TRUVỈN THUVếĩ NGfi h o a n g , Nữ ANH Ở HỔNG ĐÔNG Trâu Minh Hoa Việc bảo hộ di sản văn hóa phi vật thể của Trung Quốc đã tạo nên một cục diện mới cho văn hóa Trung Quốc1, đồng thời đưa l
Trang 1TRUVỈN THUVếĩ NGfi h o a n g ,
Nữ ANH Ở HỔNG ĐÔNG
Trâu Minh Hoa
Việc bảo hộ di sản văn hóa phi vật thể của Trung Quốc đã tạo nên một cục diện mới cho văn hóa Trung Quốc1, đồng thời đưa lại cơ hội gặp gỡ mới cho nghiên cứu của các bộ môn khoa học xã hội như văn học dân gian, dân tục học, nhân loại học, dân tộc học v.v Công việc này không những có thể thấy được độ “hot” trên các báo chí, truyền hình, mạng internet
mà ảnh hường trong việc khai triển một cách sâu sắc và không ngừng mở rộng của nó trong cộng đồng chúng ta ngày nay đã tạo nên một hiệu ứng xã hội: điều này đã một lần nữa vẽ lại bản đồ văn hóa Trung Hoa Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2007 tới tháng 6 năm 2008 chúng tôi đã nhiều lần tiến hành điều tra truyền thuyết dân gian và hoạt động nghi thức tương ứng với nó2 tại huyện Hồng Động, tinh Sơn Tây (Trung Quốc), từ đó nhận thức sâu sắc được hình ảnh mới của văn hóa Trung Quốc, mối quan hệ mật thiết, tương hỗ thừa nhận và hợp tác lẫn nhau giữa thư tịch và truyền miệng, truyền thuyết lịch sử cổ đại và cuộc sống hiện thực, chính thống và dân gian v.v
* Viện Văn học, Viện Khoa học Xã hội Trung ương Trung Quốc (Người dịch: TS N g u y ề n
Tô Lan, Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
1 Tham khảo Cao Bính Trung, “Di sản văn hóa phi vật thề vì văn hóa cộng đồng
Vàn nghệ nghiên cứu ^C^IffỹL(Trung Quốc), kỳ 2,
năm 2008.
2 Công việc điều tra do ông Lưu Khôi Lập và Trần Vĩnh Siêu tồ chức, thành phần tham gia gồm có Trâu Minh Hoa, Vương Nghiêu, Chung Kiện, Đào Tuệ Dịch, Lý Xuân Phương,
Du Tự Vinh, Viên Bác Bài viết này thừa hưởng thành quả của tập thể điều tra khảo sát thực tế Các ông Lã Vi Cao Bính Trung, Thi Ái Đông, Chiêm Hàng Luận đã góp ý cho bài viết, các ông Trương Hướng Vinh, Trương Phi cung cấp tư liệu Nhân đây xin chân thành cảm tạ.
Trang 2116 Van hó a th ờ Nữ th á n - MẪU ở Việt NAM VÀ CHÂU Á
Trên bình diện lịch sử nghiên cứu văn học dân gian từng lưu hành một thời gian dài một dạng tự sự lịch sử Hắc Cách Nhĩ: Mọi xã hội trong lịch sử nhân loại đại để đều phải ưải qua giai đoạn phát triển như vậy, tức là từ thời
kỳ thần thoại đến thời kỳ truyền thuyết rồi tới thời kỳ truyện kể, hai chữ
“lịch sử” mới xuất hiện sau thời đại truyền thuyết mà thôi Một hàm ý trong
đó là, xã hội càng phát triển, trình độ văn minh loài người càng cao thì thần thoại sẽ dần dần bị mất đi “tính thần thánh”, truyền thuyết sẽ dần dần mất đi giá trị “truyền giảng”, tính nghiêm túc và tính chân thực của ừuyện kể do lịch sử quan phương đảm nhận Trong thời kỳ đầu xây dựng học thuật hiện đại Trung Quốc, học giả c ố Hiệt Cương đại biểu cho học phái “Cổ sử biện ìẺriẺ^ệ” đã loại trừ truyện kể về “Tam Hoàng Ngũ Đế H ẵ ĩ í ” ra khỏi chính sử, quy vào loại “truyền thuyết” vô căn vô cứ, khiến nó trở thành loại
bị coi là giả làm lịch sử.1 Vì vậy mà câu truyện về Tam Hoàng Ngũ Đe” bị quy vào truyền thuyết nên đã mất đi vị trí của nó khi một chính sử được viết lại Thế nhưng, không giống với tính dễ dàng của khoa học nhản văn và công việc biện biệt chữ nghĩa, truyện kể tương quan trong đời sống dân gian hoàn toan không dễ dàng mất đi địa vị như thế
Kết quả điều tra tín ngưỡng dân gian và truyền thuyết dân gian ờ huyện Hồng Động tỉnh Sơn Tây đã khiến chúng tôi ngoài bình diện văn thể lịch sử
đã thấy được hiện thực văn hóa Chúng tôi đặt mình vào vị trí của những người dân, từng bước từng bước một đã tự mình thâm nhập vào môi trường giảng thuật và biểu diễn những truyền thuyết liên quan tới Nghiêu Thuấn trong lịch sử trên một trong những mảnh đất căn cốt gây dựng nên văn minh Trung Hoa cổ đại huy hoàng Chúng tôi đã tận mắt nhìn thấy “trạng thái động” của truyền thuyết lịch sử cổ đại! Chúng tôi không những không bj giới hạn bời chữ nghĩa trong sách vờ mà còn được nghe thấy, nhìn thấy và tham dự vào một dạng sinh hoạt văn hóa hiện thực sinh động Chúng tôi không mày may nghi ngờ khi nhận thức được truyện kể về Nghiêu Thuấn, không chỉ tồn tại trong một nền văn minh đã qua của Trung Quốc, mà còn tồn tại trong nền văn hóa Trung Quốc đương đại; không chỉ được thâu tàng trong văn tự thư tịch của văn nhân nhã sĩ mà còn hiện hữu sinh động trong sinh hoạt hiện thức của dân gian
1 Cố Hiệt Cương và cộng sự, Cô sử biện ' Ẻ ' T h ư ợ n g Hải c ồ tịch xuất bản xã, 1982.
Trang 3118 Van hó a th ờ Nữ th ần - MẪU ở Việt NAM VÀ CHÂU Á
Cẩn, yêu em hết mực còn hơn ừước kia.”
“Truyền thuyết cổ sử” liên quan tới Nghiêu, Thuấn, Nga Hoàng Nữ Anh không chi lưu hành một cách hoàn toàn có hệ thống trong truyện kể dân gian mà còn có vị trí quan trọng trong những sự kiện tế lễ của dân gian Câu truyện của dân gian, vốn hoàn chỉnh sơn nhiều so với ghi chép trong “Cổ sử”, hơn nữa sinh động hon, có nhiều ý vị của tình người hơn Trên thực tế những câu chuyện này còn song hành trong đời sống xã hội dân gian, là một
bộ phận tạo lí giải cho hoạt động lễ hội tại địa phương Chúng ta có thể thấy
rõ trạng thái của truyền thuyết lịch sử cổ đại là “sống động” trong nghi thức
“đón cô cô, rước nương nương”
Tương truyền, vua Nghiêu ờ thôn Dương Giải đem hai con gái của mình là Nga Hoàng và Nữ Anh gả cho Thuấn, từ đỏ thôn Dương Giải và Lịch Sơn kết thành mối lương duyên Thôn Dương Giải là quê mẹ của Nga Hoàng và Nữ Anh, gọi Nga Hoàng và Nữ Anh là “cô cô”; Lịch Sơn là quê chồng của Nga Hoàng và Nữ Anh, gọi Nga Hoàng Nữ Anh là “nương nương” Cứ tới ngày 3 tháng 3 hàng năm, ngirời trong xã Dương Giải từ Lịch Sơn rước hai vị cô cô về quê mẹ, một mạch tới ngày sinh nhật của vua Nghiêu là ngày 28 tháng 4 thì các thôn trong xã Lịch Sơn đến chúc thọ vua Nghiêu đồng thời rước hai vị nương nương về Người ta gọi nghi thức của thôn Dương Giải ngày 3 tháng 3 là “đón cô cô”, gọi hoạt động của các thôn Lịch Sơn, Tây Kiều Trang, Vạn An v.v vào ngày 28 tháng 4 là “rước nương nương”, tên gọi trong đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia là: hoạt động tẩu thân “đón cô cô, rước nương nương” Trong hoạt động “tẩu thân” hàm chứa nội hàm vô cùng phong phú của địa phương
có liên quan mật thiểt tới hệ thống truyền thuyết lịch sử cổ đại về Nghièu Thuân, không chi có truyền thuyết tươi đẹp về việc vua Nghiêu tìm hiền, Vua Nghiêu gả con gái, Nghiêu Thuấn nhường ngôi mà còn có những truyền
Dịch nghĩa: Tượng nói: “Người nghĩ ra việc này đầu tiên là con” Tượng và bà mẹ cùig cướp lấy tài sản của Thuấn và nỏi: “Hai người vợ mà Thuấn lấy, còn có đàn mà vua Nghiêu ban cho, tỏi đều muốn cả Trâu dê và kho thóc trả lại bố mẹ đấy.” Thế là Tượig vào ở trong nhà Thuấn, đánh đàn của Thuấn Thuấn về thì vào thăm Tượng, hắn rất khh ngạc sững sờ khôn cùng, nói: “Em đang tưởng nhớ anh đây, nhớ tới mức sầu thảm kh>n nguôi đây” Thuấn nói: “Phải rồi, em thế mới xứng là anh em!”
Trang 4thuyết về việc vua Thuấn đi cày ờ Lịch Sơn, đức hiếu của vua Thuấn cảm động trời cao, đức vua Thuấn nhuần phục nhân tâm còn có những truyền thuyết thiên về giải thích thôn danh, địa danh, phong vật, nhân tình của các thôn trên hành trình tiến hành nghi thức, có những truyền thuyết về sự linh nghiệm của cô cô và nương nương
Hoạt động “tẩu thân” có một lộ trình tương đối, tham dự hoạt động này trong thôn có hơn 20 người Tập tục “tẩu thân” diễn ra hàng năm khiến người ta hết lần này tới lần khác ôn lại công lao khai sáng sự nghiệp vĩ đại
và công đức giáo hóa của tổ tiên, lại lần mỗi lần truyền nhau về truyền thuyết thần kỳ về Nghiêu Thuấn và việc Nga Hoàng, Nữ Anh là con của vua Nghiêu, là phi tử của vua Thuấn Trong trạng thái sống động của hệ thống truyền thuyết, người ta quan tâm chú ý đồng thời truyền giảng nhiều nhất là việc tham gia lễ hội của các thôn trong hoạt động “tẩu thân” và mối liên hệ ràng buộc chằng chịt giữa Nghiêu Thuấn và Nga Hoàng Nữ Anh Trong đó, truyền thuyết liên quan tới vườn cũ của vua Nghiêu “Dương Giải thôn” và đất cũ nhà vua Thuấn “Lịch Sơn” là được nhắc tới nhiều nhất
Dương Giải thôn là khởi nguồn của tập tục “tẩu thân”, có một truyền thuyết về tên gọi cùa thôn Dương Giải như sau đây: Thôn Dương Giải vốn
có tên là thôn Chu Phủ, sau này, có một con dê mẹ sinh được một con dê một sừng, không giống con nào trong bầy, có thể phân biệt được thiện ác, trung gian, khi gặp phải chuyện tranh chấp thì có thể dùng cái sừng duy nhất của mình để chỉ kẻ ác, nếu như kẻ ác khăng khăng không nhận, thì dùng cái sừng này của mình húc cho đến chết Có người đem việc này báo với Cao Dao là quan coi việc hình ân của vua Nghiêu, Cao Dao lại báo với vua Nghiêu Vua Nghiêu nghe được cả mừng, lệnh cho Cao Dao phái thị tòng chuẩn bị xe ngựa, đem vợ và con gái lớn là Nga Hoàng cùng tới thôn Chu Phủ thị sát Vua Nghiêu đến nơi, cầm roi chi vào con dê một sừng và nói
“quái đản”, con dê vốn bất kham là thế bỗng thuần phục về đứng trước mặt vua Vua Nghiêu cười lớn và nói: “Đúng là con thú mang điềm lành, thời nay mà xuất hiện con vật như thế thì thế nước ắt hưng thịnh, con vật này có linh tính, giỏi biện biệt trung gian, đặt tên là Giải Trãi” Lại đến địa phương sản sinh ra con Giải xem xét, phát hiện ở xung quanh là một thảm cỏ xanh tốt, duy chi có chỗ sinh ra con Giải thì một tấc cỏ cũng không mọc được, mưa thì không lội, tuyết rơi không ẩm Ngay vào lúc đó, phu nhân của vua Nghiêu chuyển dạ, hạ sinh người con gái thứ hai Người con gái này tên là
Nữ Anh, vừa lọt lòng xuống đất đã biết ngồi, ba ngày sau thì biết nói cười, năm ngày sau thì biết đi đứng, bẩy ngày sau đã biết làm mọi việc, một trăm
Trang 51 Truyền thuyết Nghiêu Thuấn, Nga Hoàng Nữ Anh và những
sư kiện liên quan tới nghi thức của truyền thuyết này tại Hồng
Động, Sơn Tây
Câu chuyện về gia đỉnh Nghiêu Thuấn và Nga Hoàng Nữ Anh lưu truyền trong văn hiến cũng như trong dân gian Trong Sừ ÁýstỉiEcó nhiều đoạn ghi chép về truyện này, nhưng đoạn mà cùng một lúc liên quan đến toàn bộ nội dung trên thì xem ở đoạn: “Thuấn là người Dực Châu Thuấn cày ruộng ờ Lịch Sơn, đánh cá ở Lôi Trạch, làm đồ gốm bên bờ sông Hoàng Hà, tạo đồ dùng ờ Thọ Khâu, buôn bán ờ Phụ Hạ Cha Thuấn là c ổ Tẩu thì ngu muội, em trai là Tượng thì ngạo mạn xấc xược, thảy đều muốn giết Thuấn Thuấn hành xử cung thuận, không trái đạo làm con, hữu ái với anh em, hiếu thuận với cha mẹ Khi cha mẹ muốn sát hại, thì tìm không thấy còn khi cần đến ngài thì ngài luôn ở bên
Khi Thuấn được 20 tuổi, danh tiếng hiếu thảo vang lừng khắp nơi Năm 30 tuổi, vua Nghiêu hỏi có thể nhường được thiên hạ cho ai, quan Tứ nhạc đều tiến cử Thuấn, (vua Nghiêu) nói: được Thế rồi đem hai người con gái gả cho Thuấn để xem xét đức hạnh trong việc hành xử trong gia đình, cho 9 người con trai cùng ờ để xem xét con người xã hội cùa ngài Thuấn ở
bên bờ sông Quy Nhuế, việc nhà rất mực cẩn trọng Hai người vợ của Thuấn không vì bản thân xuất thân cao quý mà lên mặt với thân thuộc của Thuấn, hết mực giữ đạo làm vợ, chín người con của Nghiêu càng thêm thành thực tin tưởng Thuấn cày ruộng ở Lịch Sơn, người Lịch Sơn đều nhường bờ; đánh cá ở Lôi Trạch, người Lôi Trạch đều nhường chỗ; làm đồ gốm ờ bờ sông Hoàng Hà, chỗ ấy không còn đồ thứ phẩm Chỗ Thuấn ở một năm quần
tụ dân cư, hai năm thành phố xá, ba năm trở thành thành thị Thấy vậy vua Nghiêu bèn ban cho Thuấn áo vải lụa thô, đàn cầm, xây cho kho lẫm, ban cho trâu dê c ổ Tẩu mới muốn sát hai ngài, sai Thuấn trèo cao dùng bùn trát lại nóc kho thóc, c ổ Tẩu đốt lửa từ dưới lên Thuấn dùng hai cải nón che thân giống như mọc ra đôi cảnh mà hạ xuống đất trốn đi, thế mới tránh được cái chết Sau này, c ổ Tẩu lại sai Thuấn đào giếng, khi Thuấn đào giếng đào một đường ngầm thông ra ngoài ở bên thành Khi Thuấn đào sâu xuống, c ổ Tẩu và Tượng cùng nhau san đất lấp giếng, Thuấn theo đường ngầm ra ngoài trốn đi Cổ Tẩu mừng lắm, cho rằng Thuấn đã chết1 Thuấn thờ cha kính
1 Theo nguyên văn của Ngũ đế bàn ki, chỗ này có thêm một đoạn như sau:
Nguyên văn chữ Hán ífeịỉí,:
Trang 61 2 0 Van h ó a t h ờ N ữ t h ấ n - MẴU ở V lỆ T NAM VÀ c h a u á
ngày sau thì trên thông thiên văn dưới tường địa lý, thực là một thần nữ Vua Nghiêu vui sướng khôn xiết, đất ấy từng sinh thần dương nay lại sinh ra thần
nữ, vì vậy mới đặt tên cho người con gái ấy là Nữ Anh, đổi tên thôn Chu Phủ thành thôn Dương Giải Vua Nghiêu lời khuyên của phu nhân, chuyển đến ờ
đó, từ ấy thôn Dương Giải trở thành quê hương thứ hai của vua Nghiêu, bởi
vì vua Nghiêu thi hành một nền chính trị nhân từ yêu dân như con nên thôn Dương Giải thảy đều gọi vua Nghiêu là cha, tôn xung hai vị công chúa con vua Nghiêu là cô cô
Tên thôn Dương Giải được dùng cho tới ngày nay, tại “Đường Nghiêu
cố viên”1 trong thôn Dương Giải có tượng “Giải”, người ta thậm chí còn cho rằng sờ vào thân tượng Giải có thể trị được bệnh, sờ vào bụng Giải có thể có thai Truyền thuyết này lưu truyền rất rộng rãi nơi đây, tuy nhiên trong quá trình kể chuyện vì người này người kia không giống nhau nên có lúc đầy đủ,
có lúc sơ sài không giống nhau, nhưng điểm chung là đều thể hiện tên gọi của thôn Giải Dương là sinh ra từ đó, và đều cho rằng Nga Hoàng, Nữ Anh
và vua Nghiêu vì đó mà từng sinh sống ờ nơi đây
Trong Địa danh tổ nguyên (Tìm về nguồn gốc địa danh) giải thích lai lịch của ba thôn “Khuyên Đầu2 (Đông, Nam, Tây)” là do vua Thuấn khi cày ruộng ờ Lịch Sơn đặt cho, đại để như sau: Sau khi Thuấn tới Lịch Sơn, trong lúc nông nhàn, mới dốc sức nuôi trâu nuôi dê, ngày qua tháng lại, trâu dê sinh sôi nảy nở, ngày càng đông đúc, sau khi thành hôn với Nga Hoàng và
Nữ Anh, vua Nghiêu lại tặng thêm cho rất nhiều trâu dê Như thế, trâu dê trở nên nhiều quá, vì vậy Thuấn mới đem rất nhiều trâu dê phân cho ba làng nhỏ xung quanh cắt đặt người chuyên nuôi dưỡng Ba làng nhỏ này mới đổi tên thành làng Khuyên Đầu Đông, Khuyên Đầu Tây Lại còn có truyền thuyết về
“Thương Viện lý”3 là nơi xưa kia vua Nghiêu ban chuồng trại, kho lẫm cho vua Thuấn Truyền thuyết về “Mã Địa lý” là nơi vua Thuấn chuyên dùng để nuôi dưỡng ngựa Điều này phù hợp với những ghi chép trong sách Sừ kỷ,
mục Ngũ để bản kỳ rằng: vua Thuấn “Chỗ Thuấn ờ một năm thì quần tụ (dân cư), hai năm thành ấp, ba năm thì thành đô thị Nghiêu ban cho Thuấn áo vải cát, ban cho đàn, lại xây kho lẫm cho, cấp cho ừâu dê” Nơi đây còn truyền lại truyền thuyết về “Niệm Thái câu” là nơi Nga Hoàng, Nữ Anh năm
1 Đường Nghiêu cố viên: Vườn cũ cùa vua Đường Nghiêu Chừ Đường ở đây là chỉ tên quốc gia thời vua Nghiêu trị vì Đường Nghiêu tức là vua Nghiêu, vua của Đường quốc (ND)
2 Khuyên Đầu: Nghĩa đen là cái chuồng nuôi gia súc.
3 Thương Viện lý: Thương Viện là cái kho, lý là làng Ở đây có thể hiểu nôm na là làng Kho
Trang 7xưa hái rau dại Còn có “giếng Thuấn”, “ruộng Thuấn”, “suối Nữ Anh” để chứng minh cho những “ngọn Thần tượng”, “đinh Bách điểu” 1 trong tích
“Tượng canh điểu vân”2
Những làng xóm trên con đường diễn ra hoạt động “tẩu thân” đều kính cẩn thành tín rằng con đường “tẩu thân” chính là con đường ngày xưa Nga Hoàng và Nữ Anh đi về nhà mẹ đẻ và nhà chồng sau khi hai nhà Nghiêu Thuấn kết mối nhân duyên, nguồn gốc tên các thôn như thôn Mã Câu, thôn
Xa Bức cho đến thôn Xích Kinh chính là minh chứng cho điều này: Truyền thuyết rằng thôn Mã Câu vốn được gọi là Vương gia trang, trorig thôn có cầu, hai bên cầu thì có lầu gác, khi hai vị Cô cô xuất giá (cũng có thuyết nói
là khi về nhà mẹ) thì Nga Hoàng cưỡi ngựa, Nữ Anh ngồi xe (cũng có thuyết nói là Nữ Anh cưỡi ngựa, Nga Hoàng ngồi xe) Trên đường đi, lúc vị cô cô cưỡi ngựa đi qua cầu ở Vương gia trang, con ngựa đang cưỡi là con ngựa mẹ (cũng có thuyết nói con ngựa đang cưỡi là con la, vì sinh ra con ngựa con mà làm chậm trễ thời gian, Vị cô cô hoặc có thuyết nói là vua Nghiêu nói
“không cho sinh ra lừa nữa”, thế là con la không sinh ra con lừa nữa) mà sinh ra một con ngựa con, sau đó Vương gia trang đổi tên thành thôn Mã Câu, vì ở đây có con sông chảy qua thôn, nên người ta mới căn cứ vào hai bờ Nam, Bắc cùa con sông để ranh giới tự nhiên chia thôn này thành hai thôn Nam Mã Câu và Bắc Mã Câu Vị cô cô ngồi xa đến thôn Xa Bức, vốn dĩ không gọi là thôn Xa Bức, nhưng vì tới đây thì trục xe bị gẫy nên phải dừng lại sửa, cho nên mới đổi tên thôn thành thôn Xa Bức Sau khi con ngựa hạ sinh ra ngựa con, vị cô cô cưỡi ngựa tiếp tục đi, nhưng vì con ngựa lúc mới sinh xong cần uống nước, nên con ngựa dùng vó đạp xuống đất khiến dòng nước vọt lên, chi sâu có hơn 30 cm mà cả đoàn tùy tùng uống đủ, sau này, người trong thôn cũng uống nước nơi đây, liền đặt tên là thôn Xích Tinh, nước giếng thấm nhuần một vùng, lượng nước dồi dào, mọc ra rất nhiều cỏ kinh điều màu đỏ, vì vậy sau này thôn mới đổi tên thành thôn Xích Kinh
1 Nguyên văn: Thần tượng lĩnh (ngọn Voi thần); Bách điểu phong (đinh Chăm loài chim).
2 Tượng canh điểu vânẼ-ỆịMiịĩ “Vãn tuyển Tả Tư <Ngô đô phũ>” có chép: “Tượng canh
điểu vân, thử chi tự dữ.” Lí Thiện chú, đẫn “Việt tuyệt thư” ràng: “Thuấn tử Thương Ngô, tượng vị chi canh; Vũ táng c ố i Kê, điểu vị chi vân (vua Thuấn băng hà ở đất Thương Ngô, voi thần vì ngài mà cày ruộng, vua Thuấn chôn ở đất c ố i Kê, chim chóc vl ngài mà nhặt cỏ)” sau dùng để hình dung dân tực cổ Ỵ>hác, có cái di phong của thời đại Thuấn Vũ Có cách giải thích khác rằng cày ruộng thì theo lề lối đi lại của loài voi, nhặt cỏ thl như động tác mổ thóc của chim.
Trang 8122 V ầ n hó a th ờ N ữ th á n - MẴU ở V lỆ T NAM VÀ CHẢU á
Trên con đường đi này có vô số phong cảnh, vật chứng chứng minh rằng Nghiêu Thuấn và hậu duệ của ngài chính là sinh sống trên một dải đất này Đội ngũ “tẩu thân” đến thôn Tân Trang muốn ăn bữa cơm gạo kê, đến thôn Bạch Thạch muốn ăn canh rau đắng Truyền thuyết như vậy là vì năm xưa khi vua Nghiêu đi tuần bốn phương, thi sát đời sống của bách tính, tuy là thiên tử cao quý nhưng cũng ăn cơm gạo tấm, húp canh rau đại Người sau vì muốn nối tiếp tinh thần chịu đựng gian khổ, giản dị gần dân của vua Nghiêu nên mới truyền lại phong tục ăn cơm gạo kê, húp canh rau đắng Một lão bà
73 tuổi ờ thôn Bạch Thạch kể rằng ngày xưa khi nương nương đi đường qua đây, lúc ấy nghèo lắm, nương nương cùng mọi người ăn rau đắng, vì vậy cho tới ngày nay mỗi khi rước nương nương đi qua đất này đều ăn rau đắng
Truyền thuyết và cuộc sống ứong dân gian hết thày cùng phong phú đa dạng, thánh hiền và bình dân đều cùng có cung cách như nhau Truyền thuyết Nga Hoàng Nữ Anh ‘'tranh lớn bé” cũng khiến người ta say sưa hứng thú Sau khi hai vị cô cô cùng được gả cho vua Nghiêu, cũng giống người thường tranh nhau lớn, bé, trải qua rất nhiều lần kiểm tra khó khăn (bao gồm nấu đậu, tết đế giày vân vân, ở trên nói về nguồn gốc tên gọi thôn Mã Câu cũng có liên quan tới cuộc phân bì này), Nữ Anh (cũng có thuyết nói là Nga Hoàng) giành phần thắng nhiều hơn Nhưng sau khi vua Thuấn nghe được chuyện này, rất lấy làm phiền lòng, chỉ trích Nữ Anh rất nặng nề Nữ Anh xấu hổ khôn cùng, không tiện cùng chị về nhà đẻ, nên (khi tế lễ) cần phải đặt
ở ngoài thôn, nơi miếu hai vị cô cô tạm nghỉ một đêm, đến ngày thứ hai mới được rước về
2 Ý nghĩa của việc truyền thuyết Nghiêu Thuấn, Nga Hoàng
Nữ Anh trở thành di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia
Hoạt động nghi lễ “đón cô cô, rước nương nương” được dần dần khôi phục vào những năm 80 của thế kỉ XX Nghi lễ tẩu thân được chia thành hai phần là “tam nguyệt tam tiếp cô cô” và “tứ nguyệt nhị thập bát tiếp nương nương” vốn được diễn ra một cách rất tự nhiên, đến hẹn lại lên tại khu vực hai bờ sông Phần, nhung từ giai đoạn cận đại cho tới nay hoạt động này đang đứng trước nguy cơ bị mất đi Chủ nghĩa thực chứng và khoa học, lí tính truyền vào Trung Quốc, không chi chiếm địa vị thống trị trong lĩnh cực hoạt động tri thức chuyên nghiệp mà còn thể hiện trong đời sống chính trị nước nhà và sinh hoạt xã hội ngày thường của dân chúng, điều này tạo nên bầu
Trang 9không khí tuyệt đối không hề thân thiện đổi với những truyền thuyết và nghi thức liên quan tới tín ngưỡng dân gian Học phái cổ sử biện1 trong phạm vi tri thức của ngành mình đã chỉ ra sự giả mạo của truyện kể về Nghiêu, Thuấn trong tín sử, điều này càng làm lay chuyển cơ sở tín ngưỡng của hoạt động nghi thức và truyền thuyết này Sau này, dưới sự đả kích bạo tàn cùa cách mạng xã hội chù nghĩa trong phong trào “tứ cựu” vào những đại diện điện hình như hoạt động này thì những hoạt động tương quan cũng bặt tiếng
im hơn Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với dự tính của những trí thức thời kì đó Tuy nhiên, trải qua ba mươi năm cải cách mờ cửa một cách vô tỉnh lại đem lại cơ hội phục sinh cho truyền thuyết lịch sử cổ đại và hoạt động lễ nghi tương quan Phát triển tới năm 2001 khi mà trào lưu vận động bảo hộ di sản phi vật thể, chúng càng khiến người ta kinh ngạc khi được thừa nhận là hình thái ý thức chủ đạo và văn hóa chủ lưu
Theo lời cụ Lý Bảo Ngọc ờ trấn Hàm Đình thì hoạt động nghi thức
“tẩu thân” khó có thể thường xuyên tổ chức trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật Lúc bấy giờ, có một tiểu đội lính Nhật đóng trại ở thôn Dương Giải Mỗi năm, đến đầu tháng 3, người trong thôn vì sợ lính Nhật cản trở hoạt động đón cô cô, mới bí mật tổ chức mấy người chấp sự chính là Diêm Cát Liên, Diêm Trường Thuận, Trương Thuân Nhân vân vân ba bốn người họp lại âm thầm ra khỏi thôn từ hai cửa bắc và nam, men theo đường đi đến tập trung ờ bãi sông Phần, Hà Tây, thắp hương lễ bái, sau đó đi đường bộ lên Lịch Sơn để đón cô cô
Một thời gian sau giải phỏng, dân thôn Dương Giải lại khua chiêng gõ trống, kết thành đội ngũ để tín thành tiến hành nghi thức đón cô cô như xưa Tuy nhiên, đến thời kì “Phản hữu2”, “Tứ thanh3”, “Văn cách4” về sau, hoạt
1 Cồ sử biện học phái còn gọi là c ổ sử biện phái, Nghi cổ phái Người sáng lập và cũng là đại diện tiêu biểu cho trường phái này là c ố Hiệt Cương và Tiền Huyền Đồng Đây là trường phái học thuật nghiên cứu lịch sử, kinh học xuất hiện từ sau cuộc vận động Tân văn hóa của Trung Quốc, có đặc trưng lớn nhất là “nghi cồ biện ngụy”, tổng cộng có 7 sách lớn được gọi là tập đại thành thành quả nghiên cứu của c ồ sử biện phái Trải qua 10 năm phát triển, tới sau cuộc vận động ngữ tứ, các sử gia cùng với c ố Hiệt Cương đã có nhiều cống
hiến trong việc nghiên cứu cổ sử, từ năm 1926 tới năm 1941, c ổ sứ biện xuất bản 7 quyển,
tập hợp 350 bài viết, 3.250.000 chữ.
2 Phàn hữu, cách gọi tắt cùa “Chinh phong, phản hữu vận đ ộ n g Ê K S Í i ì ễ ặ t l ” là cuộc vận động chính trị quy mô lớn có tính quần chúng chạm tới mọi giai tầng trong xã hội được Đàng cộng sản Trung Quốc phát động vào năm 1957 sau khi nước Cộng hòa Nhân dân
Trang 10124 Vân h ó a th ờ NữTHÁN - MÁU ở V iệ t NAM VÀ CHẢU Á
động đón rước cô cô của người thôn Dương Giải lại từ công khai đi vào bí mật Một số người dân làng đã tìm đủ mọi cách để bảo lưu hoạt động này, có người còn bị đẩy vào chốn lao tù Người nơi đây đều có thể nhớ lại vào khoảng năm 1970 có những ai những ai lén lút tới Lịch Sơn để đón cô cô Theo hồi ức của ông Vương Mãn Đẩu: năm 1971, chỉ có mình tôi nhận nhiệm vụ đón cô cô Diêm Tài Nhi nhờ tôi, nói tôi tuổi còn nhỏ, khó bị phát hiện Một mình tôi đạp xe, linh vị của cô cô được viết trên giấy vàng cuộn vào trong bụng Diêm Tài Nhi là anh em con chú con bác với Diêm Ngọc Phúc, từ trước giải phóng đã bắt đầu coi sóc việc đón cô cô rồi Trước mỗi lần xuất phát, chúng tôi đều bàn bạc kĩ lưỡng, nếu như trên đường gặp phải người hỏi, thì bảo là lên núi mua giống khoai lang, vì lúc đó mùa vụ đương hợp Ngày 3 tháng 3 thì đi, đạp xe khoảng mấy tiếng thì đến, hon 11 giờ thì vào đến miếu, phía bạn đã có người đợi tôi sẵn Mấy người cùng thắp hương
sì sụp khấn vái, người ờ Lịch Sơn viết xong bài vị cho cô cô thì đưa tôi gói lại Tôi lại đạp xe tới Vạn An, thắp hương ở nhà Dương Bách Phúc, phải căn
cứ theo đường cũ mà đi, không dám dừng lại, trong ngày hôm đó là về luôn
7 người trong đó có Tiết Đông Tài, Vương Khai Nguyên vào ngày 19 tháng 5 năm 1982 (tức là ngày 26 tháng 4 theo lịch âm) vì việc đón cô cô, bị người có hiềm khích cáo tố là truyền bá phong kiến, mê tín nên bị bắt, giam
15 ngày; Vương Văn Hóa, Tiết Hải Thủy, Trương Trung Nghĩa, Vương Khai Nguyên thì vào ngày 3 tháng 3 âm khi đón cô cô, vì đánh chiêng đánh trống, rước kiệu loan, cờ quạt nên bị cảnh sát địa phương trấn Cam Đình bắt giam 7 ngày Trước khi miếu thờ được sửa sang, người ta đến nền móng của miếu
để tiến hành nghi thức Năm 1987, vì có chính quyền trấn Cam Đình đứng ra
tổ chức hội nghị bí thư chi bộ các thôn tại Bắc Dương Giải, quyết định dựng
Trung Hoa được thành lập kéo dài tới năm 1958 Ban đầu là phong trào “chình phong vận động”, sau đó trong quá trình thực hiện lại nảy sinh “phản hựu vận động”, cái thử nhất là việc chỉnh đốn trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, cái sau kết quả chủ yếu là buộc cho một số lượng lớn cán bộ trong và ngoài đàng thân phận “phái hữu” “Phản hữu” không chi tái diễn việc tàn hại người đọc sách đa nhiều lần diễn ra trong lịch sử Trung Quốc (như kiểu “phần thư khanh Nho” thời Tần Thủy Hoàng, “văn tự Ngục” thời nhà Thanh) mà còn trở thành một dạng kiểu như “chinh đốn tư tưởng” (ND)
3 Tứ thanh: cách gọi tắt của Tứ thanh vận động dùng để chi cuộc vặn động giáo dac chủ nghĩa xã hội do chính phù Trung ương Trung Quốc phát động trên toàn quốc từ năm 1963 tới năm 1966 (ND)
4. Văn cách: cách gọi tắt của Văn hóa Đại cách mạng (5/1966 - 10/1976) do Mai Trạch Đông
phát động, bị hai tập đoàn phản cách mạng là Lâm Bưu và Giang Thanh lợi dụnị, đưa Trúng Quốc lâm vào một cuộc vận động chính trị tai học nghiêm trọng (ND)