ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH *** *** *** ĐINH NGỌC TIỆP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT LÚA VÀ BƯỚC ĐẦU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG CHO H
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
ĐINH NGỌC TIỆP
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT LÚA VÀ BƯỚC ĐẦU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG CHO HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
ĐINH NGỌC TIỆP
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT LÚA VÀ BƯỚC ĐẦU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG CHO HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: Chương trình thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC HUỆ
Hà Nội – 2018
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết rằng, nội dung của bản luận văn này chưa được nộp cho bất kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào, cũng như bất kỳ một chương trình đào tạo cấp bằng nào khác
Những kết quả nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn,bảng biểu,đồ thị cũng như các tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn này được các tác giả đồng ý và trích dẫn cụ thể
Tôi cũng xin cam đoan rằng, bản luận văn thạc sĩ này là nỗ lực cá nhân của bản thân tôi Các kết quả, phân tích, kết luận trong luận văn này là kết quả làm việc của cá nhân tôi
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Đinh Ngọc Tiệp
Trang 4quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản Trị và Kinh Doanh (HSB) đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ , Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình, Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, thu thập và xử lý số liệu, tài liệu liên quan để xây dựng luận văn
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Khoa Quản Trị và Kinh Doanh, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Tác giả luận văn
Đinh Ngọc Tiệp
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ AN NINH LƯƠNG THƯC, SẢN XUẤT LÚA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 10
1.1 An ninh lương thực và an ninh con người 10
1.1.1 Khái niệm về an ninh phi truyền thống và an ninh con người 10
1.1.2 An ninh lương thực trong mối quan hệ với an ninh con người 11
1.2 Khái quát chung về cây lúa và ngành sản xuất lúa gạo 14
1.3 Tổng quan về BĐKH 16
1.3.1.Các Đặc điểm của BĐKH 16
1.3.2 Các nguyên nhân gây ra BĐKH 17
1.3.3 Tổng quát về BĐKH ở Việt Nam 20
1.4 Tổng quan nghiên cứu tác động của BĐKH với tỉnh Thái Bình 21
1.4.1 Chỉ số tổn thương đối với sản xuất nông nghiệp và các cây trồng tại tỉnh Thái Bình do tác động của BĐKH 24
1.4.2 Đánh giá mức độ tổn thương đến cây lúa do tác động của BĐKH tại huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình 25
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT LÚA TẠI HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH 33
2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 33
2.1.1 Điều kiện tự nhiên Huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình 33 2.1.2 Các điều kiện kinh tế và xã hội huyện Thái Thụy tỉnh Thái
Trang 6iv
Bình 37
2.2.Hoạt động sản xuất lúa của huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình 39
2.2.1 Diện tích canh tác lúa huyện Thái Thụy 39
2.2.2 Giống canh tác cho vụ mùa 39
2.2.3 Kỹ thuật canh trong sản xuất lúa 42
1 Thời vụ và chuẩn bị giống 42
2.3 Kết quả điều tra phỏng vấn về những khó khăn trong sản xuất lúa tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 46
2.3.1 Đặc diểm canh tác của các nông hộ tại các điểm điều tra 46
2.3.2 Những ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất lúa tại huyện Thái Thụy 47
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THÍCH ỨNG, GIẢM NHẸ TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN SẢN XUẤT LÚA VÀ ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC TẠI HUYỆN THÁI THỤY, THÁI BÌNH 51
3.1 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành trồng lúa trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại Thái Thụy, Thái Bình 51
3.2 Định hướng phát triển sản xuất lúa để đảm bảo ANLT tại huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình 53
3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm thích ứng và giảm nhẹ tác động của BĐKH với ngành sản xuất lúá, góp phần đảm bảo ANLT, an ninh cộng đồng tại Thái Thụy, Thái Bình 55
3.3.1 Giải pháp chung góp phần đảm bảo ANLT, An ninh cộng đồng tại huyện Thái Thụy, Thái Bình 55
3.3.2 Giải pháp cụ thể để góp phần thích ứng và giảm nhẹ tác động của BĐKH đối với sản xuất lúa tại huyện Thái Thụy, Thái Bình 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 73
Trang 7v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ANLT An ninh lương thực
BĐKH Biến đổi khí hậu
NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PTNT Phát triển nông thôn
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
UNFCCC United Nations Framework Convention on Climate Change- Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2016 phân theo vùng 37 Bảng 2.2 Số lƣợng các giống cây trồng đƣợc công nhận và ứng dụng vào sản xuất giai đoạn 1977-2017 41 Bảng 2.3 Kết quả điều tra phỏng vấn cho các đánh giá về đặc điểm canh tác các nông hộ tại vùng nghiên cứu 47 Bảng 2.4 Một số nguyên nhân chính gây hạn chế phát triển tới hoạt động sản xuất lúa của các nông hộ tại vùng nghiên cứu 48 Bảng 3.1 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của sản xuất lúa tại Thái Bình trong bối cảnh BĐKH 52 Bảng 3.2 Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của tỉnh Thái Bình và ĐBSH năm 2016 54
Trang 9vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mức độ dễ bị tổn thương trong sản xuất nông nghiệp và các cây trồng chính vùng ĐBSH 25 Hình 2.1 Bản đồ tỉnh Thái Bình 34 Hình 2.2 Nông dân chăm sóc làm cỏ cho cây lúa 44 Hình 2.3 Nông dân san phẳng mặt ruộng sau khi cày bừa làm đất để gieo mạ 45
Trang 10
1
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực quan trọng
nhất, là thực phẩm chính của hơn một nửa quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở các nước Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á Tại Việt Nam, lúa được coi là cây trồng bản địa và là loại cây lương thực chủ yếu, quan trọng nhất để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, với tổng sản lượng năm 2013 là 44,1 triệu tấn, tương đương 19,1 tỷ USD tăng 338 ngàn tấn so với năm 2012
Biến đổi khí hậu hiện là một trong những thách thức lớn đối với an ninh phi truyền thống, an ninh con người bao gồm cả an ninh lương thực
Do tác động của biến đổi khí hậu, tài nguyên nước phải chịu thêm nguy
cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, mùa, ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị, sản xuất thủy điện và hoạt động khai thác, đánh bắt hải sản của ngư dân các vùng đồng bằng ven biển Chế độ mưa, tần suất bão, lũ hằng năm thay đổi, không còn tuân theo các quy luật trước đây làm ảnh hưởng sâu sắc tới cuộc sống người dân
Nhận thức của cộng đồng còn hạn chế và phiến diện, mới chỉ quan tâm tới các tác động trước mắt, tiêu cực mà quên đi các tác động tiềm tàng, tích cực của biến đổi khí hậu gây ra, đồng thời chưa quan tâm tới việc chuyển đổi lối sống, mẫu hình sản xuất nhằm ứng phó với các sự thay đổi Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có những nỗ lực hơn nữa trong việc hoạch định các chính sách và thực thi giải pháp nhằm tăng cường nhận thức và năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, song song với phát triển kinh tế nhằm tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế và vị thế Quốc gia trên trường quốc tế
Huyện Thái Thụy có vị trí nằm cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng 25 km Tổng diện tích đất tự nhiên theo số liệu của UBND huyện Thái Thụy (2016) là 256,83km², với hơn 90% diện tích là đất dùng để sản xuất nông nghiệp, hình thức sản xuất nhỏ lẻ tự tung tự tác, trình độ áp dụng
Trang 112
khoa học kỹ thuật còn hạn chế, nhưng nguồn thu nhập chính của các hộ dân lại bắt nguồn từ nông nghiệp Vài năm trở lại đây, tại Thái Bình nói chung và huyện Thái Thụy đã có những diễn biến bất thường của thời tiết như nhiệt độ cao cực đại và nhiệt độ thấp nhất có xu hướng tăng rõ rệt, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới tăng, lượng mưa phân bố không đều dẫn đến lượng nước cung cấp cho cây lúa trồng có sự biến đổi lớn Lượng mưa thay đổi, cường độ mạnh đột ngột gây lũ lụt lớn vào mùa mưa Mùa khô kéo dài bất thường, gia tăng hạn hán gây khó khăn trong việc sử dụng nước cho nông nghiệp
Biên độ biến đổi mực nước giữa mùa lũ và mùa kiệt khá lớn, trung bình khoảng 5-8m điều này ảnh hưởng không nhỏ đến công tác thủy lợi nói chung
và thủy lợi trong nông nghiệp cho sản xuất lúa nói riêng tại ĐBSH, cụ thể vào mùa lũ, khả năng tiêu nước nội đồng kém, dẫn đến tính trạng ngập úng nghiêm trọng, gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp Mùa kiệt vùng cửa sông chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn biển mạnh hơn chế độ thủy văn sông với các quá trình truyền triều và xâm nhập mặn sâu vào trong đất liền, làm cho đất trồng lúa bị xâm hại nghiêm trọng nên tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng nói chung cây lúa nói riêng của huyện Thái Thụy trong thời gian vừa qua đều giảm ít nhiều Nhằm góp phần giải quyết một phần những hạn chế trong sản xuất lúa có ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh lương
thực, an ninh con người, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác
động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa và bước đầu đề xuất các giải pháp thích ứng cho huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Những năm gần đây đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến BĐKH và tác động của nó tới ngành sản xuất lúa gạo Điển hình là một số công trình, học viên đã tiếp cận được như sau:
Thornton P and Mario H (2008) cho rằng, mối quan hệ giữa biến đổi
Trang 12có nguy cơ ảnh hưởng xấu do biến đổi khí hậu, đang được sử dụng để đánh giá tác động, nhắm mục tiêu xác định các hướng nghiên cứu cụ thể về hoạt động thích ứng Do tính không đồng nhất trong việc tiếp cận các nguồn lực của hộ gia đình, mức độ nghèo đói và khả năng đối phó, đánh giá tính dễ bị tổn thương cần phải được thực hiện ở cấp địa phương giúp cải thiện năng lực thích ứng và chiến lược đối phó của các hộ dễ bị tổn thương cao
Công trình “Tác động của Biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa gạo ở Trung Quốc” của tác giả Wei Xiong, Viện Môi trường & Phát triển bền vững thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc đã phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa gạo tại Trung Quốc trong quá khứ và Dự báo tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai; đưa ra những thách thức chính biến đổi khí hậu đem đến cho sản xuất lúa gạo trong tương lai; Từ đó đưa ra chiến lược và biện pháp thích ứng phù hợp cho ngành sản xuất lúa gạo Trung Quốc nhằm đảm bảo an ninh lương thực
Trong cuốn sách “Sản xuất lúa và tác động của biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long”, PGS TS Nguyễn Ngọc Đệ và TS Lê Anh Tuấn trường Đại học Cần Thơ đã phân tích những thách thức chính của biến đổi khí hậu đặt ra cho sản xuất lúa trong tương lai; Các yếu tố tiêu cực khác gia tăng trong điều kiện biến đổi khí hậu; Nước cho sản xuất nông nghiệp; Đột biến về khí hậu và mức độ diễn biến phức tạp hơn về sâu bệnh/dịch hại Từ đó nhóm tác giả đã đưa ra một số biện pháp thích ứng như: Tiết kiệm nước trong sản xuất lúa; Phát triển hạ tầng; Trồng lúa có tưới ở vùng cao thay cho lúa ở đồng bằng; Lịch điều hành tưới mới; Sử dụng các giống mới (chịu nóng/ kháng sâu
Trang 13Theo Lương Ngọc Thùy và Phan Đức Nam (2015), BĐKH là một trong những yếu tố góp phần ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và di cư của người nông dân bên cạnh các nguyên nhân kinh tế - xã hội khác Nông dân là nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất bởi tác động của BĐKH do họ sống
và canh tác nông nghiệp ở khu vực nông thôn, nơi dễ xảy ra những ảnh hưởng của BĐKH Sinh kế của người nông dân bị ảnh hưởng do áp lực từ BĐKH là một trong những yếu tố thúc đẩy quá trình di cư của người nông dân đang tăng dần Với hơn 70% dân cư là nông dân, hoạt động sản xuất nông nghiệp của người nông dân phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào các hộ cá thể, quy mô nhỏ, trình độ khoa học kỹ thuật thấp
Những tác động tiêu cực của BĐKH đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề cho nền sản xuất nông nghiệp, làm ảnh hưởng đến đời sống và sinh
kế của người nông dân Do đó, việc phòng chống và ứng phó hiệu quả đối với các hiện tượng BĐKH đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp cả trước mắt
và lâu dài trong việc xây dựng, phát triển sinh kế bền vững, giảm thiểu mức
độ tổn thương cho người nông dân Các giải pháp bao gồm việc nâng cao nhận thức của người nông dân về BĐKH, huy động các tổ chức chính trị xã hội tham gia vào hoạt động phòng chống thiên tai, đặc biệt, cần xây dựng
mô hình sinh kế đa dạng, bền vững cho người nông dân Bên cạnh đó, các giải pháp cũng cần chú ý đến việc lồng ghép vấn đề BĐKH vào chương trình
Trang 145
Nông thôn mới hiện nay
Trong công trình “ Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự thích ứng ứng
BĐKH trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển”, Đặng Thị Hoa
và Quyền Đình Hòa (2015) đã nhận định: Kinh nghiệm từ hoạt động trồng lúa, nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh BĐKH của các tỉnh Đồng Bằng song Cửu Long và đồng bằng sông Hồng cho thấy để giúp người dân thích nghi với BĐKH việc lập kế hoạch thích ứng với BĐKH cần hướng tới cách tiếp cận tổng thể, trong đó phải lồng ghép chương trình sinh kế bền vững với chương trình quản lý rủi ro
Theo tác giả Nguyễn Văn Bộ (2016), phát triển lúa gạo đang đối mặt với thách thức to lớn về BĐKH, cạnh tranh về đất đai với công nghiệp, đô thị và giao thông Canh tác quá mức với việc thâm canh, tăng vụ làm cho suy giảm sức sản xuất của đất, ô nhiễm môi trường, tăng phát thải khí nhà kính Thêm nữa, sản xuất lúa gạo mang lại lợi nhuận thấp nên gần như không có doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất lúa Chi phí tăng cao cùng với thị trường bấp bênh làm cho người nông dân thực sự không yên tâm với nghề trồng lúa Đã đến lúc, chúng ta cần đối xử với hạt gạo và người nông dân trồng lúa một cách công bằng hơn Phải coi sản xuất lúa gạo không chỉ là vấn đề kinh tế, mà là lĩnh vực đảm bảo an sinh xã hội và ổn định kinh tế
Gần đây nhất nhóm tác giả Trương Đức Trí, Ngô Tiền Giang (2008) đã Dùng phần mềm DSSAT 4.5 (Hệ thống hỗ trợ ra quyết định trong chuyển giao
kỹ thuật nông nghiệp) chạy mô hình dự báo về sự thay đổi một số chỉ tiêu khí tượng và năng suất lúa huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình dưới tác động của BĐKH Sử dụng số liệu đầu vào cho mô hình DSSAT gồm: (i) Dữ liệu thời tiết (ii) Dữ liệu cây lúa ( Giống lúa; Ngày gieo (sạ hoặc cấy); Mật độ cấy hoặc sạ; Năng suất thực thu (iii) Dữ liệu phân bón (Lượng phân bón từng thời điểm; Loại phân bón; Thời gian bón); (iv) Dữ liệu tưới tiêu (các lần tưới; thời gian tưới; lượng nước tưới (v) Dữ liệu đất: (Các chỉ tiêu lý, hóa tính của đất
Trang 156
theo phẫu diện: Cơ bản gồm có: NPK tổng số, CEC, tỉ trọng, độ xốp, thành phần cơ giới, pHKCl hoặc pH nước, OM) Kết quả chạy mô hình cho thấy: Tích ôn là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng trồng trọt lúa Các kịch bản của BĐKH về ngày chuyển mức nhiệt độ quá 20ºC và 25ºC cho thấy thời kỳ lạnh càng ngày rút ngắn cho phép bố trí thời vụ lúa xuân dễ dàng hơn, sẽ ít có tình trạng bị rét hại ảnh hưởng đến năng suất.Tuy nhiên, thời kỳ lúa trỗ khả năng ảnh hưởng của nhiệt độ cao sẽ tăng lên, năng suất có thể bị giảm do hiện tượng lúa lép vì chết hạt phấn Do BĐKH nhiệt độ không khí trung bình tăng nên cây lúa sớm đạt tổng nhiệt độ hữ hiệu làm rút ngắn thời gian sinh trưởng Kết quả chạy mô hình cho thấy với kịch bản phát thải vừa (B2) vào vụ xuân 2020, thời gian sinh trưởng của lúa rút ngắn 5 ngày và năm 2100 có thể là 18 ngày Tuy nhiên trong vụ mùa thời gian sinh trưởng của lúa rút ngắn nhưng không đáng kể BĐKH làm cho lượng mưa tăng vào
vụ mùa nhưng lại giảm trong vụ đông và đông xuân Bốc thoát hơi nước tiềm năng (PET) có xu hướng tăng cả hai vụ tình hình hạn hán vụ xuân sẽ nặng nề hơn, ngược lại tình hình úng lụt trong vụ mùa sẽ càng gia tăng khi có BĐKH Mực nước biển dâng làm cho tổng diện tích gieo trồng của huyện bị giảm do xâm nhập mặn, kết quả từ mô hình DSSAT cho thấy, dự báo đến năm 2020 toàn huyện, diện tích ngập mặn do nước biển dâng có thể đạt 2,57-2,61% diện tích tự nhiên bao gồm các xã, Thụy Trường, Thụy Hải, thị trấn Diêm Điền, Thái Thượng
và xã Thái Độ Đến năm 2070, toàn huyện diện tích ngập do nước biển dâng khác nhau lớn giữa các kịch bản Theo nhóm tác giả này, diện tích đất ngập mặn gia tăng đòi hỏi phải có bộ giống lúa thích nghi với điều kiện mặn nhưng vẫn phải cho năng suất cao Đây là vấn đề mà ngành nông nghiệp cần phải giải quyết ngay trong thời gian tới
Như vậy, các công trình đều cho thấy BĐKH có tác động đến sản xuất nông nghiệp và sản xuất lúa gạo, đặc biệt tại các vùng ven biển
Biến đổi khí hậu tác động đến nông nghiệp như hạn hán xâm mặn của nước
Trang 167
biển làm giảm diện tích sản xuất, khô hạn làm thiếu nước tưới tiêu dẫn đến mất mùa và dịch bệnh giảm chất lượng của cây trồng Từ đó làm sụt giảm mạnh thu nhập từ trồng trọt
Kết quả khảo sát tại tỉnh Thái Bình cho thấy những tác động rõ rệt của thiên tai và BĐKH đến sản xuát nông nghiệp và đánh bắt thủy sản của tỉnh
Vì thế rất cần những nghiên cứu cụ thể cho từng địa phương để có giải pháp thích ứng phù hợp, đảm bảo an ninh lương thực và cuộc sống của người dân
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn
3.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được những tồn tại hạn chế của sản xuất lúa trong bối cảnh BĐKH tại huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình Từ đó đề xuất một số giải pháp, góp phần thích ứng và giảm thiệt hại do tác động của BĐKH đến sản xuất lúa tại địa phương và đảm bảo an ninh lương thực của vùng
3.2 Mục tiêu cụ thể
Tìm hiểu nắm bắt được cơ sở lý luận về an ninh lương thực, sản xuất lúa
và tổng quan về biến đổi khí hậu
Đánh giá được thực trạng sản xuất lúa tại huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình Tìm hiểu được mức độ ảnh hưởng do BĐKH đến sản xuất lúa gạo Bước đầu đề xuất một số giải pháp, góp phần thích ứng và giảm thiệt hại
do tác động của BĐKH đến sản xuất lúa tại địa phương và đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
4 Đối tượng nghiên cứu
Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa tại huyện Thái Thụy, Thái Bình; Giải pháp thích ứng và giảm nhẹ tác động của BĐKH đến sản xuất lúa tại Thái Bình
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào phân tích ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sản xuất lúa ở huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình; Đề xuất giải pháp kỹ thuật để
Trang 178
hạn chế ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất lúa
Không gian: Huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình thuộc Tỉnh Thái Binh Thời gian tiến hành: Từ tháng 2/2016 đến tháng 7/2017
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu thứ cấp từ các nguồn đảm bảo độ tin cậy và có trích dẫn nguồn đầy đủ bao gồm:
- Số liệu từ trang Tổng cục Thống kê, Bộ NN & PTNT, Bộ TN & MT
- Số liệu từ Sở NN & PTNT các tỉnh, Thái Bình,
- Số liệu từ các tài liệu và Sách tham khảo: Niêm giám thông kê, Định hướng nghiên cứu lúa thích ứng với biến đổi khí hậu, Kỹ thuật trồng và thâm canh lúasản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ cho lúa
Số liệu từ các báo các tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài BĐKH 10
Số liệu từ bài viết của các chuyên gia về trồng trọt và BĐKH
6.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn hộ gia đình
Phỏng vấn người dân tại 2 xã trồng lúa (xã Thụy Trường và xã Thụy Hải) của huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình
Số lượng mẫu điều tra: Mỗi xã 30 hộ gia đình
Thời gian điều tra, khảo sát: Tháng 6 – tháng 7/2017
Nội dung phỏng vấn:
• Thông tin chung (họ tên, giới tính, địa chỉ, trình độ văn hóa, tổng
số nhân khẩu, nghề nghiệp chính, thu nhập)
• Hiện trạng sản xuất lúa:
Các giống lúa nông hộ sử dụng
Diện tích trồng lúa của nông hộ
Số vụ gieo trồng/ năm
Phương thức canh tác
Trang 189
Tiềm năng sản xuất của giống sản xuất
Năng suất của giống sản xuất/ vụ
Thu nhập từ cây lúa
Mô tả thời vụ (ngày gieo, ngày cấy, ngày ra hoa, ngày thu hoạch)
Nhận xét về tác động của BĐKH đến sản xuất lúa trong vòng 30 năm trở lại
Nhận xét về sự thay đổi thời tiết trong 30 năm trở lại (Nhiệt độ, cường
độ mưa, thiên tai, hạn hán, nhiễm mặn)
6.3 Phương pháp phân tích hệ thống từ đó đề xuất giải pháp hạn chế tác động của BĐKH đến sản xuất lúa gạo tại tỉnh Thái Bình
Phân tích hệ thống, phân tích SWOT đã được sử dụng để xác định những thách thức trong sản xuất lúa chịu tác động của BĐKH Trên cơ sở đó, bước đầu đề xuất một số giải pháp để giảm thiểu và thích ứng với BĐKH trong sản xuất lúa ở Thái Bình
7 Cấu trúc luận văn
Phần mở đầu, Kết luận khuyến nghị và hạn chế của luận văn, tài liệu tham khảo , Luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận cơ bản về an ninh lương thực, sản xuất lúa và tổng quan về BĐKH
Chương 2 Thực trạng và ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất lúa tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Chương 3 Đề xuất một số giải pháp góp phần thích ứng và giảm nhẹ tác động của BĐKH đến sản xuất lúa, đảm bảo an ninh lương thực tại huyện Thái Thụy, Thái Bình
Trang 1910
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ AN NINH LƯƠNG
THƯC, SẢN XUẤT LÚA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1 An ninh lương thực và an ninh con người
1.1.1 Khái niệm về an ninh phi truyền thống và an ninh con người
(a) Khái niệm an ninh
An ninh trong tiếng Anh được gọi là “security”, có hàm ý là mức độ an toàn cao nhất cho chủ thể Từ an ninh với hàm ý của nó là tránh khỏi lo lắng,
sợ hãi và nguy hiểm.Có thể thấy an ninh vừa chỉ là một cảm giác chủ quan vừa chỉ một trạng thái khách quan, tức là về khách quan không tồn tại mối nguy hiểm, về chủ quan không tồn tại mối lo sợ Theo nhóm tác giả Nguyến Văn Hưởng, Bùi Văn Nam, Hoàng Đình Phi ( 2010), Phương trình cơ bản
An ninh của một chủ thể được thể hiện như sau
AN NINH CỦA 1 CHỦ THỂ = (AN TOÀN + ỔN ĐỊNH + PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG) – (CHI PHÍ QUẢN TRỊ RỦI RO + KHỦNG HOẢNG + CHI PHÍ KHẮC PHỤC)
(b) Khái niệm An ninh phi truyền thống
An ninh phi truyền thống được hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững cá nhân, con người, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu Để có thể đạt được mục tiêu chính trong việc đảm bảo an ninh phi truyền thống đòi hỏi sự tham gia của cả ba chủ thể là: Nhà nước; Con người/Cộng đồng; và Doanh nghiệp cùng với sự vận dụng các công cụ chính như: Sức mạnh & nguồn lực Nhà nước; Sức mạnh, nguồn lực cộng đồng; và sức mạnh nguồn lực của doanh nghiệp (Hoàng Đình Phi, 2016)
c) Khái niệm an ninh con người
Trong vài thập kỷ qua, định nghĩa về an ninh không chỉ tập trung vào những rủi ro quân sự hay các cuộc xung đột mà còn mở rộng ra một loạt các mối đe dọa đến an ninh, đặc biệt tập trung vào an ninh con người (UNDP,
Trang 2011
1994) Theo đó, an ninh con người là một trạng thái mà ở đó con người cảm thấy an toàn và trên thực tế con người được an toàn, tự do và phát triển (cả trạng thái tâm lý và tình hình thực tế Cũng có thể hiểu, an ninh con người là việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người trước những nguy cơ xâm hại, đe dọa; nhờ việc được bảo vệ như vậy, mỗi cá nhân (nói riêng) và cộng đồng (nói chung) có được đời sống yên ổn và cơ hội phát triển
An ninh con người bao gồm 7 phương diện, bao gồm: an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh nhân thân, an ninh chung Tư duy mới về an ninh con người trong khái niệm an ninh chủ yếu được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Một là, coi an ninh con người là vấn đề hạt nhân để thực hiện an ninh và hòa bình, đồng thời tiến hành xác định tương đối kỹ lĩnh vực liên quan đến an ninh con người
Hai là, an ninh con người có liên quan đến nhân dân ở các nơi trên thế giới bất luận là nước nghèo hay nước giầu, các nước tuy khác nhau về mối đe dọa phải đối mặt trên phương diện an ninh, nhưng tất cả những nguy cơ đều
là tồn tại thực tế và không ngừng tăng lên
Ba là, khi nhân dân của một khu vực nào trên thế giới bị xâm hại, thì các nước hầu như đều sẽ tổn hại, bởi sự đói nghèo, xung đột chủng tộc, thay đổi thể chế xã hội hoạt động khủng bố, ô nhiễm môi trường và buôn lậu ma túy không còn độc lập và hạn chế biên giới của một nước, mà sẽ ảnh hưởng đến toàn thế giợi
1.1.2 An ninh lương thực trong mối quan hệ với an ninh con người
1.1.2.1 Khái niệm an ninh lương thực
An ninh lương thực hay an ninh lương thực quốc gia được hiểu là sự đảm bảo của mỗi quốc gia về nguồn cung cấp lương thực cho người dân để hạn chế và đẩy lùi tình trạng thiếu lương thực, nạn đói và tình trạng phụ thuộc
và nguồn lương thực nhập khẩu
Trang 2112
Khái niệm về an ninh lương thực đã được phát triển trong vòng 30 năm nay với khung an ninh lương thực (food security framework) nhấn mạnh cách tiếp cận ở góc độ kinh tế khi coi lương thực như là một loại hàng hóa Tại Hội nghị thượng đỉnh lương thực thế giới năm 1996, FAO (Food and Agriculture Organization) đã đưa ra khái niệm khá toàn diện về an ninh lương thực: “An ninh lương thực là một tình trạng tồn tại khi tất cả mọi người dân, vào mọi thời điểm đều có khả năng tiếp cận về mặt vật lý, xã hội và kinh tế đôi với các loại thực phẩm đủ dinh dưỡng, an toàn và đầy đủ để đáp ứng các nhu cầu ăn uống và sở thích về thực phẩm cho một cuộc sống tích cực và khỏe mạnh.” Theo định nghĩa của FAO thì An ninh lương thực là mọi người có quyền tiếp cận lương thực, thực phẩm một cách an toàn, bổ dưỡng, đẩy đủ mọi lúc mọi nơi để duy trì cuộc sống khỏe mạnh và năng động ( FAO, 1996) Định nghĩa này có nhiều yêu cầu cụ thể hơn việc chỉ tự cung tự cấp về lúa gạo hoặc lương thực Nó liên quan tới toàn bộ nền kinh tế để đảm bảo rằng mọi thành viên trong xã hội có được đủ lương thực, bao gồm khả năng sản xuất, hệ thống lưu thông, khả năng tái phân phối của cải của xã hội và chính sách liên quan đến kho tàng, dự trữ lương thực, hàng hóa, dự giữ ngoại hối, thương mại lương thực Điều này cũng đòi hỏi phải xây dựng và triển khai những chính sách đảm bảo khả năng tiếp cận lương thực, đặc biệt là những sáng kiến xóa đói giảm nghèo và tăng phúc lợi xã hội để cho phép người nghèo, đặc biệt là phụ nữ có thể tăng năng suất và thu nhập của họ Theo bài giảng của Nguyễn Thị Ngọc Huệ (2016), những yếu tố chính ảnh hưởng tới an ninh lương thực gồm:
- Sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp
- Môi trường tự nhiên: đất đai, thổ nhưỡng, nguồn nước, khí hậu, hệ sinh
thái, đặc biệt là nguồn nước.Hiện tượng ngập úng vùng đồng bằng châu thổ
mở rộng vào mùa mưa lũ, các dòng sông tăng cường xâm thực ngang gây sạt
lở lớn các vùng dân cư tập trung ở hai bên bờ nhiều khu vực các con sông
Trang 2213
- Biến đổi khí hậu dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ của môi trường, gây ô
nhiễm môi trường ảnh hưởng khắc nghiệt đến dự trữ sinh quyển và mất cân
bằng hệ sinh thái tự nhiên
- Biến đổi khí hậu tác động đến sản xuất lương thực, chất lượng lương
thực nguồn cung thiếu trong khi nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, gây tổn hại
đến giá cả nông sản, gây mất an toàn lương thực, suy giảm đến an ninh lương
thực tại địa phương
An ninh lương thực là 1 trong 7 yếu tố cơ bản đảm bảo an ninh con
người ( UNDP, 1994) An ninh lương thực đảm bảo nhu cầu tồn tại của con
người, đầy lùi nghèo đói và có vai trò quan trọng trong triển kinh tế- xã hội,
đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị của cộng đồng và quốc gia Lương thực là vấn đề đa chiều và một điều kiện tiên quyết để đạt được
an ninh con người, từ cá nhân đến cấp độ quốc tế Bởi lẽ an ninh cá nhân cần
được đáp ứng để đạt được mục tiêu an ninh con người : sức khỏe tốt và hạnh
phúc, thực phẩm an toàn và đầy đủ, môi trường an toàn và lành mạnh, thực
hiện các quyền cơ bản và tự do (UNDP, 1994)
Nước ta sau nhiều năm phát triển ấn tượng, từ một nước thiếu lương thực
trong nhiều năm chúng ta đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo đứng thứ 3
trên thế giới, nhiều mặt hàng chiếm ưu thế trên thị trường quốc tế như cà phê,
hạt điều, cao su, hồ tiêu, gạo Tuy nhiên đứng trước những thách thức lớn về
khủng hoảng kinh tế và biến đổi khí hậu toàn cầu, an ninh lương thực đang bị
đe doạ, mỗi ngày có tới 15 ngàn người tử vong vì thiếu đói kinh niên và trên 1
tỷ người trên thế giới lâm vào cảnh thiếu lương thực, Việt Nam là một trong
số 5 nước bị ảnh hưởng lớn nhất của BĐKH toàn cầu, đời sống nông dân vẫn
ở mức thấp trong khu vực, vì vậy chủ trương phát triển một nền nông nghiệp
toàn diện, nông nghiệp hàng hoá và thân thiện với môi trường là cấp bách và
cần thiết
Trang 2314
1.2 Khái quát chung về cây lúa và ngành sản xuất lúa gạo
Cây lúa đã xuất hiện lâu đời trong nhiều xã hội trên thế giới lúa là 1 trong 3 loại cây lương thực quan trọng nhất của thế giới và Lúa là cây lương thực quan trọng nhất của người dân châu Á và Việt Nam Một số đặc điểm của hệ thống luân canh trồng cây lúa nước vốn ổn định và bền vững thích ứng với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa và có khả năng thâm canh cao, giải quyết lương thực cho vùng có mật độ dân số cao Cây lúa cho các loại sản phẩm có giá trị cao, người ăn lúa không bị suy thoái Hàm lương tinh bột cao (62,4%), khả năng đồng hoá cao (95,9%) Hàm lượng Protein 6-8% (10 – 11%), có đầy đủ các a xít a min cần thiết Hàm lương lipít trung bình 2.2 % Các Vitamin nhóm B nhiều, ít vitamin A (Đây là một hạn chế )
Là một nước sản xuất nông nghiệp, cây lúa là cây lương thực chính, đã gắn liền với đời sống và văn hóa của người Việt Nam từ hàng ngàn năm nay, có khả năng thích nghi rộng trong điều kiện sinh thái của cả nước, nghề trồng lúa đã
góp phần tạo lập ra văn hoá làng xã truyền thống ở Việt Nam Cây lúa ngoài việc
sử dụng làm lương thực, gạo và các sản phẩm phụ khác đựoc sử dụng với rất nhiều mục đích khác nhau: các loại bánh, Rượu, làm TAGS, chất đốt, các sản phẩm khác Với điều kiện sản xuất lúa ở Việt Nam, dựa vào điều kiện canh tác, mùa vụ, thời gian sinh trưởng, màu sắc hạt gạo của giống có thể phân ra lúa nương, lúa nước, lúa mùa, lúa xuân, lúa ngắn ngày, lúa dài ngày, lúa thường, lúa cẩm Các giống lúa Việt Nam có những đặc điểm như chiều cao, thời gian sinh trưởng (Dài hay ngắn), chịu thâm canh, chịu chua mặn, chống chịu sâu bệnh
khác nhau Các thời kỳ sinh trưởng của cây lúa gồm: Thời kỳ mạ, thời kỳ sau cấy, thời kỳ trỗ bông, chín sữa, vào chắc
Sản xuất lương thực là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu thu ngoại tệ Lúa là cây lương thực chính cho sản lượng kinh tế cao và là
Trang 24Theo Nghị quyết Chính phủ về “Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia” ban hành ngày 23/12/2009: Đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 phải đảm bảo
đủ nguồn cung cấp lương thực với sản lượng cao hơn tốc độ tăng dân số; chấm dứt tình trạng thiếu đói lương thực, nâng cao chất lượng bữa ăn; bảo đảm cho nông dân sản xuất lúa có lãi bình quân trên 30% so với giá thành sản xuất Để đạt được mục tiêu này ngành nông nghiệp và các bộ ngành liên quan phải hết sức nỗ lực thực hiện tốt các chương trình trọng điểm của nhà nước, trong đó ngành sản xuất lúa gạo được đặc biệt coi trọng ở tất cả các cấp độ khi Việt Nam là một trong
5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH
Theo các nhà khoa học, để đảm bảo an ninh lương thực, cần tiếp thu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trên lĩnh vực nông nghiệp để nâng cao năng suất, chuyển đổi và đa dạng hóa cơ cấu giống, cây trồng, vật nuôi, tăng nhanh sản lượng, giảm tổn thất khi thu hoạch, có giải pháp cho bảo quản lương thực Đặc biệt, cần có chính sách khuyến khích nông dân trồng lúa và giữ vững 3,8 triệu héc-ta lúa cho đến năm 2020 để bảo đảm an ninh lương
Trang 2516
thực quốc gia ( Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Hoàng Đình Phi, 2016)
Những thách thức lớn nhất đối với sản xuất lúa, ANLT trong tương lai
là nguồn nước tưới giảm đi, mức biến động khí hậu tăng lên, và mất mùa do sâu bệnh/dịch hại; Tác động tổng hợp (trực tiếp và gián tiếp) vẫn chưa rõ, nên cần có thêm nghiên cứu, đặc biệt là thông qua hợp tác quốc tế Nghiên cứu giải pháp thích ứng trở nên rất cấp thiết
1.3 Tổng quan về BĐKH
Biến đổi khí hậu đã từ lâu là một vấn đề nhức nhối tác động mạnh mẽ tới sản xuất cây lương thực và phát triển nông nghiệp, nhiệt độ tăng trung bình năm cao, hiện tượng thời tiết bất thường, nước biển dâng, xâm lấn mặn cùng với triều cường làm cho vùng sản xuất bị thu hẹp, hạn hán cùng mưa lũ cao điểm thất thường ảnh hưởng đến năng suất, quá trình sinh trưởng của cây trồng, bùng phát và lây lan của dịch bệnh gây hại
Hiện tượng ngập úng vùng đồng bằng châu thổ mở rộng vào mùa mưa
lũ, các dòng sông tăng cường xâm thực ngang gây sạt lở lớn các vùng dân cư
Trang 2617
1.3.2 Các nguyên nhân gây ra BĐKH
1.3.2.1.Các nguyên nhân tự nhiên
Khí hậu bị biến đổi do hai nhóm nguyên nhân:
Nguyên nhân của biến đổi khí hậu (BĐKH) trái đất bao gồm cả tự nhiên và nhân tạo Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng BĐKH 90% do con người gây ra
1 Biến đổi khí hậu trái đất
Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại khu vực nào đó theo chuỗi số liệu dài khoảng 30 năm và là kết quả của sự tương tác giữa các quá trình vật
lý, hoá học và sinh học dưới tác động của năng lượng mặt trời Sự tương tác này là một quá trình phức tạp, vì vậy, chế độ khí hậu không cố định mà luôn
có tính biến động Nhiều biểu hiện của biến đổi khí hậu và trái đất; tan băng
và mực nước biển dâng cao do băng tan, ngập úng các vùng đất thấp và các đảo nhỏ trên biển; sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất, đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các
hệ sinh thái và hoạt động của con người; sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác; sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển; sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất Nguyên nhân của biến đổi khí hậu (BĐKH) trái đất bao gồm cả tự nhiên và nhân tạo Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng BĐKH 90% do con người gây ra
BĐKH không chỉ đơn thuần tác động tới tự nhiên mà còn là thách thức về kinh tế, xã hội của nhân loại
Việc bỏ tiền ra chi phí cho việc khôi phục thiệt hại sau những thiên tai đã làm thâm hụt vào ngân sách các quốc gia Theo Nicolas Stem - nguyên chuyên gia
Trang 2718
kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới, thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỉ USD; nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng
5 - 20% tổng sản phẩm nội địa (GDP), còn nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định khí nhà kính ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP
Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) nhận định, BĐKH được xếp vào dạng vấn đề an ninh "phi truyền thống" và được xem như là một trong những thách thức lớn nhất đối với "an ninh môi trường - phát triển toàn cầu" Đến năm 2025, khoảng 5 tỉ người có thể sẽ sống trong những khu vực có nguy cơ căng thẳng, xung đột liên quan đến nước và lương thực Đến năm 2050, khoảng 150 triệu người có thể phải rời khỏi những khu vực duyên hải do nước biển dâng, bão, lụt hoặc nước ngọt bị nhiễm mặn Chất lượng sống kém, dân cư quá đông đúc và tình trạng thiếu nước, mất vệ sinh cũng như không hiệu quả trong việc quản lý và xử lý rác thải là nguyên nhân gây ra
tỉ lệ mắc bệnh ngày một cao Nếu như ở các nước phát triển, trẻ em dưới 18 tuổi chiếm khoảng 20% dân số thì các nước chịu nhiều ảnh hưởng của BĐKH
mà hầu hết là nước thu nhập thấp, trẻ em dưới 18 tuổi lên đến gần một nửa dân số (như 42% ở Băng-la-đét, 51% ở An-giê-ri, 57% ở U-gan-da) Quan trọng hơn là trẻ em dưới 5 tuổi chiếm tới 10 - 20% dân số ở các nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi BĐKH như Ấn Độ (11%), Băng-la-đét (12%), An-giê-ri và Mô-dăm-bích (17%), U-gan-da (21%), trong khi các nước có thu nhập cao, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi chỉ chiếm 4 - 5% dân số
1.3.2.2 Nguyên nhân BĐKH do khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự hoạt động của con người khi tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng các hệ sinh thái ven biển, ven bờ và đất liền Các loại khí cacbonich (CO2), metan (CH4),ôxit nitơ
Trang 2819
(N2O), chlorofluoro cacbon (CFCs), PFCs và SF6 CO2 phát thải khí đốt cháy nhiên liệu hóa thạch ( than, dầu khí) và là nguồn khí nhà kính do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép
- CH 4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm
- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magie Biến đổi khí hậu khiến cho khí hậu và trái đất nói chung nóng lên làm thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật sống trên trái đất
- Hiện tượng hiệu ứng nhà kính, khí nhà kính là những thành phần khí của khí quyển cả tự nhiên lẫn nhân tạo được phản xạ từ bề mặt trái đất khí được chiếu sang bằng ánh sang
1.3.2.3 Nguyên nhân BĐKH do nước biển dâng
Nước biển dâng cao do băng tan, dẫn tới sự ngập úng các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão Mực nước biển dâng tại một vị trí hoặc một số vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu do có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác Mực nước biển được đo thông qua hệ thống thiết bị đo triều ký đặt tại các trạm hải văn hoặc các máy đo độ cao vệ tinh Mực nước biển tăng do sự đóng góp của các thành phần chứa nước trên toàn cầu được ước tính gồm: giãn nở nhiệt của các đại dương, các sông băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước trên đất liền
Nước biển dâng gây nên hiện tượng sâm ngập mặn, nhiều dải đất ven biển bị chìm trong nước dẫn đến sự di cư của người dân lên các vùng đất cao hơn, như trung du miền núi gân nên sụ thay đổi cơ cấu cây trồng và đời sống kinh tế xã hội của các địa phương có người di cư đi và đến
Trang 291.3.3 Tổng quát về BĐKH ở Việt Nam
Qua nhiều nghiên cứu có thể cho thấy những nét chính của biến đổi khí hậu tại việt nam diễn ra qua các hiện tượng sau
Nhiệt độ khí quyển và thủy quyển tăng lên kèm theo những biến động khác thường làm cho chế độ thời tiết gió mùa bị xáo trộn bất thường mưa bão
có xu hướng gia tăng về cường độ, bất thường về thời gian và hướng dịch chuyển , thời tiết mùa đông ấm lên, mùa hè nóng thêm Xuất hiện bão, lũ và khô hạn bất thường
Hiện tượng ngập úng vùng đồng bằng và châu thổ mở rộng vào mùa mưa lũ, các dòng sông tăng cường xâm thực gây sạt lở lớn các vùng dân cư tập trung ở 2 bờ trên nhiều khu vực từ Bắc chí Nam
Hiện tượng này cũng đồng thời tạo cồn, bãi bồi lấp dòng chảy các sông, nhánh sông ở vùng hạ du, ở những sông đã xây dựng hệ thống đê kiên cố thì
có hiện tượng bồi lấp ngay chính giữ dòng sông cũng như tuyến khống chế giữa hai bờ đê, tạo nên thế địa hình ngược Vào mùa khô, hiện tượng phổ biến
là nước triều tác động ngày càng sâu về phía trung du, hiện tượng nhiễm mặn ngày càng tiến sâu vào lục địa
Ở Việt Nam trong vài thập kỷ vừa quan, mức nhiệt độ trung bình hàng năm năm tăng khoảng 0,5oC- 1oC trên phạm vi cả nước Lượng mưa phổ biến có xu hướng giảm ở phía Bắc, tăng ở phía Nam lãnh thổ
Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu, nhất là trong những năm gần đây Số ngày mưa lớn cũng có xu thế tăng lên tương ứng, nhiều biến động mạnh xảy ra ở khu vực miền Trung Tồn tại mối tương quan khá rõ giữa sự nóng lên toàn cầu và nhiệt độ bề mặt biển khu vực Đông
Trang 30đất (Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường, 2014)
Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam được xây dựng theo các kịch bản phát thải khí nhà kính toàn cầu, bao gồm: kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2, A1B), kịch bản phát thải cao (A2, A1FI).Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 54 đến 72 cm; thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 42 đến 57 cm
1.4 Tổng quan nghiên cứu tác động của BĐKH với tỉnh Thái Bình
Thái Bình là một tỉnh ven biển phía Nam đồng bằng châu thổ Sông Hồng, diện tích tự nhiên khoảng 1546 km2 với 5 cửa sông lớn và 52 km bờ biển, tỉnh có hàng nghìn hecta đất ngập mặn có tính đa dạng sinh học (ĐDSH)
và giá trị kinh tế cao Tuy nhiên trong nhưng năm gần đây thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan đã tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên, đời sống cộng đồng dân cư và đa dạng sinh học tại vùng ven biển Thái Bình
a Tổng quan về đất ngập nước và đa dạng sinh học vùng ven biển Thái Bình
Thái Bình là tỉnh được bao bọc bởi 3 con sông là sông Luộc, sông Hóa
và sông Hồng, có 5 cửa sông là Ba Lạt, Trà Lý, cửa Lân, của Diêm Hộ và cửa Thái Bình, phía Đông giáp biển với 52km chiều dài đường bờ Sự bồi đắp từ
Trang 3122
từ do lượng phù sa của các con sông đã tạo cho tỉnh Thái Bình hàng nghìn hecta đất ngập nước có gia trị về kinh tế và đa dạng sinh học rất cao được người dân khai thác và nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản Ngoài ra, Thái Bình còn có 25.653 ha đất lâm nghiệp ven biển và trong đó có 18.653 ha chưa
sử dụng được công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới (công nhận 02.12.2004)
Khu rừng ngập mặn ven biển Thái Bình có hệ động thực vật rất phong phú, thực vật chủ yếu là Sú, Vẹt và phi lao, là môi trường sinh sống và trú ngụ các loài thủy hải sản và 37 loài động vật sinh sống, trong đó có 123 loài chim với nhiều loài thuộc loại quý hiếm có trong sách đỏ Ngoài ra, rừng ngập mặn ven biển Thái Bình còn được xem là bức tường ngăn sóng, chống xói mòn và làm giảm sự tác động của bão và áp thấp nhiệt đới
b Những biểu hiện của biến đổi khí hậu tại Thái Bình
Biến đối khí hậu tại tỉnh Thái Bình biểu hiện rõ nét nhất thông qua các hiện tượng khí tượng, khí hậu cực đoan như: bão và áp thấp nhiệt đới, nắng nóng, rét đậm rét hại, lũ lụt, hạn hán , các hiện tượng này có xu thế ngày một nhiều hơn, mức độ, cường độ tần suất khó dự báo hơn
Nhiệt độ: Trong vòng 55 năm qua từ 1960 – 2015, nhiệt độ trung bình năm tại tỉnh Thái Bình đã tăng lên 0.410C, nhiệt độ mùa mưa tăng 0.920
C, nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè
Số ngày nắng nóng: có xu thế tăng khá rõ ràng, với mức độ tăng phổ biến từ 0,13 đến trên 4 ngày/ thập kỷ
Số ngày khô liên tiếp: tăng nhẹ ở hầu hết các trạm, dưới 3,3 ngày/thập
kỷ Hạn hán xảy ra vào mùa đông
Rét đậm: Hàng năm số ngày rét đậm phổ biến là 15-25 ngày ở ĐBSH
Về lượng mưa: giai đoạn 1960 – 2015 lượng mưa mùa mưa (tháng 5 đến 10) có chiều hướng giảm đi 9.2% , lượng mưa mùa khô có xu hướng tăng, lượng mưa lớn cực đại và số ngày mưa lớn đều có xu thế tăng lên
Trang 3223
Bão và áp thấp nhiệt đới: có xu hướng tăng lên và đường đi có xu hướng
đi vào địa bàn tỉnh cũng tăng lên
Không khí lạnh: trung bình năm Thái Bình chịu khoảng 28 đợt tràn về Nước biển dâng: theo số liệu vệ tinh từ 1994 – 2014 trung bình năm mực nước biển tại Thái Bình tăng lên 2.9 mm/năm
Nhìn chung, xu thế biến động của các hiện tượng khí hậu, khí tượng, thời tiết cực đoan diễn ra trên địa bàn tỉnh Thái Bình đều có xu thế chung là tiêu cực, đây chính là một trong những trở ngại lớn đối với công cuộc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
c Ảnh hưởng của BĐKH đến ven biển Thái Bình
Các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình như Thái Thụy, Tiền Hải phải đối mặt với các thiên tai có nguồn gốc từ biển vào như áp thấp nhiệt đới, xâm nhập mặn, nước dâng và sóng, đặc biệt vùng ven biển có nguy cơ mất đất canh tác do nước biển dâng Sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa làm thay đổi đột ngột môi trường sống của các loại động thực vật, đặc biệt là các loại thủy hải sản ven biển
Nhiệt độ tăng, biến đổi dị thường của lượng mưa làm thay đổi đột ngột môi trường sống gây thiệt hại nặng nề về mùa màng, ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản đặc biệt là khu vực ven biển nơi dân cư chủ yếu sống bằng nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Khu vực ven biển thường chịu tác động trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới, biến đổi khí hậu làm ra tăng tuần suất và cường độ, bão trái mùa xuất hiện nhiều hơn và đường đi của các cơn bão phức tạp hơn nên công tác phòng chống bão thường bị động, nên vùng ven biển Thái Bình thường chịu nhiều thiệt hại do bão và áp thấp nhiệt đới gây ra
Biến đổi khí hậu gây suy thoái đa dạng sinh học các khu dự trữ sinh quyển, đe dọa nghiêm trọng đến rừng ngập mặn ven biển, mất chỗ trú đông của các loài chim di cư đến vùng ven biển Thái Bình
Trang 3324
Đời sống nhân dân vùng ven biển bị ảnh hưởng tiêu cực, nặng nề do hệ quả của biến đổi khí hậu, theo tính toán của các nhà khoa học nếu nước biển dâng lên 30cm thì 1/3 diện tích của tỉnh Thái Bình sẽ bị nghập, nếu dâng 0.6 đến 1m thì tỉnh không còn đất canh tác
1.4.1 Chỉ số tổn thương đối với sản xuất nông nghiệp và các cây trồng tại tỉnh Thái Bình do tác động của BĐKH
Chỉ số tổn thương trong sản xuất nông nghiệp được tính toán dựa trên các chỉ số hóa của các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp chung bao gồm toàn bộ các số liệu liên quan như số liệu chạy từ mô hình (nhiệt độ, biên độ nhiệt, lượng mưa, năng suất tiềm năng); số liệu tính toán về diện tích ngập theo kịch bản nước biển dâng 0,69 m và 1 m; số liệu thống kê về diện tích, sản lượng, năng suất các loại cây trồng; các số liệu thống kê về hiện trạng sử dụng đất, dân
số, lao động, Chỉ số tổn thương trong sản xuất các cây trồng chính cũng được
tính toán tương tự như chỉ số tổn thương trong sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên các số liệu về năng suất, sản lượng, diện tích, năng suất tiềm năng được chọn lọc
từ bốn loại cây trồng chủ lực (lúa, ngô, đậu tương, mía)
Từ những kết quả tính toán cho thấy, chỉ số tổn thương trong sản xuất nông nghiệp trong vùng đều ở mức cao, dao động từ 0,75 đến 1,0 Tổn thương trong sản xuất nông nghiệp tại Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình rất cao (1,0), tiếp đến là tỉnh Quảng Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên có chỉ số tổn thương dao động từ 0,83–0,98 Các tỉnh còn lại có chỉ số tổn thương trong sản xuất nông nghiệp thấp hơn nhưng vẫn nằm ở mức tổn thương cao như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam (0,75-0,79) Theo định mức phân loại tổn thương chung thì sản xuất nông nghiệp ở mức tổn thương
từ cao đến rất cao
Đối với sản xuất các cây trồng chính, kết quả tính toán cũng chỉ ra rằng, chỉ số tổn thương trong sản xuất cây trồng chính vùng ĐBSH dao động từ 0,56 đến 1,0 Mức độ tổn thương trong sản xuất cây trồng chính
Trang 3425
tại Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định đạt mức cao nhất (xấp xỉ 1,0), tiếp đến là tỉnh Quảng Ninh, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương có chỉ số tổn thương dao động 0,72 – 0,84 Chỉ số tổn thương của các tỉnh còn lại dao động 0,56 – 0,65 Theo định mức phân loại tổn thương chung thì mức độ tổn thương trong sản xuất cây trồng chính vùng được đánh giá ở mức tổn thương đến đến tổn thương rất cao
Hình 1.1 Mức độ dễ bị tổn thương trong sản xuất nông nghiệp và các cây
trồng chính vùng ĐBSH
(Nguồn: Phạm Quang Hà, Viện Môi trường nông nghiệp 2013)
1.4.2 Đánh giá mức độ tổn thương đến cây lúa do tác động của BĐKH tại huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình
1.4.2.1.Phân tích tác động của các chỉ tiêu khi tượng, môi trường đối với lúa theo các kịch bản của BĐKH
(i) Chỉ tiêu nhiệt độ
Nhiệt độ tác động đến quá trình sinh trưởng nhanh hay chậm, phát triển tốt hay xấu Quá trình sinh trưởng của lúa thuận lợi nhất ở nhiệt độ
25 – 30oC Nếu nhiệt độ thấp hơn 17oC q u á t r ì n h sinh trưởng của lúa chậm lại, nếu thấp hơn 13oC thì lúa ngừng sinh trưởng, nhiệt độ thấp kéo
Trang 3526
dài nhiều ngày lúa có thể chết Nhiệt độ ≥ 40oC cây lúa sinh trưởng nhanh nhưng tình trạng sinh trưởng xấu, nếu kèm theo gió Lào, độ ẩm không khí thấp thì có thể chết
Nhiệt độ tăng trong mùa hè và chênh lệch về nền nhiệt lớn trong mùa đông đã làm cho cây lúa phát triển nhanh hơn và có nguy cơ làm giảm sản lượng, do cây trồng tăng trưởng nhanh sẽ làm giảm thời gian hạt lúa phát triển và trưởng thành làm giảm sản lượng.Huyện Thái Thụy có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa nên có nhiều diễn biến khác thường
về điều kiện khí hậu như có năm nắng nóng kéo dài nhiệt độ lên đến 39oC Trong khi đó nhiệt độ mùa đông có năm xuống dưới 50C và rét hại kéo dài đến 38 ngày (2008) Nắng nóng mùa hè vào tháng tư đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cây lúa trong giai đoạn làm đòng, chín, nhiệt độ lạnh vào mùa đông đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lúa trong thời kỳ gieo mạ
Tăng nhiệt độ và nhiều ngày nắng nóng, ít mưa trong khi điều kiện thủy lợi không tốt đã làm gia tăng nguy cơ hạn hán Theo số liệu thống kê tại Thái Bình, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn ở vụ đông xuân năm 2014 -
2015 diễn biến phức tạp, nhiệt độ trung bình cao, tổng lượng mưa thấp chỉ đạt bình quân trên 200 ly Diễn biến xâm nhập mặn bất thường, độ mặn trên các sông chính như sông Hóa, sông Hồng, sông Trà Lý khoảng 1% Riêng
độ mặn đo tại trạm Ba Lạt ngày 17/3 đạt 19,5%, tình trạng thiếu nước cũng
đã xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau, làm ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân Lượng dòng chảy trên sông Thái Bình thiếu hụt so với mức trung bình trong nhiều năm 30 - 40% vào những tháng đầu mùa khô Năm 2014, do hạn hán vụ đông xuân diễn ra nghiêm trọng, nên tỷ lệ lúa xuân tại huyện Thái Thụy chỉ thực hiện được 85% diện tích kế hoạch Dự báo nhu cầu nước cho canh tác vụ lúa xuân gặp rất
Trang 3627
nhiều khó khăn do nhu cầu nước lớn trong khi đó nguồn cung nước rất thấp
Năm 2015 là năm được đánh giá có mức độ hạn hán cao và kéo dài
vụ ở vụ đông xuân Theo kết quả thống kê của chương trình theo dõi sản xuất lúa toàn quốc năm 2012 thì cả vùng ĐBSH là 13,75 ngàn ha trong đó diện tích lúa bị hạn vào tháng 3 là 12,85 ngàn ha, chiếm 93,44% diện tích hạn của cả vùng Các tỉnh có diện tích theo chỉ số hạn hán cao gồm có Thái Bình (3,59 ngàn ha), Nam Định (2,38 ngàn ha), Hải Dương (1,8 ngàn ha)
Lượng mưa ảnh hưởng đến nhu cầu về nước của cây lúa Lúa bị hạn ở mọi giai đoạn đều làm giảm năng suất lúa đặc biệt là ở giai đoạn lúa làm đòng và trổ bông Một tháng cây lúa cần khoảng 200 mm nước
Do lượng mưa phân bố không đều trong năm tại vùng trong huyện
có mùa mưa và mùa khô, trong đó lượng nước tập trung 60 - 80% vào mùa mưa, do đó sản xuất lúa ở huyện Thái Thụy chịu tác động nặng nề của thay đổi lượng mưa, lũ lụt và ngập úng đến sản xuất lúa
Trong vòng 100 năm qua, đã có 26 trận lũ lớn Theo kết quả thống
kê, trong những năm gần đây trong vùng đã xuất hiện nhiều hơn các trận lũ lớn đi kèm những tổn thất nặng nề về kinh tế và sinh mạng Dựa vào kết quả quan sát diễn biến của các điều kiện thời tiết bất thường những năm gần đây, bão và lụt lội thường đến muộn đã ảnh hưởng đến diện tích lúa mùa sớm và
do đó làm giảm năng suất lúa vào các năm có các điều kiện thời tiết bất thường, đặc biệt là những trận lũ lịch sử gần đây nhất vào năm 2010, năm
2017 đã để lại hậu quả rất nặng nề Trong đó, diện tích lúa mùa bị ngập, đổ 4.681 ha, 1.860ha cây màu bị ngập úng, dập nát hoặc chết và hơn 321ha nuôi trồng thủy sản bị tràn bờ Ngoài ra, mưa lớn còn gây sạt lở một số công trình thủy lợi như đoạn đê cửa sông tả Diêm Hộ từ K3+330 đến K3+430
Trang 3728
(Thụy Liên), đoạn đê cửa sông tả Trà Lý từ K7+540 đến K7+550 (Thái Thọ) Như vậy, có thể thấy rằng sản xuất lúa ở ĐBSH chịu ảnh hưởng nặng
nề của lũ lụt, ngập úng do tác động tiêu cực của lượng mưa
xuất lúa
Rét đậm, rét hại:
Biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKH rét đậm, rét hại kéo dài nhiều ngày trong tháng 1 và 2 năm 2008, các đợt rét đậm, rét hại bất thường kéo dài vào cuối năm 2011 và đầu năm 2012 tại miền Bắc cũng như Thái Bình cho thấy sự gia tăng của thiên tai và các hiện tượng cực đoan của khí hậu, thời tiết làm ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất lúa Đợt rét này đã làm chết hàng ngàn ha lúa mạ và diện tích lúa Theo kết quả thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2008) đợt rét đó đã làm ảnh hưởng đến 31,7 nghìn ha lúa không có mạ để cấy Thái Bình mất
đi 10 ngàn ha lúa xuân, Hải Dương và Hải Phòng cộng chung thiệt hại là
14 ha lúa, Nam Định 500 ha mạ
Xâm lấn mặn và nước biển dâng:
Vùng ven biển tỉnh Thái Bình và huyện Thái Thụy đã bị xâm lấn mặn mạnh vào các tháng mùa kiệt Kết quả thống kê cho thấy xâm lấn mặn đã ảnh hưởng đến 38 ngàn ha đất canh tác (gồm các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Trực Ninh); đặc biệt, có trên 12 ngàn ha đất canh tác ven biển của Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng bị ảnh hưởng mặn nặng với độ mặn phổ biến 1,2 – 3‰, thậm chí có năm lên trên 4‰ nên việc canh tác lúa rất khó khăn – nhất là giai đoạn đầu vụ Theo đánh giá của địa phương, năng suất lúa ở các vùng diện tích bị xâm lấn mặn thường thấp hơn 20 - 30% so với các nơi khác, trong khi các chi phí thủy lợi lại cao hơn
(Trang thông tin về BĐKH, 2014)
Dịch bệnh:
Trang 3829
Kết quả đánh giá, tổng quan cho thấy năm 2009, do thời tiết âm u, nắng ít, lại xuất hiện nhiều đợt mưa phùn, nên bệnh đạo ôn hại lá lúa Đông xuân đã bùng phát mạnh trên các giống lúa Q5, BC15, PD2, lúa nếp, lúa lai tại 10 tỉnh: Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Bắc Ninh, Hà Nội, Vĩnh Phúc Tổng diện tích bị nhiễm bệnh 60.082 ha (trong đó Thái Bình bị nặng nhất 35.000 ha) Bệnh lùn sọc đen hại lúa là một loại bệnh mới xuất hiện tại các tỉnh phía Bắc trong những năm gần đây Bệnh này phát triển mạnh khi thời tiết thay đổi thất thường có tốc độ lây lan rất nhanh phát triển trên diện rộng Vụ xuân 2010 bệnh đã xuất hiện ở 20/25 tỉnh phía bắc với tổng diện tích nhiễm bệnh là 28,42 ngàn ha, các giống lúa đang được gieo cấy trong vùng đều bị nhiễm bệnh; diện tích phải tiến hành nhổ bỏ cây bệnh là 24,47 ngàn ha ước tính thiệt hại lên tới 979 tỷ đồng Rầy nâu cũng đang có xu hướng bùng phát trở lại khi diện tích phải phun thuốc trừ rầy năm 2009 là 334,28 ngàn ha, nhiều diện tích bị ảnh hưởng nặng nề và diện tích phải tiêu hủy vì rầy là 3,93 ha
(Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010)
Nhện gié cũng là loại côn trùng gây hại cho cây lúa và phát triển mạnh ở nhiệt độ 28 - 30°C, ẩm độ cao 96% Như vậy là sự thay đổi về điều kiện khí hậu, nhất là nhiêt độ, ánh sáng và lượng mưa có liên quan mật thiết đến sự gia tăng của một số loại dịch bệnh
Theo đánh giá từ kết quả điều tra các Sở Nông nghiệp và PTNT, từ 28/9/2012 đến 14/10/2012 trên 30% diện tích lúa mùa ở đồng bằng sông Hồng sinh trưởng kém do sâu bệnh, trong đó diện tích lúa bị sâu bệnh nhiều nhất là ở Hà Nội, tiếp đến là Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Ninh Bình Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Dương, đến ngày 8 tháng 5/2012 toàn tỉnh có trên 2 nghìn ha lúa chiêm xuân bị nhiễm rầy, mật độ trung bình từ 1.000 đến 2.000 con/m2 Trong đó có 66 ha lúa bị nhiễm nặng
Trang 3930
với mật độ từ 5.000 đến 7.000 con/m2, chủ yếu là rầy lưng trắng, gây hại
trên các giống nhiễm như: Khang dân 18, Q5, Syn 6, Bắc thơm, Xi 23, nếp
(Bộ NN & PTNT, 2014)
1.4.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến diện tích và năng suất lúa
Sản xuất nông nghiệp của xã chủ yếu tập trung vào cây lúa, ngoài ra trồng trọt của xã còn sản xuất các cây trồng khác như: ngô, khoai tây, đậu tương, dưa chuột, ớt, rau màu các loại trên đất bãi và diện tích đất lúa gieo xen kẽ giữa vụ hè và vụ đông Cơ cấu giống chủ yếu là giống lúa thuần và lúa lai chất lượng, như Thái Xuyên 111, BC15, T10, Bắc Thơm 7
Bảng 1.4 Diện tích và năng suất lúa của huyện Thái Thụy
Sản Lượng ( tạ ha)
Năng suất ( tạ ha)
Sản lượng ( tạ ha)
(Nguồn : Thống kê UBND Tỉnh Thái Bình, 2016)
Từ Bảng 1.4 cho thấy năng suất, sản lượng lúa cả năm của huyện nhìn
chung tăng dần Tuy nhiên có sự chênh lệch về năng suất hay sản lượng giữa
vụ xuân và vụ mùa cho dù trong một năm Vụ xuân thường có năng suất cao hơn dao động khoảng từ 70 tạ - 70,76 tạ/ha do gieo cấy đúng lịch thời vụ , giống hợp lý, sâu bệnh hại ở mức độ nhẹ, và đặc biệt là hạn chế chịu ảnh hưởng của thiên tai như mưa bão lớn Năng suất lúa mùa dao động khoảng 57
tạ - 5,75tấn/ha, giảm nhẹ so với vụ xuân nguyên nhân là do dù vụ mùa ấm áp,
Trang 4031
độ ẩm lớn thuận lợi cho quá trình sinh trưởng, phát triển của lúa, tuy nhiên giai đoạn lúa trỗ bông, phơi màu cuối tháng 8 đến tháng 9 gặp mưa lớn kéo dài làm ảnh hưởng quá trình làm đòng của cây lúa làm cho bong lúa có nhiều hạt lép lửng, giảm khối lượng hạt, năng suất thấp hơn
1.4.3 Một số tiêu chí đánh giá về tác động của BĐKH
Đánh giá mức độ thiệt hại của lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đối với hiện tượng biến đổi khí hậu, qua các nghiên cứu đã thực hiện chúng ta có được các chỉ số thiệt hại kết hợp các yếu tố cảm quan với biến đổi khí hậu, quá trình cảm nhận biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hay chậm, vận dụng các năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu tại địa phương xã, liên xã, huyện Thiết lập các bộ chỉ số có thể được áp dụng để đánh giá mức độ thay đổi do BĐKH của các nước sản xuất nông nghiệp, mật độ, diện tích sản xuất nôn nghiệp, diễn tích ảnh hưởng khi BĐKH xảy ra trong sản xuất nông nghiệp công ăn việc làm trong ngành sản xuất nông nghiệp nông thôn Một số chỉ số như trình độ văn hóa xã hội khả năng tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ngân hàng, tín dụng, thu nhập bình quân đầu người, chi phí trang trải cuộc sống từ nông nghiệp
Theo tác giả Tô Văn Trường (2009), Biến đổi khí hậu có những tác động mạnh mẽ mà chúng ta có thể nhận biết được bao gồm:
a Biến đổi khí hậu có những tác động mạnh mẽ đối với kinh tế và xã hội, thiên tai bão lũ tác động đến con người cây trồng và vật nuôi, làm tăng những nguy có biến đổi về dân số tăng, kinh tế sụt giảm, thu nhập, mức sống của người dân chịu ảnh hưởng nặng nề, lượng mưa gia tăng mạnh bất thường gây lũ lụt, bão biển vòi rồng, mùa đông kéo dài với những trận rét đậm rét hại mức nhiệt thấp kỷ lục xảy ra trong nhiều ngày gây chết gia súc, gia cầm, cây trồng
b Biến đổi khí hậu diễn ra âm thầm nhưng lại tác động trực tiếp và toàn diện đối với môi trường, nhiệt độ biến thiên, mưa lũ thất thường nguồn nước