1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thông lệ về quản trị công ty của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế oecd nghiên cứu áp dụng vào công ty cổ phần ở việt nam

14 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 465,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số thông lệ tốt về quản trị công ty của các tổ chức khác 24 Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC THÔNG LỆ TỐT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐẶNG MINH

THÔNG LỆ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA TỔ CHỨC HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ OECD - NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN

Ở VIỆT NAM

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi - 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐẶNG MINH

THÔNG LỆ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA TỔ CHỨC HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ OECD - NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa

Hµ néi - 2008

Trang 3

MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

THÔNG LỆ TỐT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY

VÀ CÁC THÔNG LỆ TỐT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY THEO OECD

5

1.1 Một số vấn đề lý luận về áp dụng thông lệ tốt về quản

trị công ty

5

1.1.1 Một số khái niệm và định nghĩa 5

1.1.2 Bản chất của việc áp dụng các thông lệ tốt về quản trị

công ty

10 1.1.3 Cơ sở của việc áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công ty 12

1.1.3.1 Sự tự nguyện và thích nghi áp dụng thông lệ tốt 12

1.1.3.2 Cơ chế luật hóa các thông lệ tốt vào hệ thống pháp luật 13

1.1.3.3 Các cơ chế bổ trợ khác 14

1.2 Các thông lệ tốt về quản trị công ty của OECD 17

1.2.1 Sự hình thành các thông lệ tốt về quản trị công ty

của OECD

17 1.2.1.1 Giới thiệu chung về OECD 17

1.2.1.2 Giới thiệu chung về các nguyên tắc quản trị công ty

của OECD

18

1.2.2 Tính không bắt buộc, tính thích nghi và ý nghĩa của

các thông lệ tốt về quản trị công ty của OECD

20

1.2.3 Một số thông lệ tốt về quản trị công ty của các tổ

chức khác

24

Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG

TY CỔ PHẦN VÀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC THÔNG LỆ TỐT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

26

2.1 Tổng quan các quy định của pháp luật Việt Nam về

công ty cổ phần

26

2.2 Sự cần thiết và các tác động của việc áp dụng thông

lệ tốt vào quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam

30

2.2.1 Hiện trạng về quản trị công ty trong công ty cổ phần

ở Việt Nam

30

2.2.2 Sự cần thiết và các tác động của việc áp dụng thông

lệ tốt vào quản trị công ty cổ phần

39

QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

47

3.1 Cơ sở của việc áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công

ty cổ phần

47

3.2 Thực tiễn du nhập và áp dụng thông lệ tốt vào quản

trị công ty cổ phần ở Việt Nam

49

3.3 Các cơ chế áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công ty

cổ phần ở Việt Nam

51

3.3.1 Đề xuất các biện pháp và cơ chế 51 3.3.2 Nghiên cứu tình huống áp dụng thông lệ quản trị

công ty: trường hợp Công ty cổ phần Cho thuê Máy bay Việt Nam

72

3.3.2.1 Giới thiệu Công ty cổ phần Cho thuê Máy bay Việt Nam 73 3.3.2.2 Cơ cấu quản trị Công ty cổ phần Cho thuê Máy bay

Việt Nam

74

3.3.2.3 Yêu cầu và thực tiễn áp dụng các chuẩn mực quốc tế

trong quản trị và điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty

75

3.3.2.4 Sự thể chế hóa các thông lệ tốt về quản trị công ty

trong các văn bản quản lý nội bộ của Công ty cổ phần Cho thuê Máy bay Việt Nam

79

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ngày nay, các thông lệ tốt về quản trị công ty (QTCT) ngày càng

được đề cập đến nhiều trong quá trình hội nhập Bên cạnh các yếu tố lợi

nhuận, tốc độ tăng trưởng, các vấn đề về hành xử của doanh nghiệp,

trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các yêu cầu về môi trường, v.v

đòi hỏi mức độ cao trong việc áp dụng thông lệ kinh doanh chuẩn mực để

phát triển trong một môi trường đầy thách thức Quản trị công ty với các

thông lệ tốt của nó dần du nhập vào Việt Nam như một tất yếu Trước

thực tế đó, việc tìm hiểu các thông lệ quốc tế tốt về quản trị công ty và

việc nghiên cứu áp dụng các thông lệ này vào các công ty ở Việt Nam là

rất cần thiết

Sự hiện diện của một hệ thống quản trị công ty hiệu quả với việc áp

dụng các thông lệ tốt, trong phạm vi một công ty đơn lẻ và cao hơn nữa

trong cả nền kinh tế như một tổng thể, giúp cho sự thúc đẩy phát triển

cho cả nền kinh tế quốc gia

Áp dụng thông lệ tốt về QTCT, đặc biệt đối với công ty cổ phần

(CTCP) ở giai đoạn ban đầu, vừa là hoạt động mang tính thử nghiệm, mở

đường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực vừa tạo ra nhu

cầu thể chế hóa trong lĩnh vực pháp luật Hiện nay, môi trường pháp lý

cho hoạt động này cũng còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu Đánh giá

được khả năng và thực tiễn áp dụng thông lệ tốt về QTCT của các doanh

nghiệp Việt Nam, nhu cầu và các bước phát triển của hoạt động này

trong tương lai và khả năng điều chỉnh pháp luật đang đặt ra những vấn

đề cần xem xét Đề tài "Thông lệ về quản trị công ty của tổ chức hợp

tác và phát triển kinh tế OECD - Nghiên cứu áp dụng vào công ty cổ

phần ở Việt Nam" là một hướng tiếp cận nhằm phân tích và đề xuất các

cơ chế điều chỉnh, đặc biệt về mặt pháp lý một cách thích hợp đối với

hoạt động này, do đó, là cần thiết trong bối cảnh hiện nay cả trên phương

diện lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu

Trên thế giới, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã có rất nhiều nghiên cứu và báo cáo về thông lệ tốt về QTCT và thực tiễn áp

dụng ở các nền kinh tế ("Best practices in corporate governance"),

nhưng các báo cáo chủ yếu tập trung vào các quốc gia thành viên

Ở Việt Nam, QTCT và các thông lệ tốt của nó là một khái niệm còn chưa phổ biến Hiện nay, các công trình nghiên cứu khoa học về áp dụng thông lệ tốt về quản trị công ty còn rất ít, tiêu biểu nhất là luận án tiến sĩ

luật học "Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc" của tác giả Ngô Viễn Phú Thông lệ tốt

mới chỉ được đề cập như những tiêu chí quản trị của doanh nghiệp mang tính khuyến nghị, chưa có các nghiên cứu sâu về cơ chế áp dụng và

hướng thể chế hóa các thông lệ này vào CTCP Với đề tài "Thông lệ về

quản trị công ty của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD - Nghiên cứu áp dụng vào công ty cổ phần ở Việt Nam", tác giả có sự kế

thừa, học hỏi kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học liên quan

và các nghiên cứu của các tổ chức quốc tế về tình hình QTCT ở Việt Nam đã được công bố nhằm đặt ra một số yêu cầu về xây dựng và cải thiện môi trường pháp lý cho việc áp dụng thông lệ tốt trong loại hình CTCP ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trong bối cảnh luật pháp Việt Nam đang có nhiều biến chuyển, sự ra đời và áp dụng của Luật Doanh nghiệp "thống nhất" 2005 với sự giới thiệu nhiều quy định và chuẩn mực mới về quản trị công ty theo thông lệ quốc tế Việc áp dụng các thông lệ và chuẩn mực quản trị công ty là xu hướng tất yếu khách quan Nghiên cứu cơ chế áp dụng các thông lệ có tính quốc tế này là mục đích của luận văn Để thực hiện mục đích và ý tưởng này, tác giả sử dụng một số tư liệu từ báo chí, một vài vụ việc đã được đưa ra giải quyết bằng con đường tố tụng Tòa

án, những thông tin này sẽ làm sáng tỏ cho các nội dung nghiên cứu của

đề tài Cụ thể, đề tài nhắm đến các mục đích sau:

Trang 5

- Nêu ra và làm rõ một số vấn đề về thông lệ tốt về QTCT theo tiêu

chuẩn quốc tế, đặc biệt chú trọng đến thông lệ tốt về QTCT của OECD;

- Đánh giá các vấn đề như tính quả hiệu quả, cách thức tổ chức,

những khó khăn, trở ngại, những bảo đảm pháp lý và những đề xuất, giải

pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng thông lệ tốt trong quản trị

công ty của CTCP ở Việt Nam;

- Góp một phần nhỏ trong cung cấp thông tin mang tính tham khảo

cho cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty niêm yết về những

nguyên tắc, kinh nghiệm áp dụng những chuẩn mực và thông lệ quốc tế

tiên tiến về QTCT;

- Phân tích lý luận và thực tiễn áp dụng thông lệ tốt qua việc làm rõ

các quy định liên quan trong Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Chứng

Khoán 2006; các luật và quy định liên quan

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới

hạn trong các vấn đề sau:

- Tìm hiểu một số thông lệ tốt về QTCT theo OECD; sự thể hiện các

thông lệ tốt về QTCT trong pháp luật hiện hành của Việt Nam;

- Nghiên cứu cơ chế xây dựng và áp dụng thông lệ tốt vào CTCP và kiến

nghị các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về thông lệ tốt ở Việt Nam;

- Những đề xuất và giải pháp về mặt pháp lý và thực tế nhằm nâng

cao hiệu quả áp dụng các thông lệ tốt vào CTCP ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng phương pháp luận duy vật

biện chứng, phương pháp luận duy vật lịch sử, phương pháp phân tích

quy phạm pháp luật cụ thể, phương pháp đối chiếu pháp luật, phương

pháp nghiên cứu tình huống Thêm vào đó, chúng tôi sẽ sử dụng các

phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến như phương pháp tổng hợp;

phương pháp phân tích, đánh giá; phương pháp hệ thống; phương pháp

so sánh, đối chiếu; phương pháp lịch sử

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về áp dụng thông lệ tốt về QTCT

và các thông lệ tốt về QTCT theo OECD

Chương 2: Pháp luật của Việt Nam về CTCP và việc áp dụng các

thông lệ tốt về QTCT vào CTCP ở Việt Nam

Chương 3: Cơ chế áp dụng thông lệ tốt vào quản trị CTCP ở Việt Nam

néi dung c¬ b¶n cña luËn v¨n

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG THÔNG LỆ TỐT

VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ CÁC THÔNG LỆ TỐT

VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY THEO OECD 1.1 Một số vấn đề lý luận về áp dụng thông lệ tốt về quản trị công ty

1.1.1 Một số khái niệm và định nghĩa

Khái niệm "quản trị công ty"

Khái niệm "quản trị công ty" trong luận văn này được tác giả lấy từ chữ "corporate governace" Đã có rất nhiều định nghĩa về QTCT, theo

đó, QTCT được hiểu như tổng hợp các thiết chế và phương pháp để định hướng cho công ty trong một khuôn khổ hoạt động nhằm hướng tới việc tạo ra tài sản thặng dư và hài hòa hóa lợi ích nội bộ cũng như đảm bảo trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Theo OECD, QTCT là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý

Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa các cổ đông, Hội đồng quản trị (HĐQT), các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương

Trang 6

tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó QTCT không

phải là một khái niệm tĩnh, ngay cả trong OECD, khái niệm này cũng có

sự biến chuyển theo thời gian Nhìn chung, theo OECD, QTCT "là hệ

thống được xây dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp Cấu

trúc QTCT chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số

những thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp như HĐQT,

Giám đốc, cổ đông, và những chủ thể khác có liên quan Quản trị công ty

cũng giải thích rõ qui tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận

hành doanh nghiệp Bằng cách này, QTCT cũng đưa ra cấu trúc thông

qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt

được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc" (OECD 4/1999)

Với sự hội nhập môi trường pháp lý quốc tế, pháp luật Việt Nam về

QTCT cũng đang dần tiệm cận đến các khái niệm pháp lý gần với

"chuẩn" quốc tế Theo đó, pháp luật Việt Nam hiện hành coi QTCT là hệ

thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và

được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những

người liên quan đến công ty Các nguyên tắc QTCT cơ bản bao gồm:

- Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả;

- Đảm bảo quyền lợi của cổ đông;

- Đối xử công bằng giữa các cổ đông;

- Đảm bảo vai trò của các bên có quyền lợi liên quan đến công ty;

- Minh bạch trong hoạt động của công ty;

- HĐQT và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả

1.1.2 Bản chất của việc áp dụng các thông lệ tốt về quản trị công ty

Thông lệ tốt, thực tế ở Việt Nam hiện nay chỉ áp dụng phổ biến và

được nhận thức bởi các công ty niêm yết Theo định nghĩa của pháp luật

Việt Nam, "công ty niêm yết" là công ty cổ phần được chấp thuận niêm

yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK)/ Trung tâm Giao

dịch Chứng khoán (TTGDCK) trên lãnh thổ Việt Nam;

Bản chất của việc áp dụng thông lệ tốt trong QTCT chính là sự tuân

thủ tự nguyện kết hợp với việc áp dụng pháp luật các nguyên tắc quản trị

trong điều hành hoạt động công ty Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là sự áp dụng này do ai thực hiện, hay là chủ thể của nó? Câu trả lời chính xác nhất có lẽ là HĐQT và các Giám đốc, những người quản lý hay được ủy trị quản lý công ty, đó là các chủ thể cơ bản của hoạt động QTCT

1.1.3 Cơ sở của việc áp dụng Thông lệ tốt vào quản trị công ty

1.1.3.1 Sự tự nguyện và thích nghi áp dụng thông lệ tốt

Với sự bành trướng của các công ty đa quốc gia, sự xuất hiện của các siêu thực thể kinh tế này ở các quốc gia tạo ra tác động lan truyền về các thiết chế, thông lệ quản trị tại quốc gia tiếp nhận đầu tư: các công ty nội địa "bắt chước" hình mẫu quản trị của công ty đa quốc gia (ở mức độ nhất định), các nhân viên được đào tạo có thể rời các công ty đa quốc gia

để làm việc cho các công ty địa phương; tác động hai chiều: các công ty địa phương buộc phải nỗ lực hơn vì cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, trong

đó, công tác QTCT được đặt ra như một trong những nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển công ty "Công nghệ quản lý" được xem như một trong những nguồn lực hàng đầu của công ty

Trong sự phức tạp của tổ chức kinh doanh, người ta hướng đến những chuẩn mực, chuẩn tắc hành xử chung, lâu dần được chấp nhận rộng rãi và thành lệ Các thông lệ kinh doanh đang ngày càng đóng một vai trò quan trọng điều chỉnh các hoạt động của thị trường toàn cầu Chúng ta đã và đang chứng kiến vô vàn các hình thức thông lệ như Incoterms 2000, các khuyến nghị của Phòng Thương mại Quốc tế ICC, các thông lệ tốt về QTCT của OECD và của các tổ chức nghề nghiệp Bên cạnh luật quốc gia và điều ước quốc tế, thông lệ và thực tiễn kinh doanh đang ngày càng có vai trò cực kỳ quan trọng Hiện nay, rất nhiều quốc gia thành viên OECD ủng hộ phương pháp tiếp cận các quy định và thực thi bằng việc kết hợp các tiêu chuẩn minh bạch thông tin với sự tin tưởng vào cơ chế tuân thủ tự nguyện Điều này tạo ra cán cân thăng bằng giữa các quy định pháp luật và các sáng kiến được thực thi tự nguyện

1.1.3.2 Cơ chế luật hóa các thông lệ tốt vào hệ thống pháp luật

Hệ thống các quy định về QTCT của một quốc gia bao gồm các quy định chính thức và không chính thức Bản chất của thông lệ, với đúng

Trang 7

như từ ngữ nó phản ánh là các khuyến cáo, là tập quán của thương nhân,

nhưng theo nghĩa nào đó thì được, buộc phải, được khuyến cáo hay được

khuyến khích áp dụng… tức là nó có giá trị về mặt thực tiễn rất cao Giá

trị thực tiễn của thông lệ được phản ánh ở mức độ phổ biến trong việc áp

dụng của nó Không phải ngẫu nhiên mà Incoterm - Các điều khoản

thương mại quốc tế được công nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế

giới; các thông lệ quản trị công ty của OECD được khuyến cáo áp dụng

và được rất nhiều công ty sử dụng

Thông lệ tốt về QTCT có thể được đưa vào các quy định pháp luật

một cách trực tiếp (quy định thành các điều luật trong văn bản) hoặc dựa

trên các khuyến nghị của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, của các cơ

quan quản lý nhà nước Điều đáng chú ý ở đây là, dù theo cơ chế nào:

khuyến nghị hay bắt buộc áp dụng, dưới hình thức nào: quy định pháp

luật hay khuyến nghị thì các thông lệ tốt về QTCT đang ngày càng được

hiện hữu rõ ràng trong các công ty đại chúng

Việc luật hóa các thông lệ tốt về QTCT đã được áp dụng rất đa dạng

ở các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế phát triển Việc thể

chế hóa các thông lệ này vào hệ thống luật quốc gia tạo cho thông lệ một

vỏ bọc pháp lý và tính khả dụng cao hơn cho việc ứng dụng các thông lệ

vào thực tiễn, đặc biệt đối với các công ty đại chúng

1.1.3.3 Các cơ chế bổ trợ khác

Việc áp dụng thông lệ tốt về QTCT không chỉ chịu tác động đơn thuần

từ các văn bản luật do Nhà nước ban hành, nó còn chịu vô vàn yếu tố tác

động Một xã hội thượng tôn pháp luật cũng tạo ra vô vàn cơ chế giám sát,

cả về khía cạnh cưỡng chế nhà nước và các sức ép vô hình từ về mặt văn

hóa, đạo đức kinh doanh, mối quan hệ với truyền thông và dư luận… Tất cả

tạo ra các luồng gió thổi vào công ty, càng có tính "đại chúng", công ty càng

phải tuân thủ các yếu tố giám sát và kiềm chế này, càng phải có tính minh

bạch cao; nếu đi đúng hướng với các sự tác động đó, công ty sẽ phát triển

bền vững trong xã hội và điều ngược lại sẽ xảy ra khi công ty đi ngược lại

với các chuẩn mực pháp lý và các chuẩn mực xã hội khác QTCT, do đó,

phải được xem là một nghệ thuật dung hòa các tác động đó

Các nguyên tắc QTCT đã được phát triển ở nhiều quốc gia khác nhau

và được áp dụng ở các thị trường chứng khoán, các công ty, các nhà đầu tư

tổ chức và các hiệp hội với sự hỗ trợ từ nhà nước và các tổ chức liên quan Như một quy luật bất thành văn, các nguyên tắc này phù hợp với các kiến nghị áp dụng này không được quy định một cách rõ ràng bởi luật mặc dù các quy tắc này, trong một số trường hợp, có thể có liên kết chặt chẽ với các quy định về niêm yết cổ phiếu, và do đó, có ý nghĩa bắt buộc áp dụng với các công ty niêm yết Ví dụ, các công ty niêm yết ở thị trường chứng khoán Luân Đôn và Toronto không bị bắt buộc áp dụng các kiến nghị về các nguyên tắc QTCT trong các bộ quy tắc về QTCT của quốc gia mình Tuy nhiên, các công ty này có nghĩa vụ công bố là họ có tuân thủ các kiến nghị về thông lệ QTCT hay không trong các tài liệu nội bộ của mình, trong trường hợp không tuân thủ,các công ty này cần đưa ra các giải thích liên quan đến các việc không áp dụng các thông lệ hay có sự áp dụng khác biệt

Sự công bố hay giải trình này đã dẫn tới một sức ép đáng kể trong việc

áp dụng các thông lệ/nguyên tắc QTCT đối với các công ty niêm yết Như vậy, các thông lệ tốt về QTCT, trong nhiều trường hợp là không

có tính bắt buộc áp dụng, kể cả đối với công ty niêm yết Tuy nhiên, bằng con đường này hay con đường khác, với các tác động và nghĩa vụ đi kèm, các công ty niêm yết thường sẽ chọn áp dụng các thông lệ này như điều kiện tiên quyết cho việc niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK)

1.2 Các thông lệ tốt về quản trị công ty của OECD

1.2.1 Sự hình thành các thông lệ tốt về quản trị công ty của OECD

1.2.1.1 Giới thiệu chung về OECD

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (tiếng Anh: Organisation for Economic Co-operation and Development; viết tắt: OECD) là một diễn đàn dành cho chính phủ của các nền kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới cùng nhau bàn bạc giải quyết các vấn đề kinh tế của bản thân họ và của thế giới Hiện OECD có ba mươi thành viên, 24 trong số đó được Nhóm Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm các quốc gia có thu nhập cao, 6 quốc gia khác được xếp vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao

Trang 8

1.2.1.2 Giới thiệu chung về các nguyên tắc quản trị công ty của OECD

Các thông lệ QTCT của OECD được xem là một trong các thông lệ

QTCT có tầm ảnh hưởng lớn nhất Đầu tiên, các nguyên tắc QTCT của được

xác nhận bởi các Bộ trưởng OECD vào năm 1999 và sau đó được cập nhật,

bổ sung và hoàn thiện vào năm 2004, từ đó đã trở thành một chuẩn quốc tế

cho các nhà lập chính sách, nhà đầu tư, các công ty và các đối tượng có liên

quan khác trên toàn thế giới OECD vẫn đang tiếp tục đưa ra các đề xuất và

khuyến nghị áp dụng của các nguyên tắc QTCT trên toàn thế giới

Theo OECD, các thông lệ hay nguyên tắc QTCT bao gồm 06 vấn đề

chính (mỗi một thông lệ lại được hỗ trợ bởi một số các nguyên tắc phụ

hay "nguyên tắc bổ trợ") Tác giả xin được trích dẫn nội dung các thông

lệ về QTCT của tổ chức này tại Phụ lục 1 của luận văn

1.2.2 Tính không bắt buộc, tính thích nghi và ý nghĩa của các

thông lệ tốt về quản trị công ty của OECD

Không có một mô hình đơn nhất nào cho QTCT Tuy nhiên, các nghiên

cứu được tiến hành ở các quốc gia OECD và cả các quốc gia ngoài OECD

đã chỉ ra một số nhân tố chung làm nền tảng cho sự QTCT tốt Các nguyên

tắc QTCT của OECD được xây dựng dựa trên các nhân tố đó và được trình

bày có hệ thống nhằm bao quát các mô hình khác nhau về QTCT đang tồn tại

Các nguyên tắc về QTCT của OECD không có tính bắt buộc và không

nhằm đến một mô hình cụ thể chi tiết cho công tác lập pháp quốc gia

Đúng hơn là, các nguyên tắc này hướng tới việc định ra các mục tiêu của

công ty và đưa ra các khuyến nghị về các phương thức để đạt các mục

tiêu đó Các mục tiêu này có vai trò như những điểm tham khảo, có thể

được các nhà hoạch định chính sách sử dụng trong việc rà soát và phát

triển khung pháp luật về QTCT, phản ánh hoàn cảnh kinh tế, xã hội,

chính trị, pháp lý và văn hóa của quốc gia, hoặc có thể được các chủ thể

tham gia thị trường sử dụng để phát triển chính các "thông lệ" của mình

1.2.3 Một số thông lệ tốt về quản trị công ty của các tổ chức khác

Trên cơ sở các nguyên tắc của OECD, các tổ chức quốc tế khác, các

hiệp hội tư nhân và hơn 20 bộ quy tắc quốc gia về QTCT đã được ban

hành Hiện nay, có nhiều tổ chức đưa ra các khuyến nghị, các thông lệ,

các tiêu chuẩn có tính gợi ý về QTCT nhưng OECD có thể nói là tổ chức

đi đầu trong việc nghiên cứu, áp dụng và khuyến nghị về các nguyên tắc QTCT hiện đại, là cơ sở cho sự nghiên cứu, ban hành và phổ biến áp dụng các khuyến nghị, thông lệ về QTCT của các tổ chức khác

Chương 2

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN

VÀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC THÔNG LỆ TỐT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG

TY VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 2.1 Tổng quan các quy định của pháp luật Việt Nam về công ty

cổ phần

Hiện tại, khung pháp lý điều chỉnh CTCP của Việt Nam là khá hoàn chỉnh với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khoán

2006 và hệ thống các văn bản hướng dẫn các đạo luật này

Danh mục các văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh vấn đề QTCT của CTCP

Tên

và số ban hành

Ngày

Luật Doanh nghiệp

số 60/2005/QH11

29/11/2005 Về thành lập, tổ chức, hoạt động của CTCP Nghị định

139/2007/NĐ-CP

05/9/2007 Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của

Luật Doanh nghiệp Luật Chứng khoán

số 70/2006/QH11

29/6/2006 Quy định về chứng khoán và thị trường

chứng khoán

Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC

13/03/2007 Quy chế Quản trị công ty áp dụng cho các

công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Quyết định số

15/2007/QĐ-BTC

19/03/2007 Ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các

công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Nghị định số

14/2007/NĐ-CP

19/01/2007 Quy định chi tiết thi hành một số điều của

Luật chứng khoán Thông tư số

38/2007/TT-BTC

18/04/2007 Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên

thị trường chứng khoán Quyết định

35/2007/QĐ-BTC

15/5/2007 Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của

công ty quản lý quỹ

Trang 9

Các quy định về QTCT về cơ bản được quy định trong Luật Doanh

nghiệp 2005 Luật Doanh nghiệp 2005 đã tạo nên một bước khai thông

và là sự giới thiệu mới các quy chuẩn QTCT cho Việt Nam Các quy

định then chốt của những thông lệ tốt nhất trong giám sát điều hành công

ty đã được đề cập đến trong luật này, đó là: (i) quyền của các cổ đông,

đặc biệt là vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số và cổ đông bên ngoài công ty;

(ii) các thủ tục triệu tập và tiến hành cuộc họp đại hội đồng cổ đông

nhằm khuyến khích sự tham gia của các cổ đông và tiếng nói của họ

trong hoạt động giám sát điều hành công ty; (iii) chức năng giám sát của

HĐQT và Ban Kiểm soát; (iv) các quy định về HĐQT và thành viên Hội

đồng quản trị; (v) các biện pháp bảo vệ chống xung đột về quyền lợi,

giao dịch nội gián, các giao dịch với bên có liên quan về quyền lợi và

giao dịch gian lận tự tiến hành giữa các thành viên HĐQT và các nhà

quản lý cấp cao; (vi) chế độ công bố thông tin kịp thời đối với các thông

tin đáng tin cậy có liên quan đến tình hình tài chính và hoạt động của

công ty; (vii) các biện pháp khuyến khích gắn liền với hiệu quả hoạt

động nhằm tạo ra nỗ lực làm việc cao nhất từ phía các thành viên HĐQT

và các nhà quản lý cấp cao

Trong các văn bản pháp luật liên quan đến QTCT, có thể nói Luật

Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khoán 2006 và các văn bản hướng dẫn

là các luật xương sống điều chỉnh tổ chức và hoạt động công ty, có các

quy định trực tiếp về các nguyên tắc QTCT

2.2 Sự cần thiết và các tác động của việc áp dụng thông lệ tốt

vào quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam

2.2.1 Hiện trạng về quản trị công ty trong công ty cổ phần ở Việt Nam

Các thông lệ tốt, trên thực tế, gần như chỉ được áp dụng ở các công

ty niêm yết mà thôi, ở các quốc gia phát triển có tỷ lệ công ty niêm yết

rất cao nhưng con số này ở Việt Nam còn rất ít Tuy nhiên, các thông lệ

lại có vai trò thực tiễn rất cao đối với các công ty cổ phần nói chung ở

Việt Nam, đặc biệt đối với các công ty chưa niêm yết nhưng số lượng cổ

đông lên đến hàng nghìn; các công ty chịu tác động của các quỹ đầu tư,

các công ty nhận nguồn vốn đầu tư gián tiếp Từ sự áp dụng, các thông lệ

có giá trị như "luật" ("by laws") CTCP niêm yết hiện nay được coi là hình thức công ty hoàn bị nhất với nhiều lý thuyết hiện đại về nó Có thể nói sự áp dụng các thông lệ tốt về QTCT được thể hiện rõ ràng nhất ở CTCP niêm yết

QTCT áp dụng các lý thuyết quản trị vào hoạt động của doanh nghiệp

áp dụng các thông lệ tốt, các quy chuẩn quản trị tiên tiến là việc làm cần thiết và có hữu ích về mặt lâu dài, bởi lẽ luôn tồn tại những giá trị chung

và đúng cho mọi nền kinh tế: đó là minh bạch thông tin, là bảo đảm thực thi quyền của cổ đông, phát huy các cơ chế giám sát thị trường và dỡ bỏ các rào cản của chủ nghĩa thân hữu và cấu kết để trục lợi tài sản, đặc biệt trong các DNNN

2.2.2 Sự cần thiết và các tác động của việc áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công ty cổ phần

Một số vụ việc nổi bật liên quan đến QTCT trong thời gian gần đây:

 Vụ công ty Đay Sài Gòn chỉ ra tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy trình và chuẩn mực quản trị Ở một phương diện nhất định, Luật Doanh nghiệp có thể coi là luật về các quy trình và thủ tục liên quan đến việc tổ chức ra quyết định và thủ tục thi hành, giám sát các hoạt động của công ty Các quy định của điều lệ và Luật Doanh nghiệp cần phải được tuân thủ để tránh các tranh chấp nội bộ công ty có thể dẫn đến các hậu quả xấu và hình ảnh công ty

Đại hội đồng cổ đông Hội đồng Quản trị Theo Luật Doanh nghiệp, HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng

Trang 10

cổ đông Theo đó, HĐQT có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký

hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và

người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định Các vấn đề

cần đặt ra trong vụ việc này là: (i) việc tuân thủ các quy định của Luật

Doanh nghiệp và tính ứng dụng của Điều lệ mẫu được ban hành bởi Bộ

Tài chính; (ii) vấn đề "phê chuẩn" của Đại hội đồng cổ đông đối với các

quyết định của HĐQT phải được hiểu như thế nào

Chương 3

CƠ CHẾ ÁP DỤNG THÔNG LỆ TỐT VÀO QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

3.1 Cơ sở lý luận của việc áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công

ty cổ phần

Việc áp dụng thông lệ tốt về QTCT, ngoài thói quen và khuyến nghị

áp dụng theo cơ chế tự nguyện, cần dựa vào các quy định pháp luật thành

văn Theo đó, Luật Công ty hay Luật Doanh nghiệp cần được xem như là

nền tảng cơ bản của sự thể chế hóa các thông lệ QTCT Nói cách khác,

Luật Công ty, hay Luật doanh nghiệp là luật sơ sở để tạo dựng và thể chế

hóa một cách chính thức các thông lệ về QTCT Cần phải xây dựng một

Luật Công ty hoàn bị làm nền tảng cho việc áp dụng các thông lệ QTCT

của chính những thực thể kinh doanh sinh ra từ đạo luật này

Trong QTCT, một vấn đề được đặc biệt chú trọng là mối quan hệ và

mâu thuẫn giữa chủ sở hữu công ty (các cổ đông) và giám đốc công ty:

làm thế nào đảm bảo các giám đốc hành động vì lợi ích của chủ sở hữu

chứ không phải chỉ đơn thuần vì lợi ích riêng của cá nhân giám đốc Thứ

hai: mâu thuẫn giữa chủ sở hữu đa số (hay các cổ đông nắm quyền kiểm

soát công ty) và chủ sở hữu thiểu số: làm thế nào bảo đảm các chủ sở hữu

nắm quyền kiểm soát công ty không sử dụng quyền kiểm soát của họ để

tước đoạt quyền lợi của các chủ sở hữu không có quyền kiểm soát Thứ

ba: mâu thuẫn giữa các cổ đông và các bên khác mà công ty có cam kết

hợp đồng, ví dụ như người cho vay, người lao động, và khách hàng: làm thế nào bảo đảm việc các cổ đông, thông qua công ty, không hành động một cách cơ hội chủ nghĩa đối với các bên liên quan kia Với mục tiêu quy định tạo ra sự cân bằng pháp lý giữa các thái cực đó, việc áp dụng

các thông lệ tốt về QTCT luôn phải hướng tới mục tiêu chủ đạo này, để

"thúc đẩy phúc lợi xã hội trên bình diện tổng thể… thúc đẩy tổng phúc lợi của các cổ đông, người lao động, nhà cung ứng, và khách hàng của công ty mà không có sự hy sinh phi lý của các đối tác thứ ba như cộng đồng địa phương và người thụ hưởng môi trường tự nhiên"

3.2 Thực tiễn du nhập và áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công

ty cổ phần ở Việt Nam

Gần đây, trước sức ép cạnh tranh toàn cầu và yêu cầu về QTCT một cách bài bản, các thông lệ tốt về QTCT đang dần được du nhập vào công

ty ở Việt Nam qua ngàn vạn kênh dẫn khác nhau, chính thức và không chính thức

Về khía cạnh pháp lý, thông lệ tốt về QTCT được Nhà nước thể chế

hóa chính thức vào trong các luật như Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khoán 2006 và các văn bản hướng dẫn; Điều lệ mẫu dành cho công ty niêm yết; Hiện nay, Bộ Tài chính và UBCKNN đã du nhập các quy định, khái niệm về thông lệ tốt về QTCT vào bản điều lệ mẫu dành cho các công ty niêm yết

Về khía cạnh thực tế, hiện nay sự áp dụng các thông lệ QTCT khá

phổ biến với các CTCP, đặc biệt đối với các công ty niêm yết Tuy Luật Doanh nghiệp 2005 đã đề ra một số quy định cơ bản về quản trị công ty đối với công ty cổ phần theo nguyên tắc quốc tế; Luật Chứng khoán quy định các công ty đại chúng thực hiện nguyên tắc quản trị công ty theo Luật Doanh nghiệp nhưng việc thực thi quản trị công ty ở Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn Việc thực thi thành công QTCT và minh bạch tài chính đối với các doanh nghiệp Việt Nam đòi hỏi một quá trình Với việc ban hành các chính sách và quy định pháp luật về QTCT trong thời gian qua, dù sao, cũng là tiền đề quan trọng để tăng cường việc áp dụng các

Ngày đăng: 17/03/2021, 15:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm