dài hạn Ước tính tổng ngân quỹ cơ bản và bổ sungcho các hoạt động liên quan đến ứng phó với BĐKH từ cộng đồng quốc tế lên đến230-250 tỷ đô la mỗi năm Tuy nhiên, để đáp ứng được nhu cầu ứng phó với BĐKHđòi hỏi nguồn lực tài chính khổng lồ lên tới 4,6 nghìn tỷ đô la mỗi năm Trên thế giới,nguồn huy động tài chính ứng phó với BĐKH khá phong phú, theo cơ chế chung thìdòng chảy tài chính sẽ từ các nước phát triển, tổ chức quốc tế cùng với dòng tài chính
Trang 19trong nước, theo hệ thống cơ chế phân bổ tài chính riêng, các công cụ tài chính nhưthương mại cacrbon, qua các tổ chức trung gian, đổ vào khu vực tư nhân, gắn vớicác chương trình, dự án với các hoạt động cụ thể ứng phó với BĐKH (AGF, 2010).
Các báo cáo của UNFCCC (2008, 2011) chỉ ra cơ chế phân bổ tài chính choứng phó với BĐKH có xu hướng phân bổ đồng đều cho cả thích ứng và giảm nhẹ tácđộng của BĐKH (chứ không chú trọng ưu tiên cho hoạt động giảm nhẹ như trước) và
cơ chế này ngày càng được củng cố trước nhu cầu tài chính cho hoạt động thích ứngvới BĐKH ở các nước đang phát triển đối với các nước phát triển và sẽ được đưa vàođàm phán chính thức trong các kỳ COP sau Với cách tiếp cận là nguồn tài chính nhưODA sẽ phân bổ cho hoạt động thích ứng, còn các nguồn khác huy động từ thị trườngcarbon sẽ dành cho hoạt động giảm nhẹ tác động của BĐKH
Một trong cơ chế tài chính cho giảm nhẹ tác động của BĐKH là công cụNAMA, được Công ước khung Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC) đề xuất từ Kếhoạch hành động Bali, năm 2007 NAMA được hiểu như là một công cụ hỗ trợ về kỹthuật, tài chính cũng như tăng cường năng lực từ các nước phát triển dành cho cácnước đang phát triển thực hiện các biện pháp giảm nhẹ BĐKH phù hợp với điều kiệnquốc gia và phát triển bền vững
Cơ chế tài chính trong khuôn khổ UNFCCC được thực hiện qua Cơ chế tàichính UNFCCC và Quỹ tín thác GEF, Quỹ biến đổi khí hậu đặc biệt (SCCF), Quỹ chocác nước kém phát triển nhất (LDCF) và Quỹ thích ứng (UNFCCC, 2008; UNFCCC,2011) Trong đó ba công cụ đầu do GEF quản lý, huy động chủ yếu từ nguồn đónggóp tự nguyện, còn quỹ thích ứng được điều hành bởi Ban điều hành độc lập vớinguồn quỹ từ 2% khoản thu từ các dự án cơ chế phát triển sạch (CDM)
Ngoài các cơ chế và các quỹ trong khuôn khổ UNFCCC, còn có: i- Các quỹbiến đổi khí hậu đa phương khác bao gồm Quỹ đầu tư khí hậu, Quỹ carbon ngân hàngthế giới, Quỹ Liên hợp quốc và các sáng kiến đa phương khác; ii- Hỗ trợ tài chính ứngphó biến đổi khí hậu song phương; iii- Ngân hàng phát triển đa phương (MDBs); iv-Nguồn tài chính của mỗi quốc gia; v- Nguồn tài chính tư nhân Có thể nói, nguồn tàichính cho ứng phó với biến đổi khí hậu từ cả hai nguồn công và tư không phải vàkhông thể là giải pháp lớn và dài hạn (Ward, 2010) Nguồn huy động tài chính tư nhân
có thể từ vốn của tổ chức, thị trường carbon, đầu tư hợp tác, đầu tư mạo hiểm và tổchức từ thiện Từ cơ chế tài chính cấp độ toàn cầu, có thể tham khảo, áp dụng sáng tạo
Trang 20cho "thế giới thu nhỏ" tại các quốc gia, với nguyên tắc đa dạng hóa, hợp tác tài chínhcông tư, hợp tác đa phương, tăng cường hợp tác với các tổ chức tài chính, nhằm huyđộng tối đa và hiệu quả nguồn tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu.
b- Các nghiên cứu về quản lý các nguồn lực tài chính và công cụ tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu
Các nghiên cứu của Ward (2010), IIGCC (2009); và Ward cùng các cộng sự(2009) đã tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới và rút ra ba vấn đề chính nhằmtăng cường hiệu quả huy động, đặc biệt từ khu vực tư nhân và sử dụng tài chính choứng phó với BĐKH bao gồm:
- Mức độ chặt chẽ của chính sách và quy định về: i- Bảo vệ quyền sở hữu, đảmbảo hiệu lực hợp đồng, bảo vệ đầu tư của khu vực tư nhân; ii- Có mục tiêu rõ ràngtrong ngắn và dài hạn về giảm phát thải hiệu ứng nhà kính; iii- Chính sách về giaothông và năng lượng theo hướng khuyến khích đầu tư xanh, như phương tiện giaothông carbon thấp; iv- Tín hiệu giá carbon bền vững và hiệu quả, thị trường carbonđược thiết lập và hoạt động quy củ, hiệu quả; v- Khung khổ chính sách toàn diện, baogồm thị trường, ưu đãi và tiêu chuẩn toàn cầu hiệu quả; vi- Phát triển hệ thống thươngmại toàn cầu mở rộng thị trường carbon
- Thể chế chính sách chặt chẽ hiệu quả: i- Các quy định, chính sách hợp lý,hiệu quả; ii- Các chương trình, dự án phải có chiến lược kế hoạch rõ ràng, theo hướnghợp tác đa phương, với cơ sở hạ tầng phù hợp; nội lực mạnh về năng lực của các cơquan Chính phủ các cấp, trung gian, tổ chức tài chính trong nước, phương tiện truyềnthông
- Giảm thiểu rủi ro: i- Cơ chế tài chính khuyến khích được đầu tư tư nhân; có
hệ thống bảo hiểm cho công nghệ carbon thấp; giảm hàng rào tài chính tại kinh tế địaphương; có quy định trong dài hạn phù hợp với sàn đầu tư
- Cân đối giữa rủi ro và lợi ích: Các dự án về ứng phó với BĐKH thường đòihỏi vốn và chi phí lớn, xong về lợi ích thu được thì hầu như không đoán trước được
Để huy động và quản lý tài chính nhằm ứng phó với BĐKH, hệ thống quản lý tàichính công được sử dụng (PFMs) với các công cụ như hỗ trợ R&D ở giai đoạnđầu/giai đoạn nghiên cứu và phát triển; cung ứng vốn mạo hiểm, tài trợ ở giai đoạn thíđiểm; cung ứng các khoản vay ưu đãi, cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các công cụgiảm thiểu rủi ro, hỗ trợ phát triển dự án từ giai đoạn triển khai Nhờ cơ chế này đã
Trang 21cân bằng được rủi ro và lợi ích của các đầu tư vào ứng phó với biến đổi khí hậu, từ đóhuy động mạnh mẽ hơn nguồn lực tài chính từ khối tư nhân cho hoạt động này.
Ballesteros và các cộng sự (2010) và (Ward (2010) phát hiện nhu cầu tài chnhsphát sinh và bất đồng quan điểm giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển
về nguồn tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu và các nước đang phát triển chorằng các nước phát triển phải tài trợ mọi khoản chi phí này chứ không coi đó là khoảnviện trợ, trong khi đó rất khó để xác định chính xác toàn bộ chi phí cho ứng phó vớibiến đổi khí hậu là bao nhiêu, với điều kiện nào thì cam kết thực hiện được và vậnhành, phân bổ với điều kiện như thế nào cho hiệu quả Trong khi các khoản viện trợ từcác nước phát triển không phải là vô tận mà còn có xu hướng ngày càng co lại
Brown và các cộng sự (2010) và The World Bank (2010) cho rằng Quản lý tài
chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu bao gồm giám sát, báo cáo, thẩm tra (MRV)
gặp nhiều thách thức, cả về mặt chính trị, thể chế Trước tiên là do có nhiều cách ướclượng khác nhau về nhu cầu tài chính, như cách tính vốn đầu tư, cách tính chi phíchênh lệch tăng, cho ra các con số khác nhau Nếu không xác định được hay không rõràng về các khoản mục, thì sẽ khó xác định nhu cầu tài chính, từ đó sẽ khó để giámsát, báo cáo cũng như thẩm tra Bên cạnh đó, chưa có cơ chế thỏa đáng trong báo cáophân bổ và sử dụng tài chính, cụ thể là UNFCCC chỉ yêu cầu các bên báo cáo nguồntài chính các nước phát triển tài trợ cho các nước đang phát triển, chứ không báo cáonguồn tài chính cho ứng phó với BĐKH luân chuyển giữa các nước phát triển
Honkaniemi (2011) phân tích các công cụ tài chính chủ yếu sử dụng cho ứngphó với biến đổi khí hậu bao gồm: Khoản vay, tài trợ, quyền lợi Các công cụ nàyđược sử dụng cho các dự án, chương trình, hỗ trợ kỹ thuật Ngoài ra, tài chính carboncũng được coi là một công cụ tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu Cơ chế tàichính được áp dụng tùy thuộc vào loại dự án Nếu là dự án giảm nhẹ biến đổi khí hậuthì ban đầu nguồn tài chính được phân bổ dưới dạng khoản vay ưu đãi hay tài trợ, chođến khi dự án hoạt động tốt thì các ưu đãi sẽ dần dỡ bỏ Còn đối với dự án thích ứngbiến đổi khí hậu thì chủ yếu được tài trợ dưới dạng không hoàn lại hay khoản vay ưuđãi, từ các nước giàu với lý do là phần lớn phát thải là do các nước này gây nên
Van Melle và các cộng sự (2011) cũng phân tích việc phân bổ nguồn lực giữagiảm nhẹ và thích ứng BĐKH Thực tế và kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớnnguồn lực tài chính được phân bổ cho hoạt động giảm nhẹ BĐKH, chỉ một phần nhỏ
Trang 22dành cho hoạt động thích ứng do hoạt động này đòi hỏi chi phí tốn kém, hiệu quảkhông rõ ràng như đối với hoạt động giảm nhẹ Khoảng 85% nguồn tài chính côngnhằm ứng phó với BĐKH là dành cho hoạt động giảm nhẹ và phần lớn tài chính tưnhân cũng tài trợ cho lĩnh vực này (Climate Funds Update, 2011) Tuy nhiên, xu thếhiện nay là đưa hai tỷ lệ này trở về cân đối với nhau, tuy nhiên thách thức tồn tại làlàm thế nào để tăng tỷ lệ tài chính cho hoạt động thích ứng với BĐKH.
UNFCCC (2011), phân tích về các công cụ tài chính như cơ chế phát triển sạch(CDM) và quỹ khí hậu xanh (GCF):
- Cơ chế CDM là một trong ba cơ chế linh hoạt làm cho việc giảm phát thải
được thực hiện ở mức chi phí thấp nhất (Nghị định thư Kyoto) cho phép các quốc gia
bị ràng buộc với những mục tiêu giảm GHG (các nước đang phát triển) Cơ chế CDMcho phép các dự án giảm phát thải có đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững củanước sở tại được hưởng lợi từ việc giảm phát thải thông qua việc mua bán Chứngnhận Giảm phát thải (CERs) khí GHG của các dự án CDM Một cách khái quát, khithực hiện dự án CDM, nước đang phát triển sẽ nhận được nguồn đầu tư từ nước ngoài
và tiếp nhận các công nghệ cao, thân thiện với môi trường, góp phần phát triển kinhtế-xã hội bền vững, bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ thống khí hậu
Về cơ chế phê duyệt và yêu cầu dự án CDM, CDM được giám sát bởi BanĐiều hành CDM (CDM EB) và chịu sự chỉ đạo của Hội nghị các bên (COP) thuộcUNFCCC Ở cấp độ quốc gia, mỗi nước tham gia CDM đều có Cơ quan Thẩm quyềnquốc gia (DNA) chịu trách nhiệm phê duyệt các dự án ở cấp địa phương sau khinhững dự án này đã đáp ứng được những tiêu chí về phát triển bền vững ở cấp độquốc gia Những yêu cầu quan trọng nhất đối với một dự án CDM là: i- Giám đượclượng phát thải mà lẽ ra đã có thêm nếu như không có hoạt động dự án được chứngnhận này; ii- Mang lại những lợi ích có thực, có thể định lượng và lâu dài nhờ giảmthiểu được tác động của BĐKH
- Quỹ Khí hậu xanh (GCF)
COP 15 tại Copenhagen, các quốc gia phát triển đã cam kết hình thành GCF,đến năm 2020, ít nhất 100 tỷ USD của GCF sẽ được giải ngân mỗi năm để giúp cácquốc gia đang phát triển chống và ứng phó với biến đổi khí hậu Tại COP 17, các quốcgia đã thông qua cơ cấu quản trị của GCF và kêu gọi sớm đưa Quỹ này đi vào hoạtđộng GCF đã được chỉ định là "tổ chức của Công ước", hoạt động theo hướng dẫn
Trang 23của COP và được quản lý bởi một Ban gồm đại diện của 24 quốc gia (trong đó có 12quốc gia đang phát triển và 12 quốc gia phát triển).
GCF được kỳ vọng sẽ trở thành quỹ đa phương chính về biến đổi khí hậu,nhưng trên thực tế tài khoản GCF vẫn còn là con số không Một đề xuất thuế gọi là
"đổ nhiên liệu" từ ngành công nghiệp vận tải toàn cầu đã đạt được một số bước tiếntrong suốt cuộc đàm phán 14 ngày nhưng cuối cùng lại không được thông qua Tuynhiên, một số các nhà tài trợ, bao gồm Úc, Đan Mạch, Đức và Hàn Quốc, đã cam kếtđóng góp tài chính để khởi động Quỹ, mặc dù các chính sách, thủ tục để đóng gópthêm cho Quỹ chưa được xác định Một vấn đề khác cũng chưa được rõ ràng là phầnđóng góp từ nguồn tài chính công và từ lĩnh vực tư nhân như thế nào, trong khi đó,các nước đang phát triển thường nghiêng về lựa chọn các nguồn tài chính công GCF
là tổ chức tài chính khá linh hoạt, đặc biệt là việc tiếp cận nguồn tài chính được đơngiản hóa và cải tiến bao gồm việc tiếp cận trực tiếp, cũng như tạo điều kiện cho lĩnhvực tư nhân tiếp cận tài chính cho các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ
Như vậy, qua tình hình nghiên cứu và thực tiễn trên thế giới có thể thấy cơ chế
và chính sách tài chính hiệu quả cho ứng phó với biến đổi khí hậu còn là một câu hỏilớn, dù đã hình thành một số công cụ có kết quả tích cực song chưa phải là biện pháptối ưu Để có cơ chế và chính sách phù hợp phải cần có sự đồng tâm nhất trí giữa cácquốc gia cùng sự phối hợp nhịp nhàng trong quá trình ứng phó với biến đổi khí hậu
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhóm 1 Các nghiên cứu về cơ chế chính sách huy động tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội
Lê Khắc Côi (2012), "Rà soát các khung khổ chính sách nhằm thích ứng vớithiên tai và biến đổi khí hậu ở cấp Trung ương và 5 tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu, KiênGiang, An Giang, Sóc Trăng" (Nghiên cứu trong khuôn khổ dự án "Biến đổi khí hậu
và hệ sinh thái ven biển (CCCEP)" giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn GIZ) Tác giả đã rà soát các hệ thống chính sách ứng phó với BĐKH ở cấp Trungương và 5 tỉnh: Hệ thống tổ chức từ cấp Trung ương đến cấp tỉnh; Hệ thống kế hoạch
-hành động ứng phó với BĐKH từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh; Quy trình lập kế hoạch
ngân sách cho ứng phó với biến đổi khí hậu; Cơ chế điều phối và phối hợp giữa quốc gia và tỉnh, giữa 5 tỉnh Trên cơ sở phân tích, tác giả đưa ra một số khuyến nghị như
sau: i- Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH nên được tích hợp và kế hoạch phát
Trang 24triển kinh tế-xã hội; ii- Tăng cường hợp tác giữa các tỉnh thông qua cùng nhau xâydựng và thực hiện các chương trình liên tỉnh ứng phó với BĐKH; iii- Để thực hiệnthành công chiến lược ứng phó với BĐKH thì nguồn tài chính cho BĐKH phải đượctích hợp vào kế hoạch ngân sách của Trung ương và địa phương.
Hà Huy Ngọc (2012), "Rà soát các hệ thống chia sẻ lợi ích nhằm thích ứng vớithiên tai và biến đổi khí hậu ở 5 tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, An Giang, SócTrăng" (Nghiên cứu trong khuôn khổ dự án "Biến đổi khí hậu và hệ sinh thái ven biển(CCCEP)" giữa Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn-GIZ) Sau khi phân tích tìnhhình kinh tế-xã hội 5 tỉnh và rà soát hệ thống chia sẻ lợi ích nhằm thích ứng với thiêntai và BĐKH ở 5 tỉnh, nhóm tác giả đã rút ra một số kết luận như sau: i- UBND và Sở,ban ngành của 5 tỉnh chưa có sáng kiến trong liên kết vùng trong phát triển kinh tế vàxúc tiến đầu tư; ii- Trong khoảng 5 năm gần đây, ảnh hưởng của thiên tai và BĐKHđến đời sống, kinh tế-xã hội của người dân 5 tỉnh là rất lớn; iii- Các giải pháp ứng phóvới thiên tai, BĐKH chỉ được tiến hành đơn lẻ, trong nội bộ của từng tỉnh; iv- Nguồntài chính cho các hoạt động thích ứng nhằm giảm nhẹ tác động của thiên tai và BĐKHcủa địa phương hiện nay chủ yếu là từ ngân sách nhà nước; v- Trên cơ sở đó, tác giảđưa ra kiến nghị UBND và Sở, Ban, ngành của 5 tỉnh cần đưa ra những sáng kiến vềhuy động nguồn lực tài chính từ các tổ chức quốc tế, NGOs, doanh nghiệp, ngân sáchđịa phương để thực hiện và nhân rộng các mô hình thích ứng thành công với BĐKH
Ngày 11/6/2013, Cục Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu và Mạng lướicác tổ chức phi Chính phủ và Biến đổi khí hậu đã tổ chức Hội thảo "Tài chính chobiến đổi khí hậu tại Việt Nam" Hội thảo đã tập trung đánh giá các thách thức và cơhội trong việc kêu gọi hỗ trợ các nguồn lực tài chính cho các hoạt động thích ứng vớiBĐKH ở Việt Nam Đặc biệt các nguồn lực tài chính phải tập trung ưu tiên cho nhóm
dễ bị tổn thương: Người nghèo, cộng đồng dân tộc thiểu số, phụ nữ, trẻ em Nângcao năng lực giám sát của các nhóm đối tượng này đối với việc sử dụng các nguồn lựctài chính hỗ trợ thích ứng với BĐKH, để đảm bảo góp phần đảm bảo sử dụng mộtcách minh bạch và có hiệu quả nguồn lực tài chính
Nhóm 2 Các nghiên cứu về cơ chế chính sách tài chính nhằm huy động quản lý
sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu
Thời gian qua, với những hậu quả nghiêm trọng của BĐKH, Việt Nam đã ngàycàng nhận thức được tầm quan trọng của ứng phó với BĐKH, đặc biệt đối với mục
Trang 25tiêu xóa đói giảm nghèo, cũng như việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sựtăng trưởng bền vững của quốc gia Chịu tác động mạnh mẽ nhất từ BĐKH ở ViệtNam là tài nguyên nước, ngành nông nghiệp và an ninh lương thực, vấn đề sức khỏecon người ở các vùng đồng bằng và cả dải ven biển.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, BĐKH lại là một trong những nội dung nghiên cứucòn mới cả về phương pháp luận cũng như các công cụ nghiên cứu Do đó, việc tìmhiểu cũng như nghiên cứu về ứng phó với BĐKH cũng như cơ chế và chính sách tàichính cho hoạt động này là nhiệm vụ khó khăn và đầy thử thách
- Nguồn huy động tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu
Ở Việt Nam hiện nay hiện có các nguồn chính huy động tài chính cho ứng phóvới BĐKH như sau:
+ Nguồn trong nước: i- Chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH: Tập trungvào nâng cao nhận thức, năng lực với BĐKH, tập trung nhiều hơn vào thích ứng vớiBĐKH (NTP-RCC); ii- Chương trình khoa học công nghệ hỗ trợ cho Chương trìnhmục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH: Chủ yếu là các đề tài, nghiên cứu
+ Nguồn ngoài nước: Chương trình hỗ trợ ứng phó với BĐKH (SP-RCC) domột loạt các nhà tài trợ đóng góp chung, có nguồn đầu tư cho các dự án
Phạm Thị Bích Ngọc và Justin Alick (2013) phát hiện rằng nguồn tài chính choBĐKH trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay nhìn chung giảm trong cả hai lĩnh vựchoạt động giảm thiểu và thích ứng mặc dù đã có chính sách tài chính như thuế ưu đãinhằm giảm thiểu phát thải hoặc viện trợ phát triển dành cho ứng phó với BĐKH Vấn
đề đặt ra là làm thế nào để có nguồn tài chính ổn định cho BĐKH mà không phải phụthuộc vào ODA, vốn vay hay viện trợ phát triển đã có một số gợi ý giải pháp cho vấn
đề tăng cường huy động tài chính cho BĐKH một cách bền vững như: Hợp tác vớikhối tư nhân như đối tác, theo mô hình "Habitat for Humanity", Cơ sở, chương trìnhtình nguyện viên (AVID, Peace Corp, ); sử dụng các nguồn quyên góp; xây dựngQuỹ đoàn kết Việt Nam dành cho hoạt động giảm thiểu và thích ứng với BĐKH cũngnhư lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Vũ Xuân Nguyệt Hồng và các cộng sự (CIEM) trong nghiên cứu vấn đề tàichính cho vấn đề môi trường, tập trung vào khu vực đô thị và nông thôn Việt Nam chothấy nhu cầu về tài chính là cấp bách, cần có cơ chế huy động khuyến khích đầu tưgiải quyết vấn đề môi trường, đồng thời ứng dụng khoa học công nghệ xanh nhằm
Trang 26phát triển đô thị và nông thôn bền vững (Tài chính cho vệ sinh môi trường đô thị vànông thôn Việt Nam, Nxb Xây dựng 2012) Tuy nhiên, nghiên cứu chưa nghiên cứusâu về cơ chế chính sách tài chính ứng phó với BĐKH.
Vũ Xuân Nguyệt Hồng (CIEM) nghiên cứu "Cơ chế chính sách thúc đẩy doanhnghiệp đầu tư cho bảo vệ môi trường", Nxb Khoa học và Kỹ thuật - 2008) chỉ ra rằng,
về lâu dài nguồn vốn bảo vệ môi trường phải có sự đóng góp của khối doanh nghiệp
Từ đó cần có chính sách vừa khuyến khích, vừa có chế tài cho doanh nghiệp có ý thức
và thực hiện trách nhiệm với xã hội, cụ thể trong lĩnh vực bảo vệ môi trường góp phầnphát triển doanh nghiệp, ngành và quốc gia theo hướng tăng trưởng xanh Tuy nhiên,nghiên cứu dừng lại ở phạm vi hẹp, chưa nghiên cứu sâu và bao quát về chính sách tàichính cho ứng phó với BĐKH
Vũ Xuân Nguyệt Hồng và các cộng sự nghiên cứu "Cơ chế chính sách huyđộng các nguồn vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp", Nxb Khoa học
và Kỹ thuật - 2008 đã chỉ ra rằng, một trong những giải pháp ứng phó với BĐKH là sửdụng công nghệ sạch, từ đố cần có chính sách, đặc biệt là chính sách huy động vốncho đầu tư đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, vừa thực hiện hoạt động xã hộitrong bảo vệ môi trường, vừa tăng trưởng bền vững Tuy nhiên, nghiên cứu không đềcập một cách bao quát về chính sách tài chính ở phương diện hiệu quả sử dụng trongứng phó với BĐKH
- Phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính
Về phân bổ nguồn lực, nghiên cứu của Vũ Thị Quỳnh Hoa (2013) trong bàiviết "Tài chính cho biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Các khía cạnh giới và giảm nghèo"cho thấy chính sách tài chính cho BĐKH cần thay đổi chiến lược trong việc ưu tiênphân bổ nguồn lực nhằm tăng cường khả năng phục hồi và thích ứng với BĐKH theohướng ưu tiên cho đối tượng dễ bị tổn thương Phân tích chính sách ứng phó vớiBĐKH theo khía cạnh xã hội, cho thấy các nhóm dễ bị tổn thương như người nghèo,phụ nữ và trẻ em sẽ chịu thiệt hại năng hơn trước BĐKH, do họ hầu như không cónguồn lực để phục hồi Trong khi đó thực tế ngân sách, theo kết quả nghiên cứu thíđiểm tại hai tỉnh Quảng Nam và Bến Tre, phân bổ cho hoạt động này rất hạn chế màphần lớn chỉ tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng
Các nguồn lực tài chính do các NGOs huy động được nhằm ứng phó vớiBĐKH, chủ yếu sử dụng tài trợ cho các dự án hỗ trợ cộng đồng ứng phó BĐKH và
Trang 27lồng ghép BĐKH vào các dự án Các hoạt động giảm nhẹ ảnh hưởng tiêu cực củaBĐKH chủ yếu bao gồm: Sử dụng năng lượng sách, năng lượng tái tạo, tiết kiệm và
sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm phát thải, tăng cường xử lý phát thải, tăng diệntích trồng rừng gắn với thị trường carbon, REDD+ Các hoạt động chính thích ứng vớiBĐKH bao gồm: Quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH, quản lý đất đai, tàinguyên thiên nhiên, sản xuất nông lâm thích ứng với BĐKH (Tài chính cho biến đổikhí hậu của các tổ chức phi Chính phủ (Phạm Thị Bích ngọc và Justin Alick, 2013)
Đồng thời một câu hỏi khác được đặt ra là nên phân bổ nguồn lực tài chính choBĐKH nên tập trung cho giảm thiểu hay thích ứng, cho phần cứng hay phần mềm.Một số đề xuất về hướng giải pháp chung nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng tài chínhcho BĐKH được nêu ra như: "Chi tiêu thông minh hơn" có sự chú trọng thỏa đángđến hoạt động giám sát và đánh giá để tăng hiệu quả chi tài chính cho BĐKH; hợp tácthống nhất các lĩnh vực ưu tiên, trọng tâm; chuyển từ mô hình chương trình sang dự
án để có những hoạt động trọng điểm, cụ thể; tăng cường huy động các nguồn lực tàichính mới như thuế chuyển tiền, thuế các bon, thuế hàng không, cũng như tăng cườngnguồn tài chính cho BĐKH từ khối tư nhân (Tài chính cho biến đổi khí hậu của các tổchức phi chính phủ - Phạm Thị Bích Ngọc vàJustin Alick, 2013)
Yu, Bingxin & Zhu, Tingju & Breisinger và Nguyễn Mạnh hải (2011) đãnghiên cứu lựa chọn chính sách nhằm thích ứng với BĐKH trong "Tác động của biếnđổi khí hậu tới nông nghiệp và các lựa chọn chính sách thích ứng - Trường hợp củaViệt Nam" (Bài viết cho Viện Nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế (IFPRI), Oa-sinh-tơn, Hoa Kỳ, 2011) Kết quả nghiên cứu cho thấy, cần lựa chọn được chính sáchthích ứng phù hợp với điều kiện của Việt Nam để bảo vệ, tìm hướng phát triển bềnvững và hiệu quả cho ngành nông nghiệp, từ đó góp phần ổn định kinh tế xã hội.Trong nghiên cứu này, chỉ dừng lại khung khổ chính sách chung và một số chính sáchcho ngành nông nghiệp, chưa đi sâu vào chính sách tài chính cho thích ứng vớiBĐKH
- Cơ chế quản lý tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu
Quá trình ứng phó với BĐKH của Việt Nam được triển khai với các chươngtrình chủ đạo như: i- Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH; ii- Chươngtrình khoa học công nghệ phục vụ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó vớiBĐKH; iii- Chương trình hỗ trợ ứng phó với BĐKH Bên cạnh các nghiên cứu đã
Trang 28được tổng kết ở trên, trong mục này, chúng tôi sẽ tổng kết một số chính sách lớn củaĐảng và Nhà nước về cơ chế quản lý tài chính cho ứng phó với BĐKH.
Về cơ chế tài chính trong sử dụng nguồn vốn cho SP-RCC tuân theo Luật Ngânsách Nhà nước năm 2003 và quy định về ODA (quyết định số 131/2006 thay thế quyếtđịnh số 38/2013 của Thủ tướng Chính phủ Cơ chế quản lý nguồn vốn của Chươngtrình ứng phó với BĐKH được thực hiện như sau: i- Cơ cấu vốn thực hiện dự án thuộcChương trình SP-RCC; ii- Lập, thẩm định, phê duyệt danh mục dự án thuộc chươngtrình SP-RCC; iii- Xây dựng và phân bổ kế hoạch, quản lý sử dụng và quyết toán vốn;iv- Báo cáo, kiểm tra và kiểm toán (theo Thông tư liên tịch số 03/2013/TTLT-BTNMT-BTC-BKHĐT ngày 05/3/2013 hướng dẫn cơ chế quản lý nguồn vốn Chươngtrình Hỗ trợ ứng phó với BĐKH) Nguồn lực tài chính cho ứng phó với BĐKH - CụcKhí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu, 2013
Hạn chế về khung chính sách tài chính
Có thể nói, Việt Nam đã bước đầu nhận thức được tầm quan trọng của ứng phóvới BĐKH, thể hiện ở khung khổ chính sách đối với vấn đề này dần hình thành, đặcbiệt từ năm 2010, ban hành nhiều quy định hướng dẫn thực thi Tuy nhiên, cơ chếchính sách tài chính cho ứng phó với BĐKH còn mơ hồ Cụ thể, ở công văn số15020/BTC-QLN đã xác định nguyên tắc, cơ chế tài chính cho các dự án đầu tư thuộcchương trình hỗ trợ ứng phó với BĐKH (SP-RCC) Ưu điểm của cơ chế tài chính thểhiện trong công văn là làm cho các dự án đầu tư thuộc SP-RCC thống nhất với các dự
án đầu tư khác Không đòi hỏi phải có quy trình bổ sung kèm theo, vì tất cả các dự án
sẽ theo các quy định hiện hành cho đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước Tuynhiên, công văn trên không đề cập cụ thể về các yêu cầu đối với tính minh bạch, vìkhông đòi hỏi phải thông báo nguồn kinh phí huy động thuộc SP-RCC sẽ được sửdụng bao nhiêu cho các dự án đầu tư ứng phó với BĐKH Điều này có thể sẽ dẫn đếnkhông khuyến khích một số nhà tài trợ tiếp tục hỗ trợ nhiều hơn cho các hoạt độngứng phó với BĐKH ở Việt Nam
Hơn thế nữa, cơ chế tài chính cho việc sử dụng nguồn vốn ODA ứng phó vớiBĐKH thuộc SP-RCC không đề cập đến tỷ lệ phần trăm nguồn kinh phí của SP-RCC
sẽ được sử dụng cho các dự án đầu tư về BĐKH Cơ chế này đề xuất Bộ Tài chínhphối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xác định tỷ lệ % nguồn vốn thuộc SP-RCC hàngnăm cho các dự án đầu tư ưu tiên ứng phó với BĐKH Tuy nhiên, không có thông báo
Trang 29nào được đưa ra hoặc thông tin được cung cấp về tỷ lệ này cho năm tài khóa 2012.Tham vấn với đại diện Bộ Tài chính phụ trách SP-RCC cho biết, do nguồn SP-RCCđược hòa chung vào ngân sách nên việc xác định nhu cầu vốn phải thông qua đề xuất
dự án (danh mục đầu tư và dự kiến tổng kinh phí)
Đồng thời, cùng với việc sửa đổi cơ chế quản lý đầu tư công được Chính phủban hành vào tháng 12/2011 (Chỉ thị số 1792/2011/CT-TTg), quy trình phân bổ ngânsách đã được xác định tại công văn số 15020/BTC-QLN cần phải được sửa đổi chophù hợp Quyết định số 1719/QĐ-TTg đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vàongày 04/10/2011 là tài liệu quan trọng, đây là bước tiếp theo sau khi cơ chế tài chínhcho việc sử dụng kinh phí từ nguồn vốn vay ODA (thuộc SP-RCC) và quyết định nàycung cấp hướng dẫn lựa chọn các dự án đầu tư ưu tiên ứng phó với BĐKH thông quaviệc sử dụng bộ tiêu chí lựa chọn dự án
Quyết định số 1719/QĐ-TTg giới thiệu cách tiếp cận định lượng hay hệ thốngchấm điểm ưu tiên đối với quá trình lựa chọn dự án Dù đây là tài liệu quan trọng vàbước đi đầu tiên trong việc áp dụng cơ chế tài chính cho các dự án đầu tư ưu tiên ứngphó với BĐKH thuộc SP-RCC Tuy nhiên, bộ tiêu chí này vẫn còn tồn tại một số điểmnhư sau:
Trước hết, quyết định 1719/QĐ-TTg không đề ra khung chi tiết cho việc lựachọn dự án Điều này tạo ra những khó khăn cho việc lựa chọn trong trường hợp nếu
có hai hoặc nhiều hơn đề xuất dự án có cùng số điểm, bởi vì chúng được thực hiện tạicùng một địa phương và/hoặc được phân loại cùng lĩnh vực vì các tiêu chí khác dườngnhư thiên về định tính
Thứ hai, quyết định 1719/QĐ-TTg không đưa ra những ưu tiên cho những hànhđộng BĐKH mang tính lâu dài Trong khi các văn bản chính sách khác như Chiến lựcquốc gia về BĐKH lại xác định rõ ràng các hành động cần phải thực thi trong từnggiai đoạn khác nhau Việc không xác định rõ thời gian (chuẩn bị dự án, thực hiện dựán) dường như đã tạo ra sự lúng túng đối với chủ dự án (thuộc các bộ, ngành và địaphương) khi xây dựng văn kiện dự án do không biết dự án của họ có thuộc ưu tiên vàđáp ứng được các đòi hỏi về ưu tiên hay không?
Thứ ba, quyết định 1719/QĐ-TTg không xem xét các khía cạnh nghèo đói và
xã hội vào trong quá trình lựa chọn các dự án đầu tư thuộc SP-RCC Chỉ tiêu về nghèođói chỉ được đề cập ngắn gọn trong đánh giá nội dung đề xuất dự án Chỉ một phần
Trang 30nhỏ (6 điểm) trong chỉ tiêu tổng hợp và đa mục tiêu đề cập đến việc tạo sinh kế chongười nghèo, đảm bảo cân bằng giới, tăng thu nhập đối với nhóm dễ bị tổn thương vàphải kết hợp với bảo vệ môi trường.
Thứ tư, quyết định 1719/QĐ-TTg không xác định chi tiết việc tổ chức lựa chọn
dự án Sự có mặt của các tổ chức xã hội dân sự trong bản xét duyệt có thể thúc đẩyviệc nhận thức của của thành viên khác trong việc xem xét khía cạnh đói nghèo và xãhội khi cho điểm và xét duyệt các đề xuất dự án Ví dụ, năm 2011, hội đồng xét duyệtgồm đại diện của một số Bộ nhưng không có đại diện từ các cơ quan có chức nănggiải quyết vấn đề đói nghèo và xã hội như Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, các tổchức xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) hoặc cộng đồng địa phương Vìvậy, tiếng nói của những người hưởng lợi hoặc các nhóm bị ảnh hưởng sẽ không đượctổng hợp trong quá trình ra quyết định về danh mục các dự án đầu tư ưu tiên được hỗtrợ từ SP-RCC?
Trong khi đó, khác với 2 văn bản nói trên, công văn số KTTVBĐKH của Bộ TN&MT ngày 25/10/2011 đã đề cập đối tượng rõ ràng các khíacạnh đói nghèo và xã hội Dù công văn này chỉ là tài liệu hướng dẫn mà Bộ TN&MTban hành hướng dẫn cho việc chuẩn bị đề xuất dự án, nhưng đã khuyến khích các dự
3939/BTNMT-án đa mục tiêu, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cácnội dung về bảo vệ môi trường, đóng góp vào việc cải thiện sinh kế của người dân địaphương và đóng góp vào công bằng về giới Thêm vào đó, công văn trên cũng đã cungcấp một cách rõ ràng và cụ thể hơn về những hướng dẫn hữu ích cho các chủ đầu tưchuẩn bị xây dựng văn kiện dự án Tuy nhiên, công văn này lại không đề cập đến thờigian chuẩn bị xây dựng văn kiện dự án, định hướng ưu tiên, hạn để nộp các đề xuấtcũng như quy mô và số lượng dự án cần phải đề xuất Công văn này cũng không đềcập đến quá trình lựa chọn dự án, thời điểm thông báo kết quả lựa chọn, cách thức lựachọn để các chủ đầu tư có thể chủ động hơn trong quá trình chuẩn bị văn kiện dự án
Tổng kết cho thấy, trong khung khổ chính sách về ứng phó với BĐKH cònkhoảng trống lớn về các cơ chế và chính sách tài chính cụ thể và phù hợp Nhómchính sách nhằm huy động tài chính và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chínhcho hoạt động ứng phó với BĐKH thì vẫn còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứucũng như trong thực tế hoạch định chính sách Điều này đưa ra yêu cầu nghiên cứu và
Trang 31hoạch định chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế và chính sách tài chính cho ứng phóvới BĐKH cho Việt Nam.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu tổng quát: Đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chínhnhằm đảm bảo huy động, sử dụng và quản lý hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứngphó với BĐKH
* Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ sau:
- Một là: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế, chính sách tài
chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH,bao gồm: nội dung cơ chế, chính sách tài chính huy động, quản lý và sử dụng cácnguồn lực tài chính cho ứng phó với BĐKH; phương pháp đánh giá, các yếu tố ảnhhưởng cũng như kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về cơ chế, chính sáchtài chính trong việc huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó vớiBĐKH;
- Hai là: Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế, hệ thống chính sách tài chính
huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH ở Việt Nam; từ
đó, chỉ ra những ưu điểm và tồn tại, hạn chế; nguyên nhân của những tồn tại, hạn chếcủa cơ chế, hệ thống chính sách hiện tại
- Ba là: Xác định yêu cầu về nguồn lực tài chính để ứng phó với các kịch bản
của BĐKH giai đoạn sau 2020; Đánh giá nhu cầu cần hoàn thiện, bổ sung các cơ chế,chính sách, hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH
- Bốn là: Đề xuất cơ chế, chính sách và các giải pháp vừa đảm bảo huy động
tối đa nguồn lực trong nước và nước ngoài, vừa đảm bảo sử dụng hợp lý, vừa nângcao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính trong ứng phó và giảm thiểu tácđộng của BĐKH ở nước ta trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụnghiệu quả nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH;
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung:
Trang 32+ Tiếp cận về cơ chế, chính sách có 02 hướng: i) tiếp cận về hoàn thiện phươngpháp và quy trình xây dựng/thực thi cơ chế, chính sách; và 2i) tiếp cận về hoàn thiệnnội dung của cơ chế, chính sách Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tiếp cận theohướng hoàn thiện nội dung cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sửdụng có hiệu quả nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH ở Việt Nam.
+ Trong 03 nội dung cơ bản của cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động,quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH, thì: nội dung về huy độngnguồn tài chính được hiểu là việc nghiên cứu, xây dựng chính sách nhằm phát hiện,khai thác và huy động được mọi nguồn lực tài chính cả trong nước và quốc tế tậptrung cho mục tiêu ứng phó với BĐKH; nội dung về sử dụng nguồn tài chính, đượchiểu là việc nghiên cứu, xây dựng chính sách nhằm tập trung nguồn lực tài chính đãhuy động được để thực hiện việc phân phối, giải ngân, chi tiêu cho mục đích ứng phóvới BĐKH (thích ứng hoặc giảm nhẹ); về nội dung quản lý nguồn lực tài chính đượchiểu là việc sử dụng các công cụ để giám sát, quản trị, điều tiết, cân đối, kiểm tra,thanh tra, đánh giá, tất cả, toàn diện các công việc, các quy trình, các khâu của quytrình từ xây dựng kế hoạch tìm kiếm nguồn lực tài chính, khai thác, huy động cho đếnviệc giải ngân sử dụng nguồn lực tài chính, cũng như chi phí cho mọi công việc, mọihoạt động liên quan đến hạn chế, giảm thiểu, hoặc thích ứng với BĐKH Do đó, đểtránh trùng lặp nội dung “quản lý” và “sử dụng”, đề tài sử dụng nội hàm “quản lý và
sử dụng nguồn lực tài chính” với các nội dung cụ thể là: i) lập, thẩm định, phê duyệtnguồn lực tài chính; 2i) phân bổ nguồn lực tài chính; 3i) sử dụng nguồn lực tài chính;4i) báo cáo, kiểm tra và kiểm toán nguồn lực tài chính
+ Cơ chế, chính sách nói chung và cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động,quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH riêng thường không tồn tạiriêng rẽ mà bao giờ cũng có sự liên kết hoặc chi phối qua lại với các cơ chế, chínhsách kinh tế - xã hội khác nhau Cơ chế, chính sách tài chính ứng phó với BĐKH làdạng giao thoa giữa chính sách ứng phó với BĐKH và cơ chế, chính sách tài chính, đó
là cơ chế, chính sách của Nhà nước tác động đến các chủ thể nhằm điều chỉnh quátrình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính để hình thành, khai thác sửdụng nguồn lực tài chính đó nhằm ứng phó với BĐKH
Để có thể đi vào cuộc sống, cơ chế, chính sách được thể chế hóa thành các quyđịnh pháp luật Tuy nhiên, cơ chế, chính sách không chỉ thể hiện trong các quy định
Trang 33pháp luật, chúng còn nằm trong các chương trình, kế hoạch, chủ trương hoạt động củanhà nước Theo cách hiểu này, cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý
và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH bao gồm văn bản quy định phápluật, các chương trình, kế hoạch, chủ trương hoạt động của nhà nước (trung ương vàđịa phương)
+ Đánh giá chính sách là xem xét, nhận định về giá trị các kết quả đạt được khiban hành và thực thi một chính sách Có nhiều tiêu chí để đánh giá một chính sách tàichính có đáp ứng được mục đích cuối cùng hay không Trong phạm vi nghiên cứu, đềtài xem xét việc đánh giá xem xét mục tiêu có thể thực hiện được hay không, thôngqua đó xác định (đo lường) tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính phù hợp, các tác động củachính sách
- Tính hiệu lực (Effectiveness): hiểu theo nghĩa rộng, tính hiệu lực của một
chính sách là việc xem xét mục tiêu có đúng, hợp lý và thực hiện được không hoặc cóđạt mục tiêu đề ra hay không, bao gồm cả các yếu tố liên quan khác trong quá trìnhthực thi chính sách
- Tính hiệu quả (Efficiency): Tính hiệu quả là mức độ đạt được các mục tiêu
ban đầu đã đặt ra và thể hiện kết quả đạt được, nhìn vào dòng vốn từ đầu vào đến đầu
ra Cụ thể, tính hiệu quả được đánh giá theo các nội dung dưới đây: Mức độ đạt đượccác mục tiêu đề ra ban đầu; Sự phù hợp của đầu vào và mức độ đạt được các mục tiêuthiết lập
Tính phù hợp: Sự phù hợp được xem xét thông qua giá trị pháp lý của các
mục đích, mục tiêu tổng thể trong mối tương quan với nhu cầu của đối tượng thụhưởng Những chỉ tiêu đánh giá tính phù hợp được quan tâm đến đó là: Nhất quán sovới nhu cầu của xã hội, của quốc gia; thích hợp về phương pháp khi triển khai; Tínhthích hợp trong việc lựa chọn các mục tiêu; sự phù hợp với năng lực, điều kiện củaquốc gia;
- Tính tác động: Tiêu chí này xem xét sự tiếp tục hưởng lợi từ một can thiệp
phát triển sau khi những hỗ trợ phát triển đã kết thúc, hoặc khả năng để một dự án tiếptục có lợi ích lâu dài (OECD-WB 2001), (OECD-DAC 2002), (SIDA 2004)
- Về không gian: Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động quản
lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính trong ứng phó với BĐKH ở Việt Nam;
Trang 34- Về thời gian: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chínhnhằm huy động quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính trong ứng phó vớiBĐKH ở Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030; Số liệu sử dụng để phân tíchthực trạng từ 2010-2014;
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
(1)- Phương pháp thu thập thông tin, tư liệu, số liệu: bao gồm: các văn kiện củaĐảng, văn bản luật pháp của nhà nước Trung ương và địa phương, các công trìnhnghiên cứu khoa học của các tác giả trong và ngoài nước đã được nghiệm thu và công
bố, các bài báo khoa học trong nước và quốc tế đăng trên tạp chí chuyên ngành liênquan đến cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quảcác nguồn lực tài chính trong ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu; các số liệu từ
Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống
kê, Cục thổng kê các tỉnh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các tổ chức khácnhư: Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, cơ quan thường trú của LiênHợp quốc tại Việt Nam,
(2)- Phương pháp phân tích chính sách: Phương pháp này được sử dụng nhằmphân tích, so sánh mức độ đồng bộ hóa; tính phù hợp giữa luật pháp với thực tiễn,giữa luật pháp quốc gia với luật pháp quốc tế; những khoảng trống hoặc sai sót cầnkhỏa lấp; những chồng chéo cần phải được được tháo dỡ
(3)- Phương pháp điều tra xã hội học: Đề tài đã tiến hành khảo sát chọn mẫutrên 08 địa phương (Thái Bình, Điện Biên, Quảng Ninh, Hà Tỉnh, Đà Nẵng, LâmĐồng, TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ - thuộc 8 vùng trong cả nước); hướng tới 3 nhómđối tượng: (i) Các hộ dân cư nông nghiệp tại các địa phương chịu ảnh hưởng củaBĐKH ở các khu vực địa lý khác nhau; (ii) Cán bộ địa phương các cấp tỉnh, huyện vàxã; (iii) Các doanh nghiệp có tham gia các dự án, hành động liên quan đến BĐKH
- Hộ nông dân: tổng mẫu điều tra 4.800 phiếu với phân bố là 150 hộ dân cư
nông nghiệp trên mỗi xã từ 32 xã của 8 tỉnh/thành Nội dung điều tra (được thể hiện
cụ thể trong mẫu phiếu điều tra) tập trung vào một số mặt chủ yếu sau:
+ Nhận thức chung của các hộ dân về biến đổi khí hậu
- Từ nguồn nào
- Nhận thức về biểu hiện của BĐKH
Trang 35- Biểu hiện của BĐKH tại địa phương:
+ Nhận thức về tác động của BĐKH
+ Nhận thức về các biện pháp ứng phó với thiên tai nói chung (BĐKH nóiriêng) – trong nông nghiệp
+ Đào tạo về cung cấp thông tin, ứng phó với BĐKH
+ Các biện pháp ứng phó với tác động của thiên tai trong nông nghiệp
- Các biện pháp tổng quát
- Các biện pháp cụ thể trước thiên tai
- Các biện pháp cụ thể sau thiên tai
+ Hỗ trợ của chính quyền địa phương trong phòng chống và giảm nhẹ tác độngcủa thiên tai
+ Mức độ tham gia ý kiến với chính quyền địa phương về sử dụng tài nguyênthiên nhiên
+ Đánh giá mức độ hài lòng về quản lý tài nguyên nông nghiệp ở địa phương.+ Nhận thức về tầm quan trọng của các hệ sinh thái
- Đối với hoạt động sản xuất
- Đối với bảo vệ môi trường và giảm nhẹ tác động của BĐKH
+ Bảo hiểm nông nghiệp
+ Sáng kiến về ứng phó với biến đổi khí hậu
Các phiếu điều tra sau khi thu thập về sẽ được nhóm thực hiện đề tài kiểm tra
và làm sạch Các phiếu không đáp ứng được yêu cầu sẽ bị loại bỏ Các phiếu đã đượclàm sạch và đảm bảo đúng yêu cầu sẽ được nhập vào các bảng số liệu Excel – địnhdạng file có thể chuyển sang để xử lý trong các phần mềm thông kê chuyên dụng nhưSPSS, STATA … Các biến trong file được đặt theo quy tắc tên vấn đề và tên tiểu câuhỏi đi liên nhau – ví dụ a.1 – nhận thức về biến đổi khí hậu nói chung, a.2 - nhận thức
về khí nhà kính, …, b.1 – nhận thức về tác động của BĐKH làm tăng nhiệt độ …Đồng thời xây dựng 1 file độc lập để chủ thích các tên và ý nghĩa của biến Các filesđược tập hợp để hình thành bộ số liệu điều tra các hộ dân cư nông nghiệp về nhậnthức đối với BĐKH
Xử lý và phân tích: số liệu điều tra từ các hộ dân cư nông nghiệp được xử lýtheo các bước cụ thể sau:
Trang 36Bước 1: xây dựng các bảng tần suất nhằm mô tả mẫu điều tra Từ các bảng tầnsuất đó rút ra các kết luận liên quan đến: mức độ nhận thức của các hộ dân về BĐKH,tác động của BĐKH, biểu hiện cụ thể của BĐKH ở mỗi địa phương điều tra; nhậnthức và thực tế các biện pháp được sử dụng nhằm ứng phó với BĐKH trong sản xuấtnông nghiệp; Sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và đánh giá của các hộ dân đốivới sự hỗ trợ này; nhận định của người dân về ứng phó với BĐKH,…
Bước 2: từ các số liệu trong bảng tần suất trên, tiến hành kiểm định các mốiquan hệ tương quan giữa các tiêu chí: tương quan giữa nhận thức của người dân vềBĐKH, tác động của BĐKH và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương; tương quangiữa nhận thức và mức độ tham gia ý kiến với chính quyền địa phương; tương quangiữa nhận thức và số lượng, quy mô các dự án BĐKH ở mỗi địa phương (thu nhập từ
VP Chương trình SP-RCC); tương quan giữa nhận thức và số lượng các dự án BĐKH
do địa phương lập (thu nhập từ các nguồn khác), tương quan giữa nhận thức của các
hộ dân cư với nhận thức của cán bộ địa phương các cấp (được thu thập từ bộ phiếusau) …
Mục tiêu của các phân tích này ngoài việc mô tả thực trạng nhận thức của các
hộ dân cư đối với BĐKH và tác động của nó còn hướng tới việc phần nào góp phầnđánh giá tác động của các dự án, hành động liên quan đến BĐKH đến nhận thức củangười dân
- Cán bộ địa phương các cấp tỉnh, huyện và xã: tổng mẫu điều tra 320 phiếu
với phân bố là 40 phiếu cho các bộ các cấp mỗi địa phương ở 8 tỉnh/thành Nội dungđiều tra (được thể hiện cụ thể trong mẫu phiếu điều tra) tập trung vào một số mặt chủyếu sau:
+ Nhận thức về BĐKH và các hoạt động nhằm ứng phó với tác động củaBĐKH
- Nhận thức chung
- Từ nguồn thông tin nào
- Các chương trình, hoạt động đang được thực hiện ở địa phương
- Biểu hiện của BĐKH ở địa phương
+ Tác động của BĐKH
+ Các biện pháp ứng phó với tác động của thiên tai trong nông nghiệp
- Các biện pháp tổng quát
Trang 37- Các biện pháp cụ thể trước thiên tai
- Các biện pháp cụ thể sau thiên tai
+ Đào tạo về cung cấp thông tin, ứng phó với BĐKH
+ Mức độ tham gia ý kiến với chính quyền địa phương về sử dụng tài nguyênthiên nhiên
+ Sáng kiến về ứng phó với biến đổi khí hậu
Các phiếu điều tra sau khi thu thập về sẽ được nhóm thực hiện đề tài kiểm tra
và làm sạch Các phiếu không đáp ứng được yêu cầu sẽ bị loại bỏ Các phiếu đã đượclàm sạch và đảm bảo đúng yêu cầu sẽ được nhập vào các bảng số liệu Excel – địnhdạng file có thể chuyển sang để xử lý trong các phần mềm thông kê chuyên dụng nhưSPSS, STATA … Các biến trong file được đặt theo quy tắc giống như bộ số liệu đốivới các hộ dân cư – ví dụ a.1 – nhận thức về biến đổi khí hậu nói chung, a.1.1 – cóđược thông tin từ phương tiện truyền thông đại chúng, …, c.1 – chi trả cho dịch vụmôi trường đang được thực hiện tại địa phương … Đồng thời xây dựng 1 file độc lập
để chủ thích các tên và ý nghĩa của biến Các files được tập hợp để hình thành bộ sốliệu điều tra cán bộ các cấp tỉnh, huyện và xã về nhận thức đối với BĐKH
Xử lý và phân tích: tương tự như trên số liệu điều tra được xử lý theo các bước
Bước 2: từ các số liệu trong bảng tần suất trên, tiến hành kiểm định các mốiquan hệ tương quan giữa các tiêu chí: tương quan giữa nhận thức của cán bộ các cấptại địa phương và nhận thức của người dân tại địa phương đó về BĐKH, tác động củaBĐKH; tương quan giữa nhận thức của chính quyền địa phương và số lượng, quy môcác dự án BĐKH ở mỗi địa phương bao gồm cả các dự án hợp tác quốc tế (thu nhập từcác nguồn khác);
Mục tiêu của các phân tích này tập trung vào việc đánh giá thực trạng nhậnthức của các cấp chính quyền địa phương đối với BĐKH cũng như ảnh hưởng của
Trang 38nhận thức đó đến nhận thức của người dân và việc thu hút, triển khai các dự án, hànhđộng liên quan đến ứng phó với BĐKH ở địa phương.
Các doanh nghiệp: tổng mẫu điều tra 480 phiếu với phân bố là 60 doanh
nghiệp mỗi địa phương ở 8 tỉnh/thành Nội dung điều tra (được thể hiện cụ thể trongmẫu phiếu điều tra) tập trung vào một số mặt chủ yếu sau:
+ Các thông tin định danh của doanh nghiệp: lĩnh vực hoạt động, số năm kinhnghiệm, quy mô doanh nghiệp …
+ Thiệt hại của doanh nghiệp do tác động của thiên tai
+ Các hoạt động cần thiết giảm nhẹ rủi ro thiên tai
+ Sự tham gia của doanh nghiệp, liên kết giữa các doanh nghiệp trong quản lýrủi ro thiên tai
- Giải pháp khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp vào QLRRTT
+ Đào tạo, cung cấp thông tin về QLRRTT
Tương tự như trên các phiếu điều tra sẽ được kiểm tra và làm sạch, sau đó xâydựng thành bộ số liệu của các doanh nghiệp về nhận thức đối với BĐKH và tác độngcủa nó
Các số liệu điều tra trong bộ này được xử lý tương tự như trên Trước hết xâydựng các bảng tần suất đối với các tiêu chí điều tra nhằm đánh giá thực trạng tác độngcủa BĐKH đến các doanh nghiệp này, sự tham gia của các doanh nghiệp vào các hoạtđộng, dự án liên quan đến ứng phó với BĐKH, hiệu quả của công tác truyền thôngđến nhận thức của các doanh nghiệp Trên cơ sở đó đề tài dự kiến kiểm định mối quan
hệ giữa nhận thức về BĐKH, nỗ lực của chính quyền địa phương, nhận thức củadoanh nghiệp đến tác động của BĐKH ở các địa phương điều tra
(4)- Phương pháp thảo luận nhóm tập trung: Bên cạnh việc thực hiện điều tra
xã hôi với 3 nhóm đối tượng nêu trên, thì nguồn số liệu sơ cấp của đề tài còn được thuthập thông qua việc thực hiện các cuộc tọa đàm với các chuyên gia là cán bộ của các
Bộ, Ban ngành, tổ chức và chương trình dự án có liên quan quan đến ứng phó vớiBĐKH, bao gồm: (1) Bộ TN&MT, (2) Bộ Tài Chính, (3) Bộ KH&DT, (4) BộNN&PTNT, (5) Bộ KH&CN, (6) Bộ GTVT (7) Các địa phương, (8) Văn phòng cácchương trình NTP-RCC, SP-RCC, (9) Các tổ chức quốc tế, phi chính phủ có liên quanđến các dự án, hành động ứng phó với BĐKH
Trang 39Các ý kiến thu thập được từ các buổi tọa đàm với các cơ quan kể trên tập trung
ở 3 nội dung chính (i) Tác động của BĐKH; (ii) Các nguồn tài chính cho BĐKH; và(iii) Cơ chế, chính sách tài chính BĐKH sẽ được kết hợp với nguồn số liệu, tài liệuthứ cấp khác thu thập từ các địa phương, các cơ quan đầu mối quản lý Nhà nước vềứng phó với BĐKH, văn phòng các chương trình NTP-RCC, SP-RCC, các tổ chứcquốc tế và phi chính phủ liên quan đến BĐKH và các văn bản pháp luật hiện nay vềtài chính BĐKH nhằm mục tiêu:
+ Đánh giá tổng thể về tác động của BĐKH đối với các vùng địa lý, các địaphương, các ngành, lĩnh vực kinh tế xã hội
+ Hình thành nên bức tranh tổng thể về các nguồn huy động tài chính cho ứngphó với BĐKH hiện nay cũng như tiềm năng của chúng trong tương lai
+ Phân tích nhằm chỉ ra những nút thắt cơ bản về cơ chế, chính sách hiện naytrong huy động các nguồn lực tài chính cho BĐKH
+ Phân tích những hạn chế của các địa phương trong công tác xây dựng và thựchiện các dự án BĐKH
+ Phân tích những mặt hạn chế trong công tác quản lý và phân bổ nguồn theongân sách cho các dự án, chương trình BĐKH
+ Chỉ ra những mặt còn hạn chế về sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nướctrong quản lý, phân bổ và giám sát, đánh giá thực hiện các nguồn tài chính choBĐKH
+ Chỉ ra những hạn chế trong công tác xét duyệt các dự án BĐKH do các địaphương, bộ ngành khác xây dựng
+ Phân tích những hạn chế trong công tác lồng ghép các dự án BĐKH vào cácchương trình, chính sách kinh tế xã hội khác
+ Hình thành một mô hình tài chính BĐKH phù hợp hơn trong điều kiện củaViệt Nam trên cơ sở tham khảo các kinh nghiệm quốc tế và thực trạng hiện nay
- Phương pháp mô hình hóa, được sử dụng với hỗ trợ của nhiều công cụ khácnhằm xây dựng các mô hình cụ thể về cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động,quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với tác độngcủa biến đổi khí hậu Các mô hình này được xem như thử nghiệm để rồi nhân rộng ra
áp dụng trên phạm vi lớn hơn
Trang 40(5)- Phương pháp đánh giá SWOT: Dùng để phân tích Điểm mạnh (Strengths),Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), Rủi ro – Nguy cơ (Threats) giúpđánh giá được thực trạng về huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứngphó với biến đổi khí hậu, từ đó tìm kiếm cơ sở đề xuất giải pháp phát huy điểm mạnh,khắc phục điểm yếu, nắm bắt cơ hội; lường trước, giảm nhẹ hoặc triệt tiêu rủi ro tronghuy động nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
(6)- Chuyên gia: Đề tài sẽ tổ chức mời các chuyên gia am hiểu về hoàn thiện cơchế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồnlực tài chính trong ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu để tham gia nghiên cứucác chuyên đề và góp ý cho báo cáo đề tài theo hình thức tư vấn độc lập
(7)- Phân tích tổng hợp và tư duy lôgic: Phương pháp này được sử dụng trongquá trình phân tích, viết báo cáo chuyên đề và báo cáo đề tài nghiên cứu;
6 Kết cấu của báo cáo
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, Báocáo tổng hợp đề tài gồm 3 phần:
Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH
SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Phần thứ hai: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH HUY ĐỘNG
NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
Phần thứ ba: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ,
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM