1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp phúc thẩm theo pháp luật việt nam

133 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam là thực hiện chế độ 2 cấp xét xử, bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm thì có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử phúc thẩm, còn bản án, quyết định

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-

ĐÀO DUY VƯƠNG

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2007

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM

1.1 Khái niệm thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự

1.2 Tính chất của thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

1.3 Ý nghĩa của phúc thẩm dân sự

1.4 Đối tượng của xét xử phúc thẩm dân sự

1.5 Phạm vi xét xử phúc thẩm

1.6 Sự tham gia của Viện kiểm sát tại Tòa án cấp phúc thẩm

1.7 Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm

1.7.1 Giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm

1.7.2 Sửa bản án sơ thẩm

1.7.3 Hủy bản án bản án, quyết định sơ thẩm

Chương 2:PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2.1 Căn cứ làm phát sinh thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm

2.1.1 Người có quyền kháng cáo

2.1.2 Kháng nghị của Viện kiểm sát các cấp

2.2 Đối tượng của xét xử phúc thẩm

Trang 3

2.3 Vấn đề cung cấp chứng cứ

2.4 Phạm vi xét xử phúc thẩm

2.5 Về sự tham gia của Viện kiểm sát tại Tòa án cấp phúc thẩm

2.6 Thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm

2.6.1 Thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm khi có các sự kiện phát sinh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

2.6.2 Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm khi có các tình tiết phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm

2.6.3 Thẩm quyền của Tòa án phúc thẩm khi có căn cứ để giữ nguyên, sửa, hủy bản án, quyết định sơ thẩm

Chương 3 : NHU CẦU, NỘI DUNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TOÀ ÁN CẤP PHÚC THẨM 3.1 Nhu cầu hoàn thiện về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm

3.2 Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế 3.2.1 Các nguyên nhân khách quan

3.2.2 Các nguyên nhân chủ quan

3.3 Phương hướng nâng cao hiệu quả xét xử phúc thẩm

3.3.1 Phương hướng chung

3.3.2 Nội dung hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm

Trang 4

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Đề tài: "Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm theo

pháp luật Việt Nam"

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, Tòa án nhân danh Nhà nước ra các phán quyết bảo đảm cho quyền, lợi ích của các cá nhân, cơ quan,

tổ chức và lợi ích của nhà nước Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án

có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội , ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các vi phạm pháp luật khác [12, tr 8]

Cũng như phần lớn các nước trên thế giới, nhất là các nước theo truyền thống luật dân sự, tố tụng Tòa án tại nước ta được chia thành nhiều thủ tục khác nhau như: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc hoặc tái thẩm mỗi thủ tục có mục đích, ý nghĩa khác nhau và do vậy, có tính chất khác nhau Thủ tục phúc

thẩm, theo cách hiểu chung nhất “là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại

vụ án mà bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị" Thủ tục phúc thẩm có ý nghĩa, vai trò

quan trọng, tạo điều kiện để Tòa án cấp trên xem xét, kiểm tra lại bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, nhằm kịp thời phát hiện và khắc phục những sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo vệ sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền lợi ích của Nhà nước, của công dân Thủ tục phúc thẩm còn quan trọng ở chỗ, theo nguyên tắc cơ bản của

Trang 6

pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam là thực hiện chế độ 2 cấp xét xử, bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm thì có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử phúc thẩm, còn bản án, quyết định án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án Chỉ khi bản án quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc có tình tiết mới làm thay đổi bản chất của vụ án thì mới được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách hệ thống tư pháp trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam tại kỳ họp thứ 5

từ ngày 11 tháng 5 đến ngày 15 tháng 6 năm 2004 đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 Đây là hành lang pháp lý cơ bản, quan trọng bảo đảm cho Tòa án giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu về dân sự, là cơ sở cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện các quyền tố tụng

để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình So với các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước kia thì Bộ luật tố tụng dân sự là những quy định hoàn thiện nhất, đầy đủ nhất của pháp luật tố tụng dân sự nước ta về thủ tục phúc thẩm dân sự, bảo đảm tính thống nhất, tính đồng bộ trong việc giải quyết các vụ án dân sự Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự trong một vài năm qua cho thấy còn nhiều điều bất cập, nhiều vấn đề lý luận của thủ tục giải quyết các vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm chưa được làm rõ, tính chất của việc xét xử phúc thẩm chưa được nhận thức một cách đầy đủ, các quy định của Bộ luật về căn cứ phát sinh thủ tục phúc thẩm, đối tượng của xét xử phúc thẩm, vấn đề cung cấp chứng cứ, phạm vi của xét xử phúc thẩm hay quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm chưa được cụ thể còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng vi phạm về thời hạn xét xử, tỷ lệ các bản án, quyết định phúc thẩm bị hủy theo thủ tục giám đốc, tái thẩm còn nhiều làm giảm sút lòng tin của quần

Trang 7

chúng nhân dân đối với hệ thống Tòa án nói riêng và các cơ quan tư pháp nói chung

Chính vì vậy, tại Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ

Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian

tới”; Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị “về chiến

lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng 2020” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị

“về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đều nhấn mạnh việc hoàn

thiện pháp luật tố tụng, bảo đảm các phiên tòa diễn ra thực sự dân chủ, nghiêm minh, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân

Trong phạm vi chương trình đào tạo cao học Luật, Tôi chọn đề tài

"Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm theo pháp luật Việt Nam" để làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án phúc thẩm là giai đoạn tố tụng được quy định trong các văn bản về tố tụng dân sự có ở các thời kỳ trước đây và đã có một số công trình nghiên cứu giải quyết một số vấn đề về xét xử

phúc thẩm như trong đề tài khoa học cấp bộ về "Vấn đề tổ chức phiên tòa và

việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng tại phiên tòa của Tòa án nhân dân", mã số 47 - 98/043/ĐT của TANDTC do TS Nguyễn Văn Hiện

(nguyên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao) làm chủ nhiệm đề tài Báo cáo phúc trình của đề tài đã đề cập đến vấn đề tổ chức phiên tòa phúc thẩm, nhưng đề tài chỉ đi sâu về nghiên cứu những vấn đề liên quan đến cơ sở lý luận thực tiễn và yêu cầu sửa đổi bổ sung hình thức tổ chức phiên tòa nói chung (bao gồm cả phiên tòa hình sự, dân sự, kinh tế, lao động hành chính) và vấn đề thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng tại phiên tòa như thế nào

là đúng và đạt hiệu quả cao nhất [36, tr 9] Ngoài ra, còn có luận văn tốt

Trang 8

nghiệp cử nhân luật của Lưu Xuân Thủy với đề tài "Thủ tục phúc thẩm dân sự

trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam" Tuy nhiên, luận văn này chỉ nghiên

cứu các quy định của thủ tục phúc thẩm dân sự theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Từ khi ban hành Bộ luật tố tụng dân sự đến nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về thủ tục xét xử phúc thẩm theo Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Do có nhiều khó khăn trong thu thập tài liệu, trong việc tiếp cận, phân tích, đánh giá pháp luật nước ngoài nên trong luận văn, tùy từng vấn đề chúng tôi chỉ sử dụng pháp luật nước ngoài mà cụ thể là Bộ luật tố tụng dân

sự của một số nước như: BLTTDS của nước Cộng hoà Pháp, BLTTDS của Liên bang Nga, Luật tố tụng dân sự của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Luật tố tụng dân sự của Nhật Bản, Thái Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển hay Đài Loan, chỉ mang tính chất so sánh, thông tin khoa học, để từ đó đưa ra quan điểm nghiên cứu trong từng lĩnh vực

3 Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn của thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa phúc thẩm theo tố tụng dân sự Việt Nam Qua đó, làm rõ được tính chất của xét xử phúc thẩm, những quy định phù hợp, những cơ chế còn bất cập và đề xuất những nội dung, những vấn đề nhằm hoàn thiện các quy định này

Do giới hạn của một luận văn thạc sĩ luật học, luận văn này không đi sâu tìm hiểu các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục thụ lý, chuẩn

bị xét xử, thủ tục xét xử tại phiên tòa hay quyền hạn của Tòa án, Hội đồng xét xử phúc thẩm như quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự mà chỉ đi sâu tìm hiểu, làm rõ một số vấn đề có tính chất cơ bản, cốt lõi và còn có những hạn chế, bất cập cả trên phương diện điều chỉnh pháp luật và áp dụng pháp luật của thủ tục phúc thẩm dân sự như: khái niệm, tính chất của thủ tục giải quyết

Trang 9

vụ án dân sự tại Tòa phúc thẩm, các căn cứ phát sinh thủ tục phúc thẩm, quyền kháng cáo, kháng nghị, đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, vấn đề cung cấp chứng cứ, vấn đề phạm vi của việc xét xử phúc thẩm, thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm…

Về thời gian tham khảo số liệu thực tiễn, luận văn chủ yếu sử dụng số liệu và tư liệu của ba năm, từ năm 2004 (năm Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành) đến năm 2006

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học

Khi nghiên cứu luận văn, chúng tôi dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và vấn đề cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng thực tiễn kiểm chứng lý luận Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp thống kê cũng được sử dụng để hoàn thành luận văn

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Ngoài ý nghĩa là một công trình nghiên cứu của riêng bản thân về thủ tục xét xử phúc thẩm để hoàn thành chương trình học tập và báo cáo tốt nghiệp lớp cao học luật dân sự khóa X, của Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội Qua việc làm sáng tỏ những dấu hiệu đặc trưng của thủ tục xét xử phúc thẩm dân sự, phạm vi, thẩm quyền của Tòa án sơ thẩm, các cơ chế về cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời tại giai đoạn phúc thẩm Thông qua việc nghiên cứu, so sánh

Trang 10

pháp luật về xét xử phúc thẩm dân sự một số nước trên thế giới để từ đó đưa

ra những đề xuất, kiến nghị nhằm mục đích xây dựng, hoàn thiện pháp luật

Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về thủ tục phúc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam Vì vậy, kết quả nghiên cứu trong luận văn có thể được sử dụng như là một tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học luật và giảng dạy trong các cơ sở đào tạo luật

Luận văn còn đi sâu phân tích những hạn chế, bất cập của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thủ tục phúc thẩm và đề xuất hướng hoàn thiện Những kết quả này có thể tham khảo trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật

tố tụng dân sự

Kết quả nghiên cứu luận văn còn có thể được sử dung như là một tài liệu tham khảo cho các thẩm phán, thư ký Tòa án… làm công tác xét xử phúc thẩm dân sự

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành 3 chương :

Chương 1: Những vấn đề chung về thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại

Tòa án cấp phúc thẩm

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại

Tòa án cấp phúc thẩm và thực tiễn áp dụng

Chương 3: Nhu cầu và nội dung hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải

quyết các vụ án dân sự tại Toà án cấp phúc thẩm

Trang 11

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM

1.1 Khái niệm thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự

Trong xã hội có giai cấp, để duy trì trật tự xã hội, Nhà nước thông qua việc sử dụng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội Hệ thống các cơ quan Nhà nước được thành lập ra để thi hành các nhiệm vụ cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Tòa án là một cơ quan đặc biệt, thể hiện quyền lực của Nhà nước trong họat động tư pháp, là cơ quan nhân danh Nhà nước Qua hoạt động xét xử, ra các phán quyết để phân định quyền, nghĩa vụ cho các bên tham gia trong vụ kiện Trong lĩnh vực dân sự, lợi ích như là tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự [56, tr 70], không có một cơ quan phán xử công minh chắc chắn không thể giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn về lợi ích trong xã hội

Việc giải quyết của Tòa án qua hai giai đoạn từ sơ thẩm và phúc thẩm Trong đó thủ tục phúc thẩm là thủ tục ảnh hưởng đến quyền, cũng như nghĩa

vụ của các bên tham gia trong vụ kiện nhiều nhất Bởi quyết định phúc thẩm đồng nghĩa với việc quyền, nghĩa vụ của các đương sự đã được phân định rạch ròi, có ý nghĩa thực hiện trên thực tế Bản án có hiệu lực là pháp luật và

có ý nghĩa bắt buộc thực hiện đối với các đối tượng là các chủ thể có liên quan

Việc xét xử là một trong những phương thức thực hiện quyền lực Nhà nước đã tồn tại từ xa xưa, từ thời kỳ Nhà nước Ai Cập Babilon cổ đại đến thời

kỳ La Mã Hy Lạp cổ đại rồi qua thời kỳ trung cổ Phục hưng Dưới chế độ chiến hữu nô nệ và phong kiến, họat động xét xử cũng như họat động lập pháp và hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến mà đại

Trang 12

diện là nhà Vua, người có quyền lực cao nhất ở giai đoạn này, Tòa án chưa tổ chức thành một hệ thống và chưa trở thành lĩnh vực hoạt động độc lập trong

bộ máy

Nhà nước [30, tr 80]

Vấn đề bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người dân được coi

là yêu cầu trung tâm của nội dung về Nhà nước pháp quyền [50, tr 216 - 217], quyền tư pháp là một trong ba nhánh quyền lực Nhà nước là quyền nhân danh Nhà nước để ra các phán quyết nhằm khôi phục trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và công dân khi có sự vi phạm Chủ thể của hoạt động xét xử chỉ có thể là Tòa án Xét xử là việc Tòa

án nhân danh Nhà nước xem xét đánh giá tính chất mức độ của hành vi vi phạm pháp luật, xác định bản chất quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên

và ra các quyết định xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên

Xét xử theo nghĩa khái quát là việc xem xét, và xử các vụ án, xét xử các tội phạm, việc xét xử của Tòa án [26, tr 1148] Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động của các cơ quan và các

cá nhân được căn cứ vào pháp luật để xem xét những vấn đề pháp lý và đưa ra những quyết định pháp lý có tính bắt buộc [58, tr 144] Việc xét xử của Tòa

án, tùy theo tính chất của thủ tục xét xử vụ án, mà có các thủ tục diễn ra tại các cấp xét xử đó là xét xử sơ thẩm được diễn ra tại Tòa án cấp sơ thẩm, xét

xử phúc thẩm được diễn ra tại Toà án cấp phúc thẩm Mỗi thủ tục xét xử có một đặc thù mang tính chất pháp lý khác nhau

Phúc thẩm về mặt ngôn ngữ học là việc Tòa án cấp trên xét xử lại một

vụ án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án [28, tr 790]

Theo Từ điển thuật ngữ luật học về dân sự, hôn nhân và gia đình và tố tụng dân sự của trường Đại học Luật Hà Nội thì phúc thẩm là việc Tòa án cấp

Trang 13

trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị nhằm kiểm tra lại tính hợp pháp tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, sửa những sai lầm và vi phạm của Tòa án sơ thẩm bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật [27, tr 378]

Theo Điều 242 Bộ luật tố tụng dân sự, phúc thẩm : ‘‘là việc Tòa án cấp

trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị"

Như vậy, hiểu theo cách hiểu của ngôn ngữ hay quy định của luật thực định thì khái niệm phúc thẩm cũng bao gồm ba yếu tố hợp thành:

- Là việc của Tòa án cấp trên trực tiếp;

- Xét lại bản án (hoặc xét xử lại vụ án);

- Bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị

Từ khái niệm phúc thẩm trên có thể đưa ra khái niệm thủ tục phúc thẩm, theo đó, thủ tục phúc thẩm là thủ tục xem xét lại tính hợp pháp tính, có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị

Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm là một giai đoạn tố tụng độc lập, có những tính chất, đối tượng xét xử, có vai trò, ý nghĩa, mục đích riêng, không giống với bất cứ thủ tục xét xử ở giai đoạn nào (sơ thẩm hay giai đoạn xét lại bản án giám đốc thẩm, tái thẩm) Khái niệm phúc thẩm dân sự là một khái niệm phức tạp bao gồm nhiều nội dung Để tìm hiểu được đầy đủ, toàn diện khái niệm phúc thẩm cần thiết phải làm rõ các nội dung tiếp sau:

1.2 Tính chất của thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Trang 14

Tính chất là những nội dung quyết định đến các nội dung của các vấn

đề khác theo từ điển Tiếng Việt: tính chất là đặc điểm riêng của sự vật, hiện

tượng làm phân biệt nó với những sự vật, hiện tượng khác [28, tr 999]

Tính chất của xét xử phúc thẩm là việc cần phải làm rõ đầu tiên bởi nó quyết định đến các vấn đề khác của việc xét xử phúc thẩm như phạm vi xét xử phúc thẩm, vai trò, ý nghĩa của việc xét xử phúc thẩm Làm rõ được tính chất của việc xét xử từ đó sẽ làm cơ sở để xây dựng lên các cơ chế như xác định cụ thể căn cứ phát sinh thủ tục phúc thẩm, đối tượng của xét xử phúc thẩm, phạm

vi xét xử phúc thẩm và quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm

Thủ tục phúc thẩm dân sự là một giai đoạn tố tụng nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc xét xử hai cấp Ở giai đoạn này, các đương sự người đại diện của đương sự tổ chức xã hội khởi kiện Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định dân sự để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm Quyền kháng cáo của đương sự là biểu hiện cụ thể quyền dân chủ công dân được pháp luật bảo vệ

Do đó, dù bản án quyết định dân sự sơ thẩm được Tòa án coi là xét xử đúng, nhưng nếu có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp trên vẫn phải tiến hành thủ tục phúc thẩm dân sự để kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm

Từ trước đến nay hai cấp xét xử đã được pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam coi là nguyên tắc cơ bản Trong các nguyên tắc hoạt động của Tòa án

Từ ngay trong những văn bản đầu tiên của Nhà nước ta về tố tụng dân sự Trong Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định về sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án đã quy định Toà án đệ nhị cấp có thẩm quyền phúc thẩm đối với các bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm Toà án Thượng thẩm có quyền chung thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án Đệ nhị cấp Tại Thông tư số 1459/HCTP của Bộ Tư pháp ngày 19/8/1955 nhấn

Trang 15

mạnh: ‘‘Nguyên tắc hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc tố tụng của

nhân dân cần phải được bảo đảm" Điều 9 Luật Tòa án nhân dân năm 1960

quy định "Tòa án nhân dân thực hành chế độ 2 cấp xét xử" Tại Công văn số

614/DS ngày 24/4/1963 của Tòa án nhân dân tối cao về việc vi phạm thủ tục

tố tụng có hướng dẫn "Một trong những nguyên tắc cơ bản của Tòa án là 2

cấp xét xử, đương sự có quyền chống bản án của Tòa án nhân dân xử sơ thẩm lên Tòa án nhân dân trên một cấp, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và trên một cấp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân’’ (Mục

III) Thông tư số 19/TATC ngày 02/10/1974 quy định rõ về chức năng của

Tòa án cấp phúc thẩm là: "xét xử lại những vụ án đã được xét xử theo trình tự

sơ thẩm khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị’’

Điều 17 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định:

"1 Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do

Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật"

2- Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của Bộ luật này’’

Xuất phát từ nguyên tắc hai cấp xét xử nên tính chất của phúc thẩm dân

sự không có gì khác, đó chính là việc xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định dân sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị

Tính chất của phúc thẩm dân sự được thể hiện rõ qua những nét đặc trưng cơ bản của thủ tục phúc thẩm dân sự, qua đó cho thấy sự khác biệt về tính chất của thủ tục phúc thẩm dân sự với các thủ tục tố tụng tại cấp sơ thẩm

Trang 16

hay các thủ tục tố tụng khác được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự đó là các đặc trưng thể hiện qua:

+ Quyền kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát:

Kháng cáo là hoạt động tố tụng của đương sự và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật trong việc chống lại bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án dân

sự Kháng nghị là hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật nhằm phản đối bản án, quyết định sơ thẩm, đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét lại vụ án [25, tr 297] Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự quy

định: "Đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có

quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết

vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm" Điều 250 Bộ luật tố tụng dân sự quy

định: ‘‘Viện trưởng viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền

kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa

án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm’’ Về mặt nguyên tắc, sau khi ra bản án, quyết định thì bản án,

quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà còn trong một thời hạn nhất định Đối với bản án là 15 ngày, đối với quyết định là 7 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc ngày nhận được quyết định Các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng cáo, kháng nghị Hoặc là 30 ngày đối với bản án, 10 ngày đối với quyết định thì Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị bản án, quyết định Thông qua kháng cáo, kháng nghị họ thể hiện sự bất đồng quan điểm của họ đối với bản án, quyết định của Toà án đồng thời đưa

ra những ý kiến, quan điểm, nguyện vọng của mình về việc giải quyết vụ án

Khi có kháng cáo, kháng nghị việc xem xét, giải quyết phúc thẩm là bắt buộc Tòa án cấp phúc thẩm phải tiến hành kiểm tra tính hợp pháp và tính có

Trang 17

căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị đồng thời xem xét lại các phần khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị

+ Tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm:

Tính hợp pháp của bản án, quyết định dân sự sơ thẩm thể hiện ở chỗ không những bản án và quyết định dân sự sơ thẩm đó phải phù hợp với những quy định của pháp luật về nội dung mà còn phải tuân thủ đúng những quy định của pháp luật về tố tụng

Tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm thể hiện ở chỗ không những bản án, quyết định dân sự sơ thẩm đó phải phù hợp với các sự kiện thực tế, thể hiện đúng bản chất của sự việc mà nó còn thể hiện là: tất cả các tình tiết, các chứng cứ của vụ án phải được kiểm chứng hợp pháp tại phiên tòa, tình tiết vụ án phải khách quan, phải được thu thập, xác định theo đúng các thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định

Xem xét lại nội dung vụ án ở cấp phúc thẩm là đi sâu xác định tính chất của vụ án trên cơ sở các chứng cứ đã được Tòa án cấp sơ thẩm thu thập và các chứng cứ mới xuất hiện tại Tòa án cấp phúc thẩm Pháp lệnh thủ tục giải quyết của vụ án Dân sự 1993 và các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án Kinh tế, Lao động đều quy định cụ thể phạm vi, trách nhiệm của Tòa án cấp

lao động đều quy định: "Trước khi xét xử hoặc tại phiên tòa phúc thẩm người

kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung thêm chứng cứ mới Tòa án cấp phúc thẩm có thể

Trang 18

tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiến hành hoặc ủy thác cho Tòa án khác tiến hành xác minh chứng cứ mới được bổ sung ’’

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 không quy định cụ thể về trách nhiệm của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc xác minh thu thập chứng cứ như trong các Pháp lệnh tố tụng cũ bởi theo nguyên tắc của Bộ luật tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự Nhưng để có cơ sở ra một phán quyết đúng đắn, khách quan, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm vẫn phải xem xét toàn

bộ các chứng cứ cũ và các chứng cứ mới được bổ sung tại Tòa án cấp phúc thẩm Bộ luật tố tụng dân sự không quy định cụ thể trách nhiệm của Tòa án trong việc điều tra thu thập chứng cứ nhưng khoản 3 Điều 244 và khoản 3

Điều 251 Bộ luật tố tụng dân sự đều có quy định: ‘‘kèm theo đơn kháng cáo

hay quyết định kháng nghị là tài liệu, chứng cứ bổ sung nếu có để chứng minh cho kháng cáo, kháng nghị là có căn cứ và hợp pháp’’ Như vậy, quyền cung

cấp chứng cứ của đương sự, người kháng cáo, kháng nghị không bị hạn chế ở bất cứ giai đoạn nào Do đó, họ có thể tự tìm để bổ sung các chứng cứ mới và nếu không tự bổ sung, tự thu thập được thì họ có thể đề nghị Tòa án điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ mới cho họ và để bảo đảm xét xử được khách quan phù hợp với các quy định của pháp luật, làm rõ sự thật của các tình tiết trong vụ án thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng sẽ không có quyền từ chối các yêu cầu, đề nghị này bởi nếu từ chối hoặc điều tra xác minh không đầy đủ, kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án thì lại là căn cứ để Tòa án cấp trên (cấp giám đốc thẩm) hủy bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm

Tính hợp pháp và tính có căn cứ là hai yêu cầu bắt buộc đối với các bản

án và quyết định của Tòa án khi giải quyết các vụ việc dân sự Bản án, quyết định của Tòa án chỉ có thể coi là đúng luật khi các quyết định đó dựa trên các căn cứ rõ ràng, khách quan và phù hợp với các quy định của pháp luật Tính

Trang 19

nhau không thể coi nhẹ yếu tố nào Khác với việc xét lại bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật là cấp giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ thường xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ chứ ít có những chứng cứ mới phát sinh bởi khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì thường không triệu tập đương sự, phiên tòa không mở công khai Còn khi xét xử phúc thẩm thì phiên tòa mở công khai, tất cả các đương sự, những người tham gia tố tụng có liên quan đều được triệu tập Tất cả các chứng cứ đều được xem xét, tranh luận tại phiên toà, tất cả các nội dung có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị đều đưa ra xem xét tranh luận cụ thể và nếu có căn cứ đều được xem xét cải sửa cho phù hợp Như vậy, qua phân tích những quy định của pháp luật thì thấy tính chất của phúc thẩm dân sự chính là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo hoặc kháng nghị

1.3 Ý nghĩa của phúc thẩm dân sự

Khi có sự tranh chấp về quyền, lợi ích nói chung mà các bên tranh chấp không tự giải quyết được với nhau hay khi có một sự kiện pháp lý nào đó xảy

ra có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong các quan hệ dân sự thì cá nhân tổ chức có liên quan ấy có quyền làm đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết các yêu cầu của họ, khi các đương sự đã thực hiện đầy đủ các điều kiện về mặt hình thức, thủ tục theo đúng quy định của pháp luật thì Tòa án có trách nhiệm thụ lý xem xét, giải quyết các tranh chấp hay các yêu cầu về công nhận một sự kiện pháp lý nào đó Khi các đương sự khởi kiện hoặc có yêu cầu đến Toà án là họ đã có mong muốn, gửi gắm vào cơ quan quyền lực, cơ quan công quyền nhân danh Nhà nước ra các phán quyết thực sự công bằng đối với họ, trả lại cho họ quyền, lợi ích chính đáng mà họ đáng được hưởng theo quy định của pháp luật

Trang 20

Thực chất của quá trình tố tụng dân sự tại Tòa án là quá trình giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật về nội dung mà các chủ thể có đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật tham gia Mục đích của quá trình tiến hành tố tụng tại Tòa án là nhằm lập lại trật tự của quan hệ pháp luật có tranh chấp Trên cơ sở của các quy tắc tố tụng dân sự để giải quyết thấu đáo, đúng pháp luật của các quan hệ pháp luật về nội dung đang có tranh chấp

Quá trình áp dụng các quy định của tố tụng dân sự tại Tòa án được thực hiện trong các giai đoạn khác nhau từ giai đoạn xem xét các yêu cầu khởi kiện, thụ lý yêu cầu khởi kiện, các thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đến các giai đoạn xét xử như : xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hay tái thẩm ở mỗi giai đọan giải quyết, xét xử của Tòa án đều có những ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội hay ý nghĩa pháp lý riêng ở giai đoạn

sơ thẩm thì ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm cũng khá quan trọng là phiên xử đầu [31, tr 42], là nơi quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự được Toà án ghi nhận chính thức trong các bản án, các quyết định của Tòa án Thông qua phiên tòa sơ thẩm việc giáo dục ý thức chấp hành pháp luật phổ biến pháp luật đến những người dân tham dự phiên tòa Nhưng việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, ý nghĩa của việc giáo dục phổ biến pháp luật được thể hiện rõ nét hơn cả trong quá trình xét xử tại Tòa án cấp phúc thẩm Với

quy định "bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án" [6, tr

81], thì việc áp dụng các quy định của tố tụng dân sự trong giai đoạn phúc thẩm vụ án dân sự có một ý nghĩa đặc biệt

+ Ý nghĩa về mặt chính trị :

Qua xét xử vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm, hội đồng xét xử phúc thẩm, khắc phục những sai lầm có thể có trong những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp

Trang 21

của cá nhân cũng như các lợi ích tập thể được thực hiện trong thực tế Góp phần bảo vệ pháp chế XHCN [25, tr 296] Trong xã hội, các lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức, của cộng đồng được bảo vệ thì trật tự chính trị xã hội được ổn định, pháp luật được tôn trọng làm tiền đề cho việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền vững mạnh Bởi hai vấn đề cơ bản của Nhà nước pháp quyền là dân chủ và tổ chức quyền lực Nhà nước Trong đó vai trò của pháp luật được đề cao Đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền đó là: Phải tạo được ý thức cao trong pháp luật hay quản lý xã hội, quản lý Nhà nước xác định đúng đắn trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân, tính hợp hiến của các thể chế, tổ chức, chính sách và toàn bộ hệ thống pháp luật và vấn đề tổ chức quyền lực Nhà nước [50, tr 213-219] Với việc xét xử công khai, với tư cách xem xét, khắc phục lại những thiếu sót có thể có của bản án, quyết định sơ thẩm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước và của công dân, thì thông qua các phán quyết chính xác, khách quan tại cấp phúc thẩm thể hiện quan điểm của Nhà nước đấu tranh với hành

vi bị coi là không đúng pháp luật, buộc người có hành vi phạm phải khắc phục, bồi thường đối hậu quả mà họ đã gây ra Trên cơ sở trách nhiệm, nghĩa

vụ đó họ tự ý thức được những xử sự mà họ đã thực hiện là phù hợp mới pháp luật hay không, qua cách thức ấy thủ tục phúc thẩm dân sự góp phần tạo được

ý thức coi trọng pháp luật trong quản lý xã, hội quản lý Nhà nước

+ Ý nghĩa về mặt xã hội :

Qua xét xử phúc thẩm sự công bằng, minh bạch trong các quan hệ pháp luật dân sự được đảm bảo trong từng phán quyết của Tòa án Qua các phán quyết đúng đắn ấy sự tín nhiệm của người dân đối với cơ quan Toà án, đối với quyền lực Nhà nước được trọn vẹn

Sự công bằng, bình đẳng trong tố tụng dân sự là nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp

Trang 22

luật, trước Tòa án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp Mọi cơ quan tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình [6, tr 11-12] Sự công bằng, bình đẳng trong xét xử phúc thẩm không chỉ là nguyên tắc cơ bản mà còn phải là mục tiêu, gắn liền với công việc thường xuyên của Tòa án cấp phúc thẩm Sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật đang có tranh chấp là việc bình đẳng trong địa vị tố tụng, bình đẳng trong cung cấp chứng cứ, trong các quyền yêu cầu đối với Tòa án hoặc cơ quan liên quan Xét xử phúc thẩm được xem xét tại Tòa án cấp phúc thẩm một cách công khai, mọi công dân đều có quyền tham dự, mọi yêu cầu chứng cứ tài liệu đều được xem xét, các phán quyết của Tòa án sơ thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị đều được đưa ra tranh luận công khai, các chủ thể có liên quan đều đưa ra quan điểm của mình về các phán quyết đó Thông qua các ý kiến tranh luận công khai thông qua sự giải thích pháp luật của Tòa án cấp phúc thẩm (có thể qua bản án hoặc các quyết định) người tham dự phiên tòa, người tham gia tố tụng hiểu biết thêm về pháp luật, nhận thức đầy đủ về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân củng cố niềm tin của dân với Đảng với Nhà nước

+ Ý nghĩa về mặt pháp lý :

Xét xử phúc thẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự Thông qua phúc thẩm, Tòa án cấp trên có thể kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới, qua đó có thể tìm ra những nguyên nhân, khắc phục những thiếu sót, những lỗ hổng của chính các quy định của pháp luật về nội dung và

về hình thức từ đó có những định hướng chỉ đạo kịp thời nâng cao chất lượng

Trang 23

xử của Tòa án cấp sơ thẩm nói riêng Thực hiện cơ chế xét xử hai cấp thì có thể nói, bản án quyết định của Tòa án phúc thẩm như là khuôn mẫu, là những định hướng trong hoạt động xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, bởi nhiều khi có những vụ việc phức tạp,có nhiều quan điểm khác nhau về việc giải quyết vụ

án, thì những bản án trước đây của Tòa án cấp phúc thẩm thường được đưa ra xem xét như là điều kiện quan trọng để áp dụng xử lý các vụ kiện sau này Mặc dù tố tụng dân sự Việt Nam không quy định bắt buộc trong việc áp dụng

"án lệ" Nhưng những kinh nghiệm, đường lối xét xử của Tòa án cấp trên

thường thực tế vẫn được đem ra để phân tích áp dụng một cách phù hợp Những quan điểm đường lối xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm cần phải là những định hướng, những cơ sở pháp lý vững chắc cho cấp sơ thẩm vận dụng sau này Nó đảm bảo sự vận dụng pháp luật một cách thống nhất, tạo ra lòng tin của người dân đối với pháp luật, đối cơ quan Tòa án điều đó cũng đòi hỏi chất lượng xét xử của cấp phúc thẩm phải được nâng lên, thực sự trở thành nơi đem lại sự công bằng, minh bạch, giải tỏa hết tâm lý bức xúc được thua trong các quan hệ có tranh chấp, đáp ứng được lòng mong mỏi của mỗi người dân, tạo niềm tin tuyệt đối của họ vào pháp luật và cơ quan Tòa án

1.4 Đối tượng của xét xử phúc thẩm dân sự

Đối tượng là những vật, hiện tượng mà con người nhằm vào, trong suy nghĩ trong hành động [28, tr 338] Đối tượng của xét xử phúc thẩm là những văn bản pháp lý do Tòa án ban hành trong quá trình giải quyết, xét xử, vụ kiện dân sự tại Tòa án cấp Sơ thẩm Theo các văn bản pháp luật tố tụng trước kia như pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động định

rõ bản án, quyết định nào của Tòa án cấp sơ thẩm được xem xét để xét xử lại

theo thủ tục phúc thẩm

Do tính chất của các quyết định, các văn bản pháp luật nên pháp luật có quy định chúng là đối tượng của việc xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định

Trang 24

tạm đình chỉ, đình chỉ của Tòa án sơ thẩm là những sự kiện làm phát sinh quyền và nghĩa vụ trực tiếp của các đương sự Hiệu lực của các quyết định này, là bắt buộc đối tất cả mọi chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật do vậy nó cần phải được xem xét một cách thận trọng trước khi phát sinh hiệu

lực bắt buộc thi hành Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự quy định ‘‘Bản án,

quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án" là đối tượng của kháng

cáo, kháng nghị Việc quy định này là hoàn toàn và phù hợp với lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật

Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án là việc Tòa cấp phúc thẩm tạm thời chưa giải quyết vụ án khi xuất hiện các lý do như : đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan tổ chức đã sát nhập, giải thể, chia tách mà chưa có cá nhân cơ quan tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân cơ quan tổ chức đó; Một bên đương sự là cá nhân mất năng lực (Điều 189 BLTTDS) Đây là những lý do để Tòa án cấp phúc thẩm tạm dừng việc giải quyết vụ án Quyết định tạm đình chỉ vụ án không mang tính chất phân định trách nhiệm quyền lợi về việc giải quyết nội dung tranh chấp mà nó chỉ mang tính chất tạo các điều kiện để việc xem xét, xét xử vụ án được chính xác Nhưng xét về mặt thời hạn xét xử thì nó cũng có ảnh hưởng nhất định đến quyền lợi của các đương sự Bởi thời gian giải quyết vụ án dân sự cũng có thể định lượng bằng giá trị vật chất nhất định Khi tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án Tòa án không xóa tên vụ án mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số ngày tháng năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó Toà án cũng không xử lý về số tiền

mà đương sự đã nộp như tiền tạm ứng án phí, tiền chi phí định giá hay tiền chi phí giám định Tòa án cấp phúc thẩm sẽ tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn

Đình chỉ việc giải quyết vụ án là việc Tòa án cấp phúc thẩm làm ngừng lại, chấm dứt các thủ tục để giải quyết vụ kiện Đình chỉ vụ kiện dân sự tại

Trang 25

tiếp đến quyền và nghĩa vụ của đương sự Việc đình chỉ việc giải quyết vụ án được hiểu là vụ án đã được giải quyết xong

Thường các đương sự không có quyền khởi kiện lại vụ án dân sự, khi quyết định đình chỉ đã có hiệu lực pháp luật chỉ trừ một số trường hợp, đó là trong trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện Hay trong trường hợp nguyên đơn đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt hoặc trường hợp đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ Tài sản của doanh nghiệp đó, hợp tác xã đó (Điều 192 BLTTDS) và chỉ trong các trường hợp này thì đương sự mới có quyền khởi kiện lại vụ án

Việc đình chỉ của Tòa án phúc thẩm có thể dẫn đến các hậu quả khác nhau Phụ thuộc vào từng lý do của việc đình chỉ Có thể dẫn đến việc kết thúc việc giải quyết tranh chấp và giữ nguyên trạng thái ban đầu như trước

khi xảy ra tranh chấp, đó là các trường hợp: "Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá

nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; Hay trường hợp cơ quan tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó" (điểm a, b khoản 1 điều 192 BLTTDS) và một trường hợp đình chỉ

đặc biệt chỉ có ở giai đoạn xét xử phúc thẩm và chỉ mới được quy định cụ thể tại Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Trường hợp này trước đây luôn là vấn đề có nhiều ý kiến tranh cãi, luôn có những thực tế áp dụng rất khác nhau trong cùng một hệ thống Tòa án Đó là vấn đề nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, mà nếu bị đơn đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn thì Tòa án phúc thẩm ra quyết định hủy bản

án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án Trong trường hợp này các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm

Trang 26

theo quy định của pháp luật Đương sự cũng vẫn có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục chung khi thời hiệu khởi hiện vẫn còn (khoản 1 khoản 2 Điều 269 BLTTDS)

Đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm còn có thể dẫn đến tình trạng thứ hai đó là công nhận bản án, quyết định của Tòa án

sơ thẩm có hiệu lực pháp luật Đó là các trường hợp: "Người kháng cáo rút

toàn bộ kháng cáo hoặc viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị’’ (điểm b khoản

1 Điều 260 BLTTDS) hay trong trường hợp : ‘‘ người kháng cáo đã được

triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt ’’ (khoản 2 Điều 266

BLTTDS) Khi mà đương sự, kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị thấy rằng thực sự bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm đã xét xử như vậy là phù hợp,

có căn cứ thì có quyền rút đơn kháng cáo, rút đề nghị kháng nghị và Tòa án cấp phúc thẩm sẽ tôn trọng quyết định này của ngừơi kháng cáo, người kháng nghị, chấm dứt việc giải quyết tại Toà án cấp thẩm và công nhận sự kiện pháp

lý phát sinh tại giai đoạn sơ thẩm Còn trong trường hợp người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì để đảm bảo sự tôn nghiêm của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho các đương sự, tránh việc giải quyết vụ án kéo dài thì việc Toà án phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án là hoàn toàn cần thiết, phù hợp với tính chất của việc xét xử phúc thẩm là xét xử khi có kháng cáo, kháng nghị

Đối tượng kháng cáo, kháng nghị của xét xử phúc thẩm là bản án của Tòa án sơ thẩm Đây là một đối tượng rất đặc biệt, bởi bản án là một hình thức quyết định bằng văn bản của Tòa án khi xét xử vụ án Tòa án nhân danh Nhà nước ra các quyết định phân định việc tranh chấp, công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quan hệ tố tụng tại Tòa án Khi không nhất trí với bản án ở một phần, một điểm hay toàn bộ bản án thì đương sự có quyền thể hiện sự bất

Trang 27

phẩm trí tuệ, là một văn bản đặc biệt của Tòa án mà cụ thể là của Hội đồng xét xử Chỉ khi có thủ tục xét xử tại phiên tòa thì mới có bản án Bản án của Tòa án nhân danh Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đòi hỏi thủ tục ban hành phải chặt chẽ Kết cấu, nội dung phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự Các đương sự chỉ có quyền kháng cáo, chủ thể của quyền kháng nghị chỉ có thể kháng nghị khi bản án chưa có hiệu lực

pháp luật còn khi: “Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu

lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và

đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành’’ (Điều 136 Hiến pháp 1992)

Vấn đề phạm vi xét xử luôn là yếu tố được coi trọng hàng đầu bởi bất

cứ một phán quyết nào của Tòa án nếu vượt ra khỏi phạm vi được quyền xem xét thì phán quyết đó đều không phù hợp, không phát sinh hiệu lực, phán quyết trái pháp luật Phạm vi đến đâu, quy định thẩm quyền phù hợp đến đó Thẩm quyền chỉ đúng khi nó nằm trong phạm vi giới hạn cho phép, phạm vi xét xử phúc thẩm dân sự là tất cả những quy định về thẩm quyền xem xét giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm

Do tính quan trọng của việc xem xét phạm vi xét xử phúc thẩm nên vấn

đề làm rõ về mặt lý luận cũng như xem xét các quy định thực tiễn về phạm vi xét xử là điều hết sức cần thiết Làm rõ phạm vi xét xử phúc thẩm để từ đó có

Trang 28

những lý giải, những kiến nghị sửa đổi về thẩm quyền của Tòa án phúc thẩm

đó là điều mà chúng tôi mong muốn đạt được

Trong các quy định của tố tụng dân sự thường quy định rất chặt chẽ về mặt thủ tục tại các giai đoạn giải quyết vụ án của Tòa án Nhưng tất cả các quy định ấy đều dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự Chẳng hạn quyền khởi kiện, quyền này chỉ thuộc về người có

quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự đó là : "Cá nhân, cơ quan,

tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện

vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích, hợp pháp của mình" (Điều 161 BLTTDS) Pháp

luật cho họ cái quyền khởi kiện nhưng vấn đề quyết định khởi kiện ai? khởi kiện về vấn đề gì ? phạm vi khởi kiện đến đâu ? thì hoàn toàn thuộc quyền quyết định của họ

Trong giai đoạn phúc thẩm cũng vậy pháp luật tố tụng dân sự cho phép đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức có quyền làm đơn kháng cáo Còn vấn đề các chủ thể này có làm đơn kháng cáo hay không ? kháng cáo về vấn đề gì ? phạm vi kháng cáo ra sao ? thì thuộc toàn quyền quyết định của các đương sự

Một nguyên tắc cơ bản là Tòa án chỉ xem xét giải quyết khi có yêu cầu,

có kiến nghị Tòa án sơ thẩm chỉ thụ lý giải quyết khi có khởi kiện Tòa án cấp phúc thẩm chỉ thụ lý, giải quyết khi có kháng cáo, kháng nghị Khởi kiện, kháng cáo, kháng nghị là tiền đề xuất hiện quan hệ giữa Tòa án với các đương sự Để bảo đảm quyền tự quyết, quyền tự bảo vệ của các đương sự tham gia trong vụ kiện nên Tòa án chỉ xem xét trong phạm vi mà các đương sự có yêu cầu

1.6 Sự tham gia của Viện kiểm sát tại Tòa án cấp phúc thẩm

Trang 29

Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Vai trò, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước

ta được quy định bởi các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Bộ máy Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Việc phân nhiệm rõ ràng, rành mạch giữa Quốc hội, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC là cơ sở

để các cơ quan thực hiện quyền năng cụ thể của mình Việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND, xét cho đến cùng là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước tối cao do Quốc hội giao [24, tr 412]

Trước đây theo Hiến pháp 1992 chưa được sửa đổi, bổ sung và theo

luật tổ chức VKSND 1992 thì "Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng

kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố theo quy định của Hiến pháp và pháp luật VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các

bộ, các cơ quan, ngang bộ, cơ quan khác thuộc chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất ’’ [11, tr 173] Như vậy trước đây thì VKS có

chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên phạm vi cả nước và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong lĩnh vực tư pháp, trong hoạt động xét

xử các vụ án dân sự, VKSND có quyền kiểm sát việc lập hồ sơ của TAND, yêu cầu TAND hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần phải làm sáng tỏ để bảo đảm giải quyết đúng đắn vụ án, khởi tố những vụ án dân sự theo quy định của pháp luật, tham gia phiên tòa xét xử những vụ án mà VKS

đã khởi tố hoặc khởi kiện Đối với những vụ án khác, VKS có quyền, có thể tham gia tố tụng vào bất cứ giai đoạn nào, nếu thấy cần thiết Ngày nay trong

Trang 30

tình hình mới, với xu hướng hội nhập quốc tế trong, điều kiện cải cách tư pháp theo nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị thì chức năng nhiệm vụ trọng tâm của VKS là làm chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp mà không còn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh

tế, văn hóa, xã hội

Việc VKS thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong đó

có kiểm sát hoạt động xét xử là cần thiết Sự tham gia của VKS trong hoạt động của Tòa án góp phần nâng cao chất lượng xét xử, bảo đảm việc giải quyết các vụ án theo đúng quy định của pháp luật Trong công tác kiểm sát xét xử, vấn đề quan trọng hàng đầu là kiểm sát tính hợp pháp và tính có căn

cứ của bản án hay quyết định của Tòa án nhân dân Khi phát hiện ra những sai lầm, thiếu sót trong bản án hoặc quyết định của Tòa án thì VKS có quyền kháng nghị theo các thủ tục, tùy thuộc vào từng giai đoạn như kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hay theo thủ tục tái thẩm

Về sự tham gia của VKS trong quá trình tố tụng của Tòa án có nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng theo quy định tại Điều 20 Luật

tổ chức VKSND 2002 thì "VKSND kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự,

hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, kịp thời" Tuy nhiên, việc kiểm sát của VKS có thể được thực hiện bằng

nhiều biện pháp khác nhau, chứ không bắt buộc phải tham gia tất cả các phiên tòa xét xử các vụ án Do đó không nên quy định VKSND khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự có trách nhiệm phải tham gia tất cả các phiên tòa [55, tr 32]

Có quan điểm khác lại cho rằng khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc

Trang 31

khác theo quy định của pháp luật, VKSND tham gia các phiên tòa và phát biểu quan điểm của VKSND về việc giải quyết vụ án, nhằm bảo đảm cho VKS thực hiện tốt hơn chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Bởi sự có mặt trực tiếp của VKS tại phiên tòa thì mới thấy rõ được cụ thể diễn biến của vụ

án, pháp luật tố tụng dân sự quy định mọi chứng cứ phải được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa thì sự có mặt và đưa ra quan điểm của VKS sau khi hỏi, tranh luận mới sát thực, có cơ sở

BLTTDS không quy định VKSND có quyền khởi tố các vụ án dân sự trong các trường hợp, như liên quan đến việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người chưa thành niên và một số trường hợp vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình như các pháp lệnh tố tụng dân sự trước đây Việc quy định

bỏ quyền khởi tố đối vụ án dân sự của VKS là để tránh các can thiệp không cần thiết vào quyền tự quyết của các chủ thể dân sự Bởi thực tế nếu VKS khởi tố vụ án thì KSV tham dự phiên tòa vừa có vai trò như đương sự, lại vừa

có chức năng kiểm sát xét xử, do đó khó phân định Kiểm sát viên là người tham gia tố tụng hay là người tiến hành tố tụng [55, tr 51] Việc bỏ thẩm quyền khởi tố của VKS như vậy là phù hợp

Còn việc kháng nghị của VKS đối với bản án, quyết định sơ thẩm Trong hoạt động kiểm sát công tác xét xử thì vấn đề quyền kháng nghị này

là hết sức quan trọng để đảm bảo cho việc tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, để bảo vệ tính pháp chế trong tố tụng dân sự Nhưng vấn đề thẩm quyền kháng nghị, nội dung các quan hệ pháp luật cần kháng nghị, hay nói cách khác là quyền kháng nghị của VKSND đến đâu thì đó là vấn

đề cần phải xem xét

Khi có kháng nghị của VKS đối với bản án, quyết định sơ thẩm thì việc phát sinh thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm là đương nhiên Khi VKS ra quyết định kháng nghị thì VKS phải gửi ngay kháng nghị cho

Trang 32

đương sự, người có liên quan đến kháng nghị Người được thông báo về kháng nghị có quyền gửi ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án Kháng nghị của VKS có thể là kháng nghị về mặt hình thức của bản án, quyết định của Toà án sơ thẩm cũng có thể là về nội dung của bản án, quyết định sơ thẩm hoặc cả về hình thức lẫn nội dung của bản án quyết định sơ thẩm

Kháng nghị về hình thức của bản án, quyết định sơ thẩm là việc VKS cùng cấp hoặc trên một cấp sau khi xem xét bản án, quyết định sơ thẩm phát hiện ra sự vi phạm của Tòa án đã ra bản án, quyết định so thẩm đã vi phạm về thủ tục tố tụng trong việc ra các bản án, quyết định đó như vi phạm về thủ tục

tố tụng trong việc ra các bản án, quyết định Chẳng hạn như việc tại phiên tòa

sơ thẩm các đương sự trong vụ án đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án về nội dung còn vấn đề án phí thì họ đề nghị Tòa xem xét cho phù hợp Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong đó quyết định luôn cả phần án phí mà các đương sự phải chịu trong cùng quyết định công nhận sự thỏa thuận này Như vậy là không đúng mà theo quy định tại khoản 2 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự

quy định : "Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các

đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn

bộ vụ án" Do đó trong trường hợp này lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm cần phải ra

bản án trong đó ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự đối phần các đương

sự đã thỏa thuận trong bản án và quyết địnhvề phần án phí mà các đương sự không thống nhất được ; Hoặc vi phạm về thời hạn ra quyết định sự công

nhận sự thoả thuận của các đương sự như: "Hết thời hạn 7 ngày, kể từ ngày

lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự’’ (Khoản 1 Điều 178 BLTTDS)

Kháng nghị về nội dung bản án, quyết định sơ thẩm là việc sau khi xem

Trang 33

cấp phát hiện ra việc áp dụng pháp luật về nội dung giải quyết của Tòa án cấp

sơ thẩm không đúng với các quy định của pháp luật Để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các đương sự, bảo vệ trật tự chung của xã hội nếu Viện kiểm sát ra kháng nghị và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, xét xử lại về phần nội dung có vi phạm này Vấn đề kháng nghị của VKS về phần nội dung của bản án, quyết định sơ thẩm cũng có các ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng : Vì sự công bằng xã hội, đảm bảo tính pháp chế trong TTDS và tránh sự

vi phạm đến quyền, lợi ích chính đáng cho các đương sự có thể và lý do nào

đó như việc đương sự không hiểu biết pháp luật nên không kháng cáo, do đó PLTT quy định thẩm quyền kháng nghị đối VKS là cần thiết Có ý kiến khác lại cho rằng : Trong quan hệ dân sự quyền tự định đoạt của đương sự cần được tôn trọng tối cao Khi đương sự thấy rõ phán quyết liên quan đến quyền, lợi ích, của mình qua phiên tòa xét xử của Toà án cấp sơ thẩm và đã không có

ý kiến gì thể hiện sự bất đồng đối với phán quyết đó, do vậy họ đã đồng ý với quyết định của Toà án sơ thẩm nên không kháng cáo Do đó việc Viện kiểm sát kháng nghị đối với phần nội dung đối với họ là không cần thiết, cần tôn trọng ý kiến của đương sự

Sự tham gia của Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm với tư cách là người tiến hành tố tụng đó là trong trường hợp, trong quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm có sự khiếu nại của đương sự về việc thu nhập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc trong tất cả các yêu cầu về dân sự (việc dân sự) Hay các vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị thì vai trò Kiểm sát viên tại phiên tòa là người tham gia xét hỏi cùng hội đồng xét xử, đưa ra những ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án, thực hiện quyền kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa theo quy định của pháp luật Đối với những vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị thì Viện kiểm sát có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp Theo quy định của khoản 2 Điều 21 BLTTDS và hướng dẫn tại thông tư liên tịch số 03

Trang 34

/2005/TTLT- VKSNDTC - TANDTC ngày 01.9 2005 thì VKSND tham gia phiên tòa đối với tất cả các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

án, và trong giai đoạn phúc thẩm trong các trường hợp: "Khi Viện kiểm sát

cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm đã tham gia phiên tòa sơ thẩm; Khi Viện kiểm sát cùng cấp với Toà án sơ thẩm không tham gia phiên tòa sơ thẩm sơ thẩm nhưng có kháng nghị hoặc Vịên kiểm sát cấp trên trực tiếp có kháng nghị bản án sơ thẩm, trong trường hợp đương sự có khiếu nại về việc thu thập

chứng cứ của Tòa án cấp phúc thẩm ’’ Và đối với các trường hợp này thì

Viện kiểm sát phải tham gia đầy đủ các phiên tòa của Tòa án cấp phúc thẩm

1.7 Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm

Thẩm quyền xét xử của Tòa án là tất cả các quy định của pháp luật tố tụng về quyền hạn trách nhiệm của Tòa án khi xem xét giải quyết vụ án

Thẩm quyền xét xử phúc thẩm dân sự của Tòa án phúc thẩm chính là những cơ sở, những căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm

Thẩm quyền của Tòa án phúc thẩm bao gồm thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt Thẩm quyền chung là thẩm quyền xem xét lại bản án quyết định sơ thẩm Thẩm quyền xét xử cũng giống như việc xét xử tại Tòa

án cấp sơ thẩm nhưng thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét bản

án quyết định sơ thẩm trong phạm vi có kháng cáo, kháng nghị hoặc phần liên quan đến kháng cáo, kháng nghị Xét xử vụ án là thẩm quyền riêng biệt của Tòa án và chỉ có Tòa án mới có chức năng xét xử

Việc xét xử của Tòa án được phân thành hai cấp đó là: Xét xử sơ thẩm

và xét xử phúc thẩm Xét xử sơ thẩm trên cơ sở khởi kiện của người có quyền khởi kiện, còn xét xử phúc thẩm trên cơ sở có kháng cáo, kháng nghị của người có quyền kháng cáo, kháng nghị Khác với xét xử ở giai đoạn sơ thẩm

Trang 35

hoặc thủ tục xét xử ở giai đoạn xem xét lại bản án quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật (xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm) Xét xử ở cấp phúc thẩm có các thẩm quyền riêng biệt xuất phát từ tính chất của xét xử phúc thẩm

đó là: Quyền giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm ; Quyền sửa bản án, quyết định sơ thẩm; Quyền hủy bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ

vụ án cho tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án và quyền hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 275 BLTTDS)

1.7.1 Giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm

Giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm thừa nhận tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm Giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm thấy việc kháng cáo của đương sự, việc kháng nghị của viện kiểm sát đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án sơ thẩm là không có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị, thừa nhận tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm

Việc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị có thể là không chấp nhận về mặt hình thức hoặc không chấp nhận về mặt nội dung

Về mặt hình thức : Đó là việc người có quyền kháng cáo hoặc có

quyền kháng nghị đã không thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục, về thời hạn kháng cáo Chẳng hạn như việc kháng cáo của người không có quyền kháng cáo, đó là việc người có đơn kháng cáo không phải là đương sự, người đại diện của đương sự có liên quan đến quyền, nghĩa

vụ dân sự trong vụ kiện Hay là kháng nghị của người không có thẩm quyền kháng nghị hoặc việc ủy quyền kháng nghị không hợp pháp thì mặc dù có kháng cáo, kháng nghị của những người đó thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng không thể chấp nhận việc kháng cáo, hay kháng nghị này Hoặc trường hợp vi phạm về thời gian kháng cáo, kháng nghị Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Trang 36

chỉ cho phép người kháng cáo, kháng nghị được thực hiện quyền này trong một thời hạn nhất định ngoài thời hạn này thì các kháng cáo, kháng nghị đều không được chấp nhận Trừ những trường hợp có lý do chính đáng mà vì những lý do này, các đương sự không thể thực hiện việc kháng cáo đúng thời hạn do luật định Nhưng họ phải đưa ra các căn cứ để chứng minh sự bất khả kháng của họ và họ phải làm đơn, tường trình rõ lý do của việc kháng cáo quá hạn đó Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét lý do kháng cáo quá hạn bằng một hội đồng gồm ba thẩm phán Nếu xét thấy lý do đó là chính đáng như do họ bị

ốm đau, bị rơi vào các tình trạng bất khả kháng thì sẽ được hội đồng xét kháng cáo quá hạn chấp nhận Nếu không thì việc kháng cáo quá hạn đó đương nhiên không bao giờ được xem xét và tất nhiên thủ tục xét xử phúc thẩm sẽ không phát sinh, bản án, quyết định sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Pháp luật TTDS Việt Nam không quy định kháng nghị quá hạn do đó vì bất cứ lý do gì việc kháng nghị quá hạn của VKS cũng không được chấp nhận

Về mặt nội dung : Đó là việc Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng cấp

sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền về việc giải quyết vụ án, xác định đúng quan hệ pháp luật cần giải quyết, việc điều tra, thu thập chứng cứ, chứng minh đã đầy đủ; xác định đúng tư cách đương sự và đã áp dụng đúng các quy định của pháp luật về nội dung để giải quyết vụ kiện, không vi phạm về thời hạn, về thành phần người tiến hành tố tụng Thì cấp phúc thẩm sẽ ra quyết định không chấp nhận việc kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên toàn bộ quyết định của bán án, quyết định sơ thẩm

1.7.2 Sửa bản án sơ thẩm

Đó là việc Tòa án cấp phúc thẩm sau khi xem xét làm rõ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện, qua thẩm vấn tranh luận tại phiên tòa thì thấy cần phải ra quyết định khác với quyết định của Tòa án sơ thẩm đã giải

Trang 37

quyết Quan điểm về sửa bản án, quyết định sơ thẩm rất phong phú Có quan điểm cho rằng chỉ nên hiểu việc sửa bản án, quyết định sơ thẩm khi nó có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của các bên đương sự hoặc quyền, lợi ích của Nhà nước hay của người thứ ba Còn nếu nó không liên quan đến ai thì không nên coi là sửa bản án, quyết định sơ thẩm Chẳng hạn như việc Tòa án cấp

phúc thẩm thấy rằng Tòa án sơ thẩm xem xét giải quyết vụ kiện về "Tranh

chấp quyền sử dụng đất" giữa ông A và ông B Tòa án nhân dân huyện T

tuyên buộc B phải trả A quyền sử dụng mảnh đất 100m2 có trị giá là: 500.000.000đ là đúng nhưng cấp phúc thẩm thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất mà không áp dụng

các quy định của Bộ luật dân sự, phần quy định về "chuyển nhượng quyền sử

dụng đất" hoặc "Luật đất đai" để giải quyết vụ kiện là thiếu sót nên cấp phúc

thẩm cần phải áp dụng thêm các quy định của pháp luật về vấn đề này thì mới đúng, mới có cơ sở Như vậy là Tòa án cấp phúc thẩm vẫn cải, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc áp dụng pháp luật Do đó bản

án này vẫn bị coi là có bị cải sửa

Quyền sửa bản án quyết định sơ thẩm là quyền riêng biệt chỉ có ở Tòa

án cấp phúc thẩm Quyền này xuất phát từ tính chất của việc xét xử phúc thẩm

là xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Điều này khác hẳn với thẩm quyền của thủ tục xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tại thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét

xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm chỉ có quyền bác kháng nghị giữ nguyên bản

án, quyết định sơ thẩm hoặc chấp nhận kháng nghị hủy bản án quyết định sơ thẩm Việc huỷ bản án, quyết định sơ thẩm, có thể để yêu cầu Tòa án cấp có thẩm quyền giải quyết lại vụ kiện theo thủ tục chung hoặc có thể hủy bản án quyết định sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án, khi có các điều kiện về đình chỉ vụ án xảy ra

1.7.3 Hủy bản án bản án, quyết định sơ thẩm

Trang 38

Hủy bản án quyết định sơ thẩm là việc Tòa án cấp trên không thừa nhận tính hợp pháp, tính có căn cứ và sự tồn tại của bản án, quyết định sơ thẩm Vì bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đã có những vi phạm về thủ tục tố tụng hoặc vi phạm về vấn đề áp dụng các quy định của pháp luật về nội dung khi giải quyết vụ án

Việc quyết định thẩm quyền hủy bản án của Tòa án cấp trên đối Tòa án cấp dưới xét về trật tự tố tụng cũng như thực tế áp dụng, để tìm ra chân lý khách quan, chứng minh sự thật của các quan hệ pháp luật có tranh chấp, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho các đương sự khi mà cấp sơ thẩm không tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng về việc tiến hành tố tụng hoặc vi phạm các quy định về việc điều tra, thu thập chứng cứ thì vấn đề không thừa nhận

sự tồn tại của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm sẽ được đặt ra

Các trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm bao gồm:

+ Trường hợp khi việc chứng minh và thu thập chứng cứ không đúng theo quy định của pháp luật tố tụng: Pháp luật tố tụng dân sự quy định

về việc chứng minh và thu thập chứng cứ là rất chặt chẽ, bảo đảm tính sự thực, tính khách quan của chứng cứ, chứng minh Cơ quan đi thu thập chứng

cứ, chứng minh; Người đi thu thập chứng cứ hay người giao nộp chứng cứ, hoặc người cung cấp chứng cứ cũng đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật TTDS Chỉ những gì có thật được đương sự, cá nhân, cơ quan tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục

do pháp luật TTDS quy định mới được coi là chứng cứ hợp pháp và để làm căn cứ giải quyết vụ án (Điều 81 BLTTDS)

Việc thu thập chứng cứ phải do các nguồn, đó là: Do đương sự cung cấp hoặc do Tòa án thu thập Khi chứng cứ nào đó có trong hồ sơ vụ kiện, có thể làm căn cứ để giải quyết vụ án thì chứng cứ đó phải biết rõ nguồn gốc,

Trang 39

hợp đương sự không thể thu thập được chứng cứ và có yêu cầu Tòa án hoặc trường hợp xét thấy cần thiết để có cơ sở giải quyết khách quan vụ án thì Tòa

án sẽ tiến hành thu thập chứng cứ

Pháp luật TTDS Việt nam quy định rất cụ thể các trường hợp Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ; Các biện pháp để Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ đó là: Bằng lời khai của đương sự, của người làm chứng, qua trưng cầu giám định, quyết định định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ, ủy thác thu nhập chứng cứ, yêu cầu cá nhân, cơ quan tổ chức cung cấp tài liệu, chứng

cứ (Điều 85 BLTTDS) Và cấp phúc thẩm chỉ coi việc thu thập chứng cứ là hợp pháp khi cấp sơ thẩm tiến hành theo đúng các quy định như việc lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng khi phần tự khai của họ chưa đầy đủ hoặc khi họ có yêu cầu lấy lời khai của họ Việc lấy lời khai phải được thực hiện tại trụ sở của Tòa án còn nếu ở ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của UBND, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan,

tổ chức nơi lập biên bản Việc định giá tài sản của Tòa án phải được thành lập bằng một hội đồng định giá, thành phần hội đồng định giá phải đầy đủ các cơ quan chuyên môn Việc giám định tài liệu, chữ ký, chữ viết, giám định đồ vật phải được thực hiện tại cơ quan chức năng có đủ trình độ, năng lực thực hiện Nếu việc thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm thực hiện không đúng các quy định này thì đều có thể được coi là việc thu thập chứng cứ không đúng và

là các căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm

+ Trường hợp thứ hai mà Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét để hủy bản án, quyết định sơ thẩm đó là: Việc Tòa án sơ thẩm thu thập chứng

cứ chưa đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được Đó là việc Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét thu thập chứng cứ đủ cho việc giải quyết vụ án, bỏ lọt các tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc quyết định nội dung, quan hệ có tranh chấp Như bỏ lọt tài sản có tranh chấp, không điều tra, xác minh đầy đủ về người tham gia tố tụng, xác định sai hoặc bỏ lọt người

Trang 40

tham gia tố tụng Thông thường những trường hợp này, để đảm bảo quyền kháng cáo của các đương sự, bảo đảm tính khách quan của việc giải quyết vụ

án Tòa án cấp phúc thẩm sẽ hủy bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm

+ Trường hợp thứ ba đó là: Thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm

không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng là căn cứ để Tòa án cấp phúc thảm hủy bản án

sơ thẩm thì thấy: Vấn đề thành phần hội đồng xét xử là thể hiện sự uy quyền, tính khách quan của việc xét xử Hội đồng xét xử là người thay mặt Nhà nước trong quá trình xét xử tại phiên tòa; có quyền nhân danh Nhà nước ra các bản

án, quyết định liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của các đương sự do đó đòi hỏi hội đồng xét xử phải thực sự vô tư, công tâm, khách quan Luật Tố tụng dân sự quy định các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố

tụng Đó là các trường hợp “Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người

thân thích của đương sự, họ đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự người làm chứng người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án đó, hoặc có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ” (Điều 46 BLTTDS) ngoài ra đối với

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân còn có các điều kiện khác đó là: “Họ cùng

trong một hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau; họ đã tham gia xét

xử sơ thẩm, phúc thẩm , giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, ủy ban thẩm phán Tòa án nhân cấp Tỉnh thì vẫn được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm tái thẩm; họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là kiểm sát viên, thư ký Tòa án” (Điều 47

BLTTDS) Do tính chất quan trọng của các quyết định của hội đồng xét xử, bảo đảm tính tôn nghiêm của hoạt động xét xử của Tòa án thì bất kỳ sự vi phạm nào đối với thành phần hội đồng xét xử cũng đều là những căn cứ để

Ngày đăng: 17/03/2021, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w