1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

An ninh nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn quận ba đình hà nội

92 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH *** *** *** NGUYỄN QUỐC HUY AN NINH NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH, HÀ NỘI: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ NHỮNG THÁCH THỨ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

NGUYỄN QUỐC HUY

AN NINH NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH, HÀ NỘI: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TRONG TƯƠNG LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

NGUYỄN QUỐC HUY

AN NINH NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH, HÀ NỘI: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TRONG TƯƠNG LAI

Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống

Mã số: 8900201.05QTD

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ THỊ THAO

Hà Nội - 2020

Trang 3

CAM KẾT

Tác giả cam kết rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả thu được chủ yếu trong thời gian học và nghiên cứu và chưa được công bố trong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của người khác

Những kết quả nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng,

biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn

này đã được các tác giả đồng ý hoặc công khai và trích dẫn cụ thể

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội và pháp luật về những cam kết nói trên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau gần 2 năm học tập và rèn luyện tại Khoa Quản trị và Kinh doanh - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, bằng sự biết ơn và kính trọng, em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm, các thầy cô giảng dạy chương trình Thạc sĩ Quản trị An ninh Phi truyền thống, phòng Đào tạo của khoa Quản trị Kinh doanh Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn, lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Đình Phi, Chủ nhiệm Khoa Quản trị và Kinh doanh - Đại học Quốc gia Hà Nội, thầy là người đã truyền cảm hứng cho chúng em trong suốt quá trình học tập tại nhà trường và em cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Vũ Thị Thao, giảng viên khoa Quản trị và Kinh doanh - Đại học Quốc gia Hà Nội, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn Đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp đảm bảo An ninh

nguồn nước cho sự phát triển bền vững của thành phố Hà Nội” (Mã số

QG.19.60) do Đại học Quốc gia Hà Nội tài trợ đã cho phép sử dụng một phần thông tin, dữ liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài để thực hiện luận văn

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, song do trình độ bản thân và thời gian, điều kiện thực hiện nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của quý thầy cô, bạn bè đồng nghiệp để hoàn thiện luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG VÀ AN NINH NGUỒN NƯỚC 11

1.1 Quản trị An ninh phi truyền thống 11

1.1.1 Khái niệm An ninh phi truyền thống 11

1.1.2 Các vấn đề an ninh phi truyền thống 13

1.1.3 Phương trình quản trị an ninh phi truyền thống 16

1.2 An ninh nguồn nước và quản trị an ninh nguồn nước 17

1.2.1 Định nghĩa an ninh nguồn nước 17

1.2.2 Khung lí luận và phương trình quản trị An ninh nguồn nước sinh hoạt 19

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG AN NINH NGUỒN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH, HÀ NỘI 28

2.1 Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội quận Ba Đình, Hà Nội 28

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

2.1.2 Điều kiện kinh tế 29

2.1.3 Điều kiện chính trị 30

2.1.4 Điều kiện xã hội 30

2.2 Thực trạng an ninh nguồn nước sinh hoạt tại quận Ba Đình, Hà Nội 31

2.2.1 An toàn (S1) 31

2.2.2 Ổn định (S2) 37

2.2.3 Phát triển bền vững (S3) 39

Trang 6

2.2.4 Quản trị rủi ro (C1) 41

2.2.5 Khủng hoảng (C2) 44

2.2.6 Khắc phục khủng hoảng (C3) 48

2.3 Nguyên nhân nguy cơ mất an ninh nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn quận Ba Đình, Hà Nội 52

2.3.1 Nguyên nhân khách quan 52

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 53

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH, HÀ NỘI VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TRONG TƯƠNG LAI 55

3.1 Giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước sinh hoạt 55

3.1.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách 55

3.1.2 Nhóm giải pháp về kỹ thuật, công nghệ 58

3.1.3 Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực 59

3.1.4 Giải pháp khác 60

3.2 Những thách thức trong tương lai 63

KẾT LUẬN, HẠN CHẾ CỦA LUẬN VĂN VÀ KIẾN NGHỊ 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

4 IWRA International Water Resources Association

(Hiêp hội Tài nguyên Nước quốc tế)

7 QTANPTT Quản trị An ninh phi truyền thống

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: So sánh an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống 15 Bảng 2.1: Hộ gia đình sử dụng nước sạch trên địa bàn quận Ba Đình cho mục đích ăn uống, thành phố Hà Nội 31 Bảng 2.2: Đánh giá về chất lượng vệ sinh nguồn nước của các hộ dân trên địa bàn quận Ba Đình 33 Bảng 2.3: Đánh giá màu sắc, mùi vị bất thường của nước sinh hoạt 34 Bảng 2.4: Tình trạng mắc bệnh liên quan đến nguồn nước trên địa bàn quận

Ba Đình 35 Bảng 2.5 Đánh giá của các chuyên gia, nhà quản lý về chất lượng vệ sinh nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn quận Ba Đình 36 Bảng 2.6: Đánh giá của chuyên gia, nhà quản lý về tỉ lệ người dân trên địa bàn quận Ba Đình được tiếp cận nước sinh hoạt đạt chuẩn 38 Bảng 2.8 Kết quả đánh giá công tác Quản trị ANNNSH trên địa bàn quận Ba Đình, Hà Nội 50 Bảng 2.9 Tình hình khai thác nước ngầm tại Hà Nội 53 Bảng 2.10 Dự báo nhu cầu sử dụng nước cấp tại Hà Nội 64

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Bản đồ Quận Ba Đình 28 Hình 2.2: Tỉ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch (nước máy) trên địa bàn quận

Ba Đình cho mục đích ăn uống, thành phố Hà Nội 32 Hình 2.3: Các hộ gia đình trên địa bàn quận Ba Đình đánh giá về chất lượng

vệ sinh nguồn nước máy 33 Hình 2.4: Người dân trên địa bàn quận Ba Đình đánh giá về tình trạng xuất hiện màu sắc, mùi vị lạ của nước sinh hoạt 34 Hình 2.5: Tỉ lệ người dân mắc bệnh liên quan đến nước trên địa bàn quận Ba Đình 35 Hình 2.6: Đánh giá của chuyên gia, nhà quản lý trên địa bàn quận Ba Đình về

tỉ lệ thất thoát nước sinh hoạt 40 Hình 2.7: Đánh giá của chuyên gia, nhà quản lý về công tác quản trị rủi ro an ninh nguồn nước trên địa bàn quận Ba Đình 44

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước là một trong những tài nguyên quan trọng nhất trên hành tinh và nếu không có nước sự sống không thể tồn tại Đối với con người nước phục

vụ sinh hoạt, các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch và dịch vụ… Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu khôn lường như hiện nay nước không chỉ là vấn đề sống còn của mối cá thể, dân tộc, quốc gia mà còn là vấn đề của

cả nhân loại Các bất ổn (mất an ninh) nguồn nước như khan hiếm, ô nhiễm, lụt lội, thiên tai, xâm nhập mặn, tranh chấp trong việc sử dụng chung nguồn nước…cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các thiệt hại kinh tế, bất

ổn chính trị và mất an sinh xã hội

Mặc dù là một quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc, tuy nhiên Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia “thiếu nước” do lượng nước mặt bình quân đầu người mỗi năm chỉ đạt 3.840 m3, dự kiến đến năm 2020 còn khoảng 2.830 m3/người/năm thấp hơn chỉ tiêu 4.000 m3/người của Hiêp hội Tài nguyên Nước quốc tế (IWRA) Theo thống kê của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, Bộ Y tế, Việt Nam hiện có trên 17,2 triệu người đang

sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoan, chưa được kiểm nghiệm hay qua xử lý Tuy tài nguyên nước bề mặt của nước ta tương đối dồi dào, nhưng

đó không phải là nước sạch để dùng cho ăn uống, sinh hoạt vì nước sông, suối, ao hồ đều đang bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau Nước ngầm khu vực, đặc biệt là Hà Nội hiện nay cũng đang trở nên ô nhiễm và thiếu, sụt lún

bề mặt do bị khai thác quá mức Nước mưa cũng có nguy cơ bị ô nhiễm do một số nguyên nhân như không khí ô nhiễm, dụng cụ để thu hứng để lấy nước mưa không đảm bảo vệ sinh

Trên thế giới các nghiên cứu về vấn đề về an ninh nguồn nước ở các cấp

độ và khía cạnh khác nhau như cấp độ toàn cầu, quốc gia đến thành phố, nông thôn, khía cạnh nước sinh hoạt, nước cấp, nước thải…cũng tương đối phong

Trang 11

phú và ngày càng gia tăng qua các năm Tuy nhiên ở Việt Nam các nghiên cứu về an ninh nguồn nước nói chung và đặc biệt là an ninh nguồn nước sinh hoạt tại các đô thị lớn còn rất hạn chế

Quận Ba Đình là một trong 12 quận nội thành giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của thủ đô Hà Nội Các hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội ở đây diễn ra rất sôi động Mật độ dân

cư tập trung đông đúc và hàng năm vẫn tăng lên do một lượng lớn người mới

di cư đến sinh sống và du lịch Ba Đình là quận tập trung nhiều các cơ quan Chính phủ, nhiều đại sứ quán các nước, nhiều đền, lăng, phủ, … có ý nghĩa lịch sử và chính trị Chính vì vậy, đối với Hà Nội và đặc biệt với quận Ba Đình việc đảm bảo an ninh nguồn nước là việc làm hết sức cần thiết

Hiện nay, nước sinh hoạt trên địa bàn quận Ba Đình được cung cấp bởi nhiều nguồn khác nhau Trong đó, nước máy (nước sạch) là nguồn chủ yếu

Tỉ lệ dân cư quận Ba Đình được tiếp cận nước sạch so với nhiều quận khác thuộc diện cao Tuy nhiên, với tốc độ tăng dân cư như hiện nay và tính bền vững của các nguồn cung nước còn chưa cao thì nguy cơ thiếu nước sạch phục vụ cho sinh hoạt sẽ tăng lên trên địa bàn quận này Chính quyền tại đây

đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn Tuy nhiên, các giải pháp còn chưa phù hợp, chưa đưa ra được giải pháp tổng thể khi giải quyết vấn đề liên ngành của nguồn nước sinh hoạt

Vì tất cả những lý do kể trên, tác giả xin chọn đề tài: “An ninh nguồn

nước sinh hoạt trên địa bàn quận Ba Đình, Hà Nội: Thực trạng, giải pháp

và những thách thức trong tương lai” làm luận văn thạc sĩ của mình Thực

hiện đề tài không chỉ đánh giá được thực trạng và đưa ra giải pháp đảm bảo

an ninh nguồn nước sinh hoạt cho quận Ba Đình nói riêng mà còn là cơ sở lý luận và thực tiễn cho các quận, huyện tương tự trong cả nước, giúp cho người dân, các đơn vị cấp nước, các nhà quản lý, hoạch định chính sách làm tài liệu tham khảo trong việc nâng cao công tác quản trị an ninh nguồn nước

Trang 12

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới

Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững (PTBV) của Liên hợp quốc tại Johannesburg, Nam Phi 2002 đã đưa ra khái niệm tổng quát về ANNN là “đảm bảo rằng các hệ sinh thái nước ngọt, hệ sinh thái biển và các

hệ sinh thái liên quan được bảo vệ và củng cố; PTBV và ổn định chính trị sẽ được đẩy mạnh; mỗi người đều được tiếp cận đầy đủ nguồn nước sạch với chi phí vừa phải để có được một cuộc sống khỏe mạnh, sung túc và các cộng đồng dễ bị tổn thương sẽ được bảo vệ trước rủi ro từ những thảm họa liên quan đến nước”

OECD (2011) đã chỉ ra rằng mục tiêu ANNN là duy trì mức độ chấp nhận được của bốn yếu tố rủi ro liên quan đến nước: (1) Rủi ro thiếu nước (bao gồm hạn hán), khi lượng nước không đủ để phục vụ tất cả các đối tượng

sử dụng (hộ gia đình, kinh doanh và môi trường), (2) Rủi ro về chất lượng, chất lượng nước không đủ cho mục đích sử dụng cụ thể, (3) Rủi ro thừa nước (bao gồm lũ lụt), lượng nước vượt quá mức độ bình thường của một hệ thống nước, hoặc tích tụ nước trên các khu vực mà bình thường không bị ngập, (4) Rủi ro liên quan đến khả năng phục hồi của các hệ thống nước ngọt, vượt quá khả năng đối phó của các bề mặt nước ngầm, mặt đất và các tương tác của chúng, có thể vượt qua các điểm bùng phát và gây thiệt hại không thể đảo ngược cho các chức năng thủy lực và sinh học của hệ thống Tất cả các rủi ro này phải được đánh

Trong bản tin chính sách của Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát

triển Bền vững Liên Hợp quốc (UNCSD-Rio+20): Theo Tuyên bố Cấp Bộ

trưởng của Diễn đàn Nước Thế giới lần thứ 2 (năm 2000), ANNN đồng nghĩa với việc “đảm bảo rằng các hệ sinh thái nước ngọt, hệ sinh thái biển và các hệ sinh thái liên quan được bảo vệ và củng cố; phát triển bền vững và ổn định chính trị sẽ được đẩy mạnh; mỗi người đều được tiếp cận đầy đủ nguồn nước

Trang 13

sạch với chi phí vừa phải để có được một cuộc sống khỏe mạnh, sung túc và các cộng đồng dễ bị tổn thương sẽ được bảo vệ trước rủi ro từ những thảm họa liên quan đến nước”

Thực tế khái niệm về ANNN được đưa ra với nhiều cách trình bày khác nhau như đề cập ở trên, tuy nhiên về bản chất những khái niệm ANNN đều có điểm chung với nội hàm, đó là sự tiếp cận bền vững nguồn nước cả về số lượng, chất lượng nước, chất lượng dịch vụ cấp nước và chi phí ở mức độ chấp nhận được để phục vụ phát triển KT-XH, đảm bảo sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và an sinh xã hội

Hiện nay, thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề/thách thức liên quan đến ANNN như sự khan hiếm, ô nhiễm nguồn nước, chiến tranh nước,

thiên tai liên quan đên nguồn nước ANNN đang phải đối mặt với nhiều thách

thức khó lường khi mà các khu vực lớn trên thế giới đang rơi vào tình trạng thiếu nước hoặc căng thẳng trầm trọng về nước

Theo kết quả nghiên cứu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB, 2016), hai điều kiện quan trọng để đạt được ANNN là: tài chính và quản trị Theo đó, hai điều kiện này có quan hệ mật thiết với nhau, cụ thể: các khoản đầu tư liên quan đến nước có thể làm tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế, trong khi tăng trưởng kinh tế cung cấp các nguồn lực để đầu tư vào công nghệ, cơ sở hạ tầng để xử lý nước Như ở Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan,… mỗi đô la đầu tư vào nguồn nước có thể mang lại lợi nhuận từ 5 đến 46 đô la trong chi phí y tế và tăng hiệu suất kinh tế

Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra tầm quan trọng của công nghệ trong việc đảm bảo ANNN Nếu giả sử các yếu tố về xung đột không tồn tại, sử dụng công nghệ một cách hợp lý có thể đảm bảo giải quyết đước các vấn đề về khan hiếm nước thông qua việc tái sử dụng nước, lưu trữ nước mưa, khử muối khỏi nước biển (desalination) như Singapore đã làm, xử lý các vấn đề chất lượng nước cấp, nước thải bằng công nghệ xử lý phù hợp, hoặc giải

Trang 14

quyết vấn đề về thất thoát nước tại Isarel thông qua ứng dụng nhiều loại cảm biến công nghệ khác nhau từ nhiều công ty – công ty cấp nước Hagihon tại Israel đã giảm được 18% NRW (Non-revenue water) lượng nước thất thoát trong đường ống nhờ ứng dụng cảm biến siêm âm phát hiện nứt gãy đường ống Lũ lụt cũng là một vấn đề ảnh hưởng lớn đến ANNN của một quốc giá,

ví dụ như Hà Lan, nơi có hơn 2/3 diện tích đất liên tục bị đe dọa bởi lũ lụt, và quốc gia này đã rất thành công trong việc ứng dụng công nghệ - nổi tiếng với việc xây dựng đảo cát nhân tạo để giảm tác động của lũ lụt, bão - để giải quyết các rủi ro, đe dọa liên quan đến lũ lụt

An ninh nguồn nước là mối quan tâm toàn cầu vì tác động ngày càng tăng của các hoạt động của con người và biến đổi khí hậu về tài nguyên nước Các nghiên cứu về An ninh nguồn nước ở cấp độ toàn cầu, quốc gia và thành phố nói chung được các diễn đàn, chuyên gia thế giới quan tâm, nghiên cứu từ rất lâu Tuy nhiên các công bố sâu về những vấn đề, khía cạnh riêng liên quan đến An ninh nguồn nước như An ninh nguồn nước cho môi trường, cho hệ sinh thái, nước cung, nước cấp, nước mặt, nước ngầm, nước đô thị, nông thôn, nước cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản đặc biệt là An ninh nguồn nước sinh hoạt cho các đô thị lớn còn rất hạn chế

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước

Khái niệm và các nghiên cứu về ANNN tại Việt Nam còn rất hạn chế

và bắt đầu được các chuyên gia trong nước quan tâm trong một vài năm gần đây

Theo tác giả Phạm Thành Dung “An ninh nguồn nước chính là vấn đề

An ninh phi truyền thống (Tạp chí giáo dục lý luận, số 220, 2014) Tại công

bố này, tác giả đã nêu bật thực trạng và 4 dự báo những nguy cơ thách thức về

an ninh nguồn nước ở Việt Nam đồng thời đề xuất 6 giải pháp đồng bộ nhằm phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia

Trang 15

Cấn Thế Việt và các tác giả trong công bố “Nghiên cứu xác lập phương pháp tính toán và đánh giá diễn biến chỉ số ANNN cho thành phố Trà

Vinh, tỉnh Trà Vinh” (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất

và Môi trường, Tập 34, 2018, trang 1-9) đã áp dụng phương pháp phân tích

đa tiêu chí để tính toán chỉ số ANNN (WSI) phục vụ cho việc định lượng hóa

và đánh giá diễn biến mức độ ANNN cho thành phố Trà Vinh giai đoạn

2012-2016 Qua đó, tác giả đã đề xuất giải pháp cải thiện, nâng cao hiệu quả quản

lý, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước bền vững cho TP Trà Vinh

Nghiên cứu tương tự với cách tiếp cận ANNN theo định nghĩa của UNESCO-IHP cho thành phố Hà Nội hiện chưa có Các nghiên cứu công bố hiện có chỉ xem xét một số khía cạnh riêng lẻ, đơn lĩnh vực của ANNN như ô nhiễm nước ngầm, tái sử dụng nước mưa thay thế, … và vẫn chỉ được thể hiện và lồng ghép trong các chính sách văn bản quy phạm

Ngày 18 tháng 11 năm 2011, Lãnh đạo UBND TP Hà Nội và Bộ Xây dựng đã tổ chức Hội nghị chung, thống nhất thực hiện "Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và định hướng đến năm 2050" và đã được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt vào tháng 7 năm 2011 Tại thời điểm đó, TP Hà Nội đã được mở rộng thông qua sát nhập tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình) Thành phố cũng đã xây dựng bản “Quy hoạch hạ tầng kĩ thuật” nói chung và “Quy hoạch tổng thể cấp nước” nói riêng TP Hà Nội có tài nguyên nước dưới đất và nước mặt phong phú Tuy nhiên, việc khai thác nước dưới đất chưa được quy hoạch hợp lý như hiện nay đã gây ra hạ thấp mực nước lớn làm ảnh hưởng đến môi trường (sụt lún đất) cũng như chất lượng nguồn nước (ô nhiễm) Hiện nay, gần 70% nguồn nước dưới đất sử dụng cho ăn uống sinh hoạt, sản xuất, dịch vụ ở TP Hà Nội được khai thác từ tầng chứa nước Pleistocen Tài liệu quan trắc động thái nước dưới đất tại khu vực Hà Nội cho thấy mực nước dưới đất tầng chứa nước Pleistocen liên tục bị

Trang 16

hạ thấp trong khi tổng lượng nước khai thác mới chỉ chiếm phần nhỏ trong tổng trữ lượng có thể khai thác của khu vực Điều đó chứng tỏ mạng lưới khai thác nước dưới đất ở Hà Nội hiện nay là chưa hoàn toàn hợp lý

Đảm bảo an ninh nguồn nước, an ninh môi trường đã được quan tâm và chú trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia và đô thị Điều

đó được thể hiện trong Bộ Luật về môi trường (2014); Luật thuế tài nguyên (2009); Luật thuế bảo vệ môi trường (2010); Quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (2013); Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn

2011 – 2020 (Quyết định số 432/QĐ-TTg); Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 (Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg); Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012-2015 (Quyết định số 366/QĐ-TTg); Quyết định số 1216/QĐ-TTg (05/9/2012) về Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

Kế hoạch hành động quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước giai đoạn 2014-2020 (Quyết định số 182/QĐ-TTg); Quyết định 432/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 của Thủ tướng chính phủ; Quyết định

số 1618/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án Xây dựng Hệ cơ

sở dữ liệu quốc gia về quan trắc tài nguyên và môi trường; Thông tư số 51/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định các quy chuẩn

kỹ thuật về môi trường trên địa bàn thủ đô Hà Nội

Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt dự

án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” trong giai đoạn 2013-2018 Để có các giải pháp hữu hiệu bảo vệ nước dưới đất khỏi bị suy thoái, các cơ quan quản lý phải xác định đúng đắn nguyên nhân mới có thể khắc phục được tình trạng hiện nay một cách có hiệu quả và lâu dài

Tại hội thảo, triển lãm quốc tế “An ninh nguồn nước trong kỷ nguyên biến động” (VACI 2015), Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải khẳng định: Việt

Trang 17

Nam tự xác định là quốc gia thiếu nước, nên sẽ luôn coi trọng các ứng xử, hành động đảm bảo ANNN phục vụ phát triển bền vững; tích cực trong các hoạt động quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước, ứng phó với biến đổi khí hậu

PGS TS Đặng Văn Bào (Khoa Địa lý, ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN) đã nghiên cứu và biên soạn cuốn sách “Hệ thống sông hồ Hà Nội”, 2015 Đây không chỉ là một công trình quan trọng mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Tác giả đã tổng hợp được được thực trạng hệ thống hồ nước, sông ngòi; xác định được nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển và các nhân tố ảnh hưởng tới hệ thống hồ nước, sông ngòi khu vực TP Hà Nội; phân tích, đánh giá được hiện trạng và biến động về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường các hồ nước, sông ngòi; tái hiện được hệ thống các lòng sông cổ khu vực TP Hà Nội; Đề xuất được định hướng và các giải pháp quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý các hồ nước, sông ngòi khu vực TP Hà Nội

Trong công trình nghiên cứu “Định hướng khai thác bền vững tài nguyên nước dưới đất phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng TP Hà Nội”,

TS Phạm Qúy Nhân (Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội) đã đánh giá tiềm năng trữ lượng nước dưới đất TP Hà Nội thông qua việc cập nhật các điều tra nghiên cứu bổ xung trong những thập niên vừa qua bằng việc làm

rõ nguồn bổ cập cho nước dưới đất và nghiên cứu cơ chế và bản chất nguồn gốc gây ra ô nhiễm Asen, Amoni và sụt lún mặt đất do khai thác nước Áp dụng nghiên cứu đó, tác giả đề xuất giải pháp bố trí các công trình khai thác nước dưới đất một cách hợp lý và bền vững

Nhìn chung các nghiên cứu trên mới đề cập đến an ninh nguồn nước nói chung, chưa nêu rõ được thực trạng, nguyên nhân và giải pháp cho từng loại nước (cấp, thải, sinh hoạt…) và cho từng khu vực cụ thể Chính vì vậy, thực hiện nghiên cứu cho luận văn tác giả không chỉ kế thừa các kiến thức

Trang 18

chung của các nghiên cứu trước đó làm cơ sở mà còn vận dụng cơ sở lý luận

và phương trình Quản trị An ninh phi truyền thống trong chương trình học để định lượng các đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp cho đảm bảo an ninh nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn các quận nội thành Hà Nội nói chung và quận Ba Đình nói riêng

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng và nêu được những nguyên nhân gây mất An ninh nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội;

- Đề xuất các giải pháp và những thách thức trong tương lai trong việc đảm bảo

An ninh nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội

4 Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề liên quan đến An ninh nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn quận

Ba Đình, Hà Nội (công tác quản trị An ninh nguồn nước sinh hoạt, thực trạng chất lượng, trữ lượng nguồn nước, cơ sở hạ tầng cấp, thoát và xử lý nước…)

5 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: quận Ba Đình, Hà Nội

- Phạm vi về thời gian: từ tháng 09/2016 đến tháng 09/2019

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu, tổng hợp lý thuyết, các kết quả nghiên cứu từ các sách chuyên khảo, các bài báo khoa học, luận văn, dự án, đề tài khoa học Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong khi đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và Chương 1 của luận văn

- Thực hiện các cuộc phỏng vấn, khảo sát và thu thập thông tin, dữ liệu Phương pháp này được thực hiện nhằm phục vụ cho viết đánh giá thực trạng

an ninh nguồn nước trên địa bàn quận Ba Đình tại Chương 2 của luận văn

- Thu thập các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp; sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phân tích và đánh giá Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong Chương 2 của luận văn

Trang 19

- Sử dụng phương trình Quản trị An ninh phi truyền thống để đánh giá thực trạng An ninh nguồn nước Phương trình này chính là cơ sở quan trọng nhất

để tác giả tiến hành nghiên cứu Trên cơ sở những yếu tố của Phương trình, tác giả luận văn sẽ đánh giá được thực trạng an ninh nguồn nước sinnh hoạt trên địa bàn quận Ba Đình

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết cấu thành ba Chương như sau:

- Chương 1: Nhận thức chung về quản trị an ninh phi truyền thống và an ninh nguồn nước

- Chương 2: Thực trạng an ninh nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn quận

Trang 20

CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUẢN TRỊ AN NINH PHI

TRUYỀN THỐNG VÀ AN NINH NGUỒN NƯỚC 1.1 Quản trị An ninh phi truyền thống

1.1.1 Khái niệm An ninh phi truyền thống

Trong bối cảnh hội nhập thế giới sâu, rộng cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ, truyền thông, mạng Internet, đầu tư, thương mại, du lịch, giao thoa các nền văn hóa, … an ninh của mỗi quốc gia đang đứng trước các nguy cơ mới, tiềm ẩn nhiều hiểm họa khó kiểm soát và dự báo như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, tội phạm xuyên quốc gia …

và những thách thức từ khủng hoảng, bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội Từ những năm 90 của thế kỷ XX, các chuyên gia, nhà nghiên cứu về vấn đề an ninh nhận định những nguy cơ mới đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia

và quốc tế nêu trên chính là vấn đề “an ninh phi truyền thống” (ANPTT)

(Non-traditional security) hay “an ninh mềm” So với An ninh truyền thống

hay còn gọi là “an ninh cứng”, các rủi ro và khủng hoảng ANPTT xuất phát từ

cả bên trong và bên ngoài quốc gia, cả chủ quan và khách quan trên các lĩnh vực và với tốc độ lan truyền nhanh, hậu quả lớn, khó lường và tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia, an ninh con người và an ninh doanh nghiệp

Trên thế giới hiện nay, các chuyên gia, học giả đã đưa ra nhiều nhiều quan điểm và định nghĩa riêng về ANPTT Phần lớn các quan điểm đều cho thấy an ninh phi truyền thống thường bao hàm các yếu tố phi quân sự, mở rộng phạm vi ra ngoài một quốc gia, tính lan truyền lớn do xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển của nhanh chóng của khoa học - công nghệ và liên quan

sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội và phát triển bền vững

Ở Việt Nam, khái niệm ANPTT được nhắc đến vào năm 2005 do một số nhà nghiên cứu thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đưa ra trong các hội nghị ngành và một số cuộc hội thảo khoa học và tạp chí cộng sản Trong bối cảnh hợp tác toàn cầu hiện nay, Việt Nam là quốc gia đang phát triển, có vị trí địa

Trang 21

lý đặc thù Chính vì thế, chúng ta đang ngày càng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức trên tất cả các phương diện, lĩnh vực từ các vấn đề ANPTT Nhận định được vấn đề trên, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) đã thông qua Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới, và đặc biệt nhấn mạnh đến các vấn đề ANPTT

Ở nước ta, vấn đề an ninh phi truyền thống được các nhà nghiên cứu nói chung, đặc biệt giới nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học chính trị, an ninh, quốc phòng đặc biệt quan tâm Mặc dù, có nhiều quan điểm và góc nhìn khác nhau, nhưng các chuyên gia đều nhận định ANPTT và ANTT không có tính loại trừ nhau và là hai mặt cấu thành của an ninh quốc gia Đặc biệt, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số, biến đổi khí hậu khôn lường thì chất lượng môi trường sống của con người (đất, nước, không khí, tiếng ồn…) đang

là vấn đề của ANPTT cần quan tâm và giải quyết cấp bách

Chúng ta có thể nhận thấy, còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề an ninh phi truyền thống Tuy nhiên, các quan điểm đều thống nhất rằng, an ninh phi truyền thống bao gồm các yếu tố phi quân sự, mới xuất hiện và đe dọa đến loài người không kém gì các vấn đề an ninh truyền thống Từ những sự phân

tích nói trên, chúng ta có thể khái quát: n ninh phi tru n thống à việc bảo

đả an toàn, hông c hiể ngu cho cá nh n con người, quốc gia n t c và toàn nh n oại trước các ối đ ọa c nguồn gốc phi qu n s như iến đổi khí hậu, ô nhiễ ôi trường, khan hiếm nguồn l c, dịch bệnh lây lan nhanh, khủng hoảng tài ch nh, an ninh ạng, t i phạm nguy hiểm xuyên biên giới, chủ nghĩa hủng bố… Các ối đ ọa an ninh phi truy n thống thường an

t a nhanh, ảnh hưởng r ng ang t nh hu v c ho c toàn c u, o tác đ ng bởi

t trái của inh tế thị trường, của toàn c u h a, của s ụng thành t u hoa học - công nghệ

Trang 22

1.1.2 Các vấn đề an ninh phi truyền thống

1.1.2.1 Đ c điể của an ninh phi tru n thống

*Tính toàn cầu

Các vấn đề ANPTT có tính khuếch tán rộng và không chỉ là vấn đề ở quy mô một quốc gia, dân tộc mà nhanh chóng ảnh hưởng và liên quan đến lợi ích toàn cầu mang tính xuyên quốc gia Ví dụ dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng tài chính, chủ nghĩa khủng bổ… là các vấn đề ANPTT

mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt

*Tính đa dạng

Cùng với sự phát triển và toàn cầu hóa, các vấn đề an ninh phi truyền thống xuất hiện ngày càng nhiều Trong Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống năm 2002 đã liệt kê các vấn đề an ninh phi truyền thống gồm: buôn lậu, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm, kinh tế quốc tế và tội phạm công nghệ cao Ngoài ra mỗi vấn đề ANPTT lại diễn ra ở những khía cạnh, tính chất ngày càng phong phú, phức tạp hơn, khó kiểm soát

nó đã gây hậu quả nghiêm trọng

*Tính chuyển hóa

Mặc dù an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống là hai mặt của khái niệm an ninh nhưng chúng lại có quan hệ đan xen với nhau, trong một số điều kiện chúng ta không thể phủ định khả năng chuyển hóa giữa mối quan hệ

an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống Các mối đe dọa an ninh

Trang 23

truyền thống và an ninh phi truyền thống được đan xen, tương tác và có thể biến đổi lẫn nhau trong những điều kiện nhất định

Bản thân trong chính các vấn đề an ninh phi truyền thống cũng có sự chuyển hóa Chẳng hạn, như bệnh AIDS vốn là đại dịch thế kỷ, là một trong những sự uy hiếp của an ninh phi truyền thống thế nhưng khi y học phát triển

và tìm được cách điều trị thì nó lại không còn là mối đe dọa tới sự sinh tồn và phát triển của con người nữa

1.1.2.2 Ph n oại an ninh phi tru n thống

Dựa vào các tiêu chí khác nhau, an ninh phi truyền thống được phân loại thành các nhóm khác nhau Dưới đây là những cách phân loại phổ biến nhất:

Thứ nhất, phân loại theo cách tiếp cận

- Đối với cách tiếp cận lấy nhà nước làm trung tâm, an ninh phi truyền thống bao gồm: an ninh chính trị quốc gia, an ninh quân sự quốc gia, an ninh kinh tế quốc gia, an ninh văn hóa và tư tưởng quốc gia…

- Đối với cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, an ninh phi truyền thống gồm có: an ninh nhà nước, an ninh con người (con người và cộng đồng), an ninh doanh nghiệp

Thứ hai, phân loại theo ba nhóm chịu các tác động của an ninh phi truyền

thống, gồm an ninh nhà nước, an ninh con người, an ninh doanh nghiệp

Thứ ba, phân loại theo các ngành kinh tế:

- An ninh kinh tế

- An ninh nông nghiệp

- An ninh công nghiệp

- An ninh thương mại

- An ninh tài chính

- An ninh ngân hàng

- An ninh hàng không

- An ninh biển

Trang 24

- An ninh giao thông

- An ninh thông tin và truyền thông

1.1.2.3 Mối quan hệ giữa an ninh tru n thống và an ninh phi tru n thống

An ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đều nằm trong nhóm các vấn đề an ninh, là hai mặt của khái niệm an ninh toàn diện Quản trị tốt an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống (những vấn đề an ninh mới) có một vị trí đặc biệt quan trọng để đảm bảo an ninh toàn cầu và an ninh của từng quốc gia

Bảng 1.1: So sánh an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống

TT Đặc

ĐIỂM CHUNG

ĐIỂM MỚI CỦA AN PTT

Cách tiếp cận

ấ nhà nước làm trung tâm

Gắn với an ninh nhà nước, an ninh con người và an ninh doanh nghiệp

Cách tiếp cận ấ con người à trung t

Hai bộ phận hợp thành

an ninh quốc gia

Mối quan hệ biện chứng

Khái niệm mới phát triển từ khi hội nhập toàn cầu

Ổn định và PTBV của nhà nước, con người (cộng đồng) và doanh nghiệp

Chính phủ của dân, do dân, vì dân

An ninh là lợi ích chung

Phát triển theo xu thế hội nhập toàn cầu

Trang 25

Mối quan hệ biện chứng

Đổi mới nhận thức

Sức mạnh & nguồn lực NN Sức mạnh, nguồn lực cộng đồng Sức mạnh & nguồn lực DN

Mối quan hệ biện chứng

Thay đổi nhận thức Phải chủ động

do Đảng cầm quyền quyết định

Quốc tế Khu vực NN Con người (cá nhân - cộng đồng) Doanh nghiệp

Mối quan hệ biện chứng

Tác động đa chiều, đa cấp độ, đa lĩnh vực, xuyên biên giới…

Nguồn: Ngu ễn Văn Hưởng, Bùi Văn Na , Hoàng Đình Phi, 2015

1.1.3 Phương trình quản trị an ninh phi truyền thống

Quản trị nói chung có thể được hiểu là tất cả các công việc lãnh đạo và

quản trị (quản lý) của một người hay một nhóm người hay một nhóm tổ chức… trong việc nghiên cứu và hoạch định các mục tiêu chiến lược và ban hành các biện pháp hay giải pháp để tổ chức thực hiện các mục tiêu chiến lược đó

Quản trị an ninh phi truyền thống là việc các nhà lãnh đạo và quản trị được giao nhiệm vụ nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, chiến lược và kế hoạch ứng phó với các mối nguy

để đảm bảo an ninh phi truyền thống của Nhà nước, con người (cộng đồng) và doanh nghiệp

Trang 26

Phương trình cơ bản về an ninh của một chủ thể như sau:

AN NINH CỦA MỘT CHỦ THỂ = (1 An toàn + 2 Ổn định + 3 Phát triển bền vững) – (4 Chi phí quản trị rủi ro + 5 Khủng hoảng + 6 Chi phí khắc phục)

Nguồn: TT.TS Nguyễn Văn Hưởng và PGS.TS Hoàng Đình Phi.2016

1.2 An ninh nguồn nước và quản trị an ninh nguồn nước hoạt

1.2.1 Định nghĩa an ninh nguồn nước sinh hoạt

Vấn đề an ninh nguồn nước chính thức được đưa ra lần đầu tiên trong

Tuyên bố chung cấp Bộ trưởng - Diễn đàn Kinh tế Thế giới 2000: “There is a

huge diversity of needs and situations around the globe, but together we have one common goal: to provide water security in the 21st Century” (Có rất

nhiều nhu cầu và tình huống trên toàn cầu, nhưng cùng nhau chúng ta có một mục tiêu chung: cung cấp an ninh nguồn nước trong Thế kỷ 21)

Tại Diễn đàn kinh tế 2011: “Water Security: The

Water-Energy-Food-Climate Nexus” khẳng định: Bảo vệ và cải thiện các hệ sinh thái nước

ngọt, ven biển và các hệ sinh thái liên quan; đẩy mạnh phát triển bền vững và

ổn định chính trị; mỗi người đều được tiếp cận đầy đủ nguồn nước sạch với chi phí vừa phải để có được một cuộc sống khỏe mạnh, sung túc và các cộng đồng dễ bị tổn thương sẽ được bảo vệ trước rủi ro từ những tai biến liên quan đến nước

Cho đến nay có nhiều quan điểm, định nghĩa về an ninh nguồn nước tùy vào quan điểm và góc nhìn của mỗi chuyên gia và thực trạng an ninh nguồn nước của chủ thể hướng tới Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng định nghĩa

ANNN cho nguồn nước nói chung của UNESCO-IHP, 2012: An ninh nguồn

nước là trạng thái phản ánh năng l c tiếp cận b n vững với đủ ượng nước sạch cho c ng đồng nhằm duy trì sinh kế, sức kh con người, và phát triển kinh tế - xã h i, phòng tránh thiên tai iên quan đến nước và bảo tồn hệ sinh thái trong bối cảnh hòa bình và chính trị ổn định

Trang 27

Dựa trên sự phân tích nói trên, tác giả đề xuất định nghĩa ANNN sinh hoạt cho quận Ba Đình (an ninh nguồn nước sinh hoạt đô thị - Urban domestic water security) như sau:

An ninh nguồn nước sinh hoạt là trạng thái phản ánh năng c tiếp cận

b n vững với đủ ượng nước sạch cho c ng đồng nhằm duy trì sức kh e con người trong bối cảnh hòa bình và chính trị ổn định

Giải thích thuật ngữ cho định nghĩa trên:

- Năng lực tiếp cận bền vững được hiểu là được tiếp cận với nguồn nước sạch với chi phí và dịch vụ hợp lý, theo quy định;

- Đủ lượng nước sạch: và được tiếp cận đủ số lượng nước sạch (trữ lượng và chất lượng nước) Nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt nói trong định nghĩa là nước đã qua xử lý có chất lượng bảo đảm, đáp ứng yêu cầu sử dụng cho mục đích ăn uống, vệ sinh của con người (viết tắt là nước sạch) (theo điều 3 tại QCVN 01-1:2018/BYT)

- Nhằm duy trì sinh kế, sức khỏe con người, và phát triển kinh tế - xã hội: đối tượng nước sinh hoạt muốn hướng tới là nước dùng cho ăn, uống, tắm, giặt, vệ sinh nhằm đảm bảo đời sống, sức khỏe cho người dân Định nghĩa không đề cập đến nguồn nước phục vụ cho các mục đích tưới tiêu, trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế

- Trong bối cảnh hòa bình và chính trị ổn định: chúng ta chỉ đánh giá ANNN trong điều kiện không có chiến tranh, bất ổn chính trị Hà Nội được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh “Thành phố Vì hòa bình” nên có thể đánh giá khách quan công tác quản trị an ninh nguồn nước sinh hoạt tại Quận

Ba Đình, Hà Nội

Có nhiều cách phân loại ANNN tùy quan điểm và cách tiếp cận ANNN có thể được phân loại theo nhu cầu sử dụng nguồn nước như ANNN sinh hoạt,

Trang 28

ANNN thải, ANNN chăn nuôi, ANNN cấp, …có thể theo khu vực ANNN nông thôn, ANNN thành thị, ANNN sông Tô Lịch…

1.2.2 Khung lí luận và phương trình quản trị An ninh nguồn nước sinh hoạt

1.2.2.1 Khung uận v n ninh nguồn nước sinh hoạt

An ninh nguồn nước là vấn đề liên ngành, được đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với an ninh con người Cụ thể:

Thứ nhất, nước là một vấn đề đa chiều và một điều kiện tiên quyết để đạt

được an ninh con người, từ cá nhân đến cấp độ quốc tế Do đó an ninh nguồn nước

có thể làm giảm khả năng xung đột và căng thẳng, góp phần phát triển xã hội, với lợi ích kinh tế và môi trường cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế

Thứ hai, Dân số tăng, gia tăng đô thị hóa và chất lượng cuộc sống, nhu

cầu của con người về nước sinh hoạt cũng tăng theo Nếu các nhu cầu mang tính thách thức này được đảm bảo sẽ góp phần làm giảm rủi ro liên quan đến vấn đề an ninh con người

Thứ ba, mất an ninh nguồn nước gây căng thẳng và xung đột

Liên hợp quốc đã tích hợp an ninh nguồn nước và các chương trình nghị

sự của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Nguồn nước sinh hoạt ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sức khỏe, tinh thần và tự bản thân nó có thể gây nguy

cơ với an ninh; Ví dụ nếu thường xuyên mất nước sinh hoạt, hay bị nhiễm độc không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà thậm chí cả tính mạng con người, thiệt hại kinh tế, gây lên những làn sóng phẫn nộ, dư luận chính trị

Thứ tư, phương pháp tiếp cận đa ngành và các chính sách liên ngành là cần

thiết để giải quyết các vấn đề liên quan đến nguồn nước sinh hoạt Các chính sách liên ngành và tích hợp, các quyết định phối hợp, các văn bản pháp luật có hiệu lực

và cơ chế thể chế là rất cần thiết cho việc đảm bảo an ninh nguồn nước

Theo kinh nghiệm trong giải pháp đảm bảo ANNN của một số quốc gia trên thế giới, để giải quyết các vấn đề cơ bản về nguồn nước và an ninh con người cần có phương pháp tiếp cận đa ngành và các chính sách liên ngành

Trang 29

1.2.2.2 Phương trình quản trị n ninh nguồn nước sinh hoạt

Phương trình cơ bản về an ninh của một chủ thể và phương trình Quản trị An ninh nguồn nước được xây dựng trong chương trình Thạc sĩ Quản trị An ninh phi truyền thống (TS Nguyễn Thị Hoàng Hà và Nhóm tác giả, 2017):

Quản trị ANNNSH = (an toàn + ổn định + phát triển bền vững) – (chi phí quản trị rủi ro + chi phí mất do khủng hoảng + chi phí khắc phục khủng hoảng)

hay

QTANNNSH = (S1 + S2 + S3) – (C1 + C2 + C3)

Từ định nghĩa (Mục 1.2.1.) và phương trình quản trị ANNN sinh hoạt các hợp phần của phương trình quản trị an ninh nguồn nước sinh hoạt bao gồm được hiểu và đánh giá như sau:

S1 - An toàn nguồn nước: đánh giá thông qua chất lượng nguồn nước cấp

sinh hoạt

S2 - Ổn định nguồn nước: đánh giá thông qua việc tiếp cận với trữ lượng

và hệ thống cấp thoát nước ổn định với mức chi phí phù hợp và ít biến động

S3 - Phát triển bền vững: đánh giá thông qua các biện pháp, công cụ bảo vệ

và phát triển các giá trị nguồn nước (chiến lược, thể chế, chính sách, quy hoạch, tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ trong bảo vệ môi trường…)

Trang 30

C1 - Chi phí quản trị rủi ro: chi phí quản lý, chi phí quan trắc chất lượng

môi trường, chi phí xử lý ô nhiễm…

C2- Chi phí mất do khủng hoảng: chi phí mất do xảy ra thiếu nước, thất

thoát, ô nhiễm, xung đột tranh chấp giữa các cá nhân và các bên liên quan, tai biến liên quan đến nước thông qua việc giảm sức khỏe người dân, chi phí khám chữa bệnh…

C3 - Chi phí khắc phục khủng hoảng: đánh giá thông qua chi phí khắc phục

ô nhiễm, chi phí xử lý các xung đột, thất thoát nước…

Theo phương trình này ta có thể thấy rõ vai trong rất quan trọng của các nguồn lực Nhà nước, cộng đồng và doanh nghiệp trong việc đảm bảo ANNN sinh hoạt

Các tiêu chí chấm theo thang điểm 4

1.2.2.3 Chỉ thị đánh giá an ninh nguồn nước sinh hoạt

Theo AWDO 2013, an ninh nguồn nước của một quốc gia được đánh giá bằng các 5 chỉ thị: chỉ thị National Water Security, chỉ thị An ninh nguồn nước kinh tế, chỉ thị An ninh nguồn nước đô thị, chỉ thị An ninh nguồn nước môi trường, chỉ thị Chống chịu với các tai biến liên quan đến nguồn nước Trong đó chỉ thị An ninh nguồn nước hộ gia đình (Household Water Security)

là một trong những chỉ thị rất quan trọng

Tất cả người dân phải được tiếp cận với tài nguyên nước và dịch vụ vệ sinh an toàn là ưu tiên hàng đầu của các nhà lãnh đạo châu Á An ninh nguồn nước hộ gia đình là nền tảng cơ bản cho những nỗ lực để xóa đói giảm nghèo

và hỗ trợ phát triển kinh tế

Chỉ thị này cung cấp đánh giá về mức độ hài lòng của của các hộ gia đình về nguồn nước sử dụng và nhu cầu vệ sinh môi trường và vệ sinh cho sức khỏe cộng đồng Chỉ thị an ninh nguồn nước hộ gia đình là một tổng hợp của ba chỉ số:

- Tiếp cận nguồn nước máy (%)

Trang 31

1.2.2.1 Công cụ quản trị an ninh nguồn nước

Các công cụ chủ yếu trong quản trị an ninh nguồn nước bao gồm:

- Công cụ pháp luật

Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận là công cụ rất quan trọng trong quản trị an ninh nguồn nước Bởi mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội muốn khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định pháp luật trong lĩnh vực này Pháp luật quy định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ thể khai thác, sử dụng tài nguyên nước Trường hợp có chủ thể cố tình vi phạm thì pháp luật cũng quy định sẵn những chế tài nghiêm khắc để răn đe, trừng phạt những chủ thể đó Hiện nay có rất nhiều quy định về việc khai thác, quản lý, cấp nước, thu phí và xử lý các vi phạm trong cấp nước sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chính Phủ

đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050

 Nghị định 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản

một số điều của Luật Tài nguyên nước

Trang 32

 Quyết định 1100/QĐ-TTg ngày 05/09/2018 Phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch cấp nước vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2030 và định hướng đến năm 2050

khai thác nước dưới đất

B Tài ngu ên và Môi trường

Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17/03/2005 của Chính phủ quy định

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước

 Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên môi trường về việc bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn việt nam về môi trường

Bảo vệ tài nguyên nước dưới đất

khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước

nghề khoan nước dưới đất

nước thí nghiệm trong điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất

khoan điều tra, đánh giá và thăm dò nước dưới đất

Trang 33

 Thông tư 24/2016/TT-BTNMT ngày 09/09/2016 Quy định việc xác định

và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt

nước dưới đất trong các hoạt động khoan, đào, thăm dò, khai thác nước dưới đất

và yêu cầu trong thực hiện điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất

Ủy ban nhân dân thành phố Hà N i:

tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; cấp phép hành nghề khoan nước dưới đất trên địa bàn thành phố Hà Nội do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành ngày 22/11/2005

 Chỉ thị Số 27/2005/CT-UB ngày 30 tháng 11 năm 2005 Về tăng cường công tác quản lý hoạt động khai thác, sử dụng

Nội về việc lập đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về tài nguyên nước;

phố Hà Nội quy định giá tính thuế tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Hà Nội;

phép khai thác tài nguyên nước, xả nước thải vào lưu vực nguồn nước trên địa bàn Thành phố Hà Nội;

Nội về việc tăng cường công tác quản lý hoạt động khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước và xả nước thải vào lưu vực nguồn nước trên địa bàn Thành phố Hà Nội;

Trang 34

 Quyết định số 161/QĐ-UBND ngày 09/01/2012 của UBND thành phố Hà Nội về việc Phê duyệt quy hoạch vùng cấm, hạn chế và khai thác nước trên địa bàn Thành phố Hà Nội

giá nước sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội

B Y tế

kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt”

tra vệ sinh, chất lượng nước ăn uống, nước sinh hoạt

kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt

khung giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt

chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định cấp phép thăm

dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; xả thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất do cơ quan trung ương thực hiện

- Công cụ kinh tế

Trang 35

Đây là công cụ rất hiệu quả trong quản trị an ninh nguồn nước Bởi vì lợi ích kinh tế luôn hấp dẫn để các chủ thể thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định nhằm mang lại lợi ích cho bản thân Sử dụng công cụ kinh

tế trong quản trị an ninh nguồn nước theo các hướng cơ bản sau: Khuyến khích lợi ích kinh tế cho những hành vi có lợi cho an ninh nguồn nước và trừng phạt bằng kinh tế đối với những hành vi tác động tiêu cực tới an ninh nguồn nước Công cụ kinh tế chủ yếu được sử dụng trong quản lý nhà nước bao gồm: thuế, phí, thưởng, phạt tiền Ngoài ra đầu tư tài chính từ các nguồn ngân sách, xã hội hóa cho nguồn lực, cơ sở hạ tầng, máy móc, trang thiết bị hàng năm nhằm đảm bảo an toàn cấp nước là rất quan trọng

- Quy hoạch tài ngu ên nước

“Qu hoạch là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt đ ng kinh tế -

xã h i, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ t ng, s dụng tài nguyên và bảo vệ ôi trường trên lãnh thổ xác định để s dụng hiệu quả các nguồn l c của đất nước phục vụ mục tiêu phát triển b n vững cho thời kỳ xác định” (Khoản 1 Điều 3 Luật Quy hoạch)

Tài nguyên nước tồn tại tự nhiên về trữ lượng, dòng chảy nhưng dưới tác động của con người cũng có sự thay đổi nhất định Quy hoạch tài nguyên nước không chỉ đơn thuần là sắp xếp tài nguyên nước mà cần có sự đánh giá trữ lượng, dòng chảy của tài nguyên nước trên các khu vực địa lý khác nhau Những thông tin đánh giá này góp phần quan trọng cho việc phát triển kinh tế

- xã hội từng nơi Chúng ta có thể khái quát:

Quy hoạch tài nguyên nước được hiểu là việc đánh giá tổng thể tài nguyên nước làm cơ sở cho việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước phục vụ cho các hoạt động kinh tế - xã hội Ngoài ra quy hoạch tài nguyên nước còn góp phần phòng, chống các tác hại do nước gây ra

Như vậy, quy hoạch tài nguyên nước là một trong những công cụ hữu hiệu trong quản trị an ninh nguồn nước

Trang 36

- Khoa học công nghệ

Sử dụng khoa học công nghệ trong quản trị an ninh nguồn nước là giải pháp không thể thiếu Khoa học kỹ thuật không chỉ giúp cho quá trình sử dụng tài nguyên nước hiệu quả hơn mà còn giúp giảm những tác hại do nước gây ra Ví dụ các thiết bị quan trắc tự động chất lượng nước để hạn chế các sự

cố khi nồng độ các chất vượt quá ngưỡng quy chuẩn, các đồng hồ đo áp lực dòng chảy để phát hiện rò rỉ thất thoát nước, các công nghệ xử lý nước ngày càng hoàn thiện giúp chúng ta xử lý được các chất thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt với mức chi phí phù hợp hơn

- Tuyên truy n – giáo dục

Biện pháp tuyên truyền giáo dục có tác dụng tác động vào nhận thức của chủ thể dẫn tới thay đổi hành vi Đối tượng hướng đến của biện pháp này chủ yếu là người sử dụng tài nguyên nước Nội dung tuyên truyền – giáo dục chủ yếu là việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên nước, cách thức phòng, tránh tác hại do nước gây ra Hình thức tuyên truyền – giáo dục chủ yếu gồm: tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài truyền hình, đài phát thanh, báo in, treo băng rôn, áp phích…

Hiệu quả của biện pháp tuyên truyền – giáo dục tuy không rõ rệt như những biện pháp khác nhưng nó có tác dụng lâu dài, dần dần và chi phí thực hiện rẻ nên trên thực tế người ta vẫn sử dụng biện pháp này trong quản trị an ninh nguồn nước

Để đánh giá ANNN sinh hoạt cần kết hợp nhiều phương pháp định tính

và định lượng cùng với khung lí thuyết và phương trình quản trị tương ứng Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương trình Quản trị ANPTT, trong

đó đánh giá định lượng cho các tham số S, C dựa trên kết quả thu thập từ điều tra, khảo sát thực tế

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG AN NINH NGUỒN NƯỚC TRÊN ĐỊA

BÀN QUẬN BA ĐÌNH, HÀ NỘI

2.1 Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội quận

Ba Đình, Hà Nội

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Quận Ba Đình nằm ở trung tâm nội thành Hà Nội kéo dài theo hướng

Đông Tây (hình 1) Có vị trí như sau: Phía Bắc giáp quận Tây Hồ và quận Long Biên, phía Nam giáp quận Đống Đa, phía Đông giáp quận Hoàn Kiếm, phía Tây giáp quận Cầu Giấy Địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng, đất phù sa màu mỡ do sự bồi đắp của sông Hồng Khí hậu ở đây mang đậm nét đặc trưng của khí hậu đồng bằng sông Hồng Đó là khí hậu cận nhiệt đới ẩm,

có mùa hè nóng ẩm nhưng mùa đông phi nhiệt đới

Hình 2.1 Bản đồ Quận Ba Đình

Phía Đông của quận Ba Đình có sông Hồng chảy qua, đây là một trong những con sông lớn nhất của nước ta mang lại lượng phù sa, nước tưới tiêu rất lớn cho sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, ngay sát phía Tây của quận Ba Đình giáp sông Tô Lịch Tuy về phân chia địa giới hành chính sông Tô Lịch không

Trang 38

thuộc quận Ba Đình nhưng việc giáp danh một con sống tương đối lớn như vậy cũng ảnh hưởng tới phát triển kinh tế - xã hội ở đây

Bên cạnh đó, trên địa bàn quận Ba Đình còn có một số hồ lớn như hồ Thủ Lệ, hồ Ngọc Khánh, hồ Thành Công, hồ Giảng võ, hồ Trúc Bạch… Nơi đây là nơi chứa một lượng nước lớn, xung quanh thường có các cảnh quan đẹp là nơi vui chơi giải trí và góp phần điều hòa không khí cho các khu đô thi đông dân

Ngoài những thuận lợi nêu trên, điều kiện tự nhiên, đặc biệt điều kiện về tài nguyên nước tại quận Ba Đình cũng mang lại những cản trở nhất định cho

sự phát triển kinh tế - xã hội như:

- Tình trạng hạn hán vào mùa khô, ngập lụt vào mùa mưa vẫn diễn ra trên địa bàn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, sinh hoạt đặc biệt là sản xuất nông nghiệp

- Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các sông, hồ do nước sản xuất, nước sinh hoạt chưa qua xử lý được xả thẳng ra môi trường

Hệ thống cấp nước Hà Nội được xây dựng từ năm 1894 dưới thời Pháp thuộc Từ đó đến nay, sau hơn một thế kỷ vận hành khai thác, hệ thống đã được mở rộng và nâng cấp nhiều lần

2.1.2 Điều kiện kinh tế

Quận Ba Đình có điều kiện thuật lợi để phát triển kinh tế trên nhiều lĩnh

vực Cụ thể:

- Với địa hình bằng phẳng, khí hậu nhiệt đới ẩm (có một mùa đông lạnh), đất đai màu mỡ, lượng nước dồi dào, nhiều khu vực của quận Ba Đình thích hợp với sản xuất nông nghiệp với cây trồng, vật nuôi đa dạng

- Quận Ba Đình có lịch sử phát triển lâu đời nên rất phù hợp với phát triển công nghiệp, thương nghiệp Nơi đây có phố cổ là nơi diễn ra các hoạt động thương mại Các trung tâm thương mại lớn ở đây gồm có: Trung tâm

Trang 39

Hội chợ Triển lãm Giảng Võ, Lotte Center Hà Nội, Siêu thị nội thất Kim Hoàng Gia… Nơi đây diễn ra các hoạt động thương mại sôi động

- Quận Ba Đình cũng có nhiều làng nghề cổ truyền như: làng hoa Ngọc

Hà, lụa Trúc Bạch, giấy gió Yên Thái, Hồ Khẩu, đúc đồng Ngũ Xã…

- Nơi đây cũng có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như: Hoàng thành Thăng Long, tứ trấn Thăng Long, đến Quán Thánh, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh… để có thể phát triển ngành du lịch

Với lịch sử phát triển lâu đời, có thể khẳng định, nguồn nước sạch dùng cho sinh hoạt ở quận Ba Đình được lắp đặt sớm Đồng thời hệ thống thoát nước nơi đây cũng phải sớm xây dựng để phục vụ cho các hoạt động kinh tế

2.1.3 Điều kiện chính trị

Quận Ba Đình được xác định là trung tâm hành chính – chính trị quốc gia, nơi tập trung các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và là trung tâm ngoại giao, đối ngoại Quận Ba Đình có nhiều trụ sở của các tổ chức quốc tế, đại sứ quán các nước, là nơi thường xuyên diễn

ra các hội nghị và sự kiện quan trọng của Nhà nước, quốc tế và khu vực

Hiện nay, quận Ba Đình gồm 14 phường: Cống Vị, Vĩnh Phúc, Liễu Giai, Ngọc Hà, Đội Cấn, Kim Mã, Ngọc Khánh, Thành Công, Giảng Võ, Điện Biên, Quán Thánh, Nguyễn Trung Trực, Trúc Bạch, Phúc Xá với tổng

diện tích đất tự nhiên ổn định là 920,76 ha

Quận Ba Đình đã và đang sớm hoàn thiện hệ thống cấp, thoát nước để phục vụ cho các hoạt động chính trị quan trọng của quận và của cả nước

2.1.4 Điều kiện xã hội

Dân cư trên địa bàn quận bao gồm cả những người sinh sống lâu đời và những người ngụ cư với mật độ dân số cao Đó là đội ngũ lao động đông đảo tạo điều kiện để nơi đây phát triển kinh tế - xã hội Nhiều làng nghề nổi tiếng nằm trên địa bàn quận Quận Ba Đình cũng là nơi tập trung đông các trường học công lập,

tư thục từ mầm non đến Đại học Khu vực này cũng có nhiều các khu vui chơi giải

Trang 40

trí như công viên Thủ Lệ, công viên Lê nin, côn viên Bách Thảo Đó là những điều kiện tốt về mặt xã hội nhưng đồng thời cũng tạo nên áp lực cho cơ sở hạ tầng khu vực này (trong đó có hạ tầng về cấp, thoát nước)

2.2 Thực trạng an ninh nguồn nước sinh hoạt tại quận Ba Đình, Hà Nội

Để đánh giá thực trạng An ninh nguồn nước sinh hoạt tại quận Ba Đình, Hà Nội tác giả sử dụng kết quả điều tra khảo sát 120 hộ gia đình và phỏng vấn 20 chuyên gia trong lĩnh vực liên quan và vận dụng Khung lí luận và phương trình quản trị An ninh nguồn nước (mục 1.2.2.) Kết quả chi tiết như sau:

2.2.1 An toàn (S1)

Thứ nhất, đối với nước sinh hoạt, trên địa bàn quận đã có Xí nghiệp nhà

máy sản xuất nước sạch đóng trên địa bàn Đó là Xí nghiệp kinh doanh nước sạch Ba Đình có địa chỉ tại số 18 Núi Trúc, Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội, 100% khai từ nguồn nước ngầm Xí nghiệp này đã và đang cung cấp nước sạch sinh hoạt cho người dân trên địa bàn của quận Ba Đình Theo số liệu mà Xí nghiệp nước sạch này cung cấp, hiện nay, trên địa bàn quận Ba Đình, đến 100% các hộ gia đình được sử dụng nước sạch (nước máy) Chất lượng nước đảm bảo vệ sinh, đạt quy chuẩn kỹ thuật về nước sinh hoạt Điều

đó cũng tương đối phù hợp với số liệu mà tác giả tự điều tra các hộ gia đình

Bảng 2.1: Hộ gia đình sử dụng nước sạch trên địa bàn quận Ba Đình cho

mục đích ăn uống, thành phố Hà Nội

Ngày đăng: 17/03/2021, 17:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w