1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thỏa thuận thi hành án dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự việt nam hiện hành

100 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, các quy định về thỏa thuận THADS là một nội dung quan trọng, không chỉ có ý nghĩa trong việc khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà còn có ý nghĩa tron

Trang 1

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THÙY LINH

THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM

HIỆN HÀNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016

Trang 2

ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THÙY LINH

THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM

HIỆN HÀNH

Chuyên ngành : Luật Dân sự và tố tụng dân sự

Mã số : 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thu Hà

Hà Nội – 2016

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thùy Linh

Trang 4

iv

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

MỤC LỤC iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 5

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 5

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 5

1.1.1 KHÁI NIỆM THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 5

1.1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 14

1.1.3 Ý NGHĨA 18

1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY ĐỊNH THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 21

1.2.1 XUẤT PHÁT TỪ BẢN CHẤT CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ 21

1.2.2 PHÙ HỢP VỚI CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NỘI DUNG 22

1.2.3 TÔN TRỌNG QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 23

1.2.4 XUẤT PHÁT TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 24

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 25

1.3.1 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 25

1.3.2 SỰ HIỂU BIẾT PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CỦA ĐƯƠNG SỰ VỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 25

1.3.3 TRÌNH ĐỘ, NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN CỦA CÁN BỘ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 26

1.4 LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 26

1.4.1 GIAI ĐOạN Từ THÁNG 8 NĂM 1945 ĐếN NĂM 1989 26

1.4.2 GIAI ĐOạN Từ NĂM 1989 ĐếN NĂM 1993 27

1.4.3 GIAI ĐOạN Từ NĂM 1993 ĐếN NĂM 2004 29

1.4.4 GIAI ĐOạN Từ NĂM 2004 ĐếN NĂM 2008 30

1.4.5 GIAI ĐOạN Từ NĂM 2008 ĐếN NAY 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2 35

NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 35

Trang 5

v

2.1 QUY ĐỊNH VỀ NGUYÊN TẮC THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN

SỰ 35

2.1.1 NGUYÊN TẮC THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ PHẢI XUẤT PHÁT TỪ Ý CHÍ TỰ NGUYỆN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ 36

2.1.2 NGUYÊN TẮC NỘI DUNG THỎA THUẬN CỦA ĐƯƠNG SỰ KHÔNG VI PHẠM ĐIỀU CẤM CỦA PHÁP LUẬT VÀ KHÔNG TRÁI ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI 36

2.1.3 NGUYÊN TẮC THỎA THUẬN KHÔNG LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA 37

2.2 QUY ĐỊNH VỀ PHẠM VI THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 38 2.3 QUY ĐỊNH VỀ NỘI DUNG THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 41

2.3.1 NộI DUNG THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN GIỮA NGƯỜI ĐƯỢC THI HÀNH VÀ NGƯỜI PHẢI THI HÀNH 41

2.3.2 NộI DUNG THỎA THUẬN GIỮA NGƯỜI ĐƯỢC THI HÀNH, NGƯỜI PHẢI THI HÀNH VÀ NGƯỜI CÓ QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ LIÊN QUAN 57

2.4 QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 64

2.5 QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ65 2.6 QUY ĐỊNH VỀ HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69

CHƯƠNG 3 70

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 70 3.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 70

3.1.1 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 70

3.1.2 NHỮNG HẠN CHẾ VƯỚNG MẮC 72

3.1.3 NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA HẠN CHẾ, VƯỚNG MẮC 81

3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN THỎA THUẬN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 82

3.2.1 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ THỎA THUẬN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 82

3.2.2 KIẾN NGHỊ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 6

vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 LTHADS : Luật Thi hành án dân sự

2 LTHADS sửa đổi, bổ

6 Nghị định số

135/2013/NĐ-CP

: Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung tên gọi

và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh

7 Nghị định số

62/2015/NĐ – CP

: Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chình phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân

sự

9 THADS : Thi hành án dân sự

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Hoạt động thi hành án (THA) nói chung và thi hành án dân sự (THADS) nói riêng hiệu quả sẽ góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với bộ máy nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) Nhận thức được tầm quan trọng của công tác THA, từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về THADS như Pháp lệnh thi hành án dân sự (PLTHADS) năm 1989, PLTHADS năm 1993, PLTHADS năm 2004 và đặc biệt là Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) (LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014) Trong đó, các quy định về thỏa thuận THADS là một nội dung quan trọng, không chỉ có ý nghĩa trong việc khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà còn có ý nghĩa trong việc góp phần xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân

Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng trong thực tiễn, các quy định về thỏa thuận THADS vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ, tìm ra những điểm chưa hợp lý để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công tác THADS Nhất là trong điều kiện cải cách tư pháp, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải xây dựng một hành lang pháp lý bằng những thủ tục đơn giản, nhanh gọn, tiện lợi mới đảm bảo hiệu quả của công tác tư pháp Bởi vậy, việc tiếp tục nghiên cứu làm rõ các quy định của pháp luật và thực tiễn của thỏa thuận THADS cũng như các giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động này là một vấn đề cần thiết

Vì vậy, tôi chọn đề tài “Thỏa thuận thi hành án dân sự theo pháp

luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành” để làm luận văn thạc sĩ luật

Trang 8

2

học của mình với mong muốn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thỏa thuận THADS, trên cơ sở đó, góp phần hoàn thiện các quy định trong hệ thống pháp luật THADS Việt Nam nói chung và các quy định

về thỏa thuận THADS nói riêng

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong những năm qua, vấn đề thỏa thuận THADS đã nhận được nhiều

sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lý luận và những người hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật THADS Cụ thể là bài viết của tác giả Lê Anh Tuấn về

“Thỏa thuận THADS” được trích dẫn trong tài liệu “Những nội dung cơ bản

của pháp luật THADS”[39]; bài viết “Thỏa thuận trong THADS, lý luận và thực tiễn những vấn đề cần hoàn thiện (sửa đổi) của tác giả Phạm Quang

Dũng[44]

Các bài viết này chỉ dừng lại ở mục đích tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về THADS, chưa đi sâu phân tích, làm nổi bật được nội dung của thỏa thuận THADS theo quy định của LTHADS năm 2014

Ngoài ra, sau khi LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực

pháp luật có tài liệu tập huấn “Triển khai các nội dung mới của Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của LTHADS, các văn bản hướng dẫn thi hành và kỹ năng rà soát, chỉ đạo, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo về THADS” của

Tổng cục THADS, Bộ tư pháp năm 2015 tại Hà Nội có đề cập đến thỏa thuận

THADS Tuy nhiên, tài liệu cũng chỉ nêu lên các quy định của LTHADS sửa

đổi, bổ sung năm 2014 về thỏa thuận THADS mà chưa có phân tích, bình luận về các quy định này

Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách tập trung, đầy đủ và chi tiết về thỏa thuận THADS

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài “Thỏa thuận thi hành án dân sự

THADS theo pháp luật THADS Việt Nam hiện hành” là làm sáng tỏ những

Trang 9

3

vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng của việc thỏa thuận THADS, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về vấn đề này, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thỏa thuận THADS trong thực tiễn, góp phần giải quyết án tồn đọng trong THADS

Với mục đích đó, nhiệm vụ chủ yếu của luận văn là:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thỏa thuận THADS như: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở của thỏa thuận THADS, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thỏa thuận THADS và lược sử hình thành và phát triển của pháp luật THADS về thỏa thuận THADS

- Phân tích đánh giá các quy định của pháp luật THADS hiện hành về thỏa thuận THADS và thực trạng áp dụng các quy định đó trong thực tế

- Trên cơ sở thực trạng, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật THADS về thỏa thuận THADS cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện vấn đề này trong thực tế

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận cơ bản; những quy định của pháp luật THADS và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thỏa thuận THADS

Phạm vi nghiên cứu:

- Thỏa thuận THADS được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu thỏa thuận giữa các đương sự (người được THADS, người phải THADS, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong THADS) về việc thi hành bản án, quyết định dân sự Còn thỏa thuận giữa tổ chức thừa phát lại với cơ quan THA, Tòa án về tống đạt THA; thỏa thuận giữa các đương sự và tổ chức thừa phát lại về xác minh điều kiện THA, về lập vi bằng, về chấm dứt việc THA sẽ được nghiên cứu ở các công trình khác

- Luận văn nghiên cứu thỏa thuận THADS theo quy định của pháp luật

Trang 10

4

THADS Việt Nam hiện hành (Luật THADS năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành)

5 TÍNH MỚI VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có tính hệ thống những vấn

đề liên quan đến thỏa thuận THADS, thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:

+ Hoàn thiện khái niệm về thỏa thuận THADS;

+ Làm rõ được đặc điểm, ý nghĩa, nội dung của thỏa thuận THADS; + Phân tích, đánh giá đúng thực trạng thực hiện các quy định của pháp luật THADS Việt Nam hiện hành về thỏa thuận THADS;

+ Đưa ra được những kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về thỏa thuận THADS

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

Bên cạnh đó, luận văn kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và sử dụng các kết quả thống kê của ngành THADS để làm sáng tỏ vấn

đề nghiên cứu của luận văn

7 CƠ CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt, luận văn gồm 3 chương:

+ Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thỏa thuận THADS + Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật THADS Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trong THADS

+ Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật THADS Việt Nam hiện hành

về thỏa thuận THADS và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện thỏa thuận trong THADS

Trang 11

5

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1.1 Khái niệm thỏa thuận thi hành án dân sự

1.1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự

THA nói chung và THADS nói riêng là hoạt động có ý nghĩa rất lớn trong đời sống xã hội Giáo sư James F Harrigan, chuyên gia tư vấn pháp lý

cho cơ quan THA San Francisco, California, Hoa Kỳ khẳng định: “Việc thi

hành các bản án của quốc gia là yếu tố quan trọng nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật Tất cả các hệ thống pháp luật đều dựa vào các Tòa án để giải thích pháp luật bằng cách áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp liên quan đến cá nhân, tổ chức và nhà nước Việc thực hiện các quyết định đã xem xét của Tòa án đạt được bằng nỗ lực pháp luật và sự tham gia của các bên tranh chấp chỉ được công nhận trong việc thi hành các bản án của Tòa

án được đưa ra để giải quyết các tranh chấp Việc thi hành đó, tiếp theo quá trình, là một phần không kém quan trọng Nếu bản án không được thi hành,

có nghĩa pháp luật mà bản án căn cứ vào không có ý nghĩa trên thực tế Vì lý

do đó, có một khái niệm riêng giữa hệ thống luật chung và luật dân sự khác là bản án phải được coi là chung thẩm, có giá trị ràng buộc, và có thể thi hành ngay sau khi ban hành, và việc THA là quyền ưu tiên cao nhất của một hệ thống pháp luật” [36] Như vậy, việc thực hiện hiệu quả bản án, quyết định

của Tòa án là một biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm hại đồng thời thể hiện sự tôn trọng của toàn xã hội đối với phán quyết của Tòa án Vậy, thế nào là THADS?

Về mặt thuật ngữ, theo từ điển Tiếng Việt, “Thi hành” là "làm cho

thành hiện thực điều đã được chính thức quyết định" [31, tr 1559] “Án” theo

Trang 12

6

nghĩa hẹp bao gồm bản án, quyết định của Tòa án, là những văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính Dân sự cũng là một từ nhiều nghĩa trong đó có một trong những nghĩa

của nó là “việc thuộc về quan hệ tài sản, hoặc hôn nhân, gia đình v.v do Tòa

án xét xử” Theo Từ điển Law của Mỹ thì THA là cách thức để làm cho các

bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện [38] Như vậy, hiểu theo nghĩa

chung nhất thì “THADS” là thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án

trên thực tế

Ở Việt Nam, dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm THADS vẫn còn

có nhiều quan điểm khác nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng, THADS là một giai đoạn tố tụng dân sự

bởi nếu tách THADS ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn

bộ quá trình tố tụng dân sự Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản

án, quyết định của Tòa án thì mới dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản giấy tờ Muốn nó được thực hiện trên thực tế cần phải chờ ở hiệu quả của công tác THA Vì vậy, THADS là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử Ở giai đoạn này, cơ quan THA áp dụng các biện pháp được pháp luật quy định để đưa chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế Xét xử và THADS là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự [3]

Quan điểm thứ hai cho rằng, THADS là hoạt động hành chính bởi

THA là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành mà điều hành và chấp hành là đặc trưng của hoạt động hành chính Mặt khác, THADS ở nước ta lại không do Tòa án - cơ quan tư pháp tổ chức [32, tr 10]

Quan điểm thứ ba cho rằng, THADS là hoạt động hành chính - tư

pháp THADS có tính chấp hành vì được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật nhằm thực hiện các các bản án và quyết định của Tòa án Tuy nhiên, tính chất

Trang 13

7

chấp hành trong THADS có những nét đặc trưng riêng biệt Cơ sở để tiến hành các hoạt động THA là các quy định của pháp luật (được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật) và bản án, quyết định của Tòa án (văn bản

áp dụng pháp luật) Mục đích cuối cùng của hoạt động THADS nhằm bảo đảm cho các nội dung của các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi, không phải là ban hành các văn bản áp dụng pháp luật hoặc các quyết định có tính điều hành - nét đặc trưng của cơ quan hành chính [29]

Có thể thấy, quan niệm THADS là một giai đoạn của tố tụng dân sự như quan điểm thứ nhất là chưa chính xác Bởi vì, tố tụng là quá trình giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật, quá trình này trải qua nhiều giai đoạn nhưng các giai đoạn có liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất

và xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình ban hành bản án, quyết định Còn THA diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án Bản án, quyết định của Tòa

án là cơ sở để tiến hành các hoạt động THA Ngoài ra, mục đích của hoạt động THA cũng khác với mục đích của tố tụng Mục đích của tố tụng là xác định các chứng cứ để khôi phục lại trạng thái ban đầu của sự việc Nói cách khác, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra để trên cơ

sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng các quy định pháp luật Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố tụng diễn ra theo quy trình hết sức chặt chẽ

và đảm bảo các nguyên tắc như: bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng… và khi có phán quyết của Tòa

án thì quá trình tố tụng kết thúc Trong khi đó, THA không nhằm giải quyết

về nội dung vụ việc mà áp dụng các biện pháp cần thiết để tổ chức và thi hành bản án, quyết định của Tòa án Như vậy, THA có sự độc lập tương đối với việc giải quyết vụ việc của Tòa án nên không được coi là một giai đoạn của tố tụng

THA là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử của Tòa án, có mối quan

hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn trước đó Tuy nhiên, THA lại có tính

Trang 14

8

độc lập tương đối thể hiện ở chỗ các quyết định do cơ quan, tổ chức THADS, chấp hành viên, thừa phát lại ban hành mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan Các cơ quan, tổ chức, công dân trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để THA đạt hiệu quả Tuy nhiên, nếu chỉ vì đặc điểm chấp hành này của hoạt động THADS mà quan niệm THADS là hoạt động hành chính như quan điểm thứ hai thì không hoàn toàn chính xác Bởi vì, trong quá trình THADS các đương sự có quyền yêu cầu THA, thỏa thuận về thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung THA Trong khi đó một quyết định hành chính có hiệu lực pháp luật thì không thể có việc đối tượng bị áp dụng lại có quyền lựa chọn có thực hiện quyết định đó hay không cũng như thỏa thuận để làm thay đổi nội dung của quyết định

Do đó, cần nhìn nhận THADS là hoạt động hành chính - tư pháp như quan điểm thứ ba là phù hợp và thể hiện được những đặc tính chung nhất của THADS Bởi lẽ:

- THADS là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản

án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan, tổ chức khác đã có hiệu lực pháp luật Hay nói cách khác, cơ sở để tiến hành hoạt động THADS dựa vào các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan, tổ chức khác

- THADS mang tính chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân

sự với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định dân sự phải thực hiện đúng các nghĩa

vụ của mình Mục đích cuối cùng của THADS là bảo đảm cho các phán quyết được ghi trong bản án, quyết định dân sự được thi hành trên thực tế chứ không phải là ban hành văn bản áp dụng pháp luật

- Đối tượng để đưa ra THADS chủ yếu là các bản án, quyết định dân sự

Trang 15

9

liên quan đến tài sản - đặc trưng của quan hệ dân sự Trên thực tế, phần lớn các bản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành đều quyết định các vấn đề tài sản nên việc THADS được phát động dựa trên yêu cầu của đương sự, các đương sự có quyền tự định đoạt trong quá trình THA

- Trong quá trình THADS, các bên có quyền tự định đoạt, tự quyết định

và thỏa thuận với nhau về việc thi hành bản án, quyết định dân sự - đặc điểm đặc trưng của quan hệ dân sự

Như vậy, THADS cần được hiểu là hoạt động hành chính - tư pháp Hoạt động này có những đặc trưng cơ bản sau:

- Mục đích của hoạt động THADS là nhằm thực hiện các bản án, quyết

định dân sự của Tòa án và các quyết định của các cơ quan, tổ chức khác

Như vậy, hoạt động THADS không phải là việc ra các quyết định giải quyết

về nội dung vụ việc dân sự mà là làm cho các bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của cơ quan, tổ chức khác được thực thi trên thực tế

- Chủ thể tổ chức thực hiện hoạt động THADS là cơ quan, tổ chức

THADS mà cụ thể là các chấp hành viên hoặc các thừa phát lại

Để nâng cao hiệu quả công tác THADS, tính tự chịu trách nhiệm đối với kết quả của hoạt động THADS đồng thời bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì việc THADS phải do cơ quan nhà nước chuyên trách thực hiện - cơ quan THADS Tuy nhiên, để việc THADS được nhanh chóng, đạt hiệu quả cao cũng như huy động các nguồn lực trong xã hội thì một số công việc THADS được chuyển giao cho các cá nhân, tổ chức tư nhân thực hiện - thừa phát lại

- Đối tượng THADS là các bản án, quyết định dân sự của Tòa án, quyết

định của trọng tài thương mại và hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh Cụ thể:

+ Bản án, quyết định dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động;

+ Hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,

Trang 16

10

xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự;

+ Phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án;

+ Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

+ Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải THA của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;

+ Quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam;

+ Quyết định Tòa án giải quyết phá sản

Tuy nhiên, các bản án, quyết định dân sự nói trên để được đưa ra thi hành theo thủ tục THADS thì phải là các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo quy định của pháp luật

- Hoạt động THADS được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc nhất định và theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp LTHADS quy định

Hoạt động THADS bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của cơ quan THA, Viện kiểm sát, Tòa án, trọng tài thương mại, hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh, đương sự, người đại diện của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức

có liên quan đến THA… Do đó, để hoạt động THADS được diễn ra một cách minh bạch, khách quan thì hoạt động THADS phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

Từ những phân tích trên, có thể hiểu THADS là hoạt động hành chính -

tư pháp do cơ quan, tổ chức THADS tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp LTHADS quy định để đưa bản án, quyết định dân sự thực hiện trên thực tế nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,

cơ quan, tổ chức

1.1.1.2 Khái niệm thỏa thuận thi hành án dân sự

Trang 17

11

Mục đích của THADS là làm cho các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành trên thực tế, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, bảo vệ lợi ích Nhà nước Tham gia vào quá trình THADS có rất nhiều các chủ thể khác nhau Ngoài cơ quan, tổ chức THADS, Toà án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Viện kiểm sát… còn có các chủ thể khác tham gia quá trình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc hỗ trợ cơ quan, tổ chức THADS tổ chức THA Để thực hiện được mục đích của THADS, pháp LTHADS phải quy định rõ địa vị pháp lý của các chủ thể cũng như quyền và nghĩa vụ của họ trong THADS Trong đó, đương sự trong THADS là một trong những chủ thể không thể thiếu trong quá trình THADS, đương sự có vai trò đặc biệt quan trọng trong THADS, bởi vì quyền và lợi ích của họ là nguyên nhân và mục đích của quá trình THADS

Về mặt thuật ngữ, đương sự là “người là đối tượng trực tiếp của một

việc đang phải giải quyết” [37, tr 681] Trong cuốn Từ điển từ và ngữ Hán

Việt, đương sự lại được định nghĩa là “người có liên quan trực tiếp tới một

việc” [14, tr 232] Như vậy, đương sự có thể hiểu một cách chung nhất là

người có liên quan trực tiếp đến một vụ việc nào đó xảy ra đang được đưa ra xem xét, giải quyết trong cuộc sống

Trong quá trình THADS thì có những chủ thể có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến vụ việc dân sự được THA, có quyền và nghĩa vụ theo bản án, quyết định dân sự nhưng cũng có những chủ thể họ không có quyền

và nghĩa vụ theo bản án, quyết định dân sự nhưng khi tổ chức THA thì lại ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ Tất cả các chủ thể này được

gọi là đương sự trong THADS Tuy nhiên có quan điểm cho rằng, chỉ có

những người có quyền và nghĩa vụ theo bản án, quyết định dân sự mới là đương sự trong THA [32, tr 99] còn người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong THA không phải là người có tên trong bản án, quyết định dân sự, họ chỉ

Trang 18

12

liên quan khi mà cơ quan, tổ chức THA tổ chức THA Có thể thấy, đúng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong THA không phải là người có quyền và nghĩa vụ theo bản án, quyết định dân sự nhưng xét trong quá trình THA, khi cơ quan, tổ chức THA tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ THA theo bản án, quyết định dân sự thì lại liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên xét trong quá trình THA thì cần coi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đương sự trong

THA Ví dụ: bản án sơ thẩm tuyên anh A có nghĩa vụ trả nợ cho anh B 100

triệu Anh B có đơn yêu cầu THA, cơ quan THA xác định anh A không có tài sản riêng nhưng vợ chồng anh A và chị C có tài sản chung là một ngôi nhà

Cơ quan THA kê biên căn nhà thì rõ ràng đã ảnh hưởng đến quyền lợi của chị

C Do đó, cần xác định đương sự trong THADS có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm người được THA, người phải THA và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong THA Theo đó, người được THA là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền và lợi ích trong bản án, quyết định dân sự được thi hành Người phải THA là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định dân sự được thi hành Người có quyền lợi

và nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ THA của đương sự Khi cơ quan THADS tổ chức THA thì người được THA, người phải THA và người

có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận về thời gian, địa điểm, phương thức và nội dung THADS phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Vậy, thế nào là thỏa thuận THADS?

Dưới góc độ ngôn ngữ học, “thỏa thuận” có nghĩa là “nhất trí, đồng ý

với nhau sau khi bàn bạc” [31, tr 1578] Thỏa thuận thể hiện ở việc không có

sự đối lập hay mâu thuẫn giữa các bên liên quan đối với vấn đề được thỏa thuận Thông qua thỏa thuận, mọi quan điểm của các bên đều được xem xét

và dung hòa tất cả các tranh chấp Bên cạnh đó, các bên tự nguyện cùng nhau

Trang 19

13

thực hiện nghĩa vụ mà họ đã thương lượng, thỏa thuận vì lợi ích của nhau Thỏa thuận bao hàm cả yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sự thống nhất, đồng tình về mặt ý chí giữa các bên Như vậy, theo nghĩa chung nhất, thỏa thuận trong THADS là việc các đương sự đã thống nhất ý chí với nhau về việc THADS

THADS là hoạt động liên quan trực tiếp đến các quyền con người đã được Hiến pháp quy định Vì vậy, các cơ quan Nhà nước phải đảm bảo và tôn trọng các quyền đó Trong THADS, quyền tự định đoạt của đương sự luôn được đề cao Do đó, chỉ trong trường hợp thực sự cần thiết mới áp dụng biện pháp cưỡng chế THA, còn lại cần tôn trọng sự tự nguyện và thỏa thuận của các bên tham gia vào quan hệ pháp luật trong THADS, bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật

Trong quá trình THA, những người phải THA, người được THA, người

có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thể tự thỏa thuận với nhau để THA phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội Cơ quan THADS có trách nhiệm theo dõi, giám sát và ghi nhận sự thỏa thuận thi hành của các bên đương sự Đây là một hành lang mở nhằm bảo đảm nguyên tắc tự định đoạt của đương sự ở giai đoạn THA Và chính hành lang mở này đã và đang tạo ra những điều kiện quan trọng làm luận cứ cho chủ trương xã hội hóa một số mặt hoạt động của THADS, giảm thiểu sự can thiệp, hỗ trợ của Nhà nước, tăng tính chủ động của các đương sự, phù hợp với những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về nâng cao tính tích cực xã hội của công dân trong quản lý nhà nước và xã hội

Như vậy, thỏa thuận THADS là sự tự nguyện của các đương sự (người

được THA, người phải THA, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) nhằm bàn bạc, trao đổi để đi đến thống nhất thi hành một phần hay toàn bộ nội dung bản án, quyết định dân sự trên cơ sở quyền và nghĩa vụ dân sự đã được xác lập theo bản án, quyết định dân sự đó

Trang 20

14

1.1.2 Đặc điểm của thỏa thuận thi hành án dân sự

- Chủ thể thỏa thuận trong THADS là đương sự bao gồm người được THA, người phải THA và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Mục đích của THADS là thực hiện được bản án, quyết định dân sự nên các đương sự, những người có quyền và nghĩa vụ dân sự được ấn định trong bản án, quyết định sẽ là người quyết định việc THA như thế nào Vì vậy, các đương là người được THA và người phải THA trước tiên sẽ có quyền thỏa thuận với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức và nội dung THA Tuy nhiên, trong quá trình THA, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ THA giữa người phải THA và người được THA còn có thể liên quan đến người khác

Do đó, chủ thể thỏa thuận THA còn bao gồm cả người có quyền lợi và nghĩa

vụ liên quan

Ví dụ: quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các

đương sự tuyên anh A có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho chị B là 2.000.000đ/tháng Anh A không thực hiện nghĩa vụ, chị B có đơn yêu cầu THA Cơ quan THADS tiến hành xác minh và được biết anh A là công nhân của một mỏ than nên đã tiến hành biện pháp cưỡng chế: trích trừ thu nhập hàng tháng của anh A Tuy nhiên, sau khi ly hôn với chị B, anh A đã kết hôn với chị C - là người có sức khỏe yếu, không công ăn việc làm Như vậy, khi

cơ quan THADS tiến hành trích trừ thu nhập của anh A thì đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chị C

- Thỏa thuận về nội dung THA chỉ được thực hiện trong trường hợp THA theo đơn yêu cầu

THA theo đơn yêu cầu là trường hợp cơ quan, tổ chức THA thực hiện bản án, quyết định về quyền và nghĩa vụ dân sự liên quan trực tiếp đến người được THA, người phải THA, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên các bên đương sự hoàn toàn có quyền quyết định việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình Hay nói cách khác, các đương sự có quyền thỏa

Trang 21

15

thuận nội dung THA khi bản án, quyết định thuộc trường hợp THA theo đơn yêu cầu Còn đối với trường hợp chủ động THA thì thực chất đây là trường hợp THA đối với khoản thu nộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc là trường hợp

cơ quan THA phải chủ động trả lại tiền, tài sản cho đương sự nên người phải THA buộc phải thực hiện hoặc cơ quan THA chủ động thực hiện mà không thể thỏa thuận

- Việc thỏa thuận THA phải xuất phát từ ý chí tự nguyện, không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội và không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba

Việc thỏa thuận giữa các đương sự chỉ đạt được trên cơ sở thương lượng một cách tự nguyện, trung thực, hợp lý, hợp tình và không một ai với bất kì một hình thức nào cưỡng ép, can thiệp vào việc thỏa thuận của các đương sự Tuy nhiên, không phải bất cứ thỏa thuận nào của các đương sự cũng đều được công nhận mà nội dung của thỏa thuận đó phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội Hay nói cách khác, thỏa thuận giữa các đương sự trong THA chỉ được công nhận nếu thỏa thuận của các đương sự xuất phát từ ý chí tự nguyện, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm pháp luật và không trái đạo đức xã hội

Trong quá trình THADS có những chủ thể không có quyền và nghĩa vụ theo bản án, quyết định dân sự nhưng khi tổ chức THA thì lại ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ Pháp luật nước ta luôn tôn trọng, khuyến khích sự thỏa thuận, tự định đoạt của các bên nhưng sự thỏa thuận đó phải trên cơ sở không xâm hại đến quyền lợi của người thứ ba Quy định nguyên tắc trên là

để hướng tới lợi ích chung của cả cộng đồng, không thể vì lợi ích cá nhân mà làm ảnh hưởng đến lợi ích của các cá nhân khác, có như vậy mới bảo đảm được trật tự và an toàn xã hội

- Nội dung thỏa thuận THADS của các đương sự bao gồm thỏa thuận về thời gian, địa điểm, phương thức THA và nội dung THA

Trang 22

16

Quyền thỏa thuận và tự định đoạt của các đương sự luôn được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm Đương sự có quyền thỏa thuận về việc THA khi chưa yêu cầu THA, đã yêu cầu THA hoặc cơ quan, tổ chức THA đã ban hành quyết định THA

Việc thỏa thuận của các đương sự trong THADS bao gồm các nội dung sau:

+ Các đương sự thỏa thuận về thời gian, địa điểm THA:

Quy định đương sự có quyền thỏa thuận về thời gian và địa điểm THA nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong việc thực hiện quyền và nghĩa

vụ của mình Thỏa thuận về thời gian THA tức là các đương sự thỏa thuận sẽ thực hiện nghĩa vụ THADS trong thời điểm hợp lý, phù hợp với điều kiện của người phải THA hoặc người được THA

+ Các đương sự thỏa thuận về phương thức THA:

Trên cơ sở tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự, pháp luật THADS trao cho các bên quyền được thỏa thuận với nhau về phương thức THA Tùy hoàn cảnh, điều kiện, các bên có thể thỏa thuận phương thức THA một lần hoặc nhiều lần theo định kỳ, có thể trực tiếp thực hiện nghĩa vụ cho nhau hoặc gián tiếp thông qua chủ thể thứ ba

+ Các đương sự thỏa thuận về nội dung THA:

Ngoài thỏa thuận về thời gian, địa điểm, phương thức THA, đương sự còn có quyền thỏa thuận với nhau về nội dung THA Thỏa thuận THADS phải xuất phát từ ý chí tự nguyện của đương sự, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và không lảm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba Thỏa thuận về nội dung THADS có thể là thỏa thuận về nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định dân sự (có thể thỏa thuận khác một phần hoặc khác toàn bộ so với nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định dân sự hoặc có thể thỏa thuận chấm dứt việc THADS); thỏa thuận về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định dân sự (thỏa thuận về áp

Trang 23

17

dụng biện cưỡng chế THADS; thỏa thuận về giá và tổ chức thẩm định giá, về nhận tài sản THA )

- Hình thức ghi nhận sự thỏa thuận là bằng văn bản

Hình thức ghi nhận sự thỏa thuận là biên bản thỏa thuận Biên bản ghi nhận kết quả của quá trình trao đổi, thống nhất ý chí giữa các đương sự đề làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với các bên Biên bản thể hiện rõ thời gian, địa điểm diễn ra sự thỏa thuận, các thành phần tham gia và nội dung thỏa thuận cụ thể giữa người phải THA và người được THA, hậu quả pháp lý khi các bên không thực hiện đúng thỏa thuận

- Thỏa thuận của đương sự trong THA nếu có sự xác nhận của người

có thẩm quyền thì có hiệu lực đối với các bên đương sự

Trước hoặc sau khi yêu cầu THA, việc thỏa thuận THA hoàn toàn do các bên đương sự quyết định Tuy nhiên, bởi vì bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên các đương sự không muốn bên kia thay đổi thỏa thuận thì hoàn toàn có thể yêu cầu người thứ ba (luật sư, công chứng viên, hòa giải viên, thừa phát lại…) xác nhận sự thỏa thuận này Vấn đề giá trị pháp lý của văn bản thỏa thuận này như thế nào? Nếu các bên tự nguyện thực hiện một phần thỏa thuận sau đó không thực hiện nữa thì bên được THA có quyền yêu cầu THA phần nghĩa vụ còn chưa thực hiện theo thỏa thuận không? Hiện nay vấn đề này còn có nhiều ý kiến khác nhau

Ý kiến thứ nhất cho rằng, thỏa thuận của các bên đã được người có

thẩm quyền xác nhận thì thỏa thuận này được coi như là pháp luật và các bên hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức THA buộc người phải THA thực hiện phần nghĩa vụ chưa thực hiện theo thỏa thuận

Ý kiến thứ hai cho rằng, Điều 106 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân

dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” nên các bên

Trang 24

sự trong THA bởi vì sự thỏa thuận này đã được những người có thẩm quyền kiểm tra xem sự thỏa thuận giữa các đương sự có xuất phát từ ý chí tự nguyện không, có vi phạm điều cấm pháp luật, có trái đạo đức xã hội không, có thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba không Khi thỏa thuận không vi phạm một trong các điều kiện này thì công chứng viên, hòa giải viên, người có thẩm quyền chứng thực… mới xác nhận Do đó, khi một bên đương sự không thực hiện hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ theo thỏa thuận thì đương sự có thể yêu cầu thi hành theo thỏa thuận Tuy nhiên, nếu thực hiện điều này thì Việt Nam cần bổ sung một loại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được đưa ra THA giống như pháp luật THA của Cộng hòa Pháp

là “các văn bản công chứng có ghi để thi hành” [11] hoặc pháp luật THA của Cộng hòa Liên bang Đức quy định “các thỏa thuận đã được cơ quan công

chứng, chứng thực; các biên bản hòa giải trước Tòa án Đức hoặc trước tổ chức hòa giải” [28] có hiệu lực thi hành

Trang 25

19

thống tốt đẹp, góp phần giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, củng cố khối đoàn kết trong cộng đồng dân cư Thỏa thuận THADS giúp các đương sự hiểu biết và thông cảm với nhau; góp phần khôi phục, duy trì mối quan hệ bình thường giữa các bên đương sự; hạn chế sự đối đầu căng thẳng cũng như mâu thuẫn giữa các bên; ngăn ngừa tội phạm có nguồn gốc từ tranh chấp dân sự phát sinh Kể cả khi các đương sự không thỏa thuận được nhưng với sự giải thích của cán bộ THA thì cũng giúp các đương sự kiềm chế mâu thuẫn và không làm tranh chấp phát triển phức tạp

Thỏa thuận THA là một trong các biện pháp THA hiệu quả bởi vì, khi các đương sự thỏa thuận được với nhau thì họ sẽ tự nguyện THA, cơ quan, tổ chức THA không phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nó giúp việc thực hiện bản án, quyết định dân sự một cách nhanh nhất, giữ vững được ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực; thắt chặt được mối quan hệ đoàn kết, tiết kiệm thời gian, tiền của, công sức của đương

sự, Nhà nước Nên có thể nói, thỏa thuận THADS giúp các bên đương sự thực hiện bản án, quyết định dân sự mà không cần cơ quan, tổ chức THA áp dụng các biện pháp cưỡng chế THA

Thứ hai, thỏa thuận THADS góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các đương sự trong THADS

Trên thực tế, các tranh chấp, mâu thuẫn nảy sinh giữa các đương sự là

do kiến thức và ý thức pháp luật của họ chưa cao Chính vì vậy, khi phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định dân sự thì họ thường chây ỳ, không chịu thi hành Nhà nước khuyến khích và đánh giá cao sự thỏa thuận THA của các đương sự Thông qua việc chứng kiến, giải thích pháp luật, ghi nhận của cán bộ THA mà các đương sự hiểu được quy định pháp luật về vấn đề mà

họ có nghĩa vụ phải thực hiện theo bản án, quyết định dân sự, hiểu được bổn phận và trách nhiệm của mình, qua đó thực hiện những hành vi đúng với quy định của pháp luật và đạt được sự thỏa thuận với nhau

Trang 26

20

Việc các đương sự đạt được thỏa thuận đã mang lại nhiều lợi ích như hiểu được các quy định của pháp luật, thực hiện bản án, quyết định dân sự nhưng vẫn giữ được mối quan hệ tình cảm giữa các bên

tổ chức THADS tổ chức thi hành Như vậy, khi các đương sự lựa chọn phương thức thương lượng với nhau để thực hiện quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết định chính là đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình, qua đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Thứ hai, thỏa thuận THADS giúp cơ quan, tổ chức THA thực hiện nhanh chóng, hiệu quả các vụ việc THA

Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc THA giúp tiết kiệm về thời gian, chi phí, nhân lực Đối với những vụ việc THA, nếu thỏa thuận thành công thì cơ quan THADS không phải tiến hành cưỡng chế, do đó rút ngắn quá trình tổ chức THA, giảm bớt được một giai đoạn kéo dài, tốn kém

và hết sức phức tạp Nhiều trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau đã nhanh chóng khắc phục các mâu thuẫn, bất đồng vốn có do tranh chấp gây ra đồng thời thúc đẩy giao lưu dân sự tiếp tục phát triển, từ đó hạn chế được khiếu nại, tố cáo

Thỏa thuận trong THADS là một trong những cách thức mà đương sự lựa chọn để thực hiện nội dung bản án, quyết định Thông qua thỏa thuận

Trang 27

21

THA đối với những vụ việc khó khăn, phức tạp cũng đã phần nào đánh giá được năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ THA, đặc biệt là các đồng chí Chấp hành viên

Thứ ba, thỏa thuận THADS làm giảm áp lực công việc cho cơ quan THADS

Giai đoạn THA là giai đoạn hết sức khó khăn, phức tạp Thực hiện nội dung trong bản án, quyết định sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự Quyền của bên này là nghĩa vụ tương ứng của bên kia Trên thực tế

có nhiều đương sự thiếu kiến thức pháp luật, cố tình chống đối, cản trở việc THA Xuất phát từ nguyên tắc tự thỏa thuận của đương sự trên lĩnh vực dân

sự, pháp LTHADS khuyến khích các đương sự tự mình bày tỏ thiện chí thỏa thuận với nhau để thực hiện nghĩa vụ THA; từ đó làm giảm tỷ lệ án tồn đọng

và cũng là làm giảm áp lực cho cơ quan THA

Thỏa thuận THADS mang lại nhiều ý nghĩa trong hoạt động của cơ quan THADS Trong trường hợp các đương sự đạt được thỏa thuận thì cơ quan THADS sẽ giảm bớt được nhiều thời gian, công sức cho việc giải quyết

hồ sơ THA Thỏa thuận thành cũng đồng nghĩa là không phải tiến hành cưỡng chế Điều này sẽ không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng cường uy tín của cơ quan THADS nói riêng cũng như cơ quan Nhà nước nói chung

1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY ĐỊNH THỎA THUẬN THI HÀNH

ÁN DÂN SỰ

1.2.1 Xuất phát từ bản chất của quan hệ pháp luật dân sự

LTHADS xây dựng quy định về thỏa thuận THADS trên cơ sở các nguyên tắc trong giao lưu dân sự Bản chất của quan hệ pháp luật dân sự chính là sự tự do thương lượng, thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập quyền

và nghĩa vụ của họ nhưng các thỏa thuận ấy không được vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội Trong quá trình THA, các bên có quyền tự do thương lượng, thỏa thuận với nhau để có thể thi hành nhanh nhất,

Trang 28

22

hiệu quả nhất bản án, quyết định dân sự qua đó bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của minh Sự thỏa thuận giữa các bên nếu không vi phạm những điều pháp luật cấm và trái với đạo đức xã hội thì cần được Nhà nước bảo đảm và tôn trọng như một quyền chính đáng của đương sự Do đó, pháp LTHADS có những quy định về thỏa thuận THADS là phù hợp với nguyên tắc cơ bản nói trên của quan hệ pháp luật dân sự

1.2.2 Phù hợp với các quy định của pháp luật nội dung

Đối với các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh

- thương mại, lao động, pháp luật nội dung có quy định cụ thể về việc các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau

Bộ luật Dân sự đã quy định nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, theo đó cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng [Điều

4 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015]

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2014 cũng có quy định những vấn đề mà vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau như việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung (Điều 35); việc đưa tài sản chung vào kinh doanh (Điều 36); việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38)

Luật Thương mại năm 2005 cũng ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện

thỏa thuận trong hoạt động thương mại: “Các bên có quyền tự do thỏa thuận

không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào”[Điều 11]

Trang 29

23

Bộ luật lao động năm 2012 cũng có quy định tương tự:“Quan hệ lao

động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau”[khoản 1, Điều 7]

Như vậy, các quy phạm pháp luật nội dung đều có quy định về việc thỏa thuận của các bên Do đó, trong trường hợp quyền và nghĩa vụ của các bên đã được ấn định trong bản án, quyết định dân sự thì khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự này các bên hoàn toàn có quyền thỏa thuận về thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định cũng như thỏa thuận về nội dung THA Vì vậy, LTHADS cũng cần có quy định về thỏa thuận để phù hợp với các quy định của pháp luật nội dung

1.2.3 Tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong thi hành

án dân sự

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự nói chung và pháp LTHADS nói riêng Quyền tự định đoạt này hình thành và bắt nguồn từ bản chất của các quan hệ dân sự, đó là các quan hệ xã hội được xác lập trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện, cam kết

và thỏa thuận Khi quyền dân sự của các chủ thể bị xâm phạm, họ có quyền quyết định phương thức bảo vệ quyền dân sự của mình, theo đó khi bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực thi hành thì các đương sự vẫn có quyền quyết định về việc sẽ thực hiện bản án, quyết định dân sự đó như thế nào Chính vì vậy, quyền quyết định và tự định đoạt trong viê ̣c thoả thuâ ̣n thi hành bản án, quyết định dân sự của đương sự được thực hiện ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình THA Sự thỏa thuận xuất phát từ ý chí chủ quan , tự nguyê ̣n quyết định và tự định đoạt của đương sự Do vâ ̣y, chỉ có đương sự mới có quyền thương lượng , thoả thuận để giải quyết các vấn đề có liên quan Điều

Trang 30

24

này hoàn toàn khác với THA hình sự, khi bản án, quyết định hình sự có hiệu lực pháp luật thì bị cáo bắt buộc phải chấp hành hình phạt như đã tuyên mà không có quyền thỏa thuận với Nhà nước về việc chấp hành hình phạt như thế nào Bởi vì, trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của công dân đối với nhà nước trong khi trách nhiệm dân sự là trách nhiệm giữa các công dân với nhau, đặc trưng của mối quan hệ vì lợi ích tư Vì vậy, khi thực hiện quyền và nghĩa

vụ dân sự theo bản án, quyết định dân sự thì các bên đương sự hoàn toàn có quyền quyết định sẽ thực hiện bản án, quyết định dân sự đó như thế nào

Như vậy, quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người, trong đó vai trò của đương sự luôn được đề cao nên trong THADS các bên đương sự có quyền thỏa thuận về việc thực hiện bản án, quyết định dân sự

1.2.4 Xuất phát từ thực tiễn hoạt động thi hành án dân sự

THADS nhằm bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành trên thực tế kịp thời, có hiệu quả; bảo đảm quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, công lý được thực thi trên thực tế Không những thế, công tác THA còn kiểm tra tính chính xác, phù hợp với thực tế khách quan của vụ việc

Công tác THADS là một trong những công tác nhạy cảm vì liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức Các quyền và lợi ích hợp pháp này đã được ghi nhận trong các bản án, quyết định của Tòa án Việc hiện thực hóa các quyền này được thực hiện thông qua cơ quan, tổ chức THADS Việc thi hành bản án, quyết định dân sự theo quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức nên dễ dẫn đến nảy sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp Do đó, trong quá trình THA, nếu các đương sự trong THA có thể thỏa thuận, thương lượng được với nhau thì sẽ đem lại nhiều hiệu quả như nâng cao hiểu biết về

Trang 31

25

pháp luật, giải quyết được những vướng mắc và bảo đảm tối đa quyền lợi của

cả hai bên Như vậy, pháp LTHADS có quy định về việc thỏa thuận THADS

Như vậy, các quy định pháp LTHADS về thỏa thuận THA là công cụ pháp lý quan trọng cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước cơ quan, tổ chức THADS đồng thời những quy định về thỏa thuận THADS còn là căn cứ để cơ quan, tổ chức THADS giải quyết vụ việc THA được chính xác, đúng đắn Do đó, các quy định của pháp LTHADS cần phải thể hiện đầy đủ, rõ ràng về quyền thỏa thuận của đương sự trên cơ sở bảo đảm cho các đương sự được bình đẳng với nhau Hơn nữa, các quy định về thỏa thuận THADS cần thống nhất với các quy định pháp luật nội dung Nếu các quy định của pháp luật về thỏa thuận THADS không đầy đủ, rõ ràng, minh bạch sẽ làm cho đương sự khó có thể thỏa thuận với nhau để giải quyết

vụ việc cũng như gây khó khăn cho cơ quan THADS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình

1.3.2 Sự hiểu biết pháp luật thi hành án dân sự của đương sự về thỏa thuận thi hành án dân sự

Việc đương sự hiểu biết pháp luật nói chung và pháp LTHADS nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền tự đinh đoạt cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Nếu các đương sự hiểu biết pháp luật thì sẽ dễ dàng đạt được sự thỏa thuận cũng như thỏa thuận đó sẽ được cơ quan THADS ghi nhận do xuất phát từ ý chí tự nguyện, nội dung

Trang 32

26

thỏa thuận không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội Thêm nữa, sự hiểu biết pháp luật của đương sự còn giúp đương sự xác định được quá trình giải quyết hồ sơ THA của cơ quan, tổ chức THADS có đúng quy định của pháp luật không

1.3.3 Trình độ, năng lực chuyên môn của cán bộ thi hành án dân

sự

Cơ quan, tổ chức THADS được Nhà nước trao quyền để đưa các bản

án, quyết định dân sự thực hiện trong thực tế Do đó, khi chấp hành viên, thừa phát lại không đủ trình độ chuyên môn để hiểu nội dung vụ việc cũng như cách thức để giải quyết vướng mắc của đương sự thì khi được giao giải quyết

hồ sơ THA, Chấp hành viên sẽ bị lúng túng, không có được lòng tin của đương sự, không làm cho các đương sự hiểu hết được những thuận lợi, khó khăn cũng như quyền và lợi ích của họ trong quá trình giải quyết vụ việc Do

đó, các đương sự không đưa ra thỏa thuận được với nhau, từ đó gây bức xúc đối với đương sự, hồ sơ THA tồn đọng, kéo dài; ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động THADS, tạo dư luận không tốt trong xã hội đối với cơ quan THADS

Khi Chấp hành viên, thừa phát lại có trình độ và năng lực chuyên môn cao thì sẽ nhanh chóng xác định được sự thỏa thuận giữa các đương sự trong THA có xuất phát từ ý chí tự nguyện không? Nội dung thỏa thuận có vi phạm điều cấm pháp luật, có trái đạo đức xã hội không? Thỏa thuận có nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với thứ ba không? Khi thỏa thuận không vi phạm một trong các điều kiện trên thì chấp hành viên, thừa phát lại ghi nhận thỏa thuận giữa các đương sự Điều này cũng đồng nghĩa là việc giải quyết hồ sơ THA sẽ được tiến hành nhanh chóng, đúng với những quy định của pháp luật đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích cho các đương sự

1.4 LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.4.1 Giai đoạn từ tháng 8 năm 1945 đến năm 1989

Trang 33

27

Từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi có PLTHADS năm

1989 là giai đoạn mà tổ chức hoạt động THADS chưa được dựa trên một văn bản pháp luật chính thức có hiệu lực pháp lý cao do cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền ban hành Thậm chí có thời kỳ chỉ căn cứ vào “Điều lệ tạm thời”

do Tòa án nhân dân tối cao ban hành Ở giai đoạn đầu thời kỳ này, hoạt động THADS được thực hiện trên cơ sở duy trì chế định Thừa phát lại của chính quyền Đông Dương Tuy nhiên tổ chức Thừa phát lại – hình thức tổ chức và hoạt động THADS đầu tiên của chế độ mới không còn mang ý nghĩa là công

cụ của chính quyền thực dân phong kiến như trước đây mà trở thành công cụ đắc lực trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán

đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho tổ chức THADS Việt Nam Tại khoản 3

Điều 3 của Sắc lệnh quy định Ban Tư pháp xã có quyền “thi hành những

mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên” bao gồm các bản án, quyết định của Tòa

án Như vậy, tổ chức THADS đã được hình thành ngay trong những năm đầu sau cách mạng tháng Tám thành công, do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện

Nét đặc trưng trong nội dung quy định của Điều lệ tạm thời cũng như các văn bản pháp luật trong thời kỳ này là khẳng định trách nhiệm chủ động của Nhà nước đối với việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án Nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong quá trình THA không được ghi nhận Điều này đã tạo ra tâm lý thụ động, ỷ lại, chỉ biết trông đợi vào Nhà nước của người được THA và người phải THA Việc THA thể hiện tính chất bao cấp nặng nề, vừa làm tăng gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, vừa làm hạn chế hiệu quả công tác THA do không phát huy được tính chủ động và trách nhiệm của đương sự trong quá trình THA

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1993

Trang 34

28

Ngày 28/8/1989, Hội đồng Nhà nước (nay là Ủy ban thường vụ Quốc hội) đã ban hành PLTHADS đặt cơ sở pháp lý cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động THADS

Với PLTHADS năm 1989, lần đầu tiên những quy định về THADS đã được pháp điển hóa Việc tập trung thống nhất những quy định về THADS vào một hình thức văn bản pháp lý có hiệu lực cao đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật trong việc THADS, góp phần bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể và công dân, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Với việc ban hành Pháp lệnh năm 1989, cơ chế THA đã có bước thay đổi cơ bản Theo Pháp lệnh này, cơ chế kết hợp quyền tự định đoạt của đương

sự với sự chủ động của cơ quan THA và Chấp hành viên đã tạo ra sự phát triển mới trong công tác THADS Quyền tự định đoạt của đương sự - một trong những nguyên tắc đặc trưng của dân sự, trước đây mới chỉ được áp dụng trong giai đoạn xét xử thì nay đã được vận dụng trong giai đoạn THADS THADS là một giai đoạn độc lập, tiếp theo giai đoạn xét xử Trong giai đoạn này, người được thi hành vẫn có quyền tự định đoạt quyền lợi của mình, có quyền yêu cầu người phải THA thi hành những phán quyết của Tòa

án nhưng cũng có quyền tự hòa giải, thỏa thuận với người phải THA về phương thức thi hành, thậm chí không yêu cầu người phải THA thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án Quyền tự định đoạt của đương sự đã trở thành một nguyên tắc quan trọng trong công tác THADS

Pháp lệnh số 23-LCT/HĐNN8 ngày 28/8/1989 của Hội đồng Nhà nước

về THADS quy định: “Người được THA căn cứ vào bản trích lục bản án,

quyết định có quyền yêu cầu người phải THA thi hành Nếu người phải THA không tự nguyện thi hành thì người được THA có quyền gửi đơn đến Chánh

án Toà án đã xử sơ thẩm hoặc sở thẩm đồng thời là chung thẩm vụ án để yêu

Trang 35

29

cầu THA, Bản trích lục bản án, quyết định của Toà án phải được gửi kèm theo đơn yêu cầu THA” (Điều 14); “Người được THA yêu cầu hoặc đồng ý cho người phải THA hoãn việc thi hành” (điểm b khoản 1 Điều 18)

Mặc dù cơ chế THA đã từng bước được hoàn thiện, đội ngũ cán bộ làm công tác này được củng cố, tăng cường một bước nhưng sự chỉ đạo điều hành công tác THA vẫn chưa được thay đổi phù hợp Cơ quan THA và Chấp hành viên thuộc Tòa án, do Tòa án trực tiếp chỉ đạo về nghiệp vụ và chịu trách nhiệm báo cáo cấp trên về kết quả của hoạt động THA Hơn nữa, Tòa án vừa

là cơ quan xét xử duy nhất, vừa là cơ quan làm nhiệm vụ THA là chưa thực

sự đảm bảo tính khách quan, công bằng trong hoạt động THADS, khó lòng tránh khỏi sự băn khoăn, lo lắng trong nhân dân về hiệu quả công tác này

1.4.3 Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2004

Khác với Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1981, Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1992 không quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc THA Trong khi đó, Luật tổ chức Chính phủ năm 1992 lần đầu tiên đã xác định việc quản lý công tác THA là một trong những nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong lĩnh vực pháp luật và hành chính tư pháp Để thực hiện quy định của các đạo luật trên về công tác THA, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX ngày 6/10/1992 đã thông qua Nghị quyết về việc bàn giao công tác THA từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phù chậm nhất là vào tháng 6/1993 PLTHADS năm 1993 được ban hành (có hiệu lực ngày 01/6/1993) đã chứng tỏ sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, bảo vệ trật tự kỷ cương và bảo vệ một cách thực sự quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Theo PLTHADS năm 1993 thì nhiệm vụ THADS được chuyển cho một cơ quan Nhà nước mới thành lập và đi vào hoạt động từ 01/7/1993, đó là hoạt động của cơ quan THADS thuộc Bộ Tư pháp

Có thể nói, PLTHADS năm 1993 đã tạo ra bước ngoặt về tổ chức và

Trang 36

30

hoạt động của công tác THADS ở nước ra, đưa công tác này sang một giai đoạn phát triển mới, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ đổi mới Trên cơ sở pháp lệnh này, hiệu quả THA đã được nâng cao, bước đầu góp phần vào việc giữ nghiêm pháp luật, trật tự kỷ cương trong xã hội

PLTHADS năm 1993 được ban hành trên cơ sở giữ nguyên về nội dung cơ bản của PLTHADS năm 1989 - vốn là pháp lệnh của thời kỳ kinh tế tập trung, do đó vẫn mang nặng tính bao cấp Việc tổ chức THADS chủ yếu được coi là trách nhiệm của Nhà nước Nguyên tắc tự định đoạt của các bên đương sự chưa được tôn trọng đầy đủ; trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, công dân trong quá trình THA chưa được quan tâm đúng mức

Do được ban hành trong điều kiện rất khẩn trương nhằm kịp thời triển khai thi hành Nghị quyết của Quốc hội về bàn giao công tác THADS từ Tòa

án sang cơ quan thuộc Chính phủ, những nội dung được sửa đổi, bổ sung của PLTHADS năm 1993 đã bộc lộ nhiều vướng mắc

1.4.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008

Sau một quá trình dài, qua nhiều lần dự thảo thì PLTHADS sửa đổi được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14/01/2004 là sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực THADS, góp phần vào hoàn thiện pháp luật và khắc phục được những bất cập của công tác THADS trong thời gian qua

PLTHADS năm 2004 thể hiện được tư duy mới, phù hợp với sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa PLTHADS năm 2004 với những quy định mới, trong đó các bên đương

sự có quyền tự thỏa thuận với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức THA đã thể hiện rõ nét nguyên tắc tự định đoạt của các bên đương sự, bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể trong nền kinh tế thị trường

Theo quy định của Pháp lệnh THADS năm 2004, “nếu các bên đương

sự không tự nguyện thi hành thì người được THA, người phải THA căn cứ vào

Trang 37

31

bản án, quyết định dân sự có quyền yêu cầu Cơ quan THA có thẩm quyền ra quyết định THA” (khoản 1 Điều 5) “Người được THA, người phải THA có quyền thoả thuận với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức THA, nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội” (khoản 2 Điều 6) Thủ trưởng Cơ

quan THA có quyền ban hành quyết định hoãn THA khi “người được THA

đồng ý cho người phải THA hoãn việc thi hành” (điểm b khoản 1 Điều 26) và

ban hành quyết định đình chỉ việc THA trong trường hợp “người được THA

có văn bản từ bỏ quyền và lợi ích mà họ được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” (Điều 28) Đương sự vẫn có

quyền thỏa thuận với nhau trong các trường hợp cụ thể như: trừ vào thu nhập của người phải THA (điểm c khoản 1 Điều 40), định giá tài sản đã kê biên (Điều 43), giao tài sản để THA (Điều 44), cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao vật (Điều 53)

Điều 5 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ

cũng có quy định chi tiết về thỏa thuận THA: “1 Các đương sự có quyền thoả

thuận về việc THA nhưng việc thoả thuận không được trái pháp luật, đạo đức

xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác 2 Trường hợp vụ việc đang do cơ quan THA tổ chức thi hành, Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ nội dung thoả thuận Nếu các đương sự không tự nguyện thi hành theo đúng nội dung thoả thuận thì cơ quan THA căn cứ nội dung bản án, quyết định để tổ chức thi hành Trường hợp các đương sự thoả thuận về việc không yêu cầu cơ quan THA thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định thì cơ quan THA lập biên bản về nội dung thoả thuận và ra quyết định đình chỉ THA đối với phần thoả thuận không yêu cầu THA theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Pháp lệnh THADS Nếu việc thoả thuận nói trên thực hiện sau khi tài sản đã được bán hoặc giao cho người khác nhận để THA theo đúng quy định của pháp luật thì phải được sự nhất trí của người mua hoặc người nhận tài sản đó để THA theo

Trang 38

32

quy định tại Điều 44 và Điều 48 của Pháp lệnh THADS”

PLTHADS năm 2004 đã thể hiện được quan điểm cải cách hành chính, cải cách tư pháp, làm rõ các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động THA, đặc biệt là quy định rõ về quyền thỏa thuận của đương sự trong THADS cũng như hình thức thỏa thuận, hiệu lực thỏa thuận, nội dung thỏa thuận THADS Quy định này tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình trong THADS cũng như các bản án, quyết định dân sự được thực hiện nhanh chóng dựa trên quyền thỏa thuận của các đương sự, nâng cao hiệu quả THA

Như vậy, PLTHADS năm 2004 và Nghị định hướng dẫn thi hành đã có

sự trưởng thành vượt bậc về trình độ kỹ thuật lập pháp so với PLTHADS năm

1993 và các văn bản hướng dẫn trước đây, tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho việc xúc tiến pháp điển hóa lên thành một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn

là LTHADS năm 2008

1.4.5 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay

Xuất phát từ yêu cầu thực tế, LTHADS năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2014 góp phần tạo chuyển biến cơ bản trong công tác THADS, khắc phục tình trạng án tồn đọng kéo dài, nâng cao tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền và lọi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước

Trong LTHADS năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LTHADS năm 2014 vẫn giữ nguyên quy định về thỏa thuận THA giữa người được THA và người phải THA; tôn trọng tự do ý chí và quyền tự định đoạt của các đương sự - một trong những nguyên tắc cơ bản của quan hệ dân sự

Đó là các quy định tại Điều 6 LTHADS, Điều 48 (hoãn THA), Điều 50 (đình chỉ THA), Điều 74 (thỏa thuận khi tài sản THA thuộc sở hữu chung với người khác), Điều 78 (thỏa thuận trong trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải THA), Điều 98, Điều 100, Điều 104,

Trang 39

33

Điều 105 (thỏa thuận trong trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản), Điều 113 (thỏa thuận khi tài sản gắn liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác), Điều 114 (thỏa thuận trong trường hợp cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ trả tài sản)

Ngoài ra, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định về thỏa thuận THADS cụ thể tại các Điều 5, Điều 16

Nhìn lại chặng đường lịch sử hình thành và phát triển của THADS Việt

Nam từ năm 1945 đến nay có thể thấy: ý nghĩa, vai trò của công tác THADS

và pháp luật THADS ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn, sâu rộng hơn, chiếm vị trí ngày càng xứng đáng trong hệ thống các cơ quan tư pháp Việt Nam Từ chỗ tổ chức THA chỉ do Thừa phát lại, Ban Tư pháp xã (1945-1950), thẩm phán huyện (1950-1959); nhân viên THA, Chấp hành viên tại các Tòa án địa phương (1960-1993) thực hiện, đến nay đã có một hệ thống các cơ quan THADS; từ chỗ chỉ được thể hiện trong một vài văn bản pháp luật hình thức thấp (Thông tư, Điều lệ tạm thời ) đến nay đã trở thành hệ thống pháp LTHADS và hiện nay đang tiến tới xây dựng dự án Bộ luật THA với mức độ pháp điển rất cao, điều chỉnh một cách toàn diện các lĩnh vực THA, trong đó

có THADS

Trong đó, xu hướng chung của pháp LTHADS ngày càng thể hiện rõ nét nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự trong quá trình THA Một thời gian khá dài (từ năm 1950 đến năm 1989), nguyên tắc tự định đoạt của đương sự bị phủ nhận, thay vào đó vào đó là việc Nhà nước chủ động hoàn toàn trong hoạt động THA Việc THA được tiến hành không phụ thuộc vào ý chí của người được THA Nhưng từ năm 1990 đến nay, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình THADS lại được khôi phục và thể hiện như là xu thế tất yếu và sẽ tiếp tục tồn tại lâu dài trong tương lai

Trang 40

34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Việc nghiên cứu lý luận về thỏa thuận THADS là quan trọng và cần thiết, giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về vấn đề này Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thỏa thuận THADS, cơ sở của việc quy định về thỏa thuận THADS cũng như khái quát quá trình hình thành và phát triển các quy định về thỏa thuận THADS trong lịch sử pháp luật Việt Nam Những vấn đề lý luận chung về thỏa thuận THADS đã tạo ra một nền tảng vững chắc để tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành cũng như thực trạng việc áp dụng các quy định về thỏa thuận THADS trong thực tiễn, từ đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật ở các chương tiếp theo của luận văn

Ngày đăng: 17/03/2021, 15:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w