Tín ngưỡng Thiên Hậu tại Trung Quốc trải qua gần 1000 năm lịch sử, tồn tại trong mối dung hòa với Đạo giáo, Phật giáo và quan hệ thỏa hiệp với Nho giáo, góp phần tạo nên diện mạo văn hóa
Trang 1VÃN Hón TftM LINH vft PHÁT TRIỀN: TÍN NGƯỠNG
THỜ THIỈN HÂU TAI NDM BÔ VIÍT NRM• • • •
Nguyễn Ngọc Thơ*
1 Nguồn gốc, quá trình phát triển và truyền bá đến Việt Nam
Tín ngưỡng Ma Tổ - Thiên Hậu (Mazu - Tianhou) hình thành tại đảo
Mi Châu, Phổ Điền, Phúc Kiến (Meizhou, Putian, Fujian) vào thời Tống ờ Trung Quốc Bà tên thật là Lâm Mặc Lin Mo) thường được gọi là Lâm Mặc Nương Lin Moniang), sinh ngày 23 tháng 3 năm 960, là một
nữ shaman nổi tiếng (Mã Thư Điền, Mã Thư Hiệp 2006: 8-10) Bà vốn là người Đản Dân (Tangka, còn gọi là Long nhân (^ÈAngười Rồng), Giao nhân ( t£ À ) - một nhánh hậu duệ người Mân Việt (ÍHÍỀ Minyue) cổ chuyên sống bằng nghề cá và trao đổi hàng hóa trên sông, biển
Thư tịch Trung Quốc Đại Thanh hội điển sự lệ, Bồ Tát ngoại truyện, các sách địa phương chí v.v có ghi chép: bà Lâm Mặc rất thông minh, tháo vát, giúp dân vượt hoạn nạn và dạy dân cách sống văn minh, thoát bệnh tật Một ngày nọ bà ngủ trưa, thấy cha và anh trai gặp bão biển, bà dùng năng lực đặc biệt cứu được anh trai Trong khi đang cố gắng cứu cha thì bà bị mẹ lay dậy nên không cứu được cha v ề sau bà thường dùng năng lực thần thánh của mình để cứu giúp dân, bao gồm dạy dân dùng rau rong biển cứu đói, cầu mưa, treo chiểu làm buồm, hàng phục hai thần Thuận Phong Nhĩ và
Lí Thiên Nhãn, giải trừ thủy tai - quái phong, thu phục nhị quái, chữa bệnh cứu dân, nhận bùa dưới giếng, thăng thiên ở đảo Mi Châu v.v (Phan Thị Hoa Lý 2010) Bà qua đời đời ngày 9 tháng 9 năm 987 ở tuổi 28 Người đời
* TS, K hoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Trang 2tin rằng bà là con gái Ngọc hoàng, ban đầu dân ờ đảo Mi Châu dựng miếu thờ bà, gọi là miếu Ma Tổ Tương truyền bà thường hiển linh cứu giúp người
đi biển nên dân gian ví bà là vị hải thần1 (Chu Thiên Thuận 1990: 86; Lý Lộ
Tổ m ẫ Mazu), người Quảng Đông gọi là Đức Bà hay Thiên Hậu.
Tín ngưỡng Thiên Hậu tại Trung Quốc trải qua gần 1000 năm lịch sử, tồn tại trong mối dung hòa với Đạo giáo, Phật giáo và quan hệ thỏa hiệp với Nho giáo, góp phần tạo nên diện mạo văn hóa Hoa Nam rất đặc sắc (La Xuân Vinh 2006) Song xét về bản chất, tục thờ này cơ bản vẫn là tín ngưỡng dân gian, mang đầy đủ các đặc trưng truyền thống của dòng văn hóa dân gian phương Nam gần gũi, giản dị Ở một phương diện nào đó, người Nam Trung Hoa dùng tín ngưỡng Thiên Hậu cùng với các tín ngưỡng thờ Mâu khác2 làm đối trọng với kiểu văn hóa quan phương “nam tôn nữ ti” phương Bắc (Nguyễn Ngọc Thơ 2011) Điều đó có nghĩa là, tín ngưỡng Thiên Hậu thấm đẫm các đặc trưng văn hóa phương Nam, đặc biệt và văn hóa Mân Nam - nơi sản sinh ra nó
Người Trung Quốc và Đài Loan thờ Thiên Hậu, coi bà là thủy-hải thần, là nữ thần hộ mệnh; nữ thần sinh sôi, nữ thần khai sơn V V , thi thoảng đồng nhất với Quan âm trong Phật giáo, Tây vương Thánh mẫu trong Đạo giáo, với Lâm Thủy phu nhân, Kim Hoa phu nhân trong tín ngưỡng thờ Mẩu vùng Hoa Nam
1 Có ghi trong Thiên Hậu chí, Lâm hiếu nữ sự thực, Thiên phi hiển thánh lục, Di Kiên Chí
2 N hư Long Mầu vùng trung lưu Tây Giang, Lâm Thủy phu nhân ở Phúc Kiến, Tiễn phu nhăn ở tây nam Quảng Đông.
Trang 36 6 2 Van h ó a th ờ NữTHÁN - MẪU ở V lỂT NAM VÀ CHÂU Á
Tín ngưỡng Thiên Hậu du nhập vào Nam Bộ Việt Nam theo dòng di dân người Hoa vào thời Minh - Thanh, đặc biệt là cuối Minh - đầu Thanh Đợt 1 vào khoảng thập niên 1660, có khoảng 7000 người Hoa Nam do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên (người Quảng Đông) dẫn đầu vào định cư tại Đồng Nai, Đề Ngạn (Chợ Lớn) và Mỹ Tho Đợt thứ 2 do Mạc Cửu dẫn đầu khai phá đất Hà Tiên, sau phát triển dần xuống bán đảo Cà Mau Từ cuối thể kỷ 17 cho đến đầu thế kỷ 20, nhiều dòng di dân người Hoa người tiếp tục đến vùng Nam Bộ, đặc biệt vào cuối thế kỷ 19, Việt Nam làm thuộc địa cùa Pháp, các hiệp ước Pháp - Thanh năm 1885 và 1886 đã mở ra nhiều cơ hội để người Hoa di dân đến Việt Nam Từ đó trở đi, đồng bào người Hoa đã chung sống chan hòa cùng các cộng đồng bản địa gồm Việt, Khmer và Chăm, cùng tạo dựng văn hóa Nam Bộ Hiện tại toàn Nam Bộ có khoảng 800.000 người dân tộc Hoa (2009), phân thành 5 nhóm hệ dần Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (còn gọi là Hẹ) Người Quảng Đông tập trung chủ yếu ở Tp Hồ Chí Minh, Đông Nam
Bộ và một số thành phố, thị xã lớn ờ Tây Nam Bộ; người Triều Châu cư trú nhiều nhất ờ bán đảo Cà Mau (Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau); người Phúc Kiến sinh sống rải rác ờ hai bên sông Tiền, sông Hậu và khu vực Bình Dương, Đồng Nai; người Hải Nam và người Khách Gia định cư rải rác khắp vùng miền Ban đầu cả 5 hệ dân cùng phối họp nhau dựng các Thất phủ cổ miếu (Cù lao Phố, Tp Hồ Chí Minh, Mỹ Tho, Vĩnh Long v.v.) chủ yếu thờ Thiên Hậu, Quan Công, nhưng sau từng nhóm tách riêng tự xây cất các miếu cho riêng mình
Trên đường đi biển, họ thường cầu nguyện Bà hiển linh hỗ trợ Khi định cư được bình an tại vùng Nam Bộ, di jdân lập miếu trang trọng thờ Bà, ngưỡng vọng và thờ tự Bà với tấm lòng biết ơn đã giúp đỡ họ được “thuận buồm xuôi giô”. Theo dòng di dân đến khắp nơi ở Nam Bộ, miếu Thiên Hậu cũng được dựng lên v ề sau, người Hoa còn thờ Bà thêm chức năng bảo an, ban phát phúc lộc, thịnh vượng, đặc biệt là hộ mệnh cho trẻ sơ sinh (Trần Hồng Liên 2005) Chính vì thế rải rác ở các thị tứ, thị trấn, thành phố tại vùng đất Nam Bộ đều có miếu Thiên Hậu với nhiều tên gọi Chùa Bà, Chùa Thiên Hậu, Thiên Hậu Cung hay miếu Thiên Hậu Vùng Bạc Liêu, Cà Mau còn gọi Thiên Hậu là Mã Châu ( ặ ilâ Mazu), do vậy miếu Thiên Hậu còn gọi là Chùa Bà Mã Châu ịSịlẵicTp (tư liệu điền dã 2011) Vùng Sóc Trăng cũng gọi là Ma Tổ, phong cách tác tượng thờ mang nét ảnh hưởng từ Macau
và Đài Loan, Ma Tổ gương mặt đen với tay cầm lệnh bài đưa ngang vai (Trần Hồng Liên 2006)
Trang 4Nam Bộ là một trong sáu vùng văn hóa của cả nước (Tây Bắc, Việt Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, ven biển Trung Bộ, Trường Sơn-Tây Nguyên và Nam Bộ), có thể chia tiếp thành hai tiểu vùng gồm vùng Đông Nam Bộ (Tp
Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu) với kiểu loại hình kinh tế - văn hóa lấy rừng cao su, cây công nghiệp và lối sống đô thị - thương mại làm trọng tâm; và tiểu vùng Tây Nam
Bộ (gồm 13 tỉnh thành đồng bằng Sông Cửu Long là Tp cần Thơ Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau) với các đặc trưng lối sống sông nước, lấy kinh tế nông nghiệp lúa nước và nghề nuôi trồng thủy hải sản làm chủ đạo
Nam Bộ Việt Nam là nơi tập trung đồng bào người Hoa đông đảo nhất (chiếm gần 90% tổng số người Hoa), và do vậy đây là nơi có sổ miếu Thiên Hậu đông đúc nhất cả nước Hầu hết các miếu tại đây được xây từ thế kỷ 18 đến giữa thế kỳ 19, đúng vào cao trào di cư Dưới đây là bảng tổng kết số các miếu Thiên Hậu tại các địa phương Nam Bộ1:
2 Hiện trạng tín ngưỡng Thiên Hậu tại Nam Bộ Việt Nam
Miếu Bà Ngũ Bang Tp Vũng Tàu
3 Đồng Nai 2 Miếu Cây Quăn (Bửu Long, Biên Hòa),
Miếu Thiên Hậu Hòa Bình (Hòa Bình, Biên Hòa)
1 số liệu thống kế đến ngày 30/4/2012.
Trang 5664 Van hóa th ờ N ữ th ắn - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHẢU Á
6 Tp Hồ Chí
Minh
13
Miếu Tuệ Thành (710 Nguyễn Trãi, Q.5),
Ôn Lăng (12 Lão Tử, Quận 5),
Hà Chương (802 Nguyễn Trãi Quận 5),Quỳnh Phủ (276 Trần Hưng Đạo Quận 5),Tam Sơn hội quán (116 Triệu Quang Phục Quận 5),
Quần Tân hội quán (2 Lý Thường Kiệt,
Gò Vấp),Miếu Thiên Hậu hội quán Quảng Triệu (132 Nguyễn T Minh Khai Q.3),
Miếu Xóm Chiếu (Q 4),Hội quán Quảng Triệu (122 Bến Chương Dương cũ, nay là Đại lộ Đông Tây, Q 1),miếu Thiên Hậu Chợ Quán,
miếu Thiên Hậu số 21 Lê Trực (Bình Thạnh),miếu Thiên Hậu cần Thạnh (Cần Giờ),chùa Bà Thiên Hậu Trung Đông (Thới Tam Thôn, Hóc Môn)
Miếu Thiên Hậu Mỹ Tho Miếu Thiên Hậu Cai Lậy Miếu Thiên Hậu Cái Bè (hiện bỏ hoang)
Trang 69 Đồng Tháp 2 miếu Thiên Hậu Phúc Kiến (Sa Đéc)
miếu Thiên Hậu Quảng Đông (Sa Đéc)
10 Bến Tre • A r p l « A I I A /^1 • A r r t A
miêu Thiên Hậu Giông Trôm, miếu Thiên Hậu Ba Tri, miếu Thiên Hậu Tp Bến Tre
11 Vĩnh Long 2 Thất phủ cổ miếu Vĩnh Long
Miếu Thiên Hậu Ba Càng
Phước Minh cung (Tp Trà Vinh)Miếu Thiên Hậu Phong Phú (Cầu Kè), Miếu Thiên Hậu Hiệp Hòa (Cầu Ngang)
13 An Giang 2 miếu Thiên Hậu Khách Gia
miếu Thiên Hậu Vĩnh Mỹ (Châu Đốc)
14 Kiên Giang 3
Miếu Thiên Hậu Rạch Giá Thiên Hậu Cung Rạch Giá Miếu Thiên Hậu Hà Tiên
Hội quán Quảng Triệu tại Ninh Kiều, Miếu Thiên Hậu Cái Răng,
Miếu Thiên Hậu Ô Môn
16 Hậu Giang 0 chưa thống kê
Miếu Thiên Hậu Tp sỏc Trăng, Miếu Thiên Hậu TX Vĩnh Châu, Hải Phước An Tự (Vĩnh Châu), Miếu Thiên Hậu Mỹ Xuyên, Chùa Bà An Hiệp (Châu Thành)
Vĩnh Triều Minh hội quán (Tp Bạc Liêu), Miếu Thiên Hậu Vĩnh Trạch (Tp Bạc Liêu), Miếu Thiên Hậu Gành Hào (Gành Hào)Miếu Thiên Hậu Triều Châu (P.2, Tp Cà Mau), Miếu Thiên Hậu Phúc Lãnh (Tp Cà Mau),
Trang 76 6 6 Van hóa th ờ N ữ thần - MẪU ở V iệ t NAM VÀ CHÂU Á
Tam Hưng cổ miếu (ngoại vi Tp Cà Mau), Miếu Thiên Hậu Sông Đốc (Trần Văn Thời), Miếu Miếu Thiên Hậu xã Phú Hưng (Cái Nước) Miếu Thiên Hậu thị trấn Thới Bình (Thới Bình)
Có thể thấy có hai khu vực tập trung miếu Thiên Hậu đông đảo nhất,
đó là vùng đô thị Đông Nam Bộ (Tp Hồ Chí Minh - Thủ Dầu Một - Biên Hoa) của nhóm người Hoa gốc Quảng Đông; và hai là vùng bán đảo Cà Mau
do nhóm người Hoa gốc Triều Châu và Phúc Kiến xây dựng
Đối với đồng bào người Hoa, miếu Thiên Hậu được coi là “ngôi nhà chung”, do vậy miếu thường được xây dựng bề thế, ừang trí công phu Nói
về các hội quán Hà Chương, Ôn Lăng của người Phúc Kiến, nhà thơ Nguyễn Liêm Phong trong Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca (1909) đề thơ:
Hà Chương Hội quán ai bì
Ôn Lăng thất phủ hạng nhì, hạng ba.
Các chùa còn lắm xa hoa,
Thở ông Phước Đức, thờ bà Thai Sanh.
Thiên hậu thánh mầu rất linh,
Quan công thánh đế lịch xinh tượng hình
Tại hầu hết các miếu Thiên Hậu ngoài đối tượng được thờ ở chính điện thì người ta còn phối thờ nhiều vị thần khác Chẳng hạn tại miếu Tuệ Thành (710 Nguyễn Trãi, Q.5 Tp Hồ Chí Minh) ngoài chính điện thờ 3 tượng Thiên Hậu1, hai bên tả hữu thờ Kim Hoa phu nhân2 và Long mẫu nương nương3
1 tượng nhỏ cung nghênh đi diễu hành ngày vía Bà 23 tháng ba, tượng trung cung ngênh bà thưởng ngoạn các hoạt động văn hóa - nghệ thuật.
2 Nữ thần bảo trợ việc sinh đẻ.
3 Long Mầu tên thật là ô n Long Cơ ( S á è ® ) , người gốc Âu Việt, quê quán Đằng Huyện, Quảng Tây Bố mẹ chầng may bị lũ cuốn trôi, duy chỉ có Long Mầu được lão đánh cá vùng Duyệt Thành (Triệu Khánh, Quảng Đông) tên là Lương Tam Cồng cửu sống từ một chiếc thuyền thúng trôi giữa dòng sông Long Cơ sắc xảo thông minh, nhờ nuôi 5 con rồng con nên được gọi là Long Mầu v ề sau, bà hợp nhất 5 bộ lạc Âu Việt vùng trung và thượng lưu sồng Tây Giang chống quân Tần Sau khi qua đời, bà được suy tôn thành nữ thần cai quản dòng Tây Giang và vùng đất rộng lớn thuộc thượng và trung lưu sông Tây
Trang 8Miếu Thiên Hậu tại đường Trần Hưng Đạo, TX Tây Ninh cũng phối thờ như vậy Miếu Thiên Hậu Bình Dương thờ Thiên Hậu, Ngũ hành nương nương và Phúc Đức chính thần Miếu Thiên Hậu tại Tp Vĩnh Long thì thờ Thiên Hậu và Kim Hoa phu nhân Ở miếu Ông Lăng (12 Lão Tử, Quận 5,
Tp Hồ Chí Minh), ngoài thờ Thiên Hậu Thánh mẫu còn thờ Phước Đức chính thần, bà chúa Thai sanh, Ngọc hoàng thượng đế, phật Quan âm (Guanyin M i ỉ), Bao Công (Bao Gong /ẼÌ-£), Thành hoàng (Cheng Huang shen tìcPâệệ) Tại Hội quán Quảng Triệu (122 Bến Chương Dương) ngoài Thiên Hậu còn thờ thêm 22 đối tượng khác1 Ngoài ra, ờ một số miếu thờ Quan Công hay Bắc Đế cũng có phối thờ bà Thiên Hậu, chẳng hạn tại miếu Ông Bắc (thờ Bắc Đế) và miếu Quan Công ở thành phố Long Xuyên, tinh
An Giang (tư liệu thực tế 2012)
Tại tiểu vùng Tây Nam Bộ có hiện tượng người dân (kể cả người Hoa
và người Việt) thờ Thiên Hậu ở gia đình, chẳng hạn tại thị xã Vĩnh Châu (Sóc Trăng), một số cư dân địa phương phối thờ Thiên Hậu Thánh mẫu cùng với tổ tiên gia đình Ngoài ra, trong một số cơ sở tín ngưỡng thờ các vị thần khác nhưng vẫn phối thờ Thiên Hậu, chẳng hạn tại Hội quán Nghĩa An (đường Nguyễn Trãi, F 11, Q 5, Tp Hồ Chí Minh) ngoài thờ chính là Quan Công còn thờ Thiên Hậu
Hầu hết các miếu Thiên Hậu đều mở hội vía bà trong tháng ba, lễ vía chính thường diễn ra trong hai ngày 22 và 23 tháng ba âm lịch Ngày 22 người ta tổ chức lễ mộc dục Bathing) để tắm tượng, thay xiêm y mới
và chuẩn bị các công tác cần thiết cho đại lễ ngày hôm sau Ngày 23 tháng
ba, mọi người tổ chức lễ rước bà, thỉnh tượng vào kiệu và cung nghinh kiệu
đi quanh phố phường Người giàu mua heo quay, bộ đồ lễ, đồ nữa ừang bằng kim loại dâng cúng Người nghèo hơn thì cúng gà và trái cây Ngày 23 tháng
ba thường có hát Triều hát Quảng -íặ^ỉhay biểu diễn Côn Khúc H t ì
Giang Cũng có thuyết cho rằng Long Mầu là hlnh ảnh vua Dịch Hu Tống (ŨHĨ5Ỉ?) - lãnh
tụ chống quân Tần thất bại năm 218 TCN, đă “nữ thần hóa” theo truyền thống Âu Việt (Trần Thiệu Cơ 2004; Trần Trạch Hoàng 2007: 379-388; Hoàng V ĩT ông 2004: 10-11).
1 Gồm 1 Kim Hoa nương nương; 2 Thiên Địa phụ mẫu; 3 Văn Xương; 4 Tề Thiên Đại Thánh; 5 Hoa Ông - Hoa Bà; 6 Thanh Long; 7 Thái Tuế; 8 Bào Thọ; 9 Quan Thánh; 10 Long Mẫu nương nương; 11 Bắc Đế; 12 Quan Âm; 13 Bạch Vô Thượng; 14 Thần Nông; 15 Bạch Hổ; 16 Ngọc Hoàng; 17 Bao Công; 18 Tài Bạch Tinh Quân (Thần Tài);
19 Thiên Quan Tứ Phước (ông Thiên); 20 Phúc Đức Chánh Thần (Thồ Địa); 21 Môn quan Vương Tả (Quan gác cửa); 22 Cửu Thiên Huyền nữ.
Trang 96 6 8 Văn hởa th ờ Nữ thán - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHẢU Á
Riêng miếu Tuệ Thành (Tp Hồ Chí Minh) ngày 28 tháng chạp hằng năm có thêm lễ khai ấn và phát ấn cho dân để cầu mong “quốc thái dân an
“như ý cát tường “hợp gia bình an v.v.(Trần Hồng Liên 2005) Người Hoa và người Việt có tục “vay tiền” bà Thiên Hậu vào ngày rằm tháng Giêng (tết Nguyên tiêu ờ người Hoa, tết Thượng nguyên ở người Việt) và “trả tiền vay” vào các tháng cuối năm
Trong lễ hội người Hoa trước đây tổ chức rất nhiều nghi thức, trong đó không thể thiếu nghi thức cung nghinh Thánh mẫu dạo phổ phường1 Đa số các miếu tổ chức múa lân - múa rồng cung nghênh Đặc biệt tại miếu Thiên Hậu Bình Dương, người Hoa Phúc Kiến có tổ chức múa hấu. Đây là nét văn hóa độc đáo duy chì có ở Bình Dương, trong khi đó ở Hoa Nam người ta không còn múa hẩu nữa Đầu con hẩu là một chiếc mặt nạ tròn rất hung tợn, được vẽ nhiều màu sắc, quanh đầu râu ria xồm xàm, thân phủ một tấm vải màu vàng rực, đuôi thường làm bằng đuôi trâu hoặc bò Múa hẩu khác với múa lân, hay múa rồng, không được trèo leo hay nhún nhảy vui nhộn, mà phải nghiêm trang, đầu rướn lên cao, xoay mặt qua lại, lúc thì co lượn, trườn dài, lăn tròn xuống đất Khi tổ chức rước Thiên Hậu du xuân, múa hau đi trước đê dọn đường (Lý Phát, Đỗ Tiến: www.sugia.vn)
Múa hấu ở Bình Dương
Xét theo chiều dài lịch sử, tín ngưỡng Thiên Hậu có mặt tại Nam Bộ Việt Nam đã 300 năm nay, song chỉ khoảng hai thập niên cuối thế kỷ 20 và
1 Hiện nay Tp Hồ Chí Minh không còn lệ này do đường phố chật hẹp, người đông đúc.
Trang 10những năm đầu thế kỷ XXI này thì mối quan hệ giao lưu văn hóa Hoa - Việt thể hiện qua tục thờ này mới phát triển đến đỉnh cao Suốt thời Nguyễn, thời Pháp thuộc và thời chống Mỹ, tín ngưỡng Thiên Hậu tồn tại âm thầm trong cộng đồng người Hoa, tuy người Việt có tham gia các hoạt động cúng bái song không mang tính chất hệ thống Kể từ sau khi đất nước cải cách mờ cửa, nền kinh tế thị trường đã làm cuộc sống cư dân Nam Bộ đổi thay, tiến
bộ thì người Việt tại đây bắt đầu tiếp ohận nhiều hơn và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Vào các dịp tết Xuân, Rằm tháng Giêng, Lễ vía bà tháng 3, Rằm tháng 7, Rằm tháng 10 V V , rất nhiều người Việt theo nhiều tôn giáo khác nhau tham gia viếng Bà hay “vay tiền”
Bà Có thể nói, hiện rất khó có thể phân biệt tách bạch sắc thái Hoa và Việt qua các hoạt động lễ hội bởi sự dung hợp hài hòa sâu sắc giữa hai dòng văn hóa này Qua bước đầu khảo cứu, chúng tôi cho rằng hiện tượng tham gia ngày càng sâu sắc hơn của cộng đồng người Việt trong tín ngưỡng Thiên Hậu tại Nam Bộ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có:
(1) Truyền thống thờ nữ thần vốn rất phổ biến trong văn hóa Việt tạo tiền đề để người Việt dễ dàng tiếp nhận tục thờ Thiên Hậu khi phù họp (giống như trường hợp tích hợp văn hoá Việt-Chăm-Khmer trong các tục thờ Linh Sơn Thánh Mầu (Bà Đen) và Bà Chúa Xứ tại Nam Bộ);
(2) Qua gần 300 năm tồn tại, người Việt thường chỉ nghĩ rằng Thiên Hậu là một vị phúc thần, vị thánh mẫu ban phát phúc lành, thịnh vượng, sung túc hơn là một vị hải thần1; và do vậy việc tiếp nhận tục thờ hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng đời sống văn hóa tâm linh;
(3) Truyền thống đa thần cùa người Việt cùng với tính cách mờ - thoáng của người Việt Nam Bộ đã giúp họ sẵn sàng đón nhận một vị nữ thần mới;(4) Một bộ phận người Hoa ở đô thị làm thương mại, dịch vụ trở nên giàu có, nhiều người Việt cho rằng Thiên Hậu Thánh mẫu đã ban phúc lành
ấy, do vậy một bộ phận người Việt có xu hướng tiếp nhận phong cách văn hóa tín ngưỡng của người Hoa;
(5) Sau chiến tranh, văn hóa người Hoa hội nhập sâu rộng hơn vào dòng văn hóa chủ lưu của người Việt tại Nam Bộ
1 Tròn thực tế, người Hoa định cư chú yếu ở thị trấn, thị xă, thành phố, miếu Thiên Hậu thường xây giữa phố phường nên trong tâm thức người Việt Thiên Hậu là phúc thần chứ hoàn toàn không gắn liền với chức năng hàng hái.
Trang 11670 Văn hóa th ờ Nữ thắn - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHÂU Á
(6) Có hiện tượng người Việt tiếp nhận Thiên Hậu qua lăng kính của Phật giáo, tức coi Thiên Hậu là/hoặc tương đương một vị Phật bà hay Bồ tát
3 Đặc trưng văn hóa tín ngưỡng Thiên Hậu tại Nam Bộ Việt Nam
a Nam Bộ là một vùng văn hóa đa tộc người, đa văn hóa chung sống chan hòa, giữa các tộc người có sự giao thoa văn hóa sâu rộng, tuy nhiên mỗi tộc người đều mang những nét đặc trưng mang tính bản sắc riêng biệt Ngoài người Việt là chủ thể văn hóa chính thì người Khmer có thể kể đến hệ thống văn hóa, phong tục - tập quán xoay quanh Phật giáo Nam Tông (Theravada Buddhism), người Chăm với Islam và người Hoa với hệ thống tín ngưỡng thờ Thiên Hậu và Quan Công1 Ở một chừng mực nhất định, đó là những sự lựa chọn văn hóa (cultural selection) có tính lịch sử cùa người Hoa
Thật vậy, tín ngưỡng thờ Thiên Hậu là một trong những hạt nhân phản ánh bản sắc văn hóa Hoa tộc trong đại gia đình văn hóa Nam Bộ Nhắc đến người Hoa, người ta nhắc đến Bà Thiên Hậu, ngược lại khi nhắc đến Bà Thiên Hậu người ta nói đến người Hoa Trường họp Quan Công thì khác biệt, bời lẽ trong truyền thống văn hóa người Việt trong hơn một ngàn năm qua đã có tục thờ Quan Công, tục thờ này theo chân lưu dân người Việt vào đất Nam Bộ
Cộng đồng người Hoa mượn tục thờ Thiên Hậu để thực hiện chức năng giáo dục truyền thống, định hướng cộng đồng mình về nhân cách, đạo đức sống cao đẹp Thông qua tín ngưỡng này, người Hoa gìn giữ đặc trưng văn hóa tộc người mình, nhất là các yểu tố thuần phong mỵ tục của đồng bào người Hoa Trong tục thờ này có thể thấy người ta tế lễ theo nghi thức Nho giáo, người tế lễ mặc trang phục chỉnh tề, có phân cao thấp tôn ti Ngoài một
số ít hỉnh thức bản địa hóa thì hầu hết các bước tiến hành vẫn giữ nguyên sắc thái có từ Nam Trung Hoa Thông qua các hoạt động tín ngưỡng, người Hoa còn lưu giữ nhiều loại hình vãn hóa phi vật thể như diễn xướng, ca múa dân gian, múa lân - sư - rồng, múa hẩu, các loại hình thể thao giải trí V.V Các cơ
sở tín ngưỡng như miếu, đình với phong cách kiến trúc truyền thống đặc sắc
đã góp phần giáo dục các thế hệ trẻ nguồn gốc văn hóa tộc người minh
1 T ín ngưỡng thờ Thiên Hậu nổi bật nhất ở cộng đồng người Hoa Quảng Đông, Triều Châu
và Hải Nam; trong khi tín ngưỡng thờ Quan Công nồi trội ở người Hoa Phúc Kiến và Khách Gia.