1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự việt nam

114 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

một dạng của trách nhiệm pháp lý, được tiếp cận và được hiểu theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như: - TNHS là một “giai đoạn” nhất định của việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ bởi cá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -* -

TRẦN THỊ HUYỀN

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN

TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -* -

TRẦN THỊ HUYỀN

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN

TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự & TTHS

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Giáo viên hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí Úc

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Thị Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN 9

1.1 Khái niệm pháp nhân 9

1.1.1 Khái niệm pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự 9

1.1.2 Khái niệm pháp nhân thương mại: 11

1.2 Khái niệm trách nhiệm hình sự 13

1.2.1 Các khái niệm về trách nhiệm hình sự: 13

1.1.2 Điều kiện và đặc điểm của trách nhiệm hình sự: 16

1.2.3 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân: 22

1.3 Pháp nhân – Chủ thể đặc thù của trách nhiệm hình sự 23

1.3.1 Các quan điểm tiếp cận vấn đề TNHS của pháp nhân trong luật hình sự hiện đại 23

1.3.2 Phân loại pháp nhân là chủ thể của TNHS 30

1.3.3 Hình phạt và các hình thức trách nhiệm hình sự khác đối với pháp nhân 31

1.3.4 Các hình thức TNHS đối với pháp nhân trong lịch sử pháp luật Việt Nam 32 1.4 Ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 38

1.4.1 Sự cần thiết của việc quy định TNHS đối với pháp nhân: 38

1.4.2 Ý nghĩa của việc quy định TNHS đối với pháp nhân 45

CHƯƠNG II QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 49

2.1 Thực trạng vi phạm pháp luật do pháp nhân gây ra ở Việt Nam hiện nay 49

2.1.1 Tình hình vi phạm pháp luật do pháp nhân gây ra 49

2.1.2 Nguyên nhân 58

2.2 Loại pháp nhân là chủ thể của TNHS theo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 62

Trang 5

2.2.1 Pháp nhân thương mại – là chủ thể mới của tội phạm: 62

2.2.2 Năng lực trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại 65

2.3 Nguyên tắc và các căn cứ của TNHS đối với pháp nhân theo Bộ luật hình sự 2015 66

2.3.1 Nguyên tắc xử lý pháp nhân phạm tội: 66

2.3.2 Điều kiện truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại 68

2.3.3 Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại 69

2.4 Hình phạt và các hình thức TNHS đối với pháp nhân theo Bộ luật hình sự 2015 70

2.4.1 Phạt tiền 70

2.4.2 Đình chỉ hoạt động có thời hạn 71

2.4.4 Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định 71

2.4.5 Cấm huy động vốn 71

2.4.6 Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội 72

2.5 Quyết định hình phạt đối với pháp nhân phạm tội 74

2.5.1 Căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội 74 2.5.2 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại 74

2.5.3 Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại 75

2.5.4 Quyết định hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội 75

2.5.5 Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án 76

2.5.5 Miễn hình phạt 77

2.5.6 Xóa án tích 77

CHƯƠNG III PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 2015 VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN 78

3.1 Phương hướng 78

Trang 6

Nam năm 2015 về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại 803.1.1 Nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất về nhận thức và thực hiện đối với chế định TNHS của pháp nhân thương mại 803.1.2 Xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định về TNHS của pháp nhân thương mại theo Bộ luật hình sự 2015 813.1.3 Cần tiếp tục nghiên cứu, xem xét và kịp thời điều chỉnh, bổ sung các quy định về TNHS đối với pháp nhân trong BLHS 2015 cho phù hợp thực tiễn 823.1.4 Cần dùng luật chuyên ngành để bổ sung các quy định về tội phạm do pháp nhân thương mại gây ra 863.1.5 Tập trung rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các văn bản pháp luật quy định

về pháp nhân thương mại cho phù hợp với chế định TNHS của pháp nhân thương mại trong BLHS 2015 873.1.6 Kịp thời nghiên cứu và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện đúng các thủ tục tố tụng hình sự trong việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại (Chương 29 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015) 933.1.7 Tăng cường công tác quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của pháp nhân thương mại 973.1.8 Thành lập và nâng cao chất lượng hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy việc giám sát thực thi pháp luật của pháp nhân thương mại 98

KẾT LUẬN 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua nghiên cứu và so sánh cho thấy, quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một xu thế phổ biến của các nước trên thế giới Các nước theo truyền thống pháp luật Anh – Mỹ (như Anh Mỹ, Canada, Australia…) hoặc theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa (Pháp, Bỉ, Hà Lan, Thụy Sỹ…), hoặc gần chúng ta như Trung Quốc đều quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân Nhiều điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia hoặc phê chuẩn (Công ước của Liên Hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng) đều có khuyến nghị các quốc gia thiết lập chế định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

Việt Nam đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu của việc hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nói riêng (tội phạm về khủng bố, rửa tiền, buôn lậu, môi trường ) đòi hỏi sự tương thích, phù hợp nhất định của hệ thống pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế và pháp luật các nước khác trên thế giới Do

đó, việc nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm của các nước trên thế giới, từng bước hoàn thiện chế định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật Hình sự Việt Nam là một yêu cầu tất yếu khách quan

Quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân là chế định hoàn toàn mới trong Bộ luật hình sự 2015 của Việt Nam Đây là điểm đổi mới nổi bật, mang tính đột phá trong chính sách hình sự nước ta, làm thay đổi nhận thức truyền thống về vấn đề tội phạm và hình phạt Phải nói rằng, việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào Bộ luật hình sự 2015 xuất phát từ

Trang 8

2015) kiên trì, bền bỉ nghiên cứu, đề xuất của Chính phủ và đã được Quốc hội chấp thuận nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân trong thời gian qua, nhất là những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây

ra Điều này, đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về xử lý tội phạm trong tình hình hiện nay, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới

Tuy nhiên, chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật hình sự 2015 còn nhiều vấn đề còn khó khăn, vướng mắc trong nghiên cứu,

áp dụng vào thực tiễn đời sống xã hội Do chưa có kinh nghiệm áp dụng nên chắc chắn trong quy định của pháp luật, cũng như việc thực thi trên thực tế sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế và vướng mắc nhất định, điều

đó sẽ tạo ra khó khăn không nhỏ cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, các pháp nhân và công dân khi đưa Bộ luật hình sự 2015 thực thi hiệu lực vào đời sống

TNHS đối với pháp nhân Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Trách nhiệm hình

sự của pháp nhân trong Luật hình sự Việt Nam” làm luận văn Thạc sỹ luật

của mình, với mong muốn góp ý kiến vào quá trình thực hiện các quy định mới của Bộ luật hình sự 2015 và xây dựng các văn bản pháp luật liên quan; đồng thời kiến nghị một số giải pháp trong thực tiễn áp dụng chế định trách

nhiệm hình sự đối với pháp nhân

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một trong những vấn đề cơ bản, phong phú và phức tạp của luật hình sự nên từ trước đến nay luôn được các nhà luật hình sự trên thế giới và trong nước quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu được nhắc đến và là nguồn tham khảo hiệu quả cho các nhà làm luật trong nước khi nghiên cứu về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, đơn cử như:

- Ở Pháp, có rất nhiều công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo về

TNHS của pháp nhân, như: Tập giản yếu về Luật hình sự, Leffort, Paris, Sirey 1877; Pháp nhân và vấn đề trách nhiệm hình sự của nó, Maistre, Paris, A.Rousseaus, 1889; Tình trạng của pháp nhân và vấn đề trách nhiệm hình sự

của nó, S.Glaser, R.D.P.C, 1948 – 1949; Chế tài hình sự và pháp nhân, A.Huss, R.D.P.C, 1975 – 1976; Sách chuyên luận về luật hình sự và pháp luật hình sự so sánh, Donnedieu de Vabres, Paris, Sirey, 1947;

- Sách chuyên luận về Luật La Mã, A.Braas, Bruylant 1946; Tư cách

pháp nhân trong luật so sánh, V.Simonart, Bruxelles, Bruylant 1995;

- Những nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Bỉ;

- Ở Liên Xô trước đây đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm hình sự nói chung, TNHS đối với pháp nhân nói riêng,

điển hình là các công trình: "Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm

hình sự trong luật hình sự Xô viết" (1963) của Brainhin Ia M; "Nhân thân người phạm tội và trách nhiệm hình sự" (1968) của Lêikina N X; "Trách nhiệm hình sự và cấu thành tội phạm" (1974) của Karpusin M P.,

Kurlianđxki V I; "Trách nhiệm hình sự và hình phạt" (1976) của Sakhmatôv L V; "Những vấn đề lý luận của trách nhiệm hình sự" (1982) của

Bagri-Xantalôv A I v.v

Trang 10

- Những thành tựu và hạn chế về mặt lý luận trong việc pháp luật hoá

TNHS của pháp nhân tại Nhật Bản của tác giả Kensuke Itoh

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở nước ta, quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân là chế định hoàn toàn mới trong Bộ luật hình sự 2015 Các đề tài nghiên cứu xoay quanh

sự cần thiết phải đưa chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào Bộ luật hình sự Việt Nam đã có những đóng góp tích cực, hiệu quả vào việc xây dựng

và ban hành Bộ luật hình sự 2015 Nhiều đề tài khoa học nghiên cứu sâu chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong hệ thống pháp luật các nước trên thế giới và quá trình chế định hóa trong Bộ luật hình sự năm 2015 Nhiều bài viết, tọa đàm, trao đổi về chuyên môn xuất hiện trên các tạp chí chuyên ngành đã đề cập đến những điểm mới của Bộ luật hình sự 2015 về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, về các tội phạm cụ thể của pháp nhân cần phải xem xét, xử lý, Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu, bài viết chuyên ngành sau:

- Sách chuyên khảo Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp

luật hình sự - TS.Trịnh Quốc Toản – NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, năm

2011; Đề tài “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự nước

ngoài và mô hình lý luận của nó trong pháp luật hình sự Việt Nam” do

TS.Trịnh Quốc Toản làm chủ nhiệm đề tài; Bài viết “Vấn đề trách nhiệm hình

sự của pháp nhân trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”

– TS Trịnh Quốc Toản, Tạp chí Luật học số 01/2013;

- GS.TSKH Đào Trí Úc: Nhận thức đúng đắn hơn nữa các nguyên tắc

về trách nhiệm cá nhân và lỗi trong việc xử lý TNHS, Tạp chí Nhà nước và

pháp luật, số 9/1999; Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật

hình sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 03/2015;

Trang 11

- GS.TSKH Lê Văn Cảm: Sách chuyên khảo Định tội danh và quyết

định hình phạt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010; Nhận thức khoa

học về những quy định chung trong Bộ luật hình sự năm 2015, Tạp chí Kiểm sát, số 3/2016; Trách nhiệm hình sự của pháp nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Tòa án, số 4, Hà Nội

- Nguyễn Ngọc Hòa, Trách nhiệm hình sự của chủ thể là tổ chức và

vấn đề sửa đổi BLHS Việt Nam, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), số

12/2014; Trách nhiệm hình sự và hình phạt của tập thể tác giả do PGS.TS

Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001

- Trách nhiệm hình sự và hình phạt của TS Trương Quang Vinh (trong sách Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb

Công an nhân dân, Hà Nội, 2000)

- Trách nhiệm hình sự của PGS.TS Trần Văn Độ (trong sách Giáo

trình luật hình sự Việt Nam Phần chung, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà

Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001)

- PGS-TS Phạm Hồng Hải, Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm

hay không - Tạp chí Luật học số 6/1999;

- Hoàng Thị Tuệ Phương, Trách nhiệm hình sự pháp nhân, Luận văn

Thạc sỹ luật học, Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, 2006

- Bài viết Bàn về trách nhiệm hình sự của pháp nhân của Ths Vũ Hoài Nam - NXB TP - Bộ Tư pháp; Trách nhiệm hình sự của pháp nhân

thương mại theo Bộ luật hình sự năm 2015 của Ths Nguyễn Thị Minh (thẩm

phán) trên Tạp chí Tòa án; Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

trong Bộ luật hình sự năm 2015 của tác giả Hà Thanh trên Tạp chí Ban Nội

chính Trung ương Sự cần thiết quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân,

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 195 của tác giả Nguyễn Văn Chinh, Nguyễn Anh Tuấn (2011),v.v

Trang 12

Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đưa ra bàn luận và giải quyết nhiều vấn đề bức xúc mà lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đặt ra Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các công trình này cũng cho thấy, chế định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, mặc dù là một trong những chế định cơ bản, quan trọng nhất của luật hình sự nhưng cũng là một trong những chế định mới, lần đầu tiên được luật hóa, còn nhiều nội dung chưa đạt đến sự đồng thuận và gây tranh luận sôi nổi nhất trong giới khoa học luật hình

sự từ trước đến nay

Theo TS Trịnh Quốc Toản (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) thì việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong BLHS 2015 là một đòi hỏi tất yếu khách quan, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay ở Việt Nam Xây dựng một hệ thống lý luận phù hợp, có tính khả thi về chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân là vấn

đề mà các nhà khoa học hình sự Việc Nam cần phải tiếp tục suy ngẫm và nghiên cứu

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân

trong Luật hình sự Việt Nam” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý

luận, vừa có tính thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các quy định về mục

đích, ý nghĩa, các hình thức của trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong

Bộ luật hình sự năm 2015

* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quá trình pháp điển hóa chế

định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật hình sự Việt Nam, cụ thể

là Bộ luật hình sự năm 2015; Đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật trong

hoạt động của pháp nhân trong thời gian từ 2012 đến 2015; qua đó làm rõ những điều kiện bảo đảm hiệu lực, hiệu quả áp dụng TNHS đối với pháp

Trang 13

nhân; chỉ ra những khó khăn, vướng mắc có thể có trong áp dụng chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân xuất phát từ thực tiễn

4 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của luận văn

Dựa trên phương pháp luận là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch

sử của CN Mác - Lênin, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình sự và tội phạm học như: phương pháp thống kê hình sự, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp Ngoài ra, còn một số phương pháp khác cũng được áp dụng như: phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp chuyên gia, nghiên cứu tài liệu

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

5.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Do Bộ luật hình sự 2015 chưa có hiệu lực thi hành trên thực tế; việc nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn về chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật hình sự 2015 để áp dụng hiệu lực, hiệu quả vào đời sống xã hội còn bỡ ngỡ và gặp nhiều khó khăn Trong phạm vi đề tài tốt nghiệp cao học, với sự nghiên cứu nghiêm túc của một học viên, gắn với chức năng nhiệm vụ mà bản thân đang thực hiện tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, nội dung

Trang 14

của pháp nhân trong Bộ luật hình sự năm 2015; kiến nghị một số giải pháp trong thực tiễn áp dụng chế định này trong thời gian sắp tới

6 Điểm mới khoa học của luận văn

- Xây dựng, bổ sung nhằm hoàn thiện những nghiên cứu lý luận về

trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong Bộ luật hình sự 2015;

- Đánh giá, dự báo những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn đối với việc áp dụng chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân từ thực tiễn hoạt động của các pháp nhân trên địa bàn cả nước (giai đoạn 2012-2016)

- Đưa ra các giải pháp về hoàn thiện pháp luật và các giải pháp để áp dụng có hiệu quả các quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử

7 Cấu trúc của luận văn

Cấu trúc luận văn gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Phần nội dung gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

Chương 2: Quy định về TNHS đối với pháp nhân trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015

Chương 3: Phương hướng và những giải pháp bảo đảm thực hiện các quy định của Bộ luật hình sự 2015 về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Trang 15

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN

1.1 Khái niệm pháp nhân

1.1.1 Khái niệm pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự

Theo quy định tại Điều 84 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: “Một tổ chức

được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

1 Được thành lập hợp pháp;

2 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

3 Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

4 Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.”

Như vậy, một tổ chức để được coi là một pháp nhân phải đáp ứng đầy

đủ 4 điều kiện, đó là:

Thứ nhất, pháp nhân phải được thành lập hợp pháp:

Một pháp nhân được thành lập hợp pháp khi được pháp luật cho phép hoặc thừa nhận, nói cách khác thì phải được thành lập theo trình tự, thủ tục luật định Trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ, chức năng của một tổ chức mà Nhà nước bằng pháp luật công nhận tổ chức đó là pháp nhân thông qua các hình thức: Cơ quan có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng kí hoặc công nhận thành lập Tính hợp pháp của pháp nhân giúp pháp nhân đó tham gia các quan hệ pháp luật và tồn tại dưới sự kiểm soát, đảm bảo của Nhà nước nhằm phù hợp với ý chí của Nhà nước đó Do đó, tổ chức thành lập không hợp pháp thì không được coi là pháp nhân

Thứ hai, pháp nhân phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ:

Tổ chức là tập hợp nhiều người có cùng chung mục đích, lợi ích…

Trang 16

mục đích nào đó Cơ cấu tổ chức chặt chẽ giúp cho pháp nhân trở thành một thể thống nhất, vận hành, hoạt động một cách có hiệu quả Cơ cấu tổ chức chặt chẽ nghĩa là pháp nhân phải có sự sắp xếp, phân bổ nguồn nhân lực vào các bộ phận như phòng, ban… và quy định cho từng bộ phận đó những chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong Điều lệ Tuy nhiên, điều kiện này có lẽ chưa thực

sự chính xác và không cần thiết vì trong một số trường hợp (Chẳng hạn công

ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên…) tổ chức không đáp ứng điều kiện này nhưng vẫn được coi là pháp nhân

Thứ ba, pháp nhân phải có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác

và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó:

Giống như các chủ thể dân sự khác, để có thể thực hiện các quyền và gánh vác nghĩa vụ khi tham gia các quan hệ dân sự, pháp nhân cần phải có một khối lượng tài sản nhất định Và tài sản của pháp nhân còn phải có sự độc lập, tức là pháp nhân có đầy đủ 3 quyền năng của quyền sở hữu là chiếm hữu,

sử dụng và định đoạt để không chịu sự chi phối ràng buộc của bất kỳ ai, đảm bảo tư cách chủ thể của pháp nhân Mặt khác, để thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể nên pháp luật quy định pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm bằng khối tài sản đó Trách nhiệm của pháp nhân khi vi phạm nghĩa vụ không thể do một cơ quan, tổ chức khác gánh vác và các thành viên của pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của mình đã góp (trừ trường hợp công ty hợp danh) vào pháp nhân Đây cũng là một yếu tố để phân biệt pháp nhân với thể nhân

Thứ tư, pháp nhân nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập:

Điều kiện này xuất phát từ việc tách bạch tài sản (tài sản độc lập) với các cá nhân, tổ chức khác Với việc sở hữu một khối tài sản riêng, pháp nhân

có đủ khả năng để hưởng, tự mình thực hiện các quyền và chịu nghĩa vụ khi

Trang 17

tham gia các quan hệ dân sự Mặt khác, các chủ thể thành lập pháp nhân khi thành lập đã chuyển quyền sở hữu những tài sản mà mình muốn vào khối tài sản chung, do đó cần có một sự thống nhất về mặt ý chí trong việc sử dụng khối tài sản đó Dựa trên tiêu chí này, pháp luật đã “trừu tượng hóa” điều đó thành “ý chí” của pháp nhân, tức là trao cho pháp nhân một tư cách để pháp nhân “nhân danh” chính mình tham gia các quan hệ dân sự Tuy nhiên, coi đây là một điều kiện pháp nhân có lẽ chưa thực sự hợp lý, vì việc nhân danh mình của pháp nhân chỉ là một hệ quả tất yếu khi được thành lập hợp pháp và

đã có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác

Đến Bộ luật dân sự năm 2015, pháp nhân được quy định cụ thể nội dung chi tiết như sau:

Về khái niệm pháp nhân: Một tổ chức được công nhận là pháp nhân

khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;

- Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật dân sự 2015;

- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

- Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập

Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác

1.1.2 Khái niệm pháp nhân thương mại:

Về khái niệm pháp nhân thương mại, Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên

Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, Luật doanh nghiệp và quy định

Trang 18

Bộ luật dân sự năm 2015 phân biệt rõ khái niệm pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại:

Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước

và quy định khác của pháp luật có liên quan

Khái niệm pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 Về mặt giống nhau, pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại đều là pháp nhân nên hai hình thức này đều mang các đặc điểm: có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với

tổ chức, cá nhân khác, nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại đều chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan Về mặt khác nhau, có thể dựa vào các tiêu chí sau để phân biệt pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại:

Thứ nhất, về khái niệm: Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu

chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên (Điều

75, Bộ luật Dân sự 2015) Ngược lại, pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên (Điều 76, Bộ luật Dân sự 2015)

Thứ hai, về các loại hình của pháp nhân: Đối với pháp nhân thương

mại, bao gồm các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác Đây là các tổ chức được thành lập nhằm mục đích thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh thu

Trang 19

lợi nhuận, vấn đề lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các tổ chức này Ngược lại, pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội

- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ

từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác Đây là các

cơ quan được thành lập vì mục đích cụ thể tùy theo loại hình tổ chức nhưng không phải lợi nhuận Các tổ chức này có thể thực hiện các hoạt động thu lợi nhuận nhưng đó không phải là mục tiêu thành lập tổ chức, hoạt động thu lợi nhuận đó được thực hiện nhằm mục đích tạo quỹ duy trì hoạt động cho tổ chức

Thứ ba, về mục đích: Pháp nhân thương mại được thành lập nhằm mục

tiêu chính là lợi nhuận và khi thu được lợi nhuận sẽ chia cho các thành viên của pháp nhân theo thỏa thuận, tỷ lệ phần vốn góp tùy vào loại hình của doanh nghiệp Trong khi đó, mục đích thành lập pháp nhân phi thương mại tùy thuộc vào từng tổ chức cụ thể, tuy nhiên các tổ chức là pháp nhân phi thương mại đều không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận Nếu có lợi nhuận phát sinh sẽ được sử dụng để duy trì các hoạt động của tổ chức mà không phân chia cho các thành viên

Thứ tư, về luật điều chỉnh: Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp

nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại đều chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015, tuy nhiên, do pháp nhân thương mại bao gồm các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế nên sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp 2014 Trong khi đó, pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị nên sẽ còn chịu sự điều chỉnh của các luật về tổ chức bộ máy nhà nước

1.2 Khái niệm trách nhiệm hình sự

1.2.1 Các khái niệm về trách nhiệm hình sự:

Trách nhiệm hình sự (sau đây viết tắt là TNHS) là một thuật ngữ pháp

Trang 20

một dạng của trách nhiệm pháp lý, được tiếp cận và được hiểu theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như:

- TNHS là một “giai đoạn” nhất định của việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ bởi các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự khi mà người phạm tội

bị cưỡng chế đối với việc phải chịu những sự tước bỏ nhất định

- TNHS là “nghĩa vụ” của người phạm tội: (1) phải chịu hình phạt và được thể hiện trong việc tước bỏ có tính chất cá nhân hoặc tính chất tài sản đối với người đó vì tội phạm đã thực hiện; (2) phải chịu biện pháp tác động về mặt pháp lý hình sự bao gồm những sự tước bỏ, đau đớn mà pháp luật quy định đối với người đó; (3) phải chịu các hạn chế về quyền lợi theo trình tự đã được pháp luật quy định, đồng thời bị kết án và chịu hình phạt xuất phát từ trình tự tố tụng; (4) phải chịu các biện pháp cưỡng chế Nhà nước

- TNHS là “sự”: (1) thực hiện có tính chất cưỡng chế những sự tước

bỏ nhất định được các cơ quan đấu tranh chống tội phạm nhân danh Nhà nước

áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm; (2) kết án nhân danh Nhà nước đối với người có lỗi về tội phạm do người đó thực hiện; (3) chịu đựng mang tính chất bắt buộc của người có tội những hậu quả tiêu cực của tội phạm dưới hình thức kết án (sự khiển trách của Nhà nước) và sự cưỡng chế phải chịu những hậu quả đó bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với kẻ phạm tội; (4) tác động có tính chất cưỡng chế - Nhà nước do quy phạm pháp luật hình sự quy định và được áp dụng đối với người phạm tội bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; (5) phản ứng của Nhà nước đối với việc thực hiện tội phạm gắn liền với việc tước bỏ manh tính cưỡng chế đối với người có tội các quyền nhất định hoặc sự hạn chế các quyền ấy và được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự

- TNHS là “hậu quả bất lợi” do luật quy định đối với người phạm tội được tuyên bằng bản án của Tòa án đối với người phạm tội, được thể hiện chính trong kết án hoặc kết án có kèm theo hình phạt và án tích

Trang 21

- TNHS chỉ là “trách nhiệm của người về tội phạm đã thực hiện”, được thể hiện trong sự tác động mang tính cưỡng chế từ phía Nhà nước và phù hợp với Luật hình sự

Ngoài ra, trong khoa học hình sự của một số nước khác, nói chung về

cơ bản, TNHS được hiểu là sự phản ứng (hay sự lên án) của Nhà nước (hay

xã hội) đối với người thực hiện hành vi phạm tội và thể hiện ở bản án mà trong đó họ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tước bỏ hoặc hạn chế các quyền nhất định,

Hiện nay, trong khoa học hình sự Việt Nam cũng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm trách nhiệm hình sự, đơn cử như:

- PGS.TSKH Lê Văn Cảm định nghĩa: “TNHS là hậu quả pháp lý của

việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định”

- GS.TSKH Đào Trí Úc viết: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc

phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước”

- GS.TS Đỗ Ngọc Quang quan niệm: “TNHS là một dạng trách nhiệm

pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong PLHS bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện”

- GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị Sơn lại cho rằng:

“TNHS là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả bất lợi

về hành vi phạm tội của mình TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích”

Trang 22

Như vậy, dưới góc độ khái quát và chung nhất, trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định đối với người phạm tội Là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, TNHS chỉ phát sinh (xuất hiện) khi có việc phạm tội Cho nên, TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác Nó chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định – một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội Cụ thể là, Nhà nước (mà đại diện là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền) thì có quyền truy cứu người phạm tội, nhưng phải có nghĩa vụ chỉ được xử lý dựa trên các căn cứ và trong các giới hạn xê dịch do pháp luật quy định; còn người phạm tội thì có nghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do nhất định, nhưng đồng thời cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ từ phía Nhà nước (các cơ quan tư pháp hình sự đã nêu) đối với các quyền và lợi ích của con người, tổ chức và của công dân theo đúng hành lang pháp lý mà pháp luật cho phép

Tóm lại, TNHS là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình, bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS là hình phạt, biện pháp tư pháp và có thể mang án tích

1.1.2 Điều kiện và đặc điểm của trách nhiệm hình sự:

Theo quy định của pháp luật hình sự, một người chỉ có thể phải chịu TNHS (hay phải chịu TNHS) khi có đầy đủ cơ sở và những điều kiện của TNHS sau đây:

- Người đó phải là người có năng lực TNHS;

- Người đó phải đủ tuổi chịu TNHS;

Trang 23

- Người đó phải thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội;

- Hành vi do người đó thực hiện phải bị Luật hình sự quy định là tội phạm;

- Người đó phải có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó

Để xác định khái niệm trách nhiệm hình sự, cũng cần phải làm rõ các đặc điểm vốn có của nó, theo quan niệm của các thầy giáo Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, thì:

(1) Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm

Trách nhiệm hình sự là một loại trách nhiệm pháp lý chỉ có thể được

áp dụng đối với người thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm, nghĩa

là việc thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự Không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự

Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự, để quy kết hành vi nào đó

là tội phạm và buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự, người áp dụng pháp luật phải trên cơ sở đối chiếu hành vi đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, chứ không được áp đặt theo ý thức chủ quan, bất chấp những quy định của pháp luật Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, người áp dụng pháp luật xác định được hành vi của một người thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được Bộ luật hình sự quy định thì mới có thể kết luận hành vi đó là tội phạm

và mới có thể buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự

(2) Đặc điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của cá nhân người phạm tội

Trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 ra đời, theo luật hình sự Việt Nam, trách nhiệm hình sự chỉ có thể là trách nhiệm của cá nhân người đã thực

Trang 24

hiện hành vi mà luật hình sự coi là tội phạm Về nguyên tắc, trách nhiệm hình

sự phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm do người phạm tội thực hiện

Người phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ có thể là người phạm tội, nghĩa là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự coi là tội phạm khi đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự và có lỗi (cố ý hoặc vô ý) Trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì từng người đồng phạm cũng phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập Hình phạt quyết định đối với từng người đồng phạm được quyết định căn cứ vào tính chất đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm

(3) Đặc điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định

Trách nhiệm hình sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) và người phạm tội Trách nhiệm hình

sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện trước hết ở việc Tòa án, nhân danh Nhà nước, kết án người phạm tội Nếu không có bản án kết tội của Tòa án thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người Điều 72 Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã khẳng định một trong những nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ các quyền của con người trong hoạt động tư pháp

hình sự - nguyên tắc suy đoán vô tội, với nội dung như sau: "Không ai bị coi

là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" Nguyên tắc này cũng đã được ghi nhận tương tự tại Điều

9 Bộ luật tố tụng hình sự

Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý xác

nhận người phạm tội chính thức "bị coi là có tội" Đó chính là hậu quả pháp

Trang 25

lý thể hiện một trong những nội dung quan trọng của trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước

Cơ sở phát sinh trách nhiệm hình sự bắt đầu từ thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm Từ khi đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng có quyền và nghĩa vụ áp dụng các biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tố tụng hình sự được thể hiện ở quyết định khởi tố bị can , kết luận điều tra và đề nghị truy tố, quyết định truy tố bằng bản cáo trạng Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nhất với việc thực hiện trách nhiệm hình sự Hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong tố tụng hình sự chỉ là hoạt động tố tụng nhằm xác định các căn cứ

để truy tố người phạm tội ra xét xử tại Tòa án Thực chất hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự là hoạt động công tố, trong đó vai trò quyết định việc truy

tố thuộc về Viện kiểm sát Còn chức năng xét xử, kết tội người bị truy tố lại thuộc về Tòa án Trên cơ sở quyết định truy tố của Viện kiểm sát, Tòa án sẽ ra quyết định kết tội hay không kết tội người bị truy tố Nếu một người không bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì người đó không thể

"bị coi là có tội" Trong trường hợp Tòa án xác định người bị truy tố đã thực

hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được luật hình sự quy định nhưng lại có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho người đó theo quy định của Bộ luật hình sự, thì Tòa án sẽ không ra bản án kết tội mà tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Trong trường hợp xét thấy

có đủ căn cứ để buộc người phạm tội phải chịu sự lên án của Nhà nước về hành vi phạm tội của mình, Tòa án sẽ ra bản án kết tội đối với người đó Bản

án kết tội của Tòa án đối với một người là kết quả của cả quá trình điều tra,

Trang 26

truy tố, xét xử của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia giải quyết vụ án hình sự Bản án kết tội của Tòa án thể hiện sự lên án

có tính chất phủ định của Nhà nước, mà Tòa án là người đại diện, đối với hành vi phạm tội và người phạm tội Người phạm tội có thể bị Tòa án kết tội nhưng không phải chịu hình phạt, nếu bản án kết tội gắn với việc Tòa án quyết định miễn hình phạt đối với người bị kết án Trong trường hợp này Tòa

án không buộc người phạm tội phải chấp hành hình phạt (không án dụng biện pháp cưỡng chế Nhà nước đối với người phạm tội)

Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý chính thức xác nhận người phạm tội bị coi là có tội Cùng với bản án kết tội, Tòa án

có thể quyết định hình phạt hoặc quyết định miễn hình phạt đối với người phạm tội Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật gắn liền với dấu hiệu án tích của người bị kết án (trừ trường hợp người chưa thành niên phạm tội bị Tòa án áp dụng biện pháp tư pháp thay thế hình phạt) Trách nhiệm hình

sự luôn gắn liền với bản án kết tội của Tòa án đối với người phạm tội Trong trường hợp bản án kết tội của Tòa án có kèm theo việc Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội thì trách nhiệm hình sự mà một người phải chịu không chỉ thể hiện ở việc bị kết tội, bị coi là có tội, mà còn thể hiện ở việc người đó bị coi là có án tích, án tích chỉ được xóa khi có những điều kiện do luật định

(4) Đặc điểm thứ tư: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm trước Nhà nước, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được xác định và thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình

sự quy định

Việc xác định các căn cứ để có thể áp dụng trách nhiệm hình sự là kết quả của cả một quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan có thẩm

Trang 27

quyền trong tố tụng hình sự Song trách nhiệm hình sự chỉ có thể do Tòa án, nhân danh Nhà nước, áp dụng đối với người phạm tội

Theo Bộ luật tố tụng hình sự nước ta, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố vụ án, khi có đủ căn cứ

để xác định một người đã thực hiện tội phạm thì khởi tố bị can Trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự nhằm ngăn chặn việc

bị can, bị cáo có thể gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; ngăn chặn việc bị can, bị cáo có thể phạm tội mới hoặc ngăn chặn việc bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc có hành vi khác gây cản trở cho việc việc thi hành án

Các biện pháp ngăn chặn không phải là hậu quả pháp lý tất yếu của việc phạm tội, không phải người phạm tội nào cũng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án gắn với các quyết định tố tụng như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, quyết định truy tố bị can Song quá trình giải quyết vụ án cùng với việc áp dụng các biện pháp đó của các cơ quan tiến hành tố tụng không phải là quá trình thực hiện trách nhiệm hình sự mà chỉ là quá trình xác định những điều kiện cần và

đủ để có thể truy tố người phạm tội và buộc tội họ trước Tòa án Chức năng xét xử, kết tội người phạm tội thuộc về Tòa án Căn cứ vào kết quả của quá trình điều tra và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án sẽ ra phán quyết về việc có kết tội người đã bị truy tố hay không Nếu có đủ cơ sở để kết án người phạm tội, Tòa án sẽ ra bản án kết tội đối với người đó, bản án kết tội của Tòa

án chính là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người phạm tội Việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước và việc phải chịu

Trang 28

trách nhiệm hình sự từ phía người phạm tội chỉ bắt đầu khi bản án kết tội của Tòa án đối với bị cáo có hiệu lực pháp luật

Thời điểm bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là thời điểm bắt đầu thực hiện trách nhiệm hình sự, người phạm tội chính thức phải chịu trách nhiệm hình sự trước Nhà nước, chính thức "bị coi là có tội" Nếu không

có những lý do đặc biệt, người phạm tội sẽ phải chấp hành toàn bộ hình phạt

do Tòa án quyết định trong bản án kết tội Để được coi là chấp hành xong bản

án thì người bị kết án không chỉ đã chấp hành xong hình phạt, bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung (nếu có) mà còn phải chấp hành xong các quyết định khác của bản án

Trên cơ sở phân tích những đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự

như trên, có thể rút ra khái niệm trách nhiệm hình sự như sau: Trách nhiệm

hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm

và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện

ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định

1.2.3 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại:

TNHS của pháp nhân thương mại không vượt ra khỏi nội hàm của khái niệm TNHS, chỉ khác ở điểm, thay vì trước đây TNHS chỉ áp dụng cho

cá nhân người phạm tội thì nay có thể áp dụng cho pháp nhân thương mại

Như vậy, TNHS của pháp nhân thương mại trong khoa học pháp luật hình sự có thể hiểu là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân thương mại do luật hình sự quy định

Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015, quy định khái niệm tội phạm, trong đó bổ sung chủ thể là pháp nhân thương mại, theo đó:

Khi pháp nhân thương mại thực hiện hành vi bị coi là tội phạm, xâm hại

Trang 29

đến các giá trị, quan hệ xã hội được Nhà nước và pháp luật bảo vệ thì pháp nhân thương mại sẽ phải chịu trách nhiệm, tức phải chịu TNHS - hậu quả pháp lý bất lợi được biểu hiện cụ thể ở những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước áp dụng, tước bỏ hay hạn chế các quyền và lợi ích của pháp nhân không bị bất kỳ sự cản trở nào Pháp nhân đó phải tự mình gánh chịu TNHS, không thể ủy thác hoặc chuyển cho một pháp nhân khác như cơ quan quản lý cấp trên hay cho một pháp nhân con của mình chịu thay được

TNHS của pháp nhân thương mại sẽ được áp dụng thông qua một trình tự thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định để đảm bảo tính khách quan, trung thực trong hoạt động tố tụng TNHS của pháp nhân thương mại cũng phải được thể hiện rõ ràng trong bản án hay quyết định của Tòa án và một pháp nhân thương mại cũng chỉ bị coi là có tội khi bị kết án bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Bản án là cơ sở pháp lý khẳng định một pháp nhân thương mại có tội hay không, quy định các hình thức TNHS mà pháp nhân đó phải gánh chịu Bản án hay quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật sẽ được đưa ra thi hành và có hiệu lực bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước cũng như mọi cá nhân và như vậy, TNHS đối với pháp nhân thương mại sẽ được bảo đảm thi hành trên thực tế

1.3 Pháp nhân – Chủ thể đặc thù của trách nhiệm hình sự

1.3.1 Các quan điểm tiếp cận vấn đề TNHS của pháp nhân trong luật hình

sự hiện đại

Trong lịch sử Luật hình sự, vấn đề trách nhiệm hình sự của tập thể, của tổ chức hoặc cộng đồng đã xuất hiện và tồn tại từ rất sớm Thời kỳ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm ở phương Đông cũng như ở phương Tây là thời

kỳ mà việc áp dụng trách nhiệm hình sự của tập thể đã rất thịnh hành Pháp luật của Nhà nước phong kiến bắt người khác hoặc cộng đồng nơi cư trú của

cá nhân phạm pháp, thậm chí cả một làng hoặc một thành phố phải cùng chịu

Trang 30

hình phạt hoặc chịu thay cho người đó.*

Theo GS.TSKH Đào Trí Úc - Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội: Như một sự phủ nhận tính vô lý của chế định trách nhiệm hình sự của tập thể quy trách nhiệm tràn lan, trường phái cổ điển của khoa học Luật hình sự cùng với tiến trình tiến hành Cách mạng tư sản ở châu Âu, nhất là Cách mạng tư sản Pháp vào cuối thế kỷ XVIII, đã đề ra quan điểm về trách nhiệm hình sự cá nhân Quan điểm đó đã trở thành một nguyên tắc trụ cột của Luật hình sự ở các nước phát triển và đứng vững chắc trong đời sống pháp lý của xã hội văn minh Theo đó, thứ nhất, chủ thể của một hành vi tội phạm chỉ có thể là một thể nhân cụ thể mà không thể là một tập thể hay một cộng đồng; thứ hai, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự bởi những hậu quả do hành vi của chính người đó gây ra, không thể có việc chuyển đổi trách nhiệm hình sự hay san sẻ trách nhiệm hình sự cho bất kỳ ai khác hay cho một tổ chức nào Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa, ngày càng

có nhiều quốc gia đã áp dụng trách nhiệm hình sự đối với cả các pháp nhân, xuất phát từ nhu cầu đấu tranh có hiệu quả hơn với các tội phạm về môi trường và tội phạm kinh tế, bởi nếu chỉ dừng lại ở phạm vi của trách nhiệm hình sự cá nhân thành viên của các tổ chức, doanh nghiệp thì việc bồi thường thiệt hại do các hành vi vi phạm gây ra cũng như khả năng phòng ngừa, răn đe là rất hạn chế và khó khăn

Việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân hoạt động kinh doanh lần đầu tiên được đặt ra trong phạm vi toàn cầu bởi Hội nghị quốc tế về Luật hình sự vào năm 1929 tại Bu-ca-ret (Ru-ma-ni) Tiếp đó, năm 1946, Tòa

án quốc tế Nurnberg đã ra phán quyết rằng một nhà nước và các tổ chức của

nó cũng có thể là chủ thể của tội phạm quốc tế Vào năm 1978, Ủy ban châu

* Trích bài viết GS.TSKH Đào Trí Úc - Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

Trang 31

Âu về các vấn đề tội phạm thuộc Hội đồng châu Âu đã ra khuyến cáo đối với nhà làm luật các quốc gia thành viên coi pháp nhân là các chủ thể trách nhiệm hình sự trong các tội phạm về môi trường Các diễn đàn tiếp theo đó của Liên hợp quốc về phòng ngừa tội phạm và về các biện pháp áp dụng đối với những người vi phạm pháp luật về môi trường cũng đã tái khẳng định lại quan điểm này, chẳng hạn như Hội nghị của Liên hợp quốc về phòng ngừa tội phạm diễn

ra tại Cairo năm 1996

Mặc dù vậy, kể từ khi ý tưởng về việc quay trở lại với việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân được đưa ra đến nay, chế định pháp lý này của Luật hình sự vẫn chưa nhận được sự thừa nhận chung và phổ biến trong pháp luật hình sự các quốc gia và vùng lãnh thổ

Đối với nhiều nước châu Âu lục địa, ở Liên bang Nga và các nước thuộc Liên Xô trước đây vẫn không coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm bởi cho rằng, đối với các loại tội phạm về kinh doanh, về môi trường, tốt hơn hết vẫn là các biện pháp trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự

Trong khi đó, tại các nước thuộc hệ thống Thông luật, trách nhiệm hình sự đối với các pháp nhân đã được áp dụng từ rất sớm và ngày càng trở nên phổ biến Chẳng hạn, ở Anh, chế định này được áp dụng rộng rãi kể từ giữa thế kỷ XIX; ở Mỹ, từ năm 1909; ở Australia, từ năm 1921 cho đến nay Nhiều quốc gia khác cũng đã bắt đầu áp dụng chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, chủ yếu là đối với các tội phạm trong kinh doanh và tội phạm

về môi trường, như Cu Ba (từ năm 1976), Trung Quốc (từ năm 1997), ga-ri (từ năm 2001), Ba Lan (từ năm 2002) Nhiều nước ở Tây Âu, Trung

Hung-Âu và Bắc Hung-Âu cũng mới cho áp dụng chế định này như Hà Lan (1976), Na Uy (1991), Pháp (1992), Phần Lan (1995), Bỉ (1999), Thụy Sỹ (2003)

Trang 32

Cũng theo phân tích của GS.TSKH Đào Trí Úc (Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội) thì trong lịch sử luật hình sự đã có nhiều cách thức tiếp cận

và xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân Có thể phân thành các cách thức sau:

(1) Cách thứ nhất là cố gắng xác định được “lỗi” của pháp nhân:

Trong việc quyết định cấu trúc pháp lý của trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, thì lỗi của chủ thể thuộc về mặt chủ quan của hành vi tội phạm

là vấn đề gây tranh cãi chủ yếu nhất Lỗi được hiểu là nhận thức, thái độ tâm

lý của con người về hành vi của chính mình Trong khi đó, pháp nhân là một thực thể có tính pháp lý (do pháp luật đặt ra) không thể có nhận thức hay tâm

lý như một con người Vì vậy, yếu tố lỗi của chủ thể như là một yếu tố không thể thiếu được của hành vi không thể có ở pháp nhân và do đó, khái niệm

“lỗi” không thể áp dụng trực tiếp cho chủ thể là pháp nhân

Để vượt qua được trở ngại có tính học thuật này, một lập luận đã được xác lập khi áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân Theo đó, lỗi của pháp nhân vẫn tồn tại và cần được hiểu đó chính là những yếu tố nằm trong lỗi thuộc về hành vi của người lãnh đạo hoặc người đại diện có thẩm quyền của pháp nhân Thực ra, giả thuyết pháp lý này cũng chính là căn cứ để áp dụng trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hành chính của pháp nhân Ở Anh, giả thuyết pháp lý này có tên gọi là nguyên lý hóa thân (identification), được hiểu rằng, hành vi hay bất hành vi cũng như thái độ tâm lý và ý thức của người lãnh đạo của pháp nhân được xác định là hành vi (bất hành vi) và thái

độ tâm lý của pháp nhân Do vậy, trách nhiệm của pháp nhân cũng mang tính

cá nhân, được coi như trách nhiệm của cá nhân Khi hành vi tội phạm do người lãnh đạo, người đại diện có thẩm quyền gây ra thì pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự với tư cách là người thực hiện, còn khi nhân viên của

Trang 33

pháp nhân đóng vai trò đồng phạm hành vi tội phạm thì pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự với tư cách là đồng phạm

Từ những lập luận như trên, tại các quốc gia nơi có quy định pháp nhân cũng có thể là chủ thể của trách nhiệm hình sự đều có sự thống nhất ở hai điều kiện cần và đủ cho trách nhiệm của pháp nhân là:

1) Hành vi tội phạm được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân;

2) Hành vi tội phạm do người lãnh đạo hoặc người đại diện có thẩm quyền của pháp nhân thực hiện

Pháp luật hình sự của hầu hết các nước áp dụng chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đều dựa trên cả hai tiêu chí đó Chẳng hạn, theo Điều 121-122 Bộ luật Hình sự (BLHS) Cộng hòa Pháp thì “pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự (…) bởi những hành vi tội phạm do cơ quan hoặc người đại diện của pháp nhân gây ra vì lợi ích của pháp nhân này” Còn tại khoản (b) của Điều 7.22 BLHS Bang Texas, Hoa Kỳ có quy định: “Doanh nghiệp hoặc tổ chức chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự bởi hành vi tội phạm khi hành vi đó đã được chuẩn thuận, được yêu cầu, được làm theo lệnh hoặc được thực hiện hoặc do vô ý thực hiện bởi:

1) Đa số trong Hội đồng quản lý, nhân danh lợi ích của doanh nghiệp hoặc tổ chức;

2) Người đại diện cao nhất của doanh nghiệp hoặc tổ chức, vì lợi ích của doanh nghiệp hoặc tổ chức này trong phạm vi thẩm quyền của người này”

Một đặc điểm đáng chú ý khác của pháp luật hình sự ở những nước duy trì chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân là quy tắc về mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự của pháp nhân với trách nhiệm hình sự của cá nhân trong pháp nhân đó Nguyên lý chung ở đây là: trách nhiệm hình sự của pháp nhân không loại trừ lỗi và trách nhiệm của cá nhân mà được áp dụng song

Trang 34

Để hiểu rõ hơn nguyên tắc song trùng trách nhiệm này, có thể lấy quy định tại Điều 51 của BLHS Hà Lan làm ví dụ Theo đó, “khi tội phạm do pháp nhân gây ra, hình phạt được áp dụng: 1) Đối với pháp nhân; 2) Đối với người đã đưa ra quyết định của pháp nhân về việc thực hiện hành vi đó cũng như đối với người đã lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quá trình thực hiện hành vi đó; 3) Đối với cả hai đối tượng được nêu ở các khoản 1) và 2) Luật hình sự các nước Tây Ban Nha, Na Uy còn quy định rằng, hình phạt đối với pháp nhân được áp dụng kể cả khi không xác định được người thực hành cụ thể của hành vi (cá nhân) hoặc khi người đó không bị áp dụng hình phạt

Như vậy, có thể thấy rõ rằng, trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một dạng trách nhiệm đối với một thực thể pháp lý mà không phải là đối với con người cá thể, do đó, nó có những đặc điểm khác với nguyên tắc trách nhiệm hình sự thông thường và phổ biến trong Luật hình sự

(2) Cách thứ hai là chỉ truy cứu trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự đối với tội phạm do pháp nhân gây ra:

Theo một công thức pháp lý thông thường, thì các vi phạm pháp luật của pháp nhân có hệ quả tất yếu là các hình thức trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm hành chính, một cách làm phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Điều đáng chú ý ở đây là, trong nhiều trường hợp, mức

độ xử phạt hành chính đối với các vi phạm do pháp nhân gây ra có thể lớn gấp nhiều lần so với mức độ xử lý hành chính đối với thể nhân

Tuy nhiên, trường hợp được đề cập ở đây không phải là xử lý trách nhiệm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật hành chính của pháp nhân, mà là việc xử lý bằng các chế tài trách nhiệm hành chính hoặc bằng trách nhiệm dân sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự

Có thể thấy rõ cách làm phổ biến này ở các nước trong việc xử lý các hành vi phạm tội như tham nhũng, tội khủng bố, tội phạm về thuế Chẳng hạn,

Trang 35

Sắc luật ngày 8-6-2001 của Ý có quy định áp dụng các chế tài trách nhiệm hành chính đối với các tội phạm tham nhũng, lừa đảo, lừa đảo qua mạng Ở Liên bang Nga, Luật số 35 ngày 6-3-2006 “Về chống khủng bố” đã quy định trách nhiệm của một tổ chức do việc tham gia hoạt động khủng bố và bị coi là

tổ chức khủng bố Theo đó, “Tổ chức bị coi là tổ chức khủng bố và phải bị giải thể, bị cấm hoạt động theo quyết định của Tòa án trên cơ sở cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát Liên bang Nga hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới trong những trường hợp các hoạt động tổ chức, chuẩn bị phạm tội, và thực hiện các tội phạm quy định tại các Điều 205-206, 208-211, 277-

280, 282.2 và 360 của BLHS Liên bang Nga (là các tội khủng bố và các tội xâm phạm trật tự công cộng) được thực hiện nhân danh tổ chức này hoặc vì lợi ích của tổ chức này, hoặc trong trường hợp những hành vi kể trên được thực hiện bởi người có thẩm quyền kiểm soát việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của tổ chức này”

Quy định này cho thấy hai phương diện của vấn đề xử lý trách nhiệm dân sự đối với hành vi tội phạm mà chủ thể là pháp nhân ở Liên bang Nga

Một mặt, đây hoàn toàn là một cách xác định lỗi về mặt hình sự của pháp nhân thông qua quy định rằng, hành vi “được thực hiện nhân danh tổ chức” hoặc “vì lợi ích của tổ chức” hoặc “hành vi được thực hiện bởi người

có thẩm quyền kiểm soát việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của tổ chức”

Mặt khác, xét về tính chất của chế tài áp dụng, thì “giải thể” hoặc tịch thu tài sản của tổ chức bị giải thể để sung công quỹ là những hình thức thuần túy trách nhiệm dân sự

Cách xử lý này của pháp luật Liên bang Nga và của một số nước thuộc Liên Xô trước đây như Ucraina, Kirghizia, Mondova, Belarux, Kazacstan… là theo hướng vừa coi hành vi của pháp nhân giống như hành vi

Trang 36

“có lỗi” của một cá nhân, nhưng lại vừa không coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm

(3) Cách thứ ba là áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất hình sự:

Ở một số nước, mặc dù hành vi vi phạm pháp luật của pháp nhân vẫn được coi là tội phạm hình sự, nhưng pháp nhân không được coi là chủ thể của tội phạm và chế tài đối với các tội phạm đó là những hình thức cưỡng chế có tính chất hình sự nhưng không phải là hình phạt hình sự (ở Áo, An-ba-ni, Tây Ban Nha, Mê-hi-cô, Peru, Nhật Bản…) Nói khác đi, đây là cách “trung gian” giữa việc truy cứu trách nhiệm hình sự và cách xử lý bằng các chế tài trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự đối với tội phạm do pháp nhân gây ra

Hình thức phổ biến nhất là tịch thu tài sản Ví dụ, BLHS của Áo, mặc

dù không quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân và chỉ áp dụng trách nhiệm này đối với thể nhân, nhưng tại Điều 20 lại quy định, một pháp nhân, nếu hưởng lợi từ hành vi phạm tội của cá nhân hoặc từ những tài sản do phạm tội mà có thì pháp nhân đó có thể bị “áp dụng hình phạt phạt tiền bằng đúng số tiền đã có do sự thu lợi bất chính nêu trên”

BLHS Tây Ban Nha quy định trách nhiệm liên đới của pháp nhân phải chịu một khoản tiền phạt khi người lãnh đạo hoặc người đại diện có thẩm quyền của pháp nhân đã phạm tội vì lợi ích hoặc nhân danh pháp nhân đó

1.3.2 Phân loại pháp nhân là chủ thể của TNHS

Pháp luật của các quốc gia có nhiều điểm khác nhau trong quy định về việc các pháp nhân có thể trở thành chủ thể của tội phạm Nói cách khác, đó

là vấn đề pháp nhân tư hay pháp nhân công

Pháp luật hình sự của Pháp, Bỉ, Đan Mạch, Island coi chủ thể của tội phạm có thể là pháp nhân công và pháp nhân tư

Trang 37

Pháp nhân công được hiểu là các cơ quan công quyền và các cơ quan

tự quản địa phương Ở đó, chỉ có một ngoại lệ, một tổ chức công quyền duy nhất không thể là chủ thể của trách nhiệm hình sự, đó là Nhà nước Theo Điều

26 BLHS Đan Mạch, các quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân được áp dụng đối với mọi loại pháp nhân, bao gồm các công ty cổ phần, các hợp tác xã, các hội sở, các quỹ, các cơ quan nhà nước và cơ quan tự quản địa phương; các công ty của một cá nhân, nếu có quy mô ngang với các tổ chức, doanh nghiệp nêu trên, cũng được coi là chủ thể của trách nhiệm hình sự

Tuy nhiên, diện của những điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân công quyền là rất hạn chế Theo quy định của BLHS Pháp

và Bỉ thì không áp dụng hình phạt giải thể đối với pháp nhân công quyền, các đảng chính trị và tổ chức công đoàn

Trong khi đó, pháp luật hình sự của những nước khác như Trung Quốc, Iran, Na Uy, Mondova lại quy định chỉ các pháp nhân tư mới có thể

là chủ thể của trách nhiệm hình sự hoặc thậm chí, chỉ có thể là các pháp nhân thương mại (kinh doanh) Theo BLHS Mondova, đó là các pháp nhân hoạt động kinh doanh; theo BLHS Na Uy, đó là các công ty, các tập đoàn hoặc tổng công ty, các doanh nghiệp một thành viên BLHS Lit-va quy định, Nhà nước, các cấp chính quyền nhà nước, các cơ quan nhà nước và các cơ quan tự quản địa phương, các tổ chức dân sự quốc tế không phải chịu trách nhiệm hình sự Theo BLHS mẫu của Hoa Kỳ khi xác định cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các doanh nghiệp đã chỉ rõ rằng, khái niệm “doanh nghiệp” không bao gồm “các cơ quan nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được lập ra để thực hiện các chương trình, dự án của Nhà nước” (Điều 2.07)

1.3.3 Hình phạt và các hình thức trách nhiệm hình sự khác đối với pháp nhân

Trang 38

Đặc điểm nổi bật của vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân là quy định loại hình phạt nào không được áp dụng

Một số loại hình phạt không thể áp dụng đối với pháp nhân là những hình phạt như tù có thời hạn, lao động cải tạo Vì, như đã nêu ở trên, có những nước coi hình thức trách nhiệm đối với pháp nhân chỉ là những biện pháp cưỡng chế hình sự mà không phải là hình phạt

Hình phạt phổ biến nhất đối với pháp nhân là phạt tiền Hình phạt này được áp dụng ở hầu hết các nước, nơi coi các pháp nhân tư, các pháp nhân kinh doanh là chủ thể của trách nhiệm hình sự Có nước còn coi đó là hình phạt duy nhất được áp dụng đối với pháp nhân

Một số hình phạt khác cũng được áp dụng tương đối phổ biến như:

- Tịch thu tài sản (áp dụng nhiều nhất ở Mỹ, Pháp, Bỉ, I-rắc, ni);

An-ba Hạn chế một số hoạt động của pháp nhân, chẳng hạn cấm thực hiện một số hoạt động; đóng cửa các chi nhánh hay bộ phận (Bỉ, Tây Ban Nha, Pháp, Peru, Mondova);

- Đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân (Tây Ban Nha, Peru);

- Giải thể pháp nhân (Bỉ, Pháp, Peru, Litva, Mondova);

- Cảnh cáo (Bỉ, Pháp)

Ở Pháp, ngoài những hình phạt nêu trên, còn có thể áp dụng các hình phạt bổ sung như: đặt pháp nhân dưới sự giám sát đặc biệt của Tòa án; cấm không được tham dự các giao kết hợp đồng mà Nhà nước là chủ đầu tư; cấm bán ra công chúng các cổ phiếu và giấy tờ có giá trị

1.3.4 Các hình thức TNHS đối với pháp nhân trong lịch sử pháp luật Việt Nam

Ở Việt Nam, trách nhiệm hình sự của pháp nhân không phải là vấn đề mới cả trên phương diện nghiên cứu khoa học và xây dựng pháp luật Cả hai

Trang 39

lần sửa đổi, bổ sung BLHS vào năm 1999 và năm 2009, vấn đề này đã được các đại biểu Quốc hội thảo luận và quyết định chỉ quy định trách nhiệm hình

sự đối với cá nhân Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985

Lịch sử hình thành và phát triển của luật Hình sự Việt Nam hơn nửa thế

kỷ qua đã cho thấy: Pháp luật hình sự nước ta với sự ghi nhận nguyên tắc lỗi

và nguyên tắc phân hóa TNHS, đồng thời với việc không ghi nhận nguyên tắc TNHS đối với người khác và TNHS của pháp nhân Pháp luật hình sự nói chung và quan điểm về việc thiết lập TNHS đối với pháp nhân nói riêng ở nước ta trong thời gian qua chịu ảnh hưởng nhiều bởi hệ thống pháp luật hình

sự của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là của Liên Xô (cũ) và các nước Đông

Âu - là những nước không thiết lập chế định TNHS đối với pháp nhân Vì lẽ

đó, trong lĩnh vực khoa học pháp lý hình sự một thời gian dài hầu như không đặt ra vấn đề nghiên cứu thiết lập TNHS đối với pháp nhân

Tuy nhiên, trong lịch sử xây dựng, hình thành và phát triển pháp luật hình sự của nước ta từ sau năm 1945 đến nay, có một số văn bản pháp luật và một số bản dự thảo luật có quy định vấn đề TNHS đối với pháp nhân Cụ thể:

* Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985:

Trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985 (trước khi ban hành BLHS năm 1985), pháp luật hình sự giai đoạn này mang đặc điểm là nước ta chưa ban hành một BLHS chính thức, mà những quy định pháp luật hình sự được nằm xen kẽ trong các văn bản pháp luật khác nhau

Tuy nhiên, giai đoạn này, cũng sơ khai một số quy định về TNHS đối với pháp nhân, nhưng không mang tính phổ quát, chưa mang tính cụ thể, còn mang tính tùy nghi, nặng về TNHS đối với cá nhân, nhưng cũng thể hiện được bước tiến bộ trong trình độ lập pháp trong giai đoạn này, như:

- Sau Cách mạng tháng Tám, chính quyền của chế độ cũ ở miền nam

Trang 40

TNHS của pháp nhân như: Điều 33 Dụ số 10 ngày 23/6/1950 và Điều 26 Dụ

số 33 ngày 16/11/1952 đều quy định trường hợp hội buôn, hiệp hội, nghiệp đoàn hoạt động trái với những điều khoản quy định về cách tổ chức và điều hành hội, thì các giám đốc hay quản trị viên đều có thể bị truy tố, bị phạt bạc hay bị phạt giam, các tổ chức trên còn có thể bị Tòa án giải tán Đặc biệt trong BLHS ngày 20/12/1972 của chính quyền Sài Gòn cũ với các Điều 8, Điều 69

và Điều 71 cũng đã chính thức quy định TNHS của pháp nhân với tư cách là nguyên tắc chung trong Luật Hình sự cùng với TNHS của cá nhân Điều 8 quy định: “Luật hình chi phối mọi cá nhân và pháp nhân cư trú trên lãnh thổ Việt Nam và mọi sự kiện xảy ra trên lãnh thổ này, kể cả không phận và hải phận” Điều 69 quy định: “Cá nhân và pháp nhân đều có thể bị trách nhiệm hình sự” và theo Điều 71 thì “pháp nhân có thể bị phạt bị giải tán, phạt vạ và tịch thu tài sản”

- Dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vào ngày 14/12/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 282/SL kèm theo Luật về chế độ báo chí, được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua bởi Luật số 100/SL/L002 ngày 20/05/1957, Điều 13 quy định "Báo chí nào vi phạm Điều 8, sẽ bị trừng phạt: tịch thu ấn phẩm, đình bản vĩnh viễn và bị truy

tố trước Tòa án sẽ bị phạt tiền từ mười vạn đồng đến năm mươi vạn đồng, hoặc người có trách nhiệm bị phạt tù từ một tháng đến một năm, hoặc cả hai hình phạt đó" hoặc "Báo chí nào vi phạm Điều 9 hoặc Điều 12 sẽ bị trừng phạt: tùy theo lỗi nặng nhẹ mà bị cảnh cáo, tịch thu ấn phẩm, đình chỉ tạm thời, đình chỉ vĩnh viễn, hoặc bị truy tố trước Tòa án, có thể bị phạt tiền từ mười vạn đồng đến một triệu đồng, hoặc người chịu trách nhiệm bị phạt tù từ một đến hai năm, hoặc cả hai hình phạt đó Nếu xét thấy đương sự phạm vào những luật lệ khác, Tòa án sẽ chiếu theo những luật lệ ấy mà trừng phạt thêm." Điều 14 quy định tiếp: “Trong mọi trường hợp vi phạm, chủ bút chịu trách nhiệm chính; người quản lý và người viết bài cũng phải liên đới chịu

Ngày đăng: 17/03/2021, 15:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm