1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo mẫu với vấn đề trao quyền lực và cách thức sử dụng quyền lực của người phụ nữ việt nam

14 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạo Mẩu đã trao quyền lực mới và là cách thức thể hiện sức mạnh mới của vai trò người phụ nữ Việt Nam trong diễn trình phát triển mạnh mẽ của văn hoá dân tộc, tiến bộ và nhân bản.. Hệ t

Trang 1

ĐẠO Mâu VỚI VẤN Đẽ' TRAO ỌUVấN lực và

CÁCH THỨC SỬ DỤNG ỌUV6N Lực CỦA NGƯỜI PHỤ Nữ

V lậ NAM

Vũ Thị Tú A nh'

Dẩn nhập

Có thể nói Đạo Mẩu Việt Nam đã biểu tượng hoá quyền lực đặc trumg của người phụ nữ Việt Nam trong thực tại như nó vốn có từ trong truyền thống đến thế kỳ XVI Xã hội phong kiến Việt Nam càng suy đồi, ý thức dân gian trỗi dậy, vai trò của nhân dân đứng trước những thách thức mới Sự biến đổi lịch sử của nhân dân theo xu hướng tích cực ngược lại với sự tha hoá của giai tầng phong kiến: xuống cấp về vai trò chính trị, về giá trị đạo đức như Nguyễn Binh Khiêm, Nguyễn Dữ đã viết Ví dụ khủng hoảng lớn

về tư tưởng trong giới tri thức phong kiến: Từ Thức bế tắc, lên tiên, trờ về, bạc tóc, chết khô Người con gái Nam Xương chỉ còn cách lấy cái chết để giữ sạch phẩm giá theo quan điểm phong kiến đương thời

Hoàn cảnh đô thị hoá gia tăng (thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến, đô thị Hội An ), phương Tây xâm nhập bằng tôn giáo (Thiên chúa giáo) làm thay đổi ý thức dận gian Hệ tư tường phong kiến lung lay, hệ tâm lý xã hội chuyển động mạnh Đứng trước nguy cơ nội chiến kéo dài, và trên thực tế đã bất đầu (Lê - Mạc giằng co 60 năm, loạn Nam Bắc triều, Trịnh Nguyễn phân tranh 300 năm), ý thức dân gian phải đáp ứng Vai trò người phụ nữ đã thay đổi, từ gia đình chuyển ra bên ngoài - đã đến lúc nó phải trực tiếp thể hiện sức mạnh dưới những hình thức mới, theo cách thức mới Mầu Liễu xuất hiện trong ý thức dân gian như là một dấu hiệu thách thức, khẳng định của

* TS., Phó Trưởng ban Ban Quan hệ quốc tế, Đại học Thái Nguyên

Trang 2

Đ ạ o Mâu vớ i vẩh đề trao quyền lực 693

người phụ nữ Việt Nam trước thực tại bằng một kiểu quyền lực mới: quyển năng tinh thần mà chúng tôi gọi là quyển lực mềm.

Đạo Mẩu đã trao quyền lực mới và là cách thức thể hiện sức mạnh mới

của vai trò người phụ nữ Việt Nam trong diễn trình phát triển mạnh mẽ của văn hoá dân tộc, tiến bộ và nhân bản Đạo Mầu là sự phát huy sức mạnh tinh thần nội tại của nền văn hoá gốc nông nghiệp nước theo nguyên lý Mẹ, để đáp ứng những thách thức mói của thời kỳ xã hội phong kiến Việt Nam đã tan đàn xẻ nghé

Không phải ngẫu nhiên, từ thế kỷ XVI, trong khi Nhà nước phong kiến Việt Nam ngày càng xa rời Phật giáo thì nhân dân, đặc biệt là phụ nữ lại đến với chùa chiền, đền phù ngày càng đông đảo Vì Phật độ lượng và nhân ái, nhưng cái sâu xa vì trong Phật có Mầu Mối nhân duyên của Phật Mầu Man nương (Chùa Dâu) đã kéo theo sự kiện các vị nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi trong Tứ pháp cùng theo về Mẹ Phật đi đánh giặc ngoại xâm Phật giáo đã chuyển động ở Việt Nam theo nguyên lý Mẹ Cũng không phải ngẫu nhiên, các đền điện phủ thờ Mầu lại nhất định được dựng lên từ Bắc vào Nam, từ Lạng Son đến Cà Mau dọc theo trục giao thông chính của đất nước,

từ thế kỳ XVI nó đã được gọi là con đường thiên lý Tính ích dụng, tính thực tiễn cùa Đạo Mau biểu hiện như thế cũng rất khác với tinh thần tiên thoát tục huyền bí của Đạo giáo, vốn được coi là một tôn giáo ngoại lai có ảnh hưởng trực tiếp đến Đạo Mầu

Để luận giải sáng tỏ vấn đề quyền lực của người phụ nữ Việt Nam thể hiện trong Đậo Mau, cần khảo cứu trên hai phương diện cơ bản: Thứ nhất là

hệ thống tổ chức xã hội của Đạo Mau Thứ hai là hệ thống tư tưởng triết lý

và chức năng sinh hoạt thực hành tinh thần của Đạo Mầu

1 Quyền lực người phụ nữ Việt Nam thể hiện qua hệ thống

tồ chức xã hội của Đạo Mẩu

1.1 Hệ thống Đen, Phủ, Điện thờ Mẩu thể hiện ý tưởng tạo môi

trường và m ở rộng môi trường để thể hiện quyền lực của người phụ nữ

Qua nguồn thư tịnh cổ Hán Nôm và kết quả điền dã, có một hệ thống đền, phủ, điện thờ Mầu trên khắp các địa bàn cư trú của người Việt (đa số cũng như thiểu số) (Ngô Đức Thịnh 2009, Vũ Ngọc Khánh 2001, Vũ Thị Tú Anh 2011) Niên đại của hệ thống đền, phủ, điện thờ Mau cũng rất xa nhau

Ngôi đền thờ Mầu vào loại sớm nhất là đền Quốc mẫu - Âu Cơ ờ xã Hiền Lương, Sông Thao, Phú Thọ, vùng huyền thoại kinh đô cổ Phong Châu của

Trang 3

6 9 4 Van hóa th ờ Nữ thắn - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHAU Á

Nhà nước Văn Lang Thứ đển là đền Đổng xung Thiên thần Vương Mẩu và đền Tây Thiên trên núi Tam Đảo (Tam Đảo Sơn trụ Quốc mẫu thái phu nhân) Tam Đảo là núi thiêng gắn với các huyền thoại về Đệ Nhất Phúc Thần Tản Viên son thánh, con rể vua Hùng, người đặt dấu nối Hùng - Thục trong sự thành tạo của Nhà nước Âu - Lạc với kinh đô c ổ Loa

v ề địa bàn, địa đầu Lạng Sơn có tới 17 đền: Đền Mầu Đồng Đăng, Đền Mẩu Tây Hồ, Nhà mẫu Chùa Diên Khánh, Mẩu điện trong đình Tả Phủ, ở các chùa Tiên, Nhất, Nhị, Tam thanh., mẫu cũng có vị trí xứng đáng Theo quốc lộ

1 vệ phía Nam là Bắc Lệ linh từ thờ Mẩu Thượng ngàn (Hữu Lũng Lạng Son), Đền Bà Chúa Kho tức chủ khổ linh từ (thôn Cơ Nữ, xã Vũ Ninh, Bắc Ninh)

Hà Nội có hàng chục đền, phù Mầu, lớn nhất là phủ Tây Hồ Nam Định với trung tâm thánh địa Phủ Giầy nguy nga ừáng lệ Thanh Hoá có Đền Sòng, Đền Phố Cát Cố đô Huế có Điện Hòn Chén và trụ thờ Bà Chúa Ngọc ờ rất nhiều nơi Miền trung Khánh Hoà có tháp bà Nha Trang thờ Thánh mẫu Thiên Yana

ở Châu Đốc, An Giang và các tinh Nam Bộ với hàng chục đền đài thờ tự Bà Chúa xứ, được coi là có nguồn gốc sâu xa từ tín ngưỡng Thờ Mẹ (Mầu) của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, là hành ữang tinh thần của cư dân Việt mang theo từ thủa “đi mở nước”. Tây Ninh có núi Bà Đen với trụ thờ Linh sơn Thánh Mẩu về quy mô, có trung tâm thánh địa Phủ Giầy (Nam Định ) nguy nga tráng lệ gắn với sự tích và huyền thoại vị Thánh Mẩu oai linh: Bà Chúa Liễu Hạnh Đó là một một quần thể kiến trúc gồm hai phủ Vân Cát, Tiên Hương và Lăng Bà chúa Liễu và gần 20 đền, đình, chùa thờ vọng khác ở Vụ Bản Bên cạnh hệ thống điện, phủ Mẩu chính danh, hầu như ở bất cứ ngôi chùa, đình, miếu trên đất nước này, vô luận linh thần chủ là ai, ý thức dân gian cũng dựng một “ban thờ Mầu", một “nhà Mầu” bên cạnh, phía sau theo kiểu

“Tiền thần hậu Mầu” hoặc “Tiền Phật hậu Mẩu” Đương nhiên, việc phổ biến rộng khắp hệ thống Đền, Phủ," Điện thờ Mẩu như thế cỏ ý nghĩa tạo môi trường để người mẹ, người vợ Việt Nam thể hiện quyền lực vào xã hội Điều đáng lưu ý là hầu như tất cả các Mầu đều ít nhiều có công lao giữ nước, bảo vệ nhân dân Qua hệ thống này, người phụ nữ thể hiện quyền lực tinh thần đem lại cho họ sức mạnh và thế mạnh tinh thần

1.2 Cách bố cục bài trí điện thờ Mẩu biểu hiện quyền lực của người phụ

nữ bởi Điện thờ Mẩu đã trở thành môi trường có tỉnh quyền lực Đỏ là

“quyền năng vô lượng”

Có thể diễn tả ngắn gọn như sau: Điện thần thờ Mầu là một hệ thống

có lớp lang tương đối nhất quán từ Tam toà Thánh Mầu, (hoặc cộng đồng Tứ

Trang 4

Phủ), đến Ngũ vị Vương quan, Tứ vị chầu bà, ngũ vị hoàng tử, thập nhị cô nương, thập nhị vương cậu, quan ngũ hổ, ông Lốt (rắn) Các thành phần kiến trúc điện Mầu đều thể hiện tính Nữ (kết hợp với hòn non bộ có dòng sông, Ịiồ bán nguyệt, suối đá, sơn trang) Trang trí quanh ban thờ Mau có rất nhiều loại nón và nhiều nhất là nón quai thao bên cạnh hài, thuyền, đèn lồng đủ loại Bài trí và sắp xếp điện Mầu thường theo trình tự cung đệ nhất, cung đệ nhị, cung đệ tam (từ ngoài vào) Chù điện tức trung tâm điện mẫu ờ cung đệ tam (hậu cung) Ở đây có một cách thức bài trí đặc biệt rất riêng khác với mọi tôn giáo, tín ngưỡng khác: Vị trí chư vị Thánh thần được bài trí theo ba tầng- tầng trên không (đôi rắn thần - tính nữ); tầng ngang là một dãy nhiều ban bệ cao dần lên là nơi ngự của các Thánh Mầu và các chư vị thần linh (trong đó, thường vị trí chính điện là pho tượng Tiên Thiên Thánh Mẩu (Mầu đệ nhất) mặc áo đỏ, bên trái là Mầu Thượng Ngàn (mẫu đệ nhị) mặc áo xanh nõn chuối, bên phải là Mầu Thoải cung (mẫu đệ tam) mặc áo trắng); Tầng hạ ban bao giờ cũng thờ ông Năm Dinh (tức là Thánh ngũ hổ tướng quân - tính nữ, biểu tượng đất, núi)

Như vậy, sự hiện diện của điện thần Mau như trên chính là sự khẳng định trở lại, nhấn mạnh thêm quyền năng vô lượng của Đất - Mẹ khởi nguyên, khẳng định vai trò hàng đầu của người Mẹ trong đời sống Đồng thời nó thể hiện sự chi phối đời sống tâm linh của hàng triệu “tín đồ” đạo Mẩu đương thời nói riểng và cư dân Việt nói chung vốn đã bị xem nhẹ trong nhiều thế kỳ ngập chìm bởi quan niệm Nho giáo phụ hệ

Nhìn lại ba tầng cùa điện Mầu mang tính Nữ (Âm) với sự bài trí đó, phài chăng đã hàm ỷ, chủ ý “bắt” những người đang hiện diện trước Mâu - bất cứ là ai, ở cương vị xã hội như thế nào - cũng phải ngẩng mặt lên để nhớ về dòng sông Mẹ (biểu tượng Rắn), cúi mặt nhìn Đất Mẹ (biểu tượng

Hổ - Thỗ, đất) với nước về tưới mát sẽ sinh sôi nảy nở muôn loài, vạn vật

Và phía trước là các Mẹ/Mầu oai linh tôn nghiêm mà nhân từ sáng thế, bao dung nhuần thấm tất cả, gợi nhắc tất cả, đang hiện hữu giữa đời thường trong đục, tối sáng Đó là sự toả lan, thẩm thấu chan hoà vào lương tâm vổn thánh thiện của con người để thanh lọc tự nhiên - một quyền lực ảo nhưng đem lại những giá trị thật, có quyền năng vô lưựng điều tiết xã hội Đạo Mau không toả chiết con người trong lý trí, không giới hạn con người trong tưởng tượng, không thắt buộc con người trong sinh hoạt, vì đó là quyền lực của Mẹ Đất, Mẹ Rừng, Mẹ Lúa, Mẹ nước đi ra từ nguồn mạch văn hoá cơ tầng Việt cổ

Đ ạ o Mâu với vấn đề trao quyền lực 695

Trang 5

696 Văn hóa th ờ Nữ thắn - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHẢU Á

1.3 Người quản lý đền, phủ, điện Thánh Mẩu đều là phụ nữ Đặc điểm nậy

có ý nghĩa liên quan đến vấn đề địa vị, vai trò quyền lực của người phụ nữ Việt Nam

Để hiểu mối liên hệ này, phải đối chiếu với một sổ ‘‘"chức sắc” trong tín ngưỡng Then của người Tày, tín ngưỡng Mỡi của người Mường để thấy những người có “năng lực đặc b iệt có thể giao cảm với các đấng thần linh không phải là nhiều, số đông họ là những người “nhập vai” bằng các hình thức, nghi thức tràn đầy tính nghệ thuật Trước hết đó là những nghệ nhân dân gian, người của đời thường, người của giới nữ Họ được tự do và công khại “mượn lời bề trên, lời cùa các Thánh, các Mầu” để phán bảo và giải quyết những vấn đề trọng yếu của đời sống thực tại Đó là một sự lựa chọn khôn ngoan, đầy nữ tính Đó là một cách hoá giải sự trói buộc “người phụ nữ trong một xã hội mà nữ quyền không được thừa nhận Gạt bỏ những yếu tố huyền bí, có thể nhận ra họ ỉà những đại biểu, đại diện ưu tú của tài năng và trí tuệ, tâm hồn người phụ nữ xã hội, dưới một hình thức hành động tâm linh”. Bên cạnh đó là hệ quả của vấn đề trên, họ tạo nên một không khí, một môi trường (cùng với các thành tố khác: điện, phủ, nghi thức) hoà nhập, cộng cảm tự nhiên, thuần khiết cho giới mình Họ dễ dàng được các tín đồ cùng giới mình tự do giải phóng bản thân bằng cách chủ động, tự tin trao thân gửi phận để nhận được một nguồn năng lượng mới, để trở lại trạng thái cân bằng Người “nữ chủ” điện, phủ mẫu không phải thủ đền, thủ nhang, viết

sớ (thường là nam giới) mà là người đứng đầu một nhóm người “được nhà Thánh Mầu bề trên chọn ỉàm con cảĩ\

Như vậy, nêu xét cách bài trí điện, phủ có tính chất cung đình thì trong cái không gian cung đình này, người “nữ chù” đóng vai trò chủ một gia đình Nhà Mẩu còn là một gia đình Người “nữ chủ” nấm tiền nhà Mầu và sản phẩm nhà Mẩu để ban phát tài lộc cho các con công, đệ tử, tín đồ (dù là nam giới) Họ cũng là người nắm “thông tin” để mách bảo, giải quyết các'vấn đề bức xúc của đời sống khi đã được nhập vào gia đình nhà Mâu Có một lôgic: Quyền lực phụ thuộc vào vai trò Vai trỏ thật tạo nên quyền lực thật Vai trò

ảo tạo nên quyền lực ào. Nhưng còn có một lôgic khác: Khi mà quyền lực thật lại cho kết quả phản tiến bộ, phản nhân văn thì quyền lực ảo đem lại kết quả tiến bộ, nhân văn trở nên có giá trị đặc biệt Như vậy, người “««■ chừ'

nơi nhà Mầu có trong bà ta cả hai quyền lực: quyền lực thật trong gia đình nhà Mầu và quyền lực ảo đối với thiết chế xã hội phong kiến nhưng cả hai đều đem lại các giá trị tiến bộ nhân văn Điều này đúng với ý kiến đã nêu ở trên: người phụ nữ Việt Nam chưa bao giờ từ bỏ quyền lực Quyền lực đạo

Trang 6

Đ ạ o Mâu vớ i vân đề trao quyền lực 697

đức (cơ bản), quyền lực kinh tế trong gia đình cùa họ là có thật Trong xã hội cân bằng quyền lực (dân chủ đích thực), cái quyền lực trong gia đỉnh có ý nghĩa đặc biệt vào đời sống xã hội Thế là đủ, người phụ nữ “thường đóng vai trò thứ h a ĩ\ Trong xã hội quyền lực quan phương tha hoá thao túng, người phụ nữ không cam chịu, họ “sáng tạo” Đạo Mau trên cơ sở truyền thống để gia đình hoá hoạt động xã hội, để thể hiện quyền lực cùa giới mình trong “Khuôn viên Nhà M ầư\ v ề điểm này, có một nghi thức đặc ữưng trong hành động Lễ ờ những đình, chùa “Tiền Phật hậu Mầu” hoặc “Tiền Thần hậu Mầu” rất đáng chú ý Trong khuôn viên nơi thờ tự, người ta đặt kiệu Bà đi trước, nhưng khi đám rước ra khỏi cổng đình, chùa, người ta đổi lập tức cho kiệu ông đi ừirớc Có lẽ đây là một hiện tượng rất hiếm có ở các nền văn hoá khác Ngoài ra có thể có những “nữ chù'" điện, phù Mầu là một Shaman thực thụ, có trạng thái và năng lực thần kinh đặc biệt, được nhà Thánh giáng xuống nhập vào thân xác “để mắt tới sinh hoạt trần thế, độ ưì con người sức khoẻ khi ốm đau sự may mắn vượt tai ương khi buôn bán làm

ăn, ban phát tài lộc cho họ sớm có cuộc sống hạnh phúc đủ đầy” Quyền lực của Shaman được coi là một loại quyền lực- quyền năng vô lượng Đây là một hiện tượng phổ quát nhân loại, không đặc trưng văn hoá Việt được thừa nhận nhưng không lý giải dưới góc độ nữ quyền Những “nữ chủ” này khác với các tôn giáo khác (Phật giáo, Ki tô giáo ), họ có gia đình

1.4 Thành phần “tín đồ” và những người khác - cộng đồng tín ngưỡng Đạo Mẩu với quyền lực người phụ nữ

Đội ngũ tín đồ của Đạo Mầu gồm hai bộ phận Một bộ phận gọi là

“cỡm cái nhà M ầu” bao gồm các con nhang, đệ tử cùng các cung văn lo đàn

hát và các vị thủ đền, thủ nhang, viết sớ do một nguời đồng trưởng đứng đầu, thường là nữ Một bộ phận đông đào khác gồm các “tín đồ” đều là các con nhang, vì một lý đo cá nhân, gia đình họ tự nguyện “đội bát nhang'

“căn số nặng’’’ với khát vọng và niềm tin đổi phật Họ tự nguyện làm con cái nhà Mẩu nhưng không chủ động tham gia hành lễ và thường xuyên đến cửa Mầu để được làm lễ tôn nhang

Đội ngũ những người tín ngưỡng Đạo Mẩu vô cùng đông đảo và tự nguyện, hoàn toàn không chịu sự toả chiết, thắt buộc, giới hạn từ Đạo Mầu

Do vậy dân gian Việt có câu hát rằng:

Nào Tiên, nào Phật, nào Ta Sinh sinh hoá hoá cũng là Bà đây.

Trang 7

6 9 8 V a n hó a th ờ Nữ th ắ n - MẪU ở V lỆ T NAM VÀ CHÂU A

Với tín ngưỡng Mầu- tín ngưỡng tôn thờ Đạo Mẹ, để mong muốn những điều tốt đẹp, người người đã và vẫn đang hướng tới để từ nơi lòng Mẹ, được Mẹ/Mầu sẵn sàng đón nhận tất cả cũng như sẵn sàng ban phát tất cả Đạo Mầu được gia đinh hoá trong câu “Tháng Tám giỗ Cha, Tháng ba giỗ Mẹ" là xuất phát từ sự nhận thức của nhân dân về Đạo Mầu dân gian, rất tự nguyện

Hàng năm Hội Phủ Giầy kéo dài tò Mùng Một đến Mùng Mười tháng

Ba (âm lịch) mới rã đám Hội linh đình thu hút hàng chục vạn dân chúng đông đảo, đủ mọi tầng lóp, nhất là dân cư các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hoá, Hà Nội ở đâu cũng thế, trước các cửa Mầu, những sinh hoạt mang tính đặc trưng riêng của Đạo Mầu như tôn nhang, hát văn, hầu bóng bao giờ cũng diễn ra rất nhộn nhịp

Với tộc Tày Nùng, tại sao khi Mo, Tào thường là nam giới còn Then, Pụt lại thường là nữ giới Mo Tào hành lễ văn khán nhất định bằng sách vở Hán - Nôm Then, Pụt lại bằng những bài hát dân gian trữ tình chữ không khuôn ép cho dù có là “khuôn vàng thước ngọc”. Tương tự với tộc Kinh, tại sao đội ngũ phù thuỷ thường là nam giới, còn người nữ chù nhà Mẩu và các con nhang, đệ tự thường là nữ giới ở đền, phủ, điện Mầu thuần tuý, dứt khoát người đứng đầu nắm giữ quyền hành phải là nữ giới Xem vậy, có thể thấy ờ đây biểu hiện ý muốn và sự thể hiện ý muốn, khả năng bình đẳng giới trong địa hạt các tôn giáo ở Việt Nam Cũng như Then, Pụt Tày, các con nhang đệ

tử Đạo Mầu cũng không sử dụng sách vờ, mà hành lễ bằng các bài hát dân gian Trong những lời hát văn thánh thót, con người được gặp các Mau và người nhà Mầu

Đổi lập với hệ thống phù thuỷ- nam giới, người nữ chủ nhà Mầu và các

“con công” thể hiện phải uy nghiêm, hùng dũng với múa hèo, múa kiếm đao trong giá các quan lớn, phải nhanh nhẹn, nghịch ngợm có cả hút thuốc, luyện võ công trong giá các cậu; phải duyên dáng dịu dàng với múa quạt, thêu hoa, dệt gấm, chèo đò trong giá chầu bà; phải vui tươi nhí nhảnh với

giá các cô. Một giá là một liên khúc hát văn kèm theo trò diễn minh hoạ một

sự tích một vị thần linh thuộc Nhà Mầu Quan niệm dân gian cho rằng các vị

ờ nơi cao xa linh ứng, không thể nhập vào thân xác phàm tục mà chỉ “giáng”

xuống chốc lát để “c/ỉímg” rồi ngay Do vậy, người nữ giới thực hiện không chỉ giá chầu bà, giá các cô mà là cả các giá Ọuan lớn, Giá các ông Hoàng Như vậy, về mặt nghi lễ và diễn xướng nghi lễ Đạo Mầu, người phụ nữ đã thể hiện quan niệm binh đẳng giới đối trọng với đội ngũ phù thuỷ (hoặc Mo, Tào) vốn là đệ tử Nho Giáo, Đạo giáo được quan niệm giành cho

Trang 8

7 0 0 V ăn H ó a t h ờ N ữ thản - mẫu ở V iệ t nam v à c h ả u á

vỏ tôn giáo ngoại lai và bị Hán hoá đời sau, các hiện tượng thiên nhiên và xã hội cũng đều được người Việt cổ quy về tính nữ: Mẹ Đất, bà Trời, Mẹ Nước,

Mẹ Lúa, nữ thần Mặt trời, nữ thần lửa, nữ thần nghề mộc, nữ thần nghề chài lưới Cuối cùng, có thể thấy một đặc trưng nữ Thần Việt Nam là không có những biểu hiện riêng tư, những cá tính đặc biệt và dường như vị nào cũng

đã từng là Mẹ ữần gian (Đẻ Đất, Đẻ Nước, Đẻ Người, Đẻ vạn v ậ t ) và đều

có công lao dựng nước, giữ nước Tư tường này không thể hiện bằng triết lý nhưng triết lý nhuần thấm trong biểu tượng và gợi lên tư tưởng: Trọng tình, trọng tĩnh, trọng phụ nữ, thể hiện vai trò to lớn cùa người phụ nữ Đó là nguồn mạch tư tưởng, tinh thần Đạo Mầu, thể hiện quyền lực người phụ nữ trong căn tính cổ truyền

Trước sự xuất hiện Liễu Hạnh (Mẩu Liễu) tín ngưõng thờ Mẹ/Mầu Việt Nam đã có Mầu Thượng Ngàn (Mẹ Rừng - Lâm Cung thánh Mẩu), Mầu Thoải ( Mẹ Nước - Thuỷ cung Thánh Mau), Mầu Cửu Trùng ( Mẹ Trời - Cửu thiên huyền nữ) Đó là Tam toà Thánh Mầu Tuy nhiên, tín ngưỡng Mau thế kỷ XVI, không phải ngẫu nhiên xuất hiện một Mẩu giữa cõi nhân sinh: Mầu Liễu (lý do như đã nói ở trên) Thế là đức Mau chồng chất những lớp mới: từ Tam toà thánh Mau đến Cụng đồng Tứ phủ kéo theo một hệ thống dưới quyền Mẹ/Mẩu là những ông Hoàng (Hoàng Cả, Hoàng Ba, Hoàng Bẩy, Hoàng Mười - ông Hoàng Mười quê ờ Nghệ An, ông ra Nam Định làm quan Phủ Giầy) vốn là con của Mầu nữ hoàng (?) những bà cô (Cô

đệ nhất, cô Ba, cô Bảy, cô Chín, cô Chín Giếng, cô Đồng Mỏ, cô Ba Bắc Lệ ), các Cậu (Cậu bé Đồi) chứ không phải là chú (!) Quan niệm dân gian như thế không phải là mạch lạc, có đứt gẫy, có khoảng trổng trong hệ thống nhưng đó mới chính là hệ thống của dân gian thuần Việt Thánh mẫu Liễu chính là biểu tượng hoá quyền lực cùa người phụ nữ Việt Nam thế kỷ XVI Cái quyền lực của Mầu Liễu từ đây sẽ phát huy mạnh mẽ vào giới nữ và dân chúng thông qua sự vận động của Đạo Mầu trong dòng ý thức dân gian thế kỷ XVII, XVIII với hai nội dung dân chủ và nhân đạo

2.2 Chức năng sình hoại thực hành xã hội của diễn xướng dân gian Đạo

Mầu với vẩn đề quyền lực người phụ nữ

Không có chính văn giáo điển, Đạo Mầu đi vào đời sống thực tại thông qua hàng ứăm lời hát chầu văn cùng một số thể loại khác: Truyện thơ, câu đối, giáng bút Theo địa danh được nhắc đến trong các lời hát truyền miệng, không

có địa phương nào trên đất nước Việt Nam không có mặt các thánh Mầu Liễu cùng các “con cả r nhà Mầu Bằng hình thức hát văn đặc trưng với ba yếu tố:

Trang 9

Đ ạ o Mâu vớ i vấn đề trao quyền lực 701

lối hát (múa, đạo cụ, hoá trang), điệu hát (nhạc, nhạc cụ) và lời hát (ngữ văn), diễn xướng lễ tục trong nghi thức và lễ thức tôn nhang, hầu bóng của Đạo Mầu là một thứ nghệ thuật tổng họp đặc sắc Nghi thức đặc biệt này đem lại cho Đạo Mau sự hoà hợp, cởi mở giữa các linh Thánh với người thụ hưởng ân huệ được ban, thông qua “con cái nhà Mẩu” - người có quyền năng đặc biệt được Thánh Mẩu giáng đồng “trao quyền lực”. Mỗi giá đồng là một lần linh Thánh “giáng”, để “chứng” rồi “thăng”. Một buổi “hầu bóng' theo tín ngưỡng

Tứ Phủ, nếu có điều kiện thì có thể tiến hành đến 72 giá đồng Theo đó là 72 lần linh Thánh (các Bà, các Cô, các Cậu, các Quan, các ông Hoàng ) thể hiện quyền lực

Khác với các tôn giáo nhân tạo điển quy thường chinh phục kẻ mộ dạo bằng nội dung những giáo lý huyền thoại và quy phạm, chiếm đoạt linh hồn tín đồ bằng sự toả chiết trong lý trí, bao vây trong tưởng tượng, ràng buộc trong sinh hoạt, diễn xướng dân gian, Đạo Mầu gần như khép cửa với mọi giáo lý và quy phạm Khác với tôn giáo khác, quyền lực của Nhà Mầu không phải không được sử dụng vào việc “hành’’ kẻ có tội ( trong một số trường hợp,

có những người phụ nữ bị chồng bạo hành trong gia đình, khi đến trước cửa Mẩu, họ được Mẹ/Mầu “trao quyền lực“hành” người đàn ông kia) Theo Ngô Đức Thịnh (2009), lại có những phụ nữ lỗi lầm muốn dấu kín nhưng không dấu được trước cửa Mau Quyền lực của Nhà Mau căn bản là để chia

sẻ, ban phát quyền lực cho các tín đồ phụ nữ Trước Mầu Nghi Thiên Hạ oai linh như Mẩu Liễu, người phụ nữ tìm thấy ở đây những giây phút thiêng liêng cao đẹp của lòng mình Cái thế giới đầy oan nghiệt ngoài đời thế kỷ XVI đã khiến người phụ nữ Vũ Thị Thiết ở Nam Xương trong truyền truyền kỳ phải chết để giữ trọn phẩm giá thì trong thế giới Đạo Mẩu, người phụ nữ ấy trờ thành Vũ Nương Thánh Mẩu trong Vũ Điện, huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam Như thế là khổ đau của người phụ nữ trong xã hội, các Mẹ/Mầu cũng đã từng nếm trải Do đó, trong không gian - thời gian Đạo Mẩu tiến hành các buổi chầu, các thế giới Đạo Mẩu tràn đầy tinh thần cộng cảm, trở thành nơi người phụ nữ được bộc lộ mọi nỗi vui buồn sướng khổ rõ rệt nhất, ý thức được thân phận và khả năng của mình một cách sâu sắc nhất Đặc biệt, trong không gian múa thiêng và hát thiêng, năng lực sống của người phụ nữ được bộc lộ một cách trực quan sinh động, đem lại cho người tham dự một không khí rất Đời, rất Vui Còn phải kể đến các hoạt động sau Lễ là Hội đối với cộng đồng đông đảo những người tín ngưỡng Đạo Mầu mà không tự nguyện “Tôn Nhang” nhưng đó không phải là diễn xướng đặc trưng chỉ có ở trước Cửa Mau

Trang 10

Đ ạ o Mâu với vâVi đề trao quyền lực 699

người nam trong xã hội phụ quyền Qua sự “nhập vaĩ’ trong nhà Mầu, người phụ nữ thể hiện toàn diện thế mạnh và sức mạnh của giới họ Vai trò của họ

là hình thức công khai tuyên bố quyền lực của người phụ nữ trong các hành động tâm linh Đó cũng là lý do để các nhà nghiên cứu Đạo Mầu ở Việt Nam nhận ra quan hệ Đạo giáo ngoại lai với Đạo Mầu bản địa Cả hai đều tạo sự thăng hoa, đều trình bày khát vọng “thần tiên” giữa thiên nhiên tươi đẹp và trong trẻo, đã được thiêng hoá để giải toả những bức xúc đời thường, nhưng một bên là của nam giới phiêu du lãng tử, một bên là nữ giới tự tại an nhiên Một bên thoát lên tiên, một bên trờ về với thực tiễn Một bên lấy hư vô làm cứu cánh; một bên xuất phát từ sự ý thức về quyền lực tự thân của giới mình

để trả lại cho giới mình sức mạnh tinh thần và tình yêu cuộc sống trên Đất

Mẹ Đặt số phận người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XVI, XVII, XVIII, sẽ thấy Đạo Mầu hình thành từ XVI với

sự xuất hiện Mầu Liễu có ý nghĩa to lớn như thế nào đối với sự thể hiện quyền lực của giới họ Các quyền lực ấy được thể hiện trong toàn bộ hệ thống tổ chức xã hội Đạo Mầu

2 Quyền lực người phụ nữ Việt Nam thể hiện qua hệ thống

tư tưởng triết lý và chức năng sinh hoạt thực hành tỉnh thần của Đạo Mầu

2.1 Hệ tư tưởng triết lý Đạo Mẩu hay là ỷ thức hệ dân gian Đạo Mẩu thể hiện vai trò người Mẹ/ Mâu, biểu tượng hoá quyền lực và thể hiện sức

sống mạnh m ẽ của người phụ nữ Việt Nam trong tiến trình phát triển văn

hoả dân tộc

Qua thần thoại, sự tích nữ Thần: Đương nhiên hiện tượng nữ thần phổ biến trong thần thoại nhân loại (thần thoại Hy Lạp, Thần thoại ấn Độ, Trung Quốc ) trong đó có thần thoại các dân tộc Việt Nam Thần thoại Mường có

bà Si bà Sổ, thần thoại Thái có mẹ Bầu, thần thoại Kinh có 12 bà mụ, thần thoại Tầy có mẹ Hoa v ề sự tích truyền thuyết Kinh có mẹ Âu Cơ và các mẹ nàng con gái vua Hùng, mẹ Thánh Gióng Tày có mẹ Già Cải, Thái có mẹ Yke, Chăm có mẹ Thiên Yana, Mường có mẹ Giạ Dìn Điểm khác biệt với các nền văn hoá khác là ở đặc điểm hình thù và tính cách của các nữ thần

Việt Tất cả các nữ thần Việt Nam đều không được tả hình dáng đẹp đẽ hay xấu xí mà tất cả đều vừa sáng thế vừa nhân từ và rất gần gũi đời thường Đặc điểm khác biệt nữa là số lượng nữ thần rất lớn so với nam thần Bóc tách lớp

Ngày đăng: 17/03/2021, 18:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w