DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ATM Máy rút tiền tự động B2B Giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ NGỌC ANH
THUÕ §èI VíI GIAO DÞCH TH¦¥NG M¹I §IÖN Tö
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ NGỌC ANH
THUÕ §èI VíI GIAO DÞCH TH¦¥NG M¹I §IÖN Tö
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Ngọc Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục bảng, hình và hộp
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ PHÁP LUẬT THUẾ ĐIỀU CHỈNH ĐỐI VỚI GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm giao dịch thương mại điện tử 9
1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử 9
1.1.2 Đặc điểm của giao dịch thương mại điện tử 11
1.1.3 Quy trình giao dịch thương mại điện tử 13
1.2 Nguyên tắc pháp luật thuế đối với thương mại điện tử 15
1.2.1 Quan điểm xây dựng chính sách và pháp luật thuế đối với giao dịch thương mại điện tử 15
1.2.2 Nguồn của pháp luật thuế điều chỉnh giao dịch thương mại điện tử 18
1.2.3 Nội dung điều chỉnh của pháp luật thuế đối với giao dịch thương mại điện tử 22
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số quốc gia về thuế đối với giao dịch thương mại điện tử 26
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 26
1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước Asean 29
1.3.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 31
1.3.4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 32
Kết luận chương 1 34
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THUẾ ĐỐI VỚI GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 35
2.1 Thực trạng quy định của các luật thuế về giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam 35
Trang 52.1.1 Chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế 36
2.1.2 Xác định nghĩa vụ nộp thuế 43
2.2 Thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam 59
2.2.1 Đăng ký, tính thuế, kê khai, nộp thuế 62
2.2.2 Quản lý thông tin chủ thể nộp thuế 63
2.2.3 Ấn định thuế, truy thu thuế 68
2.2.4 Thanh tra, kiểm tra thuế 69
Kết luận chương 2 70
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ PHÁP LUẬT THUẾ ĐỐI VỚI GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 71
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật thuế đối với giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam 71
3.1.1 Thúc đẩy giao dịch thương mại điện tử phát triển 71
3.1.2 Bảo đảm sự phù hợp với cam kết quốc tế 73
3.1.3 Khắc phục những bất cập phát sinh trong quá trình thực thi pháp luật thuế đối với giao dịch thương mại điện tử 73
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế đối với giao dịch thương mại điện tử và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế đối với giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam 74
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế đối với giao dịch thương mại điện tử 74
3.2.2 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế đối với giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam 82
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ATM Máy rút tiền tự động
B2B Giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp B2C Giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng B2G Giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản
lý nhà nước Baht Đơn vị tiền tệ của Thái Lan
BEPS (Chống) xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển dịch lợi nhuận BTU Công suất làm lạnh của điều hòa (lượng năng lượng cần
thiết để 1 pound (454gram) nước tăng lên 1 độ F) C2C Giao dịch TMĐT giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng C2G Giao dịch TMĐT người tiêu dùng (công dân) với các cơ
quan quản lý nhà nước CNĐKDN Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
EEC Liên minh kinh tế Á – Âu
EFTA Khối thương mại tự do Châu Âu
FTA Hiệp định thương mại tự do
G20 Diễn đàn của 20 nền kinh tế lớn gồm 19 quốc gia có nền kinh
tế lớn nhất (tính theo GDP - PPP) và Liên minh châu Âu (EU) G2G Giao dịch TMĐT giữa các cơ quan quản lý nhà nước
GTGT Giá trị gia tăng
Hiệp định tránh
đánh thuế hai lần Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa
Việt Nam và các nước/vùng lãnh thổ NTNN Nhà thầu nước ngoài
Trang 7OECD Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế
TMĐT Thương mại điện tử
TNCN Thu nhập cá nhân
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TPP - CPTPP Hiệp định đối tác kinh tế xuyên thái bình dương TTĐB Tiêu thụ đặc biệt
Trang 8DANH MỤC BẢNG, HÌNH VÀ HỘP
Bảng 2.1: Tóm tắt về các chủ thể nộp thuế trong giao dịch TMĐT 41 Hình 2.1 Quy trình quảng cáo trên nền tảng di động (iOS, Android) 54 Hộp 2.1 Minh họa về thuế đánh vào thu nhập từ dịch vụ gắn với ứng
dụng trò chơi điện tử của Nguyễn Hà Đông 52 Hộp 2.2 Minh họa việc “né” thuế GTGT, TNCN của Cao Thị Thùy
Dung khi kinh doanh qua mạng xã hội Facebook 65 Hộp 2.3 Minh họa việc “né” thuế NTNN đánh trên doanh thu từ dịch
vụ Booking.com, Agoda.com 67
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một quốc gia có dân số trẻ và có khả năng thích ứng nhanh với công nghệ thông tin và thiết bị điện tử thông minh trong hoạt động thương mại, Việt Nam được đánh giá có tiềm năng phát triển rất lớn về TMĐT Theo kết quả nghiên cứu mới được Tổng cục thuế công bố, hoạt động TMĐT ở Việt Nam trong thời gian qua đã có những bước phát triển vượt bậc với nhiều phương thức đa dạng, sáng tạo và linh hoạt, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới trong tiến trình thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Cũng như hoạt động kinh doanh khác, các chủ thể tiến hành hoạt động TMĐT nói chung và giao dịch TMĐT nói riêng có nghĩa vụ kê khai và nộp thuế vào ngân sách nhà nước Tuy nhiên, nguồn thu vào ngân sách từ hoạt động này hiện nay vẫn chưa tương xứng với quy mô hoạt động và thu nhập của các chủ thể do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó bao gồm TMĐT có tính chất đặc thù và hình thức hoạt động đa dạng, phức tạp, sử dụng công nghệ cao trong khi Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một chính sách thuế và quy trình quản lý thuế riêng nên việc xác định thuế suất, doanh thu, chi phí và thu nhập khi tính thuế nhiều lúc còn tùy tiện, các chủ thể cố tình khai giảm hoặc trốn doanh thu thông qua việc không xuất hóa đơn hoặc xuất hóa đơn với giá trị danh nghĩa thấp hơn nhiều so với giá trị thanh toán thực tế
để né thuế, trốn thuế khiến cơ quan thuế gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm soát và quản lý các chủ thể cũng như nguồn thu vào ngân sách nhà nước Xuất phát từ thực tế đó, cần thiết phải nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ pháp luật để nhận diện một cách toàn diện về chính sách và quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT và những bất cập, hạn chế cần khắc phục, qua đó đề
Trang 102
xuất các giải pháp khả thi nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế đối với hoạt động TMĐT để hạn chế đến mức tối đa gian lận thuế, gây thất thu cho ngân sách nhà nước Với lý do đó, học viên đã lựa chọn đề tài luận văn thạc
sỹ “Thuế đối với giao dịch thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Thứ nhất, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về pháp luật thuế điều
chỉnh giao dịch TMĐT và tham khảo kinh nghiệm xây dựng pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT theo pháp luật của một số nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam, qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể áp dụng
để điều chỉnh pháp luật thuế Việt Nam
Thứ hai, phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
thuế đối với giao dịch TMĐT tại Việt Nam nói chung và cụ thể trong một số hình thức giao dịch TMĐT phổ biến để tìm ra những tồn tại, hạn chế trong các quy định pháp luật Việt Nam dẫn đến thất thu thuế trong thời gian qua
Thứ ba, trên cơ sở những tồn tại, hạn chế của pháp luật và bài học
kinh nghiệm đã đúc kết, luận văn đề xuất một số định hướng, quan điểm xây dựng chính sách, pháp luật và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT, một mặt khuyến khích sự phát triển của TMĐT, mặt khác tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Trang 113
với giao dịch TMĐT… đồng thời nghiên cứu hoạt động điều chỉnh pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT của một số nước trong khu vực, sau đó chỉ ra một số kinh nghiệm có thể áp dụng được đối với Việt Nam
Đối với mục tiêu thứ hai, cần phân tích, đánh giá về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT tại Việt Nam hiện nay, bao gồm pháp luật thuế nội dung và pháp luật thủ tục hành chính thuế đối với giao dịch TMĐT nói chung (bao gồm giao dịch TMĐT xuyên biên giới) như cung cấp hàng hóa, dịch vụ thông thường trên website, cung cấp các sản phẩm nội dung số, dịch vụ nội dung số và các phần mềm ứng dụng trên các kho ứng dụng, bán hàng trên các trang mạng xã hội để có nhận định cơ bản về sự đầy đủ cũng như tính đồng bộ của các quy định pháp luật thuế hiện hành điểu chỉnh đối với giao dịch TMĐT
Đối với mục tiêu thứ ba, đề xuất một số kiến nghị về định hướng pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT, quan điểm xây dựng pháp luật thuế đối với hoạt động TMĐT và một số kiến nghị cụ thể trong từng lĩnh vực thuế (bao gồm thuế nội dung và thủ tục hành chính thuế)
3 Tính mới và đóng góp của đề tài
Trên cơ sở phân tích một cách khoa học các vấn đề lý luận của pháp luật thuế điều chỉnh giao dịch TMĐT, đúc rút các bài học kinh nghiệm xây dựng pháp luật thuế của một số nước trên thế giới, luận văn đã làm rõ nhu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật thuế điều chỉnh đối với giao dịch TMĐT, một lĩnh vực mới và đặc thù đang phát triển nhanh và mạnh tại Việt Nam
Luận văn đã đánh giá tổng thể về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT tại Việt Nam, chỉ ra những ưu và nhược điểm, đặc biệt là những tồn tại và hạn chế, làm rõ các yêu cầu cấp thiết của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về TMĐT với những đặc thù về nội dung cũng như phương thức thực hiện ở Việt Nam hiện nay
Trang 124
Từ các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra các số định hướng, quan điểm xây dựng chính sách, pháp luật và kiến nghị một số giải pháp mang tính khả thi hoàn thiện pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về pháp luật thuế nội dung và pháp luật thủ tục hành chính thuế áp dụng đối với giao dịch TMĐT tại Việt Nam Do mỗi mô hình giao dịch TMĐT có tính chất và đặc điểm khác nhau nên các sắc thuế áp dụng cũng khác nhau, mức thuế suất cũng như cách xác định số thuế phải nộp cũng không đồng nhất
Nhóm 3: Cung cấp trò chơi điện tử trên mạng internet (bán vật phẩm ảo trong trò chơi điện tử, mã quà tặng (gift code), đặt quảng cáo trực tuyến…)
Nhóm 4: Cung cấp các sản phẩm số (nhạc, phim, ebook) và các ứng dụng phần mềm (trò chơi điện tử, báo điện tử, nhạc, phim, truyền hình) trên các kho ứng dụng
Nhóm 5: Khai thác, kinh doanh tiền điện tử, tiền ảo
Nhóm 6: Cung cấp dịch vụ quảng cáo trực tuyến
Nhóm 7: Cung cấp dịch vụ kết nối trực tuyến trong mô hình kinh tế chia sẻ (uber, airbnb…)
Trang 135
Nhóm 8: Bán hàng trên các trang mạng xã hội
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung phân tích các luật thuế nội dung và Luật quản lý thuế áp dụng đối với một số mô hình giao dịch TMĐT phổ biến tại Việt Nam bao gồm: hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ thông thường trên website (gồm website bán hàng trực tuyến, sàn giao dịch TMĐT, sàn đấu giá trực tuyến); cung cấp các sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số, các phần mềm ứng dụng trên các kho ứng dụng; và bán hàng trên các trang mạng xã hội Liên quan đến giới hạn chủ thể tham gia, luận văn nghiên cứu các nhóm giao dịch chính là giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B), giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C), giao dịch TMĐT giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng (C2C) do đây là những nhóm có nhiều giao dịch kinh doanh nhất, hiện tồn tại nhiều bất cập liên quan đến việc áp dụng pháp luật thuế và quản lý thuế Đồng thời, đây là một trong những vấn đề đang được cơ quan thuế của nhiều nước trên thế giới quan tâm do dẫn đến “xói mòn cơ sở tính thuế và dịch chuyển lợi nhuận” Xét về phạm vi lãnh thổ, luận văn nghiên cứu các giao dịch được thực hiện trong lãnh thổ Việt Nam và giao dịch xuyên biên giới
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cùng với sự phát triển của TMĐT, trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về TMĐT dưới góc độ kinh tế cũng như pháp lý Việc nghiên cứu, tìm hiểu các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận văn có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ, những công trình này là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài, mặt khác còn gợi mở những vấn đề tiếp theo cần phải giải quyết, đồng thời, đây cũng là những tài liệu tham khảo có ý nghĩa trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài
5.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế
Có thể nói, cùng với sự phát triển nhanh của các giao dịch TMĐT và trước những nguy cơ thất thu thuế do pháp luật không theo kịp với sự phát triển
Trang 14của Dự án chống xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển dịch lợi nhuận với tên gọi
Giải quyết các thách thức về thuế trong nền kinh tế số (Addressing the tax challenges of the digital economy) do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) phát hành năm 2015, Tax challenges in the digital economy do Nghị viện Châu Âu phát hành năm 2016 hay các bài nghiên cứu Taxation issue in a world of electronic commerce của tác giả Dale Pinto trên tạp chí Journal of Australia Taxation năm 1999, bài nghiên cứu E-commerce Taxation in China
của tác giả Rifat Azam trên tạp chí Journal of Chinese Tax & Policy năm 2012,
bài nghiên cứu Taxation in the digital economy – How much will things change?
của tác giả Seun Adu năm 2016
5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việc nghiên cứu về hệ thống thuế điều chỉnh giao dịch TMĐT tại Việt Nam dưới góc độ kinh tế được thực hiện khá nhiều Tuy nhiên, việc nghiên cứu nội dung này dưới góc độ pháp luật chưa được quan tâm đúng mức Hiện tại chưa có công trình nghiên cứu cụ thể và chi tiết về pháp luật thuế điều chỉnh giao dịch TMĐT tại Việt Nam nào được công bố Trong khi đó, như đã trình bày ở trên, hoạt động này ngày một đa dạng, phức tạp và việc quy định chính sách cũng như quản lý của cơ quan thuế còn nhiều khó khăn và bất cập đòi hỏi sự quan tâm đúng mức không chỉ từ phía các cơ quan thuế Vì vậy, sản phẩm nghiên cứu này phần lớn tham khảo những công trình nghiên cứu được viết dưới góc độ kinh tế như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2016 về Giải pháp hoàn thiện chính sách và quản lý thuế trong lĩnh vực TMĐT do Th.S Nguyễn
Quang Tiến, Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính làm chủ nhiệm;
Trang 157
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện năm 2014 về Giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT ở Việt Nam do
ThS Phạm Nữ Mai Anh, Học viện Tài chính làm chủ nhiệm đề tài;
- Luận văn thạc sỹ Quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT - Kinh nghiệm của một số nước và đề xuất giải pháp áp dụng tại Việt Nam năm 2017
của học viên Nguyễn Thị Huệ;
- Chuyên đề Quản lý thuế hoạt động kinh doanh TMĐT của Tạp chí tài chính, Kỳ 1 – Tháng 7/2015 (612) với các bài nghiên cứu của các tác giả
Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Văn Phụng, Nguyễn Quang Tiến, TS Lý Phương Duyên, ThS Đỗ Thị Mai Hoàng Hà
- Cùng các báo cáo, bài báo, tạp chí có liên quan
Qua đó, nhận định và đánh giá tác động của chính sách thuế và việc quản lý thuế dưới góc độ pháp luật
6 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
6.1 Nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau đây:
Thứ nhất, lý luận về pháp luật thuế điều chỉnh giao dịch TMĐT và kinh
nghiệm xây dựng pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT theo pháp luật của một số nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam
Thứ hai, phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
thuế đối với giao dịch TMĐT tại Việt Nam
Thứ ba, đề xuất một số định hướng, quan điểm xây dựng chính sách,
pháp luật và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã
Trang 168
hội và các phương pháp đặc thù của luật học để nghiên cứu đề tài Các phương pháp chủ yếu bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân loại…
Phương pháp phân tích: Được sử dụng chủ yếu để làm sáng tỏ những
quy định của pháp luật thuế điều chỉnh giao dịch TMĐT
Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát hóa nội dung nghiên
cứu một cách hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên hợp lý, dễ hiểu
Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh quy định của pháp luật thuế
của Việt Nam với pháp luật của một số nước trong điều chỉnh giao dịch TMĐT
Phương pháp phân loại: Phương pháp này được dùng để phân loại các
giao dịch TMĐT để làm cơ sở xác định thuế áp dụng trong trường hợp cụ thể
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng trong thu thập và xử lý thông tin, dữ liệu để phân tích, so sánh, tổng hợp Cách thức tiếp cận nguồn dữ liệu là thông qua quan sát, thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (báo cáo, thông tin) Nguồn dữ liệu thu thập từ bên ngoài bao gồm: các bài báo, bài nghiên cứu, báo cáo thường niên,… được đăng tải trên các báo, tạp chí, thông tin từ các website, thông cáo báo chí của Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng cục thuế và các
tổ chức có uy tín khác
7 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giao dịch thương mại điện tử và
pháp luật thuế điều chỉnh đối với giao dịch thương mại điện tử
Chương 2: Thực trạng pháp luật thuế đối với giao dịch thương mại điện
tử tại Việt Nam
Chương 3: Định hướng hoàn thiện và một số kiến nghị về pháp luật
thuế đối với giao dịch thương mại điện tử
Trang 179
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ VÀ PHÁP LUẬT THUẾ ĐIỀU CHỈNH ĐỐI VỚI GIAO DỊCH
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Khái niệm, đặc điểm giao dịch thương mại điện tử
1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử
Thương mại điện tử (TMĐT), còn gọi là electronic commerce, commerce, e-comm hay EC, được hiểu là việc tiến hành các hoạt động thương mại trên nền tảng công nghệ thông tin, thông qua các phương tiện điện tử
e-Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính xác và đầy đủ về TMĐT bởi hoạt động này gắn bó mật thiết với sự phát triển của khoa học công nghệ, một lĩnh vực đang thay đổi từng ngày và có những bước tiến vượt bậc, đặc biệt trong bối cảnh thế giới đang bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Mặt khác, mặc dù có nhiều định nghĩa về TMĐT được công bố nhưng mỗi định nghĩa được tiếp cận dưới một góc độ khác nhau Do đó, khái niệm TMĐT được đề cập trong luận văn về mặt lý thuyết chỉ có ý nghĩa tương đối và được
sử dụng linh hoạt tùy từng thời điểm và hoàn cảnh nhất định
Theo nghĩa hẹp, TMĐT là việc các doanh nghiệp sử dụng phương tiện điện tử, bao gồm mạng internet và các mạng viễn thông khác, để mua bán hàng hóa và dịch vụ Còn theo nghĩa rộng, TMĐT là việc sử dụng bất kỳ phương tiện điện tử nào trong quan hệ thương mại Một số khái niệm tiêu biểu như sau:
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp: bao gồm việc sản xuất, phân phối, tiếp thị, mua bán hoặc giao nhận hàng hóa và dịch vụ bằng các phương tiện điện tử [68]
Đồng quan điểm với WTO, Ủy ban Châu Âu (EC) định nghĩa thông qua việc diễn giải chi tiết hơn, TMĐT là sự mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ
Trang 1810
giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân thông qua các giao dịch điện tử qua mạng internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến) TMĐT bao gồm việc đặt hàng hóa hoặc dịch vụ qua mạng máy tính, nhưng việc thanh toán hoặc giao hàng được thực hiện trực tuyến hay ngoại tuyến [58]
Ngược lại, Luật mẫu về TMĐT năm 1996 của Ủy ban Liên hợp quốc
về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) [67] đưa ra cách hiểu rộng hơn, theo đó, thuật ngữ “thương mại” bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi mối quan hệ có tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các mối quan hệ có tính thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn bởi các giao dịch liên quan đến việc cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ, đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng, thỏa thuận phân phối, cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình, tư vấn, đầu tư, cấp vốn, liên doanh…; các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ Như vậy, theo cách hiểu này, TMĐT bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế Việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong các lĩnh vực áp dụng TMĐT
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động TMĐT được hiểu là:
“Việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác” [15, Điều 3, Khoản 1] Trong đó, hoạt động thương mại là “hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác” [28, Điều 3, Khoản 1] và phương tiện điện tử là “phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự” [27, Điều 4, Khoản 10]
Trang 1911
Theo quy định này, thuật ngữ TMĐT được hiểu theo nghĩa rộng, đòi hỏi phạm
vi điều chỉnh pháp luật TMĐT phải toàn diện và cụ thể
Tóm lại, TMĐT là hoạt động thương mại có sử dụng các phương tiện điện tử được kết nối mạng để trao đổi thông tin nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho chủ thể áp dụng Về cơ bản, TMĐT vẫn giữ bản chất là hoạt động thương mại truyền thống Tuy nhiên, do được áp dụng các công nghệ thông tin, thời gian thực hiện giao dịch được rút ngắn, giảm thiểu chi phí đầu vào, tăng hiệu quả và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh nhờ đó tăng lợi nhuận cho chủ thể áp dụng
Ngoài khái niệm TMĐT còn có các khái niệm khác như kinh doanh điện tử (e-business) hay thương mại di động (Mobile commerce hay M-commerce) Kinh doanh điện tử được hiểu theo góc độ quản trị kinh doanh,
đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin và internet vào các quy trình, hoạt động của doanh nghiệp nhằm tăng hiệu quả hoạt động và tăng lợi ích của khách hàng, dù có hay không có lợi nhuận Còn thương mại di động được hiểu là việc thực hiện các giao dịch thương mại thông qua các thiết bị điện tử
di động Thuật ngữ này được sử dụng thường xuyên hơn trong những năm gần đây do sự phát triển vượt bậc của ứng dụng công nghệ Tuy nhiên, về bản chất, các hoạt động này đều có thể được gọi chung là hoạt động TMĐT
1.1.2 Đặc điểm của giao dịch thương mại điện tử
Giao dịch TMĐT có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, về phạm vi giao dịch Giao dịch TMĐT không bị giới hạn
trong phạm vi lãnh thổ quốc gia (giao dịch xuyên quốc gia) Chỉ cần có phương tiện điện tử được kết nối mạng, bất kỳ chủ thể nào ở bất cứ nơi đâu đều có thể tham gia giao dịch mua, bán hàng hóa, dịch vụ
Thứ hai, về chủ thể giao dịch Khi thực hiện giao dịch TMĐT, cần tối
Trang 2012
thiểu ba chủ thể tham gia bao gồm người mua, người bán và bên thứ ba có chức năng hỗ trợ kỹ thuật cho các bên và/hoặc chứng thực trong quá trình giao dịch Bên thứ ba có thể (1) cung cấp các điều kiện hạ tầng kỹ thuật cho giao dịch như hệ thống mạng, máy chủ, đường truyền để truyền tải và sao lưu thông tin giao dịch, cung cấp tiền điện tử hoặc các hình thức thanh toán khác qua mạng internet, mạng viễn thông và (2) xác nhận mức độ tin cậy của các thông tin như xác nhận chữ ký điện tử…) [26]
Thứ ba, về đối tượng giao dịch Đối tượng giao dịch trong lĩnh vực
TMĐT rất đa dạng, bao gồm những hàng hóa, dịch vụ thông thường và những hàng hóa, dịch vụ đặc thù chỉ có thể trao đổi trong môi trường giao dịch điện
tử và/hoặc thông qua các phương tiện điện tử như sản phẩm nội dung số, dịch
vụ nội dung số, phần mềm ứng dụng…
Thứ tư, về phương thức giao dịch Giao dịch TMĐT được thực hiện
ngay cả khi các chủ thể không quen biết nhau từ trước và không tiếp xúc trực tiếp với nhau Trong quá trình giao dịch, các bên tiến hành giao kết hợp đồng, thỏa thuận điều chỉnh và thanh lý hợp đồng thông qua các thông điệp, dữ liệu điện tử thay cho văn bản giấy truyền thống Việc giao nhận hàng hóa linh hoạt, đặc biệt là khi khách hàng mua các sản phẩm nội dung
số như âm nhạc, phim ảnh, sách báo, ứng dụng phần mềm Việc thanh toán tiền trong giao dịch TMĐT cũng thuận lợi khi người mua có thể thanh toán bằng tiền mặt, hoặc chuyển tiền qua ngân hàng, hay sử dụng các phương tiện thanh toán điện tử, qua máy tính hoặc điện thoại thông minh Với phương thức giao dịch này, TMĐT góp phần làm thay đổi thói quen mua bán, tiêu dùng, tạo điều kiện cho tất cả mọi chủ thể có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu
Thứ năm, về thông tin giao dịch Các thông tin về chủ thể và đối tượng
Trang 2113
giao dịch được đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng
Do vậy, các bên tham gia có thể chủ động tìm hiểu về đối tác và hàng hóa, dịch vụ trước khi đàm phán, ký kết hợp đồng Cụ thể, bằng việc truy cập vào các website tìm kiếm như Google hoặc các cổng TMĐT, người mua có thể nắm được một số thông tin cần thiết của người bán cũng như so sánh các thông tin quan trọng của hàng hóa, dịch vụ người bán cung cấp (như tính năng, chất lượng, giá cả, chế độ bảo hành…) trước khi quyết định mua hàng Điều này giúp tăng tính linh hoạt, giảm thiểu chi phí, góp phần thúc đẩy việc cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp
Thứ sáu, về thời điểm và địa điểm giao dịch Các chủ thể tham gia giao
dịch TMĐT có thể tiến hành giao dịch vào bất cứ thời điểm nào tại bất cứ nơi đâu có kết nối mạng internet, mạng viễn thông
Thứ bảy, mối tương quan giữa giao dịch TMĐT và công nghệ thông tin
Sự phát triển của TMĐT gắn liền với sự phát triển của công nghệ thông tin Khi công nghệ thông tin phát triển, việc áp dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của doanh nghiệp sẽ khuyến khích doanh nghiệp thực hiện các giao dịch TMĐT Ngược lại, sự phát triển của TMĐT với các cách thức đa dạng hơn sẽ tạo động lực cho các nhà nghiên cứu phát triển công nghệ thông tin như lập trình các phần mềm chuyên dụng, đẩy mạnh sản xuất, cải tiến các thiết bị điện tử mới…[24, tr.26]
Với các đặc điểm trên, có thể khẳng định rằng TMĐT có những ưu thế vượt trội hơn thương mại truyền thống Do vậy, cần có chính sách và pháp luật phù hợp để tạo điều kiện tối đa cho TMĐT phát triển
1.1.3 Quy trình giao dịch thương mại điện tử
TMĐT đã phát triển qua ba cấp độ chủ yếu:
Cấp độ thứ nhất: Thương mại thông tin (information commerce hay
i-commerce), sau khi website xuất hiện, thông tin về doanh nghiệp và các sản
Trang 2214
phẩm hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp được đưa lên website Tuy nhiên, thông tin chỉ mang tính giới thiệu và tham khảo Việc trao đổi thông tin, đàm phán về các điều khoản hợp đồng, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với khách hàng cá nhân chủ yếu được thực hiện qua giao dịch trực tiếp, email, diễn đàn… Thông tin trong giai đoạn này phần lớn chỉ mang tính một chiều, thông tin hai chiều giữa người bán và người mua còn hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu thực tế Trong giai đoạn này, người mua có thể mua hàng trực tuyến, tuy nhiên việc thanh toán vẫn thực hiện theo phương thức truyền thống
Cấp độ thứ hai: Thương mại giao dịch (transaction commerce hay
t-commerce) Nhờ có sự ra đời của thanh toán điện tử mà việc mua bán trực tuyến được thực hiện dễ dàng hơn Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp xây dựng mạng nội bộ để chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp, cũng như ứng dụng các phần mềm quản lý nhân sự, kế toán, bán hàng, sản xuất, logistics và ký kết hợp đồng điện tử Cũng trong giai đoạn này, nhiều hàng hóa, dịch vụ mới cũng xuất hiện như sách điện tử và các sản phẩm nội dung số
Cấp độ thứ ba: Thương mại cộng tác (collaboration business hay
c-business) Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của TMĐT, đòi hỏi sự phối hợp, cộng tác cao giữa nội bộ doanh nghiệp, doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng và các cơ quan quản lý nhà nước Giai đoạn này đòi hỏi việc ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn bộ chu trình từ đầu vào của quá trình sản xuất đến đầu ra của sản phẩm (phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng) Trong giai đoạn này, doanh nghiệp phải triển khai các hệ thống phần mềm quản lý khách hàng (Customer Relationship Management - CRM), quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management - SCM) và quản trị nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning - ERP) [24, tr.23-24]
Trang 2315
1.2 Nguyên tắc pháp luật thuế đối với thương mại điện tử
1.2.1 Quan điểm xây dựng chính sách và pháp luật thuế đối với giao dịch thương mại điện tử
Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), về bản chất, hoạt động TMĐT là một hình thức của hoạt động thương mại thông thường nhưng
sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện Do vậy, việc xây dựng chính sách thuế đối với các hình thức giao dịch TMĐT phải tuân thủ các nguyên tắc xây dựng chính sách thuế đối với các giao dịch kinh doanh truyền thống
Tại Hội nghị Ottawa vào tháng 10/1998 với chủ đề “Một thế giới không biên giới – hiện thực hóa tiềm năng TMĐT” (A Borderless World – Realising the Potential of Electronic Commerce), Ủy ban Tài chính của OECD, đã đưa
ra các điều kiện khung về đánh thuế đối với TMĐT (Taxation Framework Conditions) Các điều kiện khung này đề cập đến năm nguyên tắc cơ bản để xây dựng chính sách thuế đối với TMĐT:
Thứ nhất, nguyên tắc trung lập: chính sách thuế phải đảm bảo tính
trung lập và công bằng giữa các hình thức kinh doanh TMĐT; giữa hình thức thương mại thông thường và hình thức TMĐT Các quyết định kinh doanh nên được đưa ra trên cơ sở xem xét về mặt kinh tế hơn là về mặt thuế Chủ thể nộp thuế trong hoàn cảnh tương tự thực hiện giao dịch tương tự phải chịu mức thuế tương tự
Thứ hai, nguyên tắc hiệu quả: chủ thể nộp thuế và chi phí quản lý của
cơ quan thuế phải được giảm thiểu ở mức thấp nhất
Thứ ba, nguyên tắc chắc chắn và đơn giản: chính sách thuế phải rõ ràng
và dễ hiểu để chủ thể nộp thuế có thể tính toán được nghĩa vụ thuế trước khi thực hiện một giao dịch, bao gồm nhận thức về việc thuế được xác định khi nào, ở đâu và như thế nào
Thứ tư, nguyên tắc hiệu lực và công bằng: nghĩa vụ thuế phải được xác
Trang 2416
định chính xác vào đúng thời điểm Giảm thiểu nguy cơ trốn thuế và tránh thuế tiềm tàng khi tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro
Thứ năm, nguyên tắc linh hoạt: hệ thống thuế cần đảm bảo đủ linh hoạt
và năng động để đảm bảo bắt kịp với xu hướng phát triển của công nghệ thông tin và thương mại
Các nguyên tắc này đã được nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ thừa nhận,
và tiếp tục được OECD khẳng định lại trong Kế hoạch hành động số 1 – Giải quyết những thách thức về thuế trong nền kinh tế số được ban hành vào năm
2015 nhằm chống xói mòn cơ sở tính thuế và dịch chuyển lợi nhuận (BEPS), chống tránh thuế, tạo điều kiện cho sự phát triển của TMĐT [63]
Các nguyên tắc trên định hướng cho các Chính phủ trong việc xây dựng chính sách và quản lý thuế trong cả lĩnh vực thương mại truyền thống và TMĐT Cách tiếp cận này không cản trở việc ban hành các quy định mới hoặc thay đổi các quy định hiện hành có liên quan đến TMĐT nhằm hỗ trợ việc thực hiện các nguyên tắc và không tạo ra sự phân biệt đối xử về thuế áp dụng đối với các giao dịch TMĐT
Tiếp thu các nguyên tắc xây dựng chính sách và quản lý thuế đối với giao dịch TMĐT kể trên, trong phạm vi cải cách hệ thống thuế Việt Nam, tại Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến đóng góp về dự thảo Luật quản lý thuế (sửa đổi) ngày 25/9/2018, Bộ Tài chính Việt Nam nhận định:
Luật thuế và Luật quản lý thuế hiện hành đã có quy định về chính sách và quản lý thu thuế đối với hoạt động kinh doanh này Tuy nhiên, cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của khoa học, công nghệ, hoạt động kinh doanh TMĐT ngày càng phát triển với nhiều hình thức và nội dung phong phú, đa dạng, để thực sự thúc đẩy giao dịch điện tử trong quản lý thuế nói chung và TMĐT nói riêng ở khía cạnh vừa tạo thuận lợi cho chủ thể nộp thuế, vừa đảm
Trang 2517
bảo ngăn ngừa, phòng chống được các hệ quả tiêu cực của TMĐT,
mở rộng cơ sở thu thuế thì cần phải có các quy định cụ thể cũng như chuẩn bị sẵn sàng các biện pháp quản lý thuế đối với hình thức kinh doanh mới này
Như vậy, quan điểm xây dựng pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT
ở Việt Nam là xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thuế kết hợp với chuẩn bị các biện pháp quản lý thuế phù hợp để kịp thời điều chỉnh các giao dịch TMĐT mới phát sinh cùng với sự bùng nổ của khoa học công nghệ trong giai đoạn hiện nay
Để thực hiện được chủ trương và định hướng chính sách, trong giai đoạn 2016 – 2020, việc xây dựng pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT cần dựa trên các quan điểm sau đây:
Về mặt chính sách, pháp luật thuế
Thứ nhất, sửa đổi pháp luật thuế (bao gồm pháp luật thuế nội dung và
pháp luật về thủ tục hành chính thuế) để phù hợp với sự phát triển của TMĐT nhằm hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của TMĐT, hạn chế những rủi ro trốn/ tránh thuế và đảm bảo sự phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam
Quan điểm trên, phù hợp với định hướng, quan điểm sửa đổi Luật Quản
lý thuế theo đề xuất của Bộ Tài chính:
Đổi mới toàn diện phương thức quản lý thuế, đảm bảo mục tiêu kiểm soát tốt nguồn thu, chống thất thu thuế trên cơ sở áp dụng phương pháp quản lý rủi ro, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại
và cơ sở dữ liệu tập trung, đầy đủ về người nộp thuế, cơ sở tính thuế theo đúng chủ trương đã đề ra tại các văn bản của Đảng và Nhà nước, phù hợp với kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế, kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020 [43]
Trang 2618
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung các chính sách, quy định pháp luật liên quan
để đảm bảo sự đồng bộ, nhất quán trong quá trình triển khai thực hiện
Về mặt quản lý thuế
Thứ nhất, sửa đổi luật quản lý thuế để điều chỉnh phương thức kê khai, nộp
thuế phù hợp nhất với tính chất hoạt động của từng mô hình giao dịch TMĐT
Thứ hai, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong
việc quản lý và kiểm soát từng khâu từ khi chủ thể bắt đầu thực hiện giao dịch TMĐT đến khi giao dịch TMĐT hoàn tất để đảm bảo nguồn thu đúng và đủ vào ngân sách nhà nước
Thứ ba, tăng cường hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế để
phân chia quyền đánh thuế, bảo vệ quyền thu thuế của nước nguồn (nước phát sinh nguồn thu nhập), giúp cung cấp thông tin, hỗ trợ thu thuế để đảm bảo nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý thuế đối với giao dịch TMĐT
1.2.2 Nguồn của pháp luật thuế điều chỉnh giao dịch thương mại điện tử
Nhìn chung, giao dịch TMĐT chịu sự điều chỉnh của các nguồn luật sau đây: Hiến pháp; cam kết thuế quốc tế, bao gồm điều ước quốc tế (còn gọi là các cam kết thuế bắt buộc tuân thủ) và các cam kết thuế tự nguyện tuân thủ; nội luật bao gồm các luật thuế nội dung, luật quản lý thuế, các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, thông tư liên tịch… hướng dẫn thi hành luật hoặc hiệp định, quyết định, công văn… hướng dẫn chi tiết trong một số trường hợp cá biệt Cụ thể như sau:
Trang 2719
(Khoản 1, 4, Điều 70, Hiến pháp 2013), đồng thời đảm bảo quyền khiếu nại,
tố cáo của công dân về những việc làm trái pháp luật (Điều 30, Hiến pháp 2013) để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc khi có bất đồng ý kiến với các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước (về việc cưỡng chế thi hành và xử phạt vi phạm hành chính thuế) theo nguyên
tắc “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 16, Hiến pháp 2013)
Những quy định của Hiến pháp được cụ thể hóa trong các luật thuế, luật quản lý thuế và pháp luật liên quan nhằm đảm bảo quyền thu thuế của Nhà nước và quyền lợi của chủ thể nộp thuế [25, tr.27]
1.2.2.2 Cam kết thuế quốc tế
Hiện nay, Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thông qua việc hợp tác với nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, cam kết và ký kết nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương trong lĩnh vực thuế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Theo tính chất tuân thủ, các cam kết thuế quốc tế được chia thành hai loại, đó là cam kết thuế bắt buộc tuân thủ và cam kết thuế tự nguyện tuân thủ
Các cam kết thuế bắt buộc tuân thủ là các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết, phổ biến nhất hiện nay bao gồm Hiệp định thương mại
tự do (FTA) và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam và các nước/vùng lãnh thổ (Hiệp định tránh đánh thuế hai lần)
Trong khi Hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết để tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do [44] thì Hiệp định tránh đánh thuế hai lần nhằm loại bỏ việc đánh thuế thu nhập (thuế TNDN, thuế TNCN) trùng bằng cách: (1) miễn, giảm số thuế phải nộp tại Việt Nam cho các đối tượng cư trú của nước ký kết hiệp định; hoặc (2) khấu
Trang 2820
trừ số thuế mà đối tượng cư trú Việt Nam đã nộp tại nước ký kết hiệp định vào số thuế phải nộp tại Việt Nam Ngoài ra, hiệp định còn tạo khuôn khổ pháp lý cho việc hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa cơ quan thuế Việt Nam với
cơ quan thuế các nước/vùng lãnh thổ trong công tác quản lý thuế quốc tế nhằm ngăn ngừa trốn lậu đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản [56] Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết, thực thi và đang đàm phán tổng cộng 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) (trong đó có 10 hiệp định đã được thực thi, 2 hiệp định đã kết thúc đàm phán và/hoặc ký kết nhưng chưa
có hiệu lực, 4 hiệp định đang đàm phán [57] với các điều khoản về TMĐT, thương mại dịch vụ xuyên biên giới và thuế áp dụng trong những giao dịch đó) và 79 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 79 quốc gia/vùng lãnh thổ trên thế giới [56] (tính đến ngày 16/4/2018)
Cam kết thuế tự nguyện tuân thủ là các cam kết quốc tế mà Việt Nam
tự nguyện tham gia, đó là Diễn đàn hợp tác triển khai Dự án chống xói mòn
cơ sở tính thuế và chuyển dịch lợi nhuận (Dự án BEPS) với 15 chương trình hành động do các nguyên thủ quốc gia G20 thông qua vào tháng 11/2015 [53] nhằm chống lại tình trạng các chủ thể nộp thuế, trong đó chủ yếu là các tập đoàn đa quốc gia, lợi dụng các “kẽ hở chính sách và quản lý” để thực hiện những hành vi gây xói mòn cơ sở tính thuế và dịch chuyển lợi nhuận (BEPS)
từ nơi có thuế suất cao (nơi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh) sang nơi có thuế suất thấp (nước hoặc vùng lãnh thổ có mức thuế suất thấp hơn hoặc bằng không) để trốn, tránh việc thực hiện các nghĩa vụ thuế Việt Nam chính thức công bố tham gia và trở thành thành viên thứ 100 của Diễn đàn hợp tác triển khai BEPS [52] từ 22/6/2017 với cam kết thực thi gói tiêu chuẩn tối thiểu, bao gồm các hành động số 5, 6, 13 và 14 Dự án BEPS và
tự nguyện tuân thủ các hành động khác bao gồm hành động số 01 dành riêng cho hoạt động quản lý thuế đối với TMĐT với tên gọi Giải quyết các thách
Trang 2921
thức về thuế trong nền kinh tế số (Addressing the tax challenges of the digital economy) với hai mục đích, một mặt phát huy tối đa tiềm năng phát triển của TMĐT, mặt khác giúp thu hẹp “khoảng trống thuế”, hạn chế những vướng mắc, bất cập trong hệ thống chính sách thuế của từng nước, đảm bảo áp dụng nhất quán và minh bạch theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế nhằm hướng tới ngăn ngừa trốn, tránh thuế Với việc tự nguyện tham gia hành động 01, Việt Nam có thêm cơ hội tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm quản lý thuế của các nước cũng như nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật của OECD, Ngân hàng thế giới (WB) trong lĩnh vực TMĐT
1.2.2.3 Các luật thuế, luật quản lý thuế
Luật thuế nội dung là các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành để
cụ thể hóa quyền thu thuế của Nhà nước Căn cứ vào phương thức đánh thuế trực tiếp hay gián tiếp vào thu nhập, luật thuế nội dung được chia thành luật thuế trực thu và luật thuế gián thu với cấu trúc quy định tương ứng [25, tr.14, 48, 144-145]
Luật quản lý thuế (luật thủ tục hành chính thuế) là văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành quy định nguyên tắc quản lý thuế; thẩm quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu thuế; trình tự, thủ tục kê khai, quyết toán, nộp thuế; miễn giảm, hoàn thuế
1.2.2.4 Các văn bản dưới luật
Để hướng dẫn thi hành các luật thuế, luật quản lý thuế, Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục thuế, Tổng cục Hải quan và Cục thuế, Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tùy thuộc chức năng, nhiệm vụ và phạm vi thẩm quyền, đã ban hành các văn bản dưới luật bao gồm nghị định, thông tư, thông tư liên tịch, quyết định, công văn… để làm rõ các quy định của luật còn mập mờ, khó hiểu và khó áp dụng trong thực tế
Trang 30vụ thuộc diện chịu thuế và không thuộc diện chịu thuế; căn cứ tính thuế (giá tính thuế và thuế suất); hoàn thuế…
Thuế trực thu
Thuế trực thu là loại thuế mà trong quan hệ thu, nộp thuế, chủ thể nộp thuế đồng thời là chủ thể chịu thuế [25, tr.14, 48, 104] Các luật điều chỉnh sắc thuế trực thu là Luật thuế TNDN, Luật thuế TNCN Theo đó, cấu trúc các chế định bao gồm chủ thể nộp thuế; thu nhập chịu thuế; thu nhập được miễn, giảm thuế; căn cứ tính thuế (thu nhập tính thuế và thuế suất); kỳ tính thuế…
Thuế hỗn hợp
Thuế hỗn hợp, còn gọi là thuế nhà thầu nước ngoài (thuế NTNN), không phải là một sắc thuế riêng biệt mà là sự kết hợp giữa hai loại thuế khác nhau gồm (1) thuế GTGT và (2) thuế TNDN (áp dụng đối với thu nhập của tổ chức nước ngoài) hoặc thuế TNCN (áp dụng đối với thu nhập của cá nhân nước ngoài) Tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh, điều kiện thường trú, thời hạn kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ và việc tổ chức hạch toán kế toán mà phương pháp tính thuế NTNN cũng như thuế suất thuế NTNN (bao gồm thuế suất của hai loại thuế thành phần) khác nhau
Trang 31mở tài khoản ngân hàng, tờ khai thuế… nhờ đó cơ quan thuế có thể nắm bắt được thông tin một cách toàn diện
Thứ hai, quản lý thu nhập chịu thuế
Việc kê khai, nộp thuế được thực hiện theo cơ chế tự khai, tự nộp (trao quyền tự chủ cho chủ thể nộp thuế hay nói cách khác, chủ thể nộp thuế tự chịu trách nhiệm “từ đầu đến cuối” về việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình theo quy định pháp luật) và cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp chủ thể nộp thuế không tự nguyện tuân thủ quy định pháp luật Cơ chế này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể nộp thuế, mặt khác góp phần cải cách hành chính, tiết kiệm chi phí xã hội trong việc quản lý thuế Tuy nhiên, ngược lại, chính cơ chế này cũng đang “làm khó” cơ quan thuế vì không phải chủ thể nộp thuế nào cũng tự giác kê khai đầy đủ, đúng hạn thu nhập chịu thuế của mình Do vậy, việc quản lý thu nhập chịu thuế cũng là một
Trang 3224
nội dung hết sức quan trọng trong công tác quản lý thuế đối với các giao dịch TMĐT, làm sao để cơ quan thuế có thể phân loại và quản lý nguồn thu theo từng lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là một số lĩnh vực kinh doanh phức tạp, có nhiều gian lận, gây thất thu cho ngân sách nhà nước như các giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ thông qua các website cá nhân hay trên mạng xã hội Nếu xét theo tiêu chí chủ thể tham gia giao dịch thì mô hình giao dịch TMĐT giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng (C2C) cũng đang là loại hình phức tạp, có số lượng cũng như giá trị giao dịch ngày càng tăng mạnh cùng với xu hướng phát triển nền kinh tế và thu nhập của người dân, tiềm ẩn nhiều nguy
cơ thất thu thuế
Thứ ba, công tác tuyên truyền hỗ trợ
Do TMĐT là lĩnh vực hình thành và phát triển trong khoảng thời gian không dài với sự tham gia của nhiều chủ thể với trình độ hiểu biết và vận dụng pháp luật khác nhau Do vậy, để việc quản lý thuế đối với các giao dịch TMĐT hiệu quả, cơ quan thuế cần thực hiện các biện pháp tuyên truyền, hỗ trợ chủ thể nộp thuế, để giúp chủ thể nộp thuế có hiểu biết đầy đủ, chính xác
về các quy định pháp luật thuế, giúp nhận thức kê khai đúng và đủ các thông tin, giảm thiểu sai sót trong việc tính toán, kê khai, nộp thuế Hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ bao gồm nhưng không giới hạn bởi việc thiết lập đường dây nóng giải đáp thắc mắc, hướng dẫn cụ thể quy định pháp luật chưa rõ ràng, công bố bộ thủ tục hành chính, phần mềm hỗ trợ kê khai, quyết toán thuế và nộp thuế điện tử Nhờ vậy, các chủ thể nộp thuế có khả năng tiếp cận nhanh chóng, kịp thời, đúng đắn các quy định pháp luật thuế
Thứ tư, thanh tra, kiểm tra thuế
Kiểm tra, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế, được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến chủ thể nộp thuế nhằm xác định tình hình tuân thủ pháp luật của chủ thể nộp
Trang 33về thuế của chủ thể nộp thuế Kiểm tra tại trụ sở của chủ thể nộp thuế được quy định cụ thể theo pháp luật mỗi quốc gia
Thanh tra thuế là việc kiểm tra chủ thể nộp thuế ở mức độ cao hơn, toàn diện hơn Thanh tra thuế có thể được thực hiện theo kế hoạch thanh tra định kỳ hoặc thanh tra đột xuất khi cơ quan thuế phát hiện chủ thể nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, thanh tra để giải quyết khiếu nại tố cao hoặc thanh tra trong trường hợp chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản… hoặc trong một số trường hợp đặc biệt theo yêu cầu của cơ quan thuế
Đối với quản lý thuế TMĐT thì thanh tra và kiểm tra là nội dung quan trọng hàng đầu để có thể phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi gian lận của chủ thể nộp thuế khi thực hiện nghĩa vụ thuế Quy trình thanh tra và kiểm tra thuế đối với TMĐT được thực hiện như đối với các loại hình thương mại khác Tuy nhiên trong công tác thanh tra, kiểm tra yêu cầu cán
bộ thanh tra kiểm tra cần có trình độ hiểu biết về công nghệ thông tin để có thể khai thác, thu thập và xử lý các thông tin của chủ thể nộp thuế nhằm phát hiện được các gian lận nếu có của chủ thể nộp thuế Đồng thời, cần có sự phối, kết hợp giữa cơ quan thuế với các ban ngành khác có liên quan, giữa
cơ quan thuế nội địa với cơ quan thuế các nước khác khi cần thiết phải thẩm định các giao dịch TMĐT
Ngoài các nội dung quản lý thuế kể trên, các nội dung quản lý thuế khác cũng như kê khai, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xóa tiền thuế, tiền
Trang 3426
phạt, ấn định thuế, cưỡng chế nợ thuế… đối với các giao dịch TMĐT không
khác biệt so với các hoạt động kinh doanh truyền thống
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số quốc gia về thuế đối với giao dịch thương mại điện tử
Tại Mục 1.3, Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật thuế đối với giao dịch TMĐT tại một số quốc gia điển hình, có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng với Việt Nam, có nhiều giao dịch TMĐT và có khả năng kiểm soát thuế đối với những giao dịch này khả thi, trên cơ sở đó tham khảo và rút ra bài học kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Trong lĩnh vực TMĐT, không phải đến khi Diễn đàn hợp tác triển khai BEPS ra đời thì Chính phủ các nước mới quan tâm đến vấn đề này Trên thực
tế, các nước trên thế giới và trong khu vực đã lưu tâm, nghiên cứu và tăng cường quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT do tính chất đặc thù và phức tạp của nó Sau khi Diễn đàn hợp tác triển khai BEPS được thành lập, TMĐT nhận được nhiều sự quan tâm, chú ý hơn, kết quả là nhiều nước đã nghiên cứu, ban hành quy định quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT để tránh rủi ro thất thu ngân sách, đặc biệt từ các giao dịch TMĐT xuyên biên giới Về cơ bản, kinh nghiệm quản lý thuế tại các nước có thể được chia thành hai nhóm: luật thuế và luật quản lý thuế
Thông tin về kinh nghiệm của các nước dưới đây được chọn lọc, tổng hợp từ nguồn Báo cáo, khảo sát của Bộ Tài chính, Tổng cục thuế; một số bài viết chuyên ngành trên Tạp chí tài chính nghiên cứu về quản lý thuế TMĐT
và nguồn tài liệu tham khảo trên internet
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Hoạt động TMĐT tại Trung Quốc bắt đầu muộn nhưng tốc độ tăng trưởng nhanh và cao Trước đây, theo quan điểm của cơ quan thuế Trung Quốc, giao dịch TMĐT và giao dịch thương mại truyền thống có cùng bản
Trang 3527
chất nhưng khác nhau về đối tượng giao dịch, phương thức giao dịch và phương tiện giao dịch Do đó, về cơ bản không có mâu thuẫn khi áp dụng hệ thống thuế hiện hành đối với các giao dịch TMĐT [42, tr.50] Trên thực tế, Trung Quốc đã áp dụng những nguyên tắc thuế của giao dịch truyền thống cho các giao dịch TMĐT [23, tr 15]
Tuy nhiên, từ đầu năm 2000, quan điểm này đã thay đổi khi một thành viên của Ủy ban quốc gia Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc (CPPCC), cơ quan tham mưu chính trị hàng đầu Trung Quốc, thông báo
rằng: “Mua bán online đã trở thành mô hình TMĐT chủ đạo ở Trung Quốc, nhưng chỉ một vài cửa hàng ở website kinh doanh TMĐT dưới hình thức B2C
và C2C được yêu cầu đăng ký hoặc báo cáo thu nhập với Cục thuế” và kiến
nghị Quốc hội Trung Quốc thay đổi để điều chỉnh các giao dịch TMĐT, yêu cầu các cửa hàng kinh doanh trực tuyến đăng ký thuế và nộp thuế Cuối năm
2010, cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng và thương mại của Trung Quốc yêu cầu người bán hàng trực tuyến cung cấp tên thật và số chứng minh thư cho website nơi họ mở cửa hàng trực tuyến [23, tr.16]
Ngoài ra, trong bối cảnh cần tăng cường nguồn thu ngân sách nhà nước, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng nhiều biện pháp để thúc đẩy việc quản lý các khoản thuế đối với hoạt động TMĐT, đặc biệt với hoạt động xuất, nhập khẩu Ngày 30/12/2013, Bộ Tài chính Trung Quốc đã phối hợp với cơ quan quản lý thuế ban hành Thông tư số 89 về chính sách thuế cho xuất khẩu bán lẻ hàng hóa TMĐT xuyên biên giới, có hiệu lực kể từ 1/1/2014 Theo đó, hoàn thuế, miễn thuế GTGT và thuế tiêu thụ dành cho hàng xuất khẩu của những doanh nghiệp bán lẻ TMĐT nếu doanh nghiệp đáp ứng được các điều kiện như là chủ thể nộp thuế và có giấy xác nhận được giảm hoặc miễn thuế bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; có tờ khai hàng hóa xuất khẩu (chỉ dùng cho mục đích hoàn thuế xuất khẩu) đối với hàng hóa xuất khẩu, trong đó các
Trang 3628
thông tin trên tờ khai tương thích với các thông tin điện tử đi kèm; đã nhận được ngoại tệ đối với hàng xuất khẩu trước khi hết hạn thời gian ghi trong tờ khai hoàn thuế (miễn thuế); nếu đó là doanh nghiệp ngoại thương thì cần có hóa đơn GTGT và biên lai thu thuế TTĐB dành cho hàng xuất khẩu đã mua (hoặc hóa đơn thanh toán thuế GTGT và biên lai thu thuế TTĐB dành cho hàng nhập khẩu) Các nội dung trong các phiếu giảm giá (voucher) phải phù hợp với các thông tin liên quan trong tờ khai xuất khẩu
Các doanh nghiệp xuất khẩu TMĐT không đáp ứng những yêu cầu trên
có thể được miễn giảm thuế nếu đáp ứng các điều kiện: đã hoàn tất đăng ký thuế; đã hoàn thành tờ khai xuất khẩu của hải quan; có giấy tờ hợp pháp và có giá trị để chứng minh đã mua hàng hóa để xuất khẩu [51]
Ngoài ra, các nhà cung cấp dịch vụ mạng (ISP) và nhà cung cấp dung lượng mạng (ICP) chịu mức thuế suất là 3% đối với lĩnh vực bưu chính và viễn thông (trước đây là 5%); và chủ thể nộp thuế thực hiện ký điện tử đối với bất kỳ tờ khai thuế nào cũng sẽ phải nộp thuế tem
Cơ quan thuế Trung Quốc đã xây dựng các ứng dụng hỗ trợ thanh tra máy tính trên các phần mềm HugeSearch (tìm kiếm văn bản); Access
và Excel (trích xuất dữ liệu và phân tích); Bcp Utility (sao chép dữ liệu);
PC Toolss (phân tích dữ liệu trên đĩa); Ghost (truy cập hình ảnh từ đĩa CD); PowerIP (phân tích hệ thống); Easy Recovery (khôi phục dữ liệu); PL/SQL (tải dữ liệu) , đồng thời ứng dụng phần mềm trong thanh tra như lựa chọn hồ sơ thanh tra theo tiêu thức định sẵn (bao gồm các lệnh như tính tỷ suất, so sánh với mức trung bình, lọc doanh thu, sổ thuế phải nộp,
số thuế còn nợ ); kết xuất dữ liệu điện tử của đối tượng nộp thuế và chuyển đổi vào ứng dụng dựa trên công cụ Access và Excel để phân tích, đối chiếu [42, tr.50-51, tr.57-58]
Trang 3729
1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước Asean
Theo một nghiên cứu gần đây của Công ty BMI Research, giá trị TMĐT của sáu nền kinh tế lớn nhất của Đông Nam Á (Singapore, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philippines và Việt Nam) sẽ lên đến 64,8 tỉ USD vào năm 2021, từ 37,7 tỉ đô la của năm 2017 [65] Trong khi đó, tập đoàn tài chính Credit Suisse Group AG cho rằng số người đi mua sắm trực tuyến sẽ sớm qua mặt những người đến mua hàng tại cửa hàng tuyền thống, chỉ trong vòng vài năm nữa [54] Trước sự bùng nổ của các giao dịch TMĐT và sự phát triển của các sàn giao dịch TMĐT, các quốc gia Đông Nam Á nhận thấy sự cần thiết của việc đánh thuế đối với giao dịch TMĐT
Về cơ bản, các quốc gia trong vùng Đông Nam Á này cũng đã định hình cho loại thuế của mình Nếu như Singapore dự kiến áp thuế TMĐT nhằm tạo nên môi trường kinh doanh có tính cạnh tranh, bình đẳng và trung thực; Indonesia đặt vào trong mục tiêu chung về cải tổ thuế; Malaysia nhắm đến việc
bổ sung ngân sách; Thái Lan hướng đến chống độc quyền; còn Philippines và Việt Nam hiện đang đi theo xu hướng chung của thế giới, khi các nhà kinh doanh nhỏ đang hoạt động mạnh trên các trang TMĐT lẫn mạng xã hội [54] Kinh nghiệm cụ thể của một số nước Asean như sau:
1.3.2.1 Singapore
Chính phủ Singapore đã nói đến việc áp thuế TMĐT từ tháng 11/2017
và chủ trương TMĐT là lĩnh vực cho phép Singapore đa dạng hóa thuế
Về thuế gián thu, hiện nay, người Singapore không phải đóng thuế đối
với những hàng hóa, dịch vụ có giá trị dưới 400 đô la Singapore (tương đương khoảng 295 USD) Tiến trình thu thuế ở những khoản tiền nhỏ hơn rất phức tạp vì ảnh hưởng trực tiếp đến những người tiêu dùng Tuy nhiên,
do sự bùng nổ của giao dịch xuyên biên giới trong những năm gần đây, cơ quan thuế Singapore hiện đang nghiên cứu khuyến nghị của OECD để đánh
Trang 3830
thuế hàng hóa, dịch vụ xuyên biên giới và xem xét lại việc miễn, giảm thuế đối với hàng hóa, dịch vụ có giá trị dưới 400 đô la Singapore nhằm chống thất thu ngân sách [54]
Về thuế trực thu, ngày 18/8/2015, Cục thu nội địa Singapore (IRAS) đã
ban hành hướng dẫn về thuế thu nhập từ hoạt động TMĐT thay thế bản hướng dẫn ngày 23/02/2001 [59] Singapore cũng đang tìm giải pháp tốt nhất cho việc thu thuế các cá nhân kinh doanh qua mạng xã hội Ở quốc gia này, chế
độ thuế rất tự do nhưng có hạn chế rất lớn đó là cơ chế thuế lãnh thổ, trong khi các giao dịch TMĐT lại là các giao dịch không biên giới Hiện nay, Singapore lựa chọn đánh thuế đối với người tiêu dùng (7%) thay vì các giải pháp đánh thuế người cung cấp hay người bán [46]
1.3.2.2 Thái Lan
Về thuế gián thu, ngày 17/07/2018, Chính phủ Thái Lan đã thông qua
dự thảo Luật sửa đổi Bộ luật doanh thu (Revenue Code Amendment Act) nhằm thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp nước ngoài có giao dịch TMĐT tại Thái Lan Dự thảo được thông qua được chuyển qua Văn phòng Thủ tướng để
rà soát và sau đó gửi đến Hội đồng lập pháp của Quốc hội để ban hành và dự kiến có hiệu lực trong năm 2018 Việc sửa đổi các quy định pháp luật về thuế GTGT trong Bộ luật doanh thu để thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp nước ngoài (không có hiện diện tại Thái Lan) nhưng có thu nhập phát sinh từ giao dịch TMĐT tại Thái Lan nhằm tạo ra một sân chơi công bằng giữa các nhà cung cấp trong nước và nhà cung cấp nước ngoài nước ngoài [60], [64]
Ngoài ra, Thái Lan đang xem xét lại việc miễn trừ thuế đối với những món hàng nhập khẩu qua TMĐT xuyên biên giới có giá dưới 1.500 Baht (tương đương khoảng 47 USD) nhằm mục tiêu áp thuế các công ty đa quốc gia có đăng ký dịch vụ kinh doanh trực tuyến tại Thái Lan Cục Doanh thu Thái Lan đề nghị mức thuế suất trần của thuế GTGT là 15% Với mức thuế
Trang 39Thứ nhất, đối với hoạt động mua sắm hoặc bán lẻ trực tuyến: Các tổ
chức, cá nhân kinh doanh TMĐT sở hữu một website và bán sản phẩm và dịch vụ riêng của họ Cửa hàng trực tuyến, cửa hàng điện tử có tính chất tương đồng nhau trong việc mua và bán hàng hóa và dịch vụ
Thứ hai, đối với dịch vụ trung gian trực tuyến: Bên thứ ba cung cấp
dịch vụ trung gian giữa hai bên kinh doanh và nhận hoa hồng từ hoạt động đó Trong trường hợp này mối quan hệ giữa bên bán và bên cung cấp dịch vụ trung gian tương tự như mối quan hệ giữa đại lý và tổ chức kinh doanh theo thỏa thuận riêng của họ
Thứ ba, một số trường hợp nhà cung cấp dịch vụ trung gian sẽ được coi
là nhà bán lẻ: (i) Khi người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ từ một nhà cung cấp trung gian và nhà cung cấp này kiểm soát việc thanh toán của người mua, sau đó nhận hoa hồng từ nhà bán lẻ; (ii) Khi nhà cung cấp dịch vụ trung gian đưa ra nhiều sản phẩm của riêng mình thì được coi là nhà bán lẻ hoặc người bán các sản phẩm đó [49]
1.3.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản áp dụng một số cách thức sau để quản lý thuế đối với giao dịch TMĐT:
Thứ nhất, yêu cầu các ngân hàng cung cấp các số tài khoản được sử
dụng để thanh toán các giao dịch TMĐT nhằm nhận diện các nhà cung cấp dịch vụ TMĐT…
Trang 4032
Thứ hai, thực hiện mua sắm thử để nhận email từ nhà cung cấp dịch vụ
TMĐT và để nhận diện họ
Thứ ba, sử dụng phần mềm khôi phục dữ liệu để khôi phục lại dữ
liệu trên các thiết bị từ tính hoặc các đĩa cứng của máy tính cá nhân phục
vụ cho mục đích xác định các khoản thu nhập và chuẩn bị trong trường hợp khiếu kiện
Thứ tư, thành lập Tổ quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT bao gồm
các chuyên gia công nghệ thông tin, các cán bộ thanh tra, kiểm tra có kinh nghiệm lâu năm được luân chuyển từ các cục thuế vùng và chi cục thuế
Thứ năm, xây dựng cơ sở dữ liệu thu thập từ các nhà cung cấp dịch vụ
TMĐT… kể cả các nhà cung cấp dịch vụ đấu giá qua mạng internet và các nhà cung cấp dịch vụ là các thành viên, nhằm mục đích nhận diện các đối tượng tham gia vào giao dịch điện tử
Thứ sáu, phát triển hệ thống dò tìm tự động trên mạng internet để thu
thập thông tin (như tên và địa chỉ URL của các website dựa trên các từ khóa tìm kiếm cụ thể) và hình ảnh, đường dẫn và thông tin khác trên website một cách tự động nhằm nhận diện những chủ thể nộp thuế không rõ ràng
Thứ bảy, định kỳ hàng năm tổ chức tập huấn cho các chuyên viên cao
cấp phụ trách về công nghệ thông tin của các cơ quan thuế nắm vững các kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng phần mềm thương mại, nắm bắt tổng quan về
hệ thống thông tin và kiến thức cơ bản về mạng, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu từ các máy tính của các công ty và phần mềm kế toán tài chính thương mại và các phương pháp thanh tra máy tính [42, tr 55-57]
1.3.4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật thuế và công tác quản lý thuế của một
số nước, có thể nhận thấy rằng TMĐT là một lĩnh vực mới hình thành và phát triển không lâu nhưng có phạm vi ảnh hưởng ngày càng tăng; do đó, việc thu