1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự hỗn dung và tiếp biến văn hóa trong đạo mẫu việt nam trường hợp mẫu thoải

16 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong ba nữ thần quan trọng nhất còn gọi là Tam toà Thánh Mầu: Mầu Thượng Thiên, Mầu Thượng Ngàn, Mầu Thoải của tín ngưỡng thờ Mầu Việt Nam thì dường như mới chỉ Mau Thượng Thiên Mẩu Liễ

Trang 1

sự HỖN DUNG vn Tiếp BI€N VĂN HOÓ TRONG ĐẠO MẨU VlệT NAM: TRƯỜNG HỢP Mnu THOẢI• • *

Nguyễn Thanh Tùng

1 Mở đầu

Nếu ai từng quan tâm đến tín ngưỡng thờ Mầu (nữ thần) ở Việt Nam, chỉ cần sâu sát một chút, thường không khó nhận ra sự hỗn dung và tiếp biến văn hoá đậm đặc trong tín ngưỡng này Vì vậy, cách đặt vấn đề của chúng tôi không hẳn quá mới lạ Tuy nhiên, tính chất, mức độ hỗn dung và tiếp biến văn hoá trong từng trường hợp cụ thể như thế nào vẫn là những câu hỏi cần có lời giải đáp thoả đáng Một khi chưa giải quyểt được thấu đáo những trường hợp cụ thể như thế thì chưa thể nói đến những vấn đề có tính phổ quát, cốt lõi như là “bản sắc” hay “giá trị”, v.v của tín ngưỡng thờ Mau (nữ thần) ờ Việt Nam cũng như ở Châu Á Trong ba nữ thần quan trọng nhất (còn gọi là Tam toà Thánh Mầu: Mầu Thượng Thiên, Mầu Thượng Ngàn, Mầu Thoải) của tín ngưỡng thờ Mầu Việt Nam thì dường như mới chỉ Mau Thượng Thiên (Mẩu Liễu) là nhận được sự lưu tâm nghiên cứu rất sâu của các nhà nghiên cứu theo hướng này1 Các trường họp còn lại chưa nhận được

* Khoa Ngừ vỉn, Đại học Sư phạm Hà Nội

1 Có thể liệt kê ở đây các công trình gần đây như: Olga Dror (2002) Vân Cát thần nữ truyện

của Đoàn Thị Điểm: truyện giải phóng phụ nừ, Lê Thị Huệ dịch từ nguồn: Olga Dror,

“Doan thi Diem's 'Story o f the Van Cat Goddess' as a story o f emancipation” JournaI o f

Southesat Asian Studies, 33 (1), pp.63-76; Trần Thị Băng Thanh, Bùi Thiên Thai, 2006, Moi liên hệ giữa Truyền kỳ tân pha và lễ hội dân gian, Hội thảo Quôc tế Văn học Việt

Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế (Tiếu ban 4); Ngô Đức Thịnh

^2010), Đạo Mầu Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, tr.69-70; http://www vienvanhoc.org vn/reader/?id=62&menu=109http://wwvv vienvanhoc.org vn/re

ader/?id=62&menu=109; Bùi Thiên Thai (2011); Vãn Cát thần nữ truyện cùa Đoàn Thị

Điểm - Mối quan hệ giừa tiểu thuyết truyền kì Việt Nam và vãn hóa dân gian Việt Nam, Luận án Tiến sĩ bảo vệ tại Viện Văn học Thiều số (Viện KHXH Trung Quốc);v.v

Trang 2

sự lưu tâm thích đáng Với nhận thức đó, bài viết của chúng tôi chọn phân tích sự hỗn dung và tiếp biển văn hoá trong hình tượng Mầu Thoải - một trong những hình tượng tiêu biểu của của Đạo Mầu Việt Nam - nhằm phát hiện thêm những quy luật, cơ chế hình thành và phát triển của tín ngưỡng này trong đời sống tinh thần, tâm linh của dân tộc trong bối cảnh giao lưu văn hoá khu vực và quốc tế Ngoài ra, mỗi hiện tượng cụ thể cũng cần được tiếp cận, giải mã thấu đáo để làm sâu sắc hơn hiểu biết của chúng ta về tín ngưỡng này Mầu Thoải là một trường hợp như vậy

2 Nội dung

2.1 Sưu tầm các truyện tích về Mẩu Thoải

Cho đến nay, theo khảo sát của chúng tôi dựa trên các công trình điền

dã, sưu tầm, khảo luận của các nhà nghiên cứu, truyện tích về Mau Thoải có khá nhiều “thuyết” nằm rải rác trong nhiều bản thần tích, bản kể ở các địa phương khác nhau trong cả nước (chủ yếu là ở miền Bắc và miền Trung) Tựu trung có thể quy vào 5 “thuyết” sau đây:

Thuyết thứ nhất (truyền thuyết lưu hành trong dân gian) có thể được tóm tắt như sau: Mầu Thoải vốn là con gái út của Bắc Hải Long vương (có dị bản nói bà là công chúa, con gái út vua Thuỷ Tề ở Long cung, chuyên cai quản các tiên nữ chốn thuỷ phủ) Một lần, nàng rẽ nước lên trần dạo chơi, say sưa đến nỗi quên về Vua cha tức giận sai đóng cửa biển ngăn đường không cho nàng trở lại thuỷ phủ Nàng công chúa phải đầu thai thành người con gái ở trần gian là cô bé Thoại, rồi được phong là công chúa (công chúa Thoại), dần dần tu nhân tích đức cuối cùng trở thành Mầu Thoại, người mẹ của người dân miền sông nước, cứu vớt họ khi hoạn nạn, giúp cứu hạn, trị thuỷ, mang lại nguồn lộc dồi dào cho dân chúng! Sơ đồ biến hoá của Mẩu Thoại như sau: con gái út Bắc Hải Long vương > cô bé Thoại > công chúa Thoại > Đệ tam Thánh Mầu (Mẩu Thoại)1 Với diễn biến truyện tích như vậy, chúng tôi tạm gọi đây là thuyết “công chúa Thoại” Tuy nhiên, chủng tôi chưa tìm thấy nguồn dẫn (thần tích, bản kể) đáng tin cậy nào cho thuyết này Mặt khác, khi so sánh, chúng tôi nhận thấy thuyết này khá giống với các truyện tích về cô Ba Thoại (tức cô Bơ) phổ biến ở một số nơi (chẳng hạn đền

cô Ba Bông ờ Hà Trung, Thanh Hoá) Nhưng sự tương đồng các tích truyện trong Đạo Mau hay trong văn học, văn hoá dân gian là một hiện tượng

1 Theo Bách khoa mở vi.wikipedia.org.

Trang 3

484 Văn h ó a th ờ Nữ th ầ n - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHẰU Á

thường thấy Bởi vậy, tạm thời, trong tình hình tư liệu hiện nay, chúng tôi vẫn xem nó như một thuyết độc lập, nhưng “tồn nghi” chờ tra cứu thêm mà không đưa vào diện phân tích

Thuyết thứ hai (thần tích đình làng Viêm Xá, xã Hoà Long, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, ) kể đại lược rằng: Mầu Thoải vốn có tính chất lưỡng tính (với nghĩa: là phụ nữ nhưng được Ngọc Hoàng Thượng đế ban tặng cho sức mạnh, tài năng như của nam giới) Vì thế, trong sắc phong, bà

có tên hiệu là “Nhữ Nương Nam Nữ Nam Hải Đại vương” Vì âm tính, nữ tính trong bà vẫn là chủ đạo, nên Mầu Thoải chấp nhận làm vợ vua Thuỷ Te, tức Hoàng hậu dưới Thuỷ cung Hai ông bà có sự phân chia chức năng như sau: Vua Thuỷ Tề cai quản việc ngoài biển (Nam Hải - tức biển Đông), còn Mau Thoải cai quản việc ở các dòng sông, trị thuỷ, trị hạn, cứu giúp người bị nạn sông nước1 Chúng tôi tạm gọi đây là thuyết “Nhữ Nương”

Thuyết thứ ba (thần tích đền Thuỷ tộc Long Vương - đền Choá, xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; thần tích đền Nua, huyện Hà Trung, tinh Thanh Hoá;v.v ) kể rằng: Mẩu Thoải là “tam vị nhất thể”, tức

là gồm ba vị chứ không phải một (Thuỷ Tinh Động Đình Ngọc Nữ công chúa; Hoàng Hà Đoan/Đan Khiết phu nhân; Tam Giang công chúa) con gái cùa Lạc Long Quân và Âu Cơ (trong 100 đứa con sinh ra trong bọc, cụ thể hơn là trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ xuống biển) Ba bà được giao cai quản việc sông nước nước Nam, đóng dinh ở sông Nguyệt Đức (nay thuộc tinh Bắc Ninh) Các bác đã giúp vua chúa hoặc các tướng lĩnh đi đánh giặc, dẹp loạn, 2 Chúng tôi tạm gọi đây là thuyết “ba vị công chúa”

Thuyết thứ tư (thần tích ờ đền Giùm, huyện Yên Sơn, tinh Tuyên Quang) lược kể rằng: Mẩu Thoải vốn là Long nữ, con gái Long vương ở hồ Động Đình Long nữ kết hôn với Kinh Xuyên (con trai vua Đất) Nhung Kinh Xuyên vương mê vợ bé Thảo Mai, nghe lời Thảo Mai vu cáo Long nữ không chung thuỷ, đã ruồng rẫy Thần Long Kinh Xuyên bỏ bà vào cũi vứt trong rừng cho thú ăn thịt, nhưng muông thú lại yêu quý, thần phục bà Sau

đó, bà gặp một nho sinh tên là Liễu Nghị trên đường hỏng thi đến thăm một người bạn Bà liền nhờ Liễu Nghị đưa thư cho cha bà đến giải thoát cho mình và trừng trị chồng và cô vợ bé Thảo Mai Long vương muốn gả bà cho

1 Xem Đỗ Thị Hảo, Mai Ngọc Chúc (1982) Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ nừ, Hà Nội

Xem thêm Ngô Đức Thịnh (2010), Tlđd, tr.69.

2 Xem Phan Ngọc, Nguyễn Đắc Xuân (1995) Sự tích các nữ thần Việt Nam, Nxb Thuận

Hoá, Huế, 1995; Xem thêm Ngô Đức Thịnh (2010), Tlđd, tr.69.

Trang 4

S ự hỗn d u n g và tiếp biến văn hóa ữ o n g đạo Mâu 485

Liễu Nghị, nhưng ông vì tự trọng đã từ chối không lấy bà chi kết làm bạn (có

dị bản kề ràng sau Liễu Nghị chấp nhận lấy Long nữ và sau này ông cũng trở thành thuỷ thần), dân suy tôn bà thành Mầu Thoải, đặt tên hiệu là Quang Nhuận1 Thuyết này có thể được tóm tắt bằng bài thơ (không rõ tác giả) sau đây:

Thủy quốc Động Đình đức Chúa Tiên,

Phu tòng thù đạo họa Kinh Xuyên.

u vân khuất ảnh vựng minh nguyệt,

Thất tiết oan cừu thấu cừu thiên.

Vấn trách Thào Mai vu oản kết,

Phóng lưu viễn xứ tại lâm tuyền.

Thư phong phó chúc truyền Liễu Nghị,

Thủy Quốc tái hồi vị thánh tiên.

(Đức Chúa Tiên nơi thủy quốc - hồ Động Đình,

Chúa tiên giữ đạo “phu tòng” đối với chồng là Kinh Xuyên

Mây mờ che bóng vầng trăng sáng,

Nỗi oan không giữ trọn tiết hạnh với chồng

Trách hỏi Thảo Mai cớ sao lại vu oan cho Chúa Tiên,

Có tội nên bị đày nơi phương xa ,chốn rừng suối

Bức thư gửi gắm trao cho Liễu Nghị nhờ đưa giúp,

Trờ lại nơi thủy quốc với ngôi vị thánh tiên)2

Chúng tôi tạm gọi thuyết này là thuyết “vợ Kinh Xuyên”

Thuyết thứ năm (thần tích ở làng A Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh) nói

về việc Kinh Dương Vương vua nước Xích Quỷ, con trai của Đế Minh và

Vụ Tiên nữ, gặp và kết hôn với Long nữ (con gái Long vương ở Hồ Động Đình) sinh ra Lạc Long Quân Sau đó Thần Long trờ thành Mầu Thoải được nhân dân sùng kính Một dị bản khác ở Nghệ An thì chuyển địa điểm gặp gỡ

về Ngàn Hống: Kinh Dương Vương tuần du, gặp con gái Long Vương (xuất

1 Theo M.Durrand, Technique et pantheon des médiems Vietnamỉen, BEFEO, Vol.XLV,

Paris, 1959 Chuyển dẫn từ Ngô Đức Thịnh (2010), Tlđd, tr.69-70;

2 Xem thêm Thoái Tiên thảnh mẫu kì lục, URL: http://phucyen.blogspot.com/201

ỉ/03/su-tich-mau-thoai.html; http://tuphuvanlinh.blogspot.com/2010/10/su-tich-mau-thoai.html.

Trang 5

486 V an hóa th ờ N ơ thần - MẴU ở VlỆT NAM VÀ CHÂU Á

hiện trên dòng sông Lam, tên cũ là Thanh Long, gần cửa hội) [Theo Trương

Sĩ Hùng]1 Chúng tôi tạm gọi đây là thuyết “Thần Long”

2.2 Sự hỗn dung và tiếp biến văn hoá của Đạo Mầu từ hình tượng Mẩu Thoải

Viết về cơ sở văn hoá của sự hình thành Đạo Mầu Việt Nam, GS Ngô Đức Thịnh cho rằng: “trên cơ sờ tín ngưỡng Mẩu Thần dân gian, với những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc đã hình thành và định hình Đạo Mau Tam phủ, Tứ phủ (Tam Toà Thánh Mầu), một thứ đạo giáo đặc thù của Việt Nam, có thể nói ngắn gọi hon và thực chất hơn là Đạo M ẩ u ” 2 v ề mặt tư duy, ông cho rằng “Trong Tam Toà Thánh Mầu ta còn thấy có sự kết hợp, đan quyện giữa tư duy mang tính vũ trụ luận (Trời, Đất, Nước), tư duy huyền thoại (Thiên thần, Sơn thần và Thuỷ thần) và tư duy lịch sử (Lạc Long Quân - Âu Cơ, Hùng Vương) Đây cũng là khía cạnh mang đặc thù Việt Nam”3 Có thể nói, đó là những nhận định cô đúc, có tính khái quát, tính định hướng cao Nhưng theo chúng tôi, trong việc hình thành tín ngưỡng thờ Tam phủ (tứ phủ) nói chung và Mau Thoải nói riêng, sự “kết hợp, đan quyện” các yếu tố, các loại hình tư duy còn phong phú, phức tạp hơn nhiều Nói khác đi, đó là một sự hỗn dung, tiếp biến văn hoá cực kì phức tạp, rộng lớn và lâu dài Sau đây, chúng tôi sẽ lần lượt phân tích từng thuyết về sự tích Mầu Thoải, đặt trong bối cảnh văn hoá của chúng, để thấy được sự phức tạp, rộng lớn và lâu dài đó

Thuyết “NhữNương”

Trong thuyết này, Mẩu Thoải được quan niệm như là một kiểu Vua Bà (Đại vương) ngang hang với Vua Ông (vua Thuỷ tề), phản ánh tàn dư củâ xã hội Mầu hệ, xã hội cổ sơ, khi người phụ nữ có quyền lực lớn trong gia đình

và cộng đồng (chí ít là ngang hàng với người đàn ông) Bà còn được xem là

vị thần lưỡng tính (là nữ nhưng có nhiều đặc tính của nam) Ta nhớ rằng, trong huyền thoại Việt Nam (vốn tích hợp nhiều nguồn ảnh hường), đa số các vị thần sông, biển đều là đàn ông (thần sông Tô Lịch, thần Trương Hống

- Trương Hát, Thuỷ tinh, vua Thuỳ tề, thuỷ thần, Long vương, )- Tính lưỡng tính này vì vậy thể hiện khát vọng binh đẳng giới của nhân dân (bà là

nữ, nhưng có khả năng, sức mạnh và địa vị như nam giới, có thể tự mình làm

1 Dần theo Ngô Đức Thịnh (2010), Tlđd, tr.69.

2 Ngô Đức Thịnh (2010), Tlđd, tr.38.

3 Ngô Đức Thịnh (2010), Tlđd, tr.70.

Trang 6

những việc thay nam giới) Việc cấp cho bà một tên hiệu (Nhữ Nương) đã cá thề hoá phần nào thân phận Mầu Thoải trong mắt tín đồ Tóm lại, thuyết này kết hợp triết’lí hỗn nguyên, hài hoà (âm-dương, nam-nữ), tín ngưỡng thờ thần sông biển (thần Nước) với Đạo giáo Trung Hoa (Ngọc hoàng, vua Thuỷ

tề, Nam Hải Đại Vương, ) để tạo thành một hình tượng Mầu Thoải mạnh

mẽ, uy lực, quyền năng; không chỉ có điều kiện tự khẳng định mình mà còn

có khả năng cứu giúp chúng sinh Hình tượng Mầu Thoải có những nét tương đồng về mặt tính cách với những hình tưọng nữ nhân vật trong văn học dân gian như: nàng Tấm (Tẩm Cám), Thị Kính (Quan Âm Thị Kính),

Tư duy văn hoá dân gian được thể hiện khá rõ

Thuyết “ba vị công chúa ”

Thuyết này kết hợp tín ngưỡng thờ thần sông, thần nước cổ truyền, quan niệm “tam vị nhất thể” (trong nhiều tôn giáo), một chút ảnh hưởng của văn học viết, của sử học (lấy cảm hứng từ các nhân vật trong Hồng Bàng thị truyện trong Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, Hồng Bàng ki trong Đại Việt

sử kí toàn thư với các chi tiết như: Thuỷ Tinh Động Đình Ngọc Nữ Công chúa hẳn có liên hệ với nhân vật Thần Long/ Long nữ; chi tiết 3 con gái của Lạc Long Quân - Âu Cơ có liên hệ việc sinh trăm trứng, nở trăm con ), lại kết hợp với tín ngưỡng thờ tổ tiên mang tinh thần dân tộc: con rồng cháu Tiên (Lạc Long quân, Âu Cơ) Trong đó, có nơi bà Thuỷ Tinh Động Đình Ngọc Nữ Công chúa được xem là hình tượng chính; 2 bà còn lại được phối thờ Đây thực chất là một sự lai ghép Mầu Thoải (con gái vua h.ồ Động Đình: Động Đình Quân hoặc Lạc Long Quân) và các vị nữ thần ở địa phương như Hoàng Hà Đoan/Đan Khiết Phu nhân (đền Lô bên bờ sông Hồng) và Tam Giang Công chúa (Nữ thần được thờ ở ngã ba Sà, Yên Phong, Bắc Ninh) Để kết hợp 3 vị vào 1 (tam vị nhất thể), người sáng tác thần tích đã hư cấu cả ba

bà thành con gái cùa Lạc Long Quân - Âu Cơ (mặc dù ta biết theo truyền thuyết thì chỉ có việc con gái vua hồ Động Đình còn có tên Thần Long, kết hôn với Kinh Dương Vương, là mẹ của Lạc Long Quân) Theo đó, Mầu Thoài chính là “chị em” của Hùng vương (đời thứ nhất) Sự sắp xếp ba bà ờ

vị trí con gái Lạc Long Quân - Âu Cơ (mặc dù trong ứuyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ chỉ sinh 100 người con trai, chia nhau lên núi và xuống biển,

Âu Cơ dắt con lên núi chứ không xuống biển) thể hiện nỗ lực của người viết thần tích muốn gắn sự tích mẫu Thoải với truyền thuyết về sự ra đời của

“quốc tổ” Hùng vương, qua đó lôi kéo sự sùng kính của các công dân-tín đồ

và có thể là nhằm đạt đến sự thừa nhận công khai của triều đình chính thống (thông qua các sắc phong) Việc chen chân 3 cô gái vào gia đình 100 người

Trang 7

488 Van h ó a th ờ Nữ th ắ n - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHÂU Á

con trai cũng thể hiện mong ước được “chen chân” vào thần điện chính thống (việc thờ cúng Hùng Vương của các triều đại), muốn có được chỗ đứng trong cộng đồng và trong lịch sử dân tộc một cách cụ thể (có thời giản,

có niên đại một cách tương đối), ở đây, ít nhiều ta thấy có bàn tay, có hình bóng quan niệm của các trí thức, Nho sĩ Tuy nhiên, việc cải biến truyền thuyết từ Âu Cơ lên núi thành Âu Cơ xuống biển dường như lại phản ánh quan niệm đề cao “nhánh mẹ” trong dân gian Thực ra, quan niệm này đã được các sử gia chính thống các triều đại tiếp tay bởi trong nguyên gốc Hồng Bàng thị truyện của Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, 50 người con theo Âu

Cơ về núi sau và lập nên nước Vãn Lang nhưng đến Đại Việt sử kí toàn thư,

sử gia nhà Lê đã lập lờ câu văn khiến cho việc Hùng Vương “theo mẹ” bị

mờ đi Điều này được sử gia Ngô Thì Sĩ chỉ ra trong công trinh “xét lại” lịch

sử của ông là Việt sử tiêu án và được đưa vào công trình sử học chính thức của triều Tây Sơn, cuốn Đại Việt sử kí tiền biên. Ngô Thì Sĩ nói rõ: “[Lĩnh Nam chích quái liệt] truyện lại chép: Lạc Long quân ờ dưới nước lâu, mẹ con Âu Cơ muốn về Bắc nhưng không được, kêu gọi Long Quân, Long Quân bèn chia đôi số con, mỗi bên một nửa, theo mẹ lên núi và theo cha xuống nước, có việc gì thì cho nhau biết Khi đã từ biệt nhau, Âu Cơ dắt 50 người con lên ở Phong Sơn, suy tôn người con trưởng lên làm vua gọi là Hùng Vương Người làm sử muốn lấy việc theo cha là chính thống do đó đã thay đổi lời văn là 50 người con theo cha ờ phía Nam, mà chép nổi chữ Hùng Vương xuống dưới làm cho sự thực lẫn lộn, độc giả không thể không nghi ngờ Giả sử Long Quân không phải là giống cùa Động Đình thì không bàn làm gì; Long Quân mà quả là giống của Động Đình, thì giống ở dưới nước không thể lên cạn được; những người con theo mẹ ai mà không thuộc vào Long Quân, sao lại cứ người theo cha mới làm vua, còn người theo mẹ

là man di? Xét sử cũ, sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Thời Hùng Vương đặt chư hầu làm phên dậu, chia nước ra 15 bộ Ngoài 15 bộ ra các noi đều có trưởng

tá, còn các con thứ đều theo thứ tự chia nhau mà cai trị Lời nói rõ ràng cẩn mật, hoàn tất, hình như không phải là quy mô thời xa xưa Lại ngoài 15 bộ còn có đất nào có thể chia được? Lại bảo 50 mươi người con theo mẹ về núi,

mẹ làm quân trưởng, các con đều làm chủ một phương, rồi lấy man tù Ngày nay có tên gọi nam phụ đạo, nữ phụ đạo làm chứng”1 Như vậy, việc sử quan chính thống cố tính xoá mờ vai trò cùa Âu Cơ đối với triều đại Hùng Vương lại tạo điều kiện cho dân gian suy tôn bà lên trong tín ngưỡng thờ Mầu của

1 Ngô Thì Sĩ (1997) Đại Việt sử kí tiền biên, bàn dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.41.

Trang 8

mình Ngoài ra, thấp thoáng đằng sau Mầu Thoải “tam vị nhất thể” này, ta còn thấy được hình bóng các “bà cô” (không chồng) được thờ cúng một cách phổ biến và đầy thành kính trong tín ngưỡng tâm linh của người Việt (“bà

cô, ông mãnh”) từ xưa đến nay

Có thể nói, hai thuyết trên đây mang đậm tính chất dân gian ờ chỗ nó hầu như không có nguồn gốc thực sự cụ thể, không có niên đại (kể cả niên đại của tác giả thần tích, niên đại các nguồn chịu ảnh hưởng, lẫn niên đại bên trong tích truyện) Nó là một dạng “ngày xửa ngày xưa”, “ở một làng nọ” theo tư duy truyện cổ tích Tính chất logic, hệ thống của các thuyết này cũng không thực sự rõ ràng Chẳng hạn, đã là thần “lưỡng tính” sao Nhữ Nương còn cần làm vợ vua Thuỷ Tề; đã là Thánh Mầu sao lại cần tới 3 bà khác nhau; đã là công chúa hồ Động Đỉnh mà lại là con gái của Lạc Long Quân và

Âu Cơ (vốn sinh trăm trứng, nở trăm con trai); Âu Cơ là tiên vùng núi nhưng lại dẫn các con xuống biển (!); v.v Tất cả những điều đó phản ánh tư duy hồn nhiên, cởi mở (có khi tuỳ tiện) của dân gian Đến thuyết “vợ Kinh Xuyên” và thuyết “Thần Long” thì bắt đầu có sự hiện diện đậm nét của văn học bác học (văn học thành văn) mà ở đây là 2 văn bản: Hồng Bàng thị truyện/ Hồng Bàng kỳLiễu Nghị truyện.

Thuyết “vợ Kinh Xuyên”

Thuyết này tiếp thu một phần khá lớn cốt ừuyện ừong tác phẩm Liễu Nghị truyện của tác giả Lí Triều Uy (? - ?) thời Đường Đây là một truyện truyền kì thuộc loại sớm nhất của văn học Trung Quốc Tác phẩm ra đời vào khoảng cuối Đường (thế ki IX)1 Nhân vật trung tâm của truyện là người con gái của Động Đình Quân với số phận đầy bất hạnh nhưng còn có hậu của nàng Ở đây, cơ sở của sự tiếp nhận là sự tương đồng về mặt văn hóa, xã hội (văn hóa sông nước, văn hóa thờ nữ thần, ảnh hưởng của tín ngưởng Đạo giáo phương Nam, cuộc đấu tranh gia đình và xã hội gay gắt, v.v ) Dân gian Việt Nam mượn Liễu Nghị trưyện để giải thích một tín ngưỡng dân gian, khoác cho nó màu sắc hư cấu, li kỳ của văn học hình tượng (tận dụng phương tiện của văn học nghệ thuật vì mục đích tôn giáo) Dân gian Việt

1 Xem Lí Triều Uy, Liễu Nghị truyện, Xuân Huy dịch, in trong “Tuyển dịch một số truyện truyền kl ưu tú thời Đường Tống”, Tạp chí Hán Nôm, số 9/2002; Xem thêm Nguyễn Thanh Tùng Giao lưu tiếp biển văn hoá Trung - Việt trong lịch sử: Khảo sát sự tiếp nhận

tích truyện ‘Liễu Nghị truyền thư’ ớ Việt Nam thời trung đại, Ký yếu hội thào “Việt Nam -

Trung Quốc: những mối quan hệ văn hoá, văn học trong lịch sử”, Trirờng ĐHKHXH&NV

Tp Hồ Chí Minh tháng 09 năm 2011, tr.369-383.

Trang 9

490 Van h ố a th ờ Nữ th â n - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHÂU Á

Nam cũng tận dụng triệt để yếu tố “éo le” trong số phận của cô con gái Động Đình Quân để tận dụng được tình cảm mến thương của các tín đồ (chỗ này khá giống hiện tượng Quan Âm Thị Kính) Nhiều người thừa nhận rằng, trong các truyện tích về Tam Toà Thánh Mau (Mầu Thượng Ngàn, Mầu Thượng Thiên, Mầu Thoải), truyện tích về Mẩu Thoải là đượm sắc buồn nhất, gây xúc động nhất Điều đó có được là nhờ yếu tố éo le trong nguyên tác Dân gian Việt Nam còn đẩy yếu tố “éo le” đấy lên cao hơn khi thay đổi, gia giảm thêm một số chi tiết so với nguyên tác Liễu Nghị truyện. Chẳng hạn, thay vì Kinh Xuyên bắt Long nữ đi chăn dê (thần) trên cánh đồng là cảnh bà bị nhốt vào cũi, vứt vào rừng sâu cho muông thú ăn thịt; rồi thay vì việc Kinh Xuyên chơi bời buông thả, Long nữ khuyên can bị chồng và bố

mẹ chồng ghét bỏ là việc xuất hiện cô vợ bé Thảo Mai chua ngoa, dối trá đã

vu oan, giá hoạ cho Long nữ; thay vì Long nữ sau lấy Liễu Nghị và sống hạnh phúc, giàu sang đến già và hoá thành tiên là việc Long nữ ở vậy suốt đời và cũng suốt đời phụng sự lí tường phù trợ dân chúng như một người mẹ

vĩ đại, Ở đây, ta thấy việc gia giảm, biến cải một vài chi tiết mang đậm dấu

ấn truyện cổ tích Việt, phản ánh những quan niệm xã hội và tôn giáo của người Việt: quan hệ mâu thuẫn vợ cả - vợ bé, mâu thuẫn mẹ chồng - nàng dâu; ác giả ác báo, Quan hệ vợ cả/ vợ đầu - vợ bé/ vợ sau (hay cao hơn là quan hệ cùa những người phụ nữ lấy chồng chung) là một đề tài thường thấy trong văn học dân gian Việt Nam (Tấm Cám, Lẩy chồng chung, )• Ở đây, người vợ cả được bênh vực Kết thúc truyện tích, việc Long nữ không kết hôn với Liễu Nghị (ở một dị bản) thể hiện mong muốn về hình ảnh một Mầu Thoải hoàn bích, thuỳ chung (dù người chồng không hề xứng đáng), toàn tâm toàn ý với “sự nghiệp” của vị Thánh Mầu (cảm hứng tôn giáo) Trong khi, sự tái hợp với Liễu Nghị ờ Liễu Nghị truyện thể hiện mơ ước của tác giả (một nhà nho) về sự thay đổi thân phận, khát vọng về hạnh phúc lứa đôi trần tục của các nhà Nho bình dân thất chí nhưng lãng mạn Rõ ràng, bước đầu có thể dân gian đã tiếp thu có cải biến, sáng tạo một tích truyện “ngoại lai” để xây dựng nên hình tượng Mầu Thoải rất đẹp, rất cảm động như vậy Tuy nhiên, đây không phải là một sự tiếp thu tích truyện “ngoại lai” một cách giản đơn Điều đó xuất phát từ chính nguồn gốc cùa Liễu Nghị truyện mà phần dưới đây chúng tôi sẽ trở lại với những phân tích sâu hom

Thuyết “Thần Long"

Thuyết “Thần Long” lấy chất liệu từ sự tích họ Hồng Bàng được chép trong Hồng Bàng thị truyện (sách Lĩnh Nam chích quái lục) hoặc Hồng Bàng

ki (chép trong Đại Việt sừ kí toàn thư). Hai nguồn này thực chất là một (gốc

Trang 10

từ Hồng Bàng thị truyện cùa Lĩnh Nam chích quái lục, có những cài biến nhỏ) Truy nguyên Hồng Bàng thị truyện của Lĩnh Nam chích quậi thì ta lại thấy có dấu ấn của Liễu Nghị truyện. Vi vậy, giữa thuyết “vợ Kinh Xuyên”

và thuyết “Thần Long” có mối quan hệ khá mật thiết Nếu đọc “liên văn bản”, ta sẽ thấy được hình bóng Mau Thoải ờ thuyết thứ tư trong hình bóng Mầu Thoải ở thuyết thứ năm này Tuy nhiên, theo nghiên cứu của chúng tôi, ảnh hường của Liễu Nghị truyện đến Hồng Bàng thị truyện/ Hồng Bàng kỉ

không phải quá lớn Hơn nữa, đó không phải là sự tiếp thu một chiều, đơn tuyến, rập khuôn mà lại là sự tiếp thu song hành từ cùng một nguồn ảnh hưởng: văn hoá vùng Lĩnh Nam (các truyện tích xung quanh hồ Động Đình

mà xét về mặt lịch sử ngày xưa lại thuộc văn hoá Bách Việt) Lật giở lại nguồn gốc của tác phẩm Liễu Nghị truyện, ta sê thấy rõ điều này

Tích truyện Liễu Nghị truyền thư đi vào văn học viết Trung Quốc từ thời Đường (dưới hình thức truyện truyền kì, một thể loại không phải là

“chính thống” và còn mang đậm nguồn gốc văn học dân gian - dấu ấn của thể “chí quái”, “u linh”) Trong đó, có phần chắc rằng nhân vật Liễu Nghị (học ứò thời Đường, hỏng thi, mơ ước cuộc sống giàu sang thành đạt, vợ đẹp, con khôn, ước mơ thoát tục, ) là hình bóng của các Nho sĩ, là sản phẩm sáng tạo của tác giả dựa trên những mẫu hình thực tế đương thời (mà hoàn cảnh ra đời nhấn mạnh là do tác giả nghe người bạn kể lại, cũng giống như trong truyện Liễu Tham quân truyện của Lí Triều Uy) Còn các chi tiết con gái vua hồ Động Đình, Tiền Đường quân, gia tộc Long vương, gia tộc Kinh Xuyên vương, chuyện người trên cạn kết hôn với người dưới nước.v.v tác giả kế thừa ở đâu? Theo như lai lịch ra đời của tác phẩm, phải chăng chính là từ vùng Kinh Ducmg và vùng hồ Động Đình và các truyền thuyết liên quan (vốn rất phong phú và có nhiều yếu tố tương đồng với các truyền thuyết, truyện tích của người Việt) Nếu đúng là như vậy thì ở đây, Liễu Nghị truyện của Lí Triều Uy vừa là sự bác học hóa, vừa là sự Hán hóa một truyền thuyết địa phương Ngày nay, đến vùng Động Đình, người ta còn thấy rất nhiều dấu vết cổ sơ của những huyền thoại như vậy1 Thế thì, có nhất thiết các tác giả Đại Việt khi viết về “họ Hồng Bàng” phải chịu ảnh hường từ tích truyện Liễu Nghị truyền thư (được ghi chép sớm nhất trong

Liễu Nghị truyện của Lí Triều Uy thời Đường)? Ta có thể nghĩ đến một nguồn khác: truyền thuyết do “cố lão tương truyền” ờ vùng Lĩnh Nam mà

S ự h ỗ n d u n g và tiếp biến văn hóa tro n g đạo Mâu 491

1 Nguyễn Xuân Quang, Hồ Động Đình và truyền thuyết Việt, URL:

http://www.khoahoc.net/baivo/nguyenxuanquang/021210-dongdinhho-1 htm

Ngày đăng: 17/03/2021, 18:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w