1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong tố tụng dân sự việt nam

105 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Thứ nhất, tạm đình chỉ giải quyết VADS là hành vi tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết VADS, dưới góc độ là một Quyết định bằ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS PHAN QUỐC NGUYÊN

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy

và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này, đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Văn Huy

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 8

1.1 Khái niệm tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 8

1.2 Đặc điểm của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 11

1.3 Ý nghĩa của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 12

1.4 Cơ sở khoa học của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 12

1.5 Phân loại căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 15

1.6 Lược sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 17

1.6.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1959 18

1.6.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến 1989 19

1.6.3 Giai đoạn từ năm 1990 đến 2004 19

1.6.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến 2015 21

1.6.5 Giai đoạn từ năm 2016 đến nay 22

Kết luận chương 1 23

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 25

2.1 Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 25

2.1.1 Trường hợp đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể 26

2.1.2 Trường hợp đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật 31

Trang 5

2.1.3 Trường hợp chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có

người thay thế 34

2.1.4 Trường hợp cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác hoặc sự việc được pháp luật quy định 36

2.1.5 Trường hợp cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ 38

2.1.6 Trường hợp cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án 42

2.1.7 Trường hợp theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản 43

2.1.8 Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật 44

2.2 Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 46

2.3 Thời điểm ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 48

2.3.1 Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án 49

2.3.2 Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án 49

2.3.3 Sau khi tạm ngừng phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án 50

2.4 Thẩm quyền ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 52

2.4.1 Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án 52

2.4.2 Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án 52

2.4.3 Sau khi tạm ngừng phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án 52

2.5 Quy trình tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 53

2.5.1 Xác định căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 53

2.5.2 Soạn thảo Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 53

2.5.3 Ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 54

2.6 Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 55

2.7 Hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 56

2.8 Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự 58

2.9 Kiểm sát Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 61

Kết luận chương 2 65

Trang 6

Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ KIẾN

NGHỊ VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 66

3.1 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 66

3.2 Nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 71

3.2.1 Nguyên nhân khách quan 71

3.2.2 Nguyên nhân chủ quan 73

3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 75

3.3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 75

3.3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 86

Kết luận Chương 3 89

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự

BLTTDS 2004 : Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004

BLDS 2015 : Bộ luật dân sự năm 2015

BLTTDS 2015 : Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

HĐTP – TANDTC : Hội đồng Thẩm phán – Tòa án nhân dân tối cao

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc Tòa án giải quyết các VADS là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ

án, có thể xuất hiện những sự kiện pháp lý nhất định làm cho Tòa án không thể tiếp tục tiến hành tố tụng, nếu Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành có thể sẽ không bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án và kết quả giải quyết của vụ án Khi đó, Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết VADS

Tạm đình chỉ giải quyết VADS là một chế định quan trọng được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng Chủ nghĩa xã hội và pháp điển hóa ở nước ta, các quy định về tạm đình chỉ giải quyết VADS đã được mở rộng và ngày càng hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn hơn; điển hình phải kể đến các quy định về chế định này trong BLTTDS 2015 Bộ luật này đã kế thừa và phát triển những quy định phù hợp với thực tiễn của các BLTTDS trước đây, hướng tới sự hoàn thiện của các quy định về tạm đình chỉ giải quyết VADS trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam; nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và bảo đảm tính chính xác, đúng đắn trong việc giải quyết vụ án

Tuy nhiên, bên cạnh nhiều quy định mới về tạm đình chỉ giải quyết VADS thể hiện những điểm tích cực lớn thì BLTTDS 2015 cũng đã cho thấy một số bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật như: Một số quy định còn chưa rõ ràng dẫn đến những cách hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất; tình trạng các VADS bị tạm đình chỉ còn chiếm một số lượng lớn trong số các vụ án dân sự được Tòa án thụ lý, một số nơi số lượng VADS bị tạm đình chỉ có xu hướng tăng và có nhiều Quyết định tạm đình chỉ không đúng quy định của pháp luật Do đó, dẫn đến nhiều vụ án bị kéo dài thời gian giải quyết một cách không cần thiết, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án [16]

Trang 9

Vậy, vấn đề đặt ra là: Chế định này cần được hiểu, áp dụng như thế nào

cho chính xác và thống nhất? Nó phát sinh những vướng mắc, bất cập gì? Nguyên nhân do đâu? Giải pháp nào để giải quyết những vướng mắc, bất cập?

Thiết nghĩ, để trả lời vấn đề đặt ra nêu trên, việc nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện các vấn đề pháp lý về tạm đình chỉ giải quyết VADS trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật; chỉ ra những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập; từ đó, đưa ra giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn là rất cần thiết

Cho đến nay, có rất ít công trình, đề tài nghiên cứu về tạm đình chỉ giải quyết VADS Một số công trình, đề tài nghiên cứu đã công bố còn chưa nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện các vấn đề pháp lý

về tạm đình chỉ giải quyết VADS Đặc biệt, kể từ khi BLTTDS 2015 ra đời, chưa có công trình, đề tài nào đã công bố nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống trên cơ sở các quy định của Bộ luật này; Bộ luật này có nhiều điểm mới tích cực nhưng cũng không ít những hạn chế về đề tạm đình chỉ giải quyết VADS

Vì vậy, với mong muốn góp phần trong việc giải quyết các vấn đề đặt ra đối với chế định tạm đình chỉ giải quyết VADS trong pháp luật tố tụng dân sự

Việt Nam nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân

sự trong tố tụng dân sự Việt Nam” làm Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Như đã nêu, hiện nay có rất ít công trình, đề tài nghiên cứu về tạm đình chỉ giải quyết VADS Đặc biệt là các công trình, đề tài nghiên cứu trên cơ sở các quy định của BLTTDS 2015; chủ yếu là một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử về chế định tạm đình chỉ giải quyết VADS như:

- Bài viết “Quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong Bộ

luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần được hướng dẫn cụ thể hơn” của TS Bùi Thị

Huyền - Trường Đại học Luật Hà Nội đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật;

Trang 10

- Bài viết “Quy định về "Đình chỉ" trong bộ luật tố tụng dân sự” của

Thạc sĩ Tống Công Cường – Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh

đăng trên Tạp chí khoa học pháp lý số 4 (41) năm 2007;

- Bài viết “Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát

quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự” của tác giả Lê Thị Hồng

Hạnh – VKSND thành phố Hà Nội, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 09/2018;

- Bài viết “Vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện một vài quy định

của Bộ luật Tố tụng Dân sự” của Thạc sĩ Thái Chí Bình - TAND thành phố

Châu Đốc, tỉnh An Giang đăng trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp;

- Bài viết “Tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định Bộ luật tố tụng

Dân sự năm 2015” của tác giả Nguyễn Thị Liên – VKSND huyện Cát Hải

đăng trên trang thông tin điện tử của VKSND thành phố Hải Phòng;

- Bài viết “Về thời điểm ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết

vụ án dân sự” và “Hội đồng xét xử ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân

sự như thế nào?” của tác giả Ngọc Trâm đăng trên Tạp chí Tòa án;

- Bài viết “Bất cập trong tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” đăng

trên Tạp chí Kiemsat online;… Và một số bài viết liên quan khác trên internet

Ngoài một số bài viết nêu trên, phải kể đến là đề tài Luận văn Thạc sĩ

Luật học: “Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của

Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004” của tác giả Phạm Hải Tâm Tại đề tài này,

tác giả đã nghiên cứu về một số vấn đề lý luận cơ bản của tạm đình chỉ giải quyết VADS; nghiên cứu về các quy định của BLTTDS 2004 và thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật này; từ đó, tác giả đã chỉ ra được một số hạn chế của pháp luật và đưa ra được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết VADS

Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài trên rất rộng, bao gồm cả về tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết cả VADS và việc dân sự Do đó, đề tài này mới chỉ nghiên cứu một cách cơ bản về một số vấn đề lý luận của tạm đình

Trang 11

chỉ giải quyết VADS và thực trạng quy định của pháp luật trên cơ sở các quy định của BLTTDS 2004; chưa tập trung nghiên cứu một cách chuyên sâu, có

hệ thống và toàn diện các vấn đề về tạm đình chỉ giải quyết VADS Hơn nữa, đối tượng nghiên cứu của đề tài trên là các quy định của BLTTDS 2004 Do vậy, đến nay một số kết quả nghiên cứu của đề tài trên đã không còn phù hợp, bởi BLTTDS Việt Nam hiện hành là BLTTDS 2015 và Bộ luật này đã có nhiều điểm mới so với BLTTDS 2004

Tóm lại, một số bài viết và đề tài nêu trên có các góc độ tiếp cận, nghiên cứu khác nhau về những khía cạnh nhất định của tạm đình chỉ giải quyết VADS Cho đến nay, chưa có một công trình, đề tài nghiên cứu nào đã nghiên cứu một các chuyên sâu, có thệ thống và toàn diện các vấn đề pháp lý về tạm đình chỉ giải quyết VADS trên cơ sở các quy định của BLTTDS 2015

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu có mục đích xây dựng cơ sở lý luận về tạm đình chỉ giải quyết VADS trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Tiếp đến, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực trạng quy định của BLTTDS 2015 về tạm đình chỉ giải quyết VADS và thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS 2015 trong công tác giải quyết các VADS của Tòa án, tác giả chỉ ra các vướng mắc, bất cập của vấn đề này và những nguyên nhân của vướng mắc, bất cập đó

Từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập của tạm đình chỉ giải quyết VADS; hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết VADS trong công tác giải quyết các VADS của Tòa án

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích trên, Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phân tích và làm sáng tỏ một cách có hệ thống cơ sở kiến thức pháp

lý về tạm đình chỉ giải quyết VADS;

Trang 12

- Đưa ra, làm rõ các khái niệm liên quan tạm đình chỉ giải quyết VADS;

- Chỉ ra cơ sở khoa học và ý nghĩa của tạm đình chỉ giải quyết VADS;

- Chỉ ra những đặc điểm cơ bản của tạm đình chỉ giải quyết VADS;

- Phân loại căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VADS;

- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá các quy định của BLTTDS 2015

về tạm đình chỉ giải quyết VADS; việc kiểm sát Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS;

- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS 2015 về tạm đình chỉ giải quyết VADS trong công tác giải quyết các VADS của Tòa án;

- Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá về lý luận và thực tiễn, tác giả chỉ ra các vướng mắc, bất cập của vấn đề và nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập đó;

- Cuối cùng, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết VADS và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết VADS trong công tác giải quyết các VADS của Tòa án

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận cơ bản về tạm đình chỉ giải quyết VADS; các quy định của BLTTDS 2015 về tạm đình chỉ giải quyết VADS và thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS 2015 về tạm đình chỉ giải quyết VADS trong việc giải quyết các VADS của Tòa án

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của một đề tài Luận văn Thạc sĩ, tác giả xác định phạm vi nghiên cứu là tập trung chủ yếu vào những vấn đề lý luận cơ bản và các quy định của BLTTDS 2015 về tạm đình chỉ giải quyết VADS;

Trên cơ sở đó, Luận văn tập trung vào việc phân tích, đánh giá các quy

Trang 13

định của BLTTDS 2015 về tạm đình chỉ giải quyết VADS và thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật này về tạm đình chỉ giải quyết VADS trong công tác giải quyết các VADS; chỉ ra các vướng mắc, bất cập và nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập đó

Cuối cùng, Luận văn đưa ra các quan điểm và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tạm đình chỉ giải quyết VADS và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong công tác giải quyết các VADS của Tòa án

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; phương pháp luận nghiên cứu khoa học của khoa học pháp lý để tiếp cận đối tượng nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu thực hiện Luận văn, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, nghiên cứu so sánh, phản biện, thống kê xã hội học, phương pháp quy nạp, diễn dịch, :

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để giải quyết các vấn

đề về cơ sở lý luận của tạm đình chỉ giải quyết VADS, như: Bản chất, đặc điểm, cơ sở khoa học của tạm đình chỉ giải quyết VADS; phân tích nội dung các quy định của BLTTDS 2015 và thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật này về tạm đình chỉ giải quyết VADS ở Việt Nam;…

- Các phương pháp khác như so sánh, đánh giá, phản biện, thống kê xã hội học được sử dụng để so sánh, đánh giá giữa các các quy định của pháp luật có liên quan với tạm đình chỉ giải quyết VADS theo quy định của BLTTDS hiện hành; vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét về các quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay không, chỉ ra các vướng mắc, bất cập của vấn đề này;…

Trang 14

- Phương pháp quy nạp, diễn dịch được vận dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến tạm đình chỉ giải quyết VADS, đặc biệt là các kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết VADS trong thực tiễn Cụ thể, như trên

cơ sở đưa ra những kiến nghị mang tính khái quát, tác giả dùng phương pháp

diễn dịch để làm rõ nội dung của kiến nghị đó…

6 Ý nghĩa của Luận văn

Luận văn mang ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện các vấn đề pháp lý cơ bản về tạm đình chỉ giải quyết VADS trên cơ sở các quy định của BLTTDS 2015; đưa ra được một số kiến nghị mới so với các công trình, đề tài khác đã công

bố trước đây nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật;

Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

Kết quả nghiên cứu của Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập các môn học pháp luật;

Ngoài ra, những kiến nghị hoàn thiện pháp luật là cơ sở để các nhà lập pháp tham khảo, vận dụng cho quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực tương ứng

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận văn gồm có 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số kiến nghị về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Trang 15

Theo Từ điển tiếng Việt: “Tạm đình chỉ” có nghĩa là tạm ngừng hoặc

làm cho phải tạm ngừng, không thực hiện một hoạt động nào đó trong một khoảng thời gian nhất định và chuyển sang thực hiện tiếp hoạt động đó vào một thời điểm khác muộn hơn khi có điều kiện [41, tr 324-887]

Trước khi BLTTDS 2004 ra đời, thuật ngữ “vụ án dân sự” đã được đề

cập trong các Pháp lệnh quy định về thủ tục tố tụng, gồm: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS năm 1989 Theo đó, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 chỉ đề cập đến thuật ngữ “vụ án dân sự”, còn Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các VADS năm 1989 quy định chi tiết về thủ tục giải quyết các VADS và VADS được hiểu là bao gồm cả những việc có tranh chấp và việc không có tranh chấp [12, 39, 40]

Đến khi BLTTDS 2004 ra đời, Bộ luật này đã phân loại rõ trong thủ tục

tố tụng gồm có hai loại riêng biệt là VADS và việc dân sự Cụ thể, VADS bao gồm các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động; việc dân sự bao gồm các việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động không có tranh chấp [17] BLTTDS 2015 – BLTTDS hiện hành cũng phân loại như BLTTDS 2004 [18]

Trên cơ sở đó, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm về VADS

và việc dân sự như sau:

Theo Tiến sĩ Hoàng Ngọc Thỉnh: “Trong hầu hết các vụ án dân sự đều

có các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên đương sự mà họ không

Trang 16

thể thương lượng tự giải quyết được, do đó họ phải yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết Ngoài những vụ án nói trên, cũng còn một số vụ án mà giữa các bên đương sự không có sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ” [5, tr 7-8]

Tiến sĩ Nguyễn Công Bình cho rằng: “Các vụ việc phát sinh từ quan hệ

pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động

do Tòa án giải quyết được gọi là vụ việc dân sự Trong đó, đối với những việc

có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là vụ án dân sự, đối với những việc không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là việc dân sự” [4, tr.9]

Như vậy, trước đây, VADS bao gồm cả tranh chấp dân sự và việc dân sự;

kể từ khi BLTTDS 2004 ra đời cho đến nay, VADS bao gồm các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động

và kinh doanh, thương mại [25, tr 8]

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm VADS như sau:

“Vụ án dân sự là các tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động và kinh doanh, thương mại giữa các chủ thể mà họ không thể tự giải quyết được, dẫn đến hành vi khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết và được Tòa án thụ lý”

Theo đó, VADS là các tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các

quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động và kinh doanh, thương mại Các tranh chấp này được coi là VADS khi được chủ thể trong các quan hệ tranh chấp đưa ra trước Tòa án để yêu cầu giải quyết và được Tòa án thụ lý giải quyết; việc đưa các tranh chấp đó ra trước Tòa án được gọi là khởi kiện

vụ án; chủ thể trong VADS được gọi là đương sự (gồm: cá nhân, cơ quan, tổ chức - nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) Chủ thể của các tranh chấp có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền, yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình

Vậy, “Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” là gì?

Trang 17

Theo PGS.TS Trần Anh Tuấn thì: “Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân

sự là việc Tòa án quyết định tạm ngừng việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý trong một thời hạn nhất định khi có căn cứ theo pháp luật quy định và khi lý

do của việc tạm đình chỉ không còn thì Tòa án lại tiếp tục giải quyết vụ án dân sự đó” [37, tr 509]

Khoản 3 Điều 203 BLTTDS 2015 quy định: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán

ra một trong các Quyết định…; trong đó có Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS Tuy nhiên, không phải mọi VADS, Tòa án đều có thể ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS; cũng không phải Thẩm phán ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS theo ý chí chủ quan của mình Việc Tòa

án ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS phải dựa trên cơ sở quy định của pháp luật và chỉ khi pháp luật có quy định thì Tòa án mới ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS [38, tr 92-93]

Quy định trên xuất phát từ thực tế, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và bảo đảm tính chính xác, đúng đắn của việc giải quyết

vụ án Bởi lẽ, trong quá trình giải quyết VADS có thể xuất hiện những sự kiện nhất định khiến cho việc giải quyết vụ án cần hoặc phải tạm ngừng, nếu Tòa

án vẫn tiến hành giải quyết vụ án trong những trường hợp này thì có thể dẫn đến việc giải quyết vụ án phiến diện, thiếu chính xác và không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án; mặt khác, nếu Tòa án

ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án thiếu cơ sở sẽ làm cho vụ án bị kéo dài, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án

Như vậy, từ những phân tích trên, kế thừa quan điểm của các nhà nghiên cứu, tác giả đưa ra khái niệm tạm đình chỉ giải quyết VADS như sau:

“Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án tạm ngừng giải quyết vụ án dân sự khi có căn cứ do pháp luật quy định, khi lý do tạm đình chỉ không còn thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự đó”

Trang 18

Theo đó, bản chất pháp lý của tạm đình chỉ giải quyết VADS là hành vi

tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết VADS, dưới góc độ là một Quyết định bằng văn bản của Tòa án; là việc Tòa án quyết định tạm ngừng giải quyết VADS đã thụ lý trong một thời hạn nhất định khi có căn cứ theo quy định của pháp luật, khi lý do tạm đình chỉ không còn thì Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án đó; tạm đình chỉ giải quyết VADS không làm chấm dứt việc giải quyết vụ án mà chỉ làm gián đoạn tạm thời tiến trình tố tụng đang được tiến hành do xuất hiện những tình tiết, sự kiện nhất định [37, tr 509]

1.2 Đặc điểm của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Thứ nhất, tạm đình chỉ giải quyết VADS là hành vi tố tụng của Tòa án

trong quá trình giải quyết VADS, dưới góc độ là một Quyết định bằng văn bản mang tính tạm thời;

Thứ hai, tạm đình chỉ giải quyết VADS phải dựa trên căn cứ do pháp

luật quy định, trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của đương sự, tính chính xác và đúng đắn trong việc giải quyết VADS và việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết VADS;

Thứ ba, tạm đình chỉ giải quyết VADS chỉ làm tạm ngừng giải quyết vụ

án trong một thời hạn nhất định, không làm chấm dứt việc giải quyết vụ án và chỉ làm gián đoạn tạm thời tiến trình tố tụng đang được tiến hành do xuất hiện những tình tiết, sự kiện pháp lý nhất định;

Thứ tư, tính chất gián đoạn, tạm thời do tạm đình chỉ giải quyết VADS

mang lại sẽ được khắc phục, mọi hoạt động tố tụng sẽ được khôi phục khi căn

cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn và Tòa án phải ra Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án trong thời hạn pháp luật quy định;

Thứ năm, trong quá trình giải quyết VADS, tạm đình chỉ giải quyết

VADS được áp dụng ở Tòa án cấp sơ thẩm;

Thứ sáu, Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS có thể bị kháng

cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Trang 19

1.3 Ý nghĩa của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Việc Tòa án ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Khi xuất hiện những tình tiết, sự kiện làm cho việc giải quyết vụ án không thể tiếp tục được, nếu Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự Đồng thời, kết quả giải quyết vụ án có thể sẽ không chính xác, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có thể không được bảo đảm

Do vậy, việc Tòa án ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS là cần thiết, tránh gây thiệt hại cho quyền lợi chính đáng của đương sự Đồng thời, việc Tòa án ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tránh các sai phạm có thể xảy ra trong quá trình giải quyết

vụ án, bảo đảm vụ án đó được xem xét, giải quyết khách quan và chính xác

1.4 Cơ sở khoa học của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trong vấn đề giải quyết VADS; có thể thấy, việc quy định về tạm đình chỉ giải quyết VADS dựa trên các cơ sở khoa học sau:

Thứ nhất, nhằm bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự và người đại diện hợp pháp của đương sự

Trong việc giải quyết VADS, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm việc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, chính xác và đúng với quy định của pháp luật nhằm bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của của đương sự Với các quyền năng được pháp luật trao, trong quá trình giải quyết VADS, đương sự

và người đại diện của họ thực hiện các quyền tố tụng dân sự được pháp luật quy định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước các hành vi xâm phạm của chủ thể khác bằng việc tham gia tố tụng tại Tòa án như: Quyền khởi kiện; quyền tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyền tham gia phiên xét xử và tranh tụng tại Tòa án;

Trang 20

quyền kháng cáo, khiếu nại, kiến nghị… Các chủ thể có thể sử dụng quyền năng đó như một công cụ hữu hiệu để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình, chống lại các hành vi xâm phạm của chủ thể khác, đặc biệt trong trường hợp đương sự là người yếu thế như trẻ em, phụ nữ và người mất, hạn chế năng lực, hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Trong thực tiễn giải quyết các VADS, có thể xuất hiện các sự kiện làm cho việc giải quyết vụ án không bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương

sự và người đại diện của họ như: Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức,

cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó; đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật hoặc việc đại diện hợp pháp

đã chấm dứt mà chưa có người thay thế Trong những trường hợp này, cần quy định Tòa án đã thụ lý VADS phải tạm ngừng giải quyết vụ án để bảo đảm quyền tham gia tố tụng của các đương sự và người đại diện của họ [25, tr 18]

Thứ hai, nhằm bảo đảm mối liên hệ giữa các Bản án, Quyết định của Tòa án và bảo đảm tính chính xác, đúng đắn trong việc giải quyết vụ án

Trong một số trường hợp, việc giải quyết VADS do Tòa án đã thụ lý lại liên quan mật thiết tới kết quả giải quyết của một số vụ án khác hay một số sự việc khác được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước thì mới giải quyết được vụ án Kết quả giải quyết của một số vụ án, sự việc khác liên quan ấy có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, nếu không được cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước thì việc giải quyết của Tòa

án là vi phạm pháp luật hoặc không bảo đảm được tính chính xác, đúng đắn trong việc giải quyết vụ án Chẳng hạn như Tòa án đã thụ lý vụ án về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến thửa đất đang được giải quyết về tranh chấp chia di sản thừa kế, khi đó Tòa án phải tạm ngừng giải quyết vụ án đã thụ lý, chờ kết quả giải

Trang 21

quyết của vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế để xác định ai là người có quyền thừa kế, sử dụng thửa đất đó; hay khi giải quyết vụ án ly hôn theo yêu cầu của một bên (ly hôn đơn phương) với người biệt tích, thì chỉ có thể thực hiện được sau khi có Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc tuyên bố người biệt tích đó chết hoặc mất tích

Trong các trường hợp như vậy, nếu Tòa án vẫn cứ tiếp tục tiến hành giải quyết thì có thể sẽ dẫn đến việc giải quyết vụ án không bảo đảm tính chính xác và đúng đắn Do vậy, Tòa án cần hoặc phải tạm ngừng tiến hành tố tụng để chờ kết quả giải quyết của những vụ án, sự việc khác có liên quan tới

vụ án mà Tòa án đã thụ lý để bảo đảm sự khách quan, toàn diện và tính chính xác, đúng đắn trong việc giải quyết vụ án [25, tr 19]

Thứ ba, nhằm bảo đảm trật tự công và sự phối hợp giữa các cơ quan,

tổ chức trong việc giải quyết vụ án

Nhằm giảm bớt áp lực công việc cho Tòa án, đề cao việc giải quyết tranh chấp dân sự thông qua hòa giải, thương lượng nên trong một số trường hợp pháp luật quy định Tòa án chỉ tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án sau khi tranh chấp đã được các cơ quan, tổ chức khác tiến hành hòa giải nhưng không thành, không hòa giải được hoặc đã yêu cầu hòa giải nhưng không được hòa giải trong thời hạn pháp luật quy định Mối liên hệ này thuộc về trật tự công, thể hiện sự phối hợp mềm dẻo giữa các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết tranh chấp Do vậy, xuất phát từ việc cần hoặc phải chờ kết quả giải quyết của

cơ quan, tổ chức khác đối với vụ án đã được Tòa án thụ lý, thì Tòa án cũng cần hoặc phải tạm ngừng giải quyết vụ án trong một thời hạn nhất định [25, tr 18]

Như vậy, việc tạm ngừng tiến hành các hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án trong một số trường hợp cần hoặc phải được thực hiện khi xuất hiện sự kiện làm cho việc giải quyết VADS không thể tiếp tục tiến hành được, nếu cứ tiến hành có thể sẽ dẫn đến việc không bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tham gia tố tụng tụng của đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự;

Trang 22

hay không bảo đảm được mối liên hệ giữa các Bản án, Quyết định của Tòa án

và không bảo đảm được tính chính xác, đúng đắn của việc giải quyết vụ án

Do đó, việc tạm ngừng việc giải quyết VADS đã thụ lý như một lẽ tất yếu, khách quan trong quá trình giải quyết VADS

1.5 Phân loại căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Trên cơ sở khoa học của tạm đình chỉ giải quyết VADS, có thể phân loại căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VADS thành các nhóm cơ bản như sau:

Nhóm thứ nhất: Các căn cứ nhằm bảo đảm quyền bảo vệ và tham gia

tố tụng của đương sự và người đại diện của họ

Trong quá trình giải quyết VADS, nếu phát sinh các trường hợp như: Đương sự là cá nhân đã chết, quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ thuộc diện được thừa kế mà chưa có, hay chưa xác định được người kế thừa quyền và nghĩa vụ

tố tụng của cá nhân đã chết; hoặc cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó là trường hợp đã có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc sáp nhập, chia, tách cơ quan, tổ chức đó, nhưng cơ quan, tổ chức mới chưa được thành lập hoặc đã được thành lập nhưng chưa có đầy đủ điều kiện để hoạt động theo quy định của pháp luật đối với loại hình cơ quan, tổ chức đó; hoặc

cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó là trường hợp chưa xác định được cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định; hoặc có đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; hoặc phát sinh sự kiện pháp

lý làm chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế… thì khi đó, Tòa án phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS

Việc pháp luật quy định Tòa án đã thụ lý phải tạm ngừng giải quyết VADS trong những trường hợp trên là để bảo đảm quyền bảo vệ, quyền được bảo vệ và quyền tham gia tố tụng của đương sự và người đại diện của họ Bởi

Trang 23

lẽ, trong quá trình giải quyết VADS, có thể xuất hiện các sự kiện làm cho việc tiến hành giải quyết vụ án của Tòa án cần hoặc phải tạm ngừng, nếu Tòa án cứ tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án thì có thể sẽ không bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tham gia tố tụng của các đương sự và người đại diện của họ

Nhóm thứ hai: Các căn cứ nhằm bảo đảm mối liên hệ giữa các Bản án, Quyết định của Tòa án; sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và bảo đảm tính chính xác, đúng đắn trong việc giải quyết vụ án

Trong quá trình giải quyết VADS, nếu phát sinh các trường hợp như: Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan (vụ án: dân sự, hình sự, hành chính, lao động, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại); hoặc kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là cơ sở để xác định thẩm quyền của Tòa án, xác định quyền khởi kiện đối với vụ án, xác định địa vị pháp lý, xác định người tham gia tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc là căn cứ khác để Tòa án giải quyết vụ án này một cách toàn diện, chính xác và đúng pháp luật; hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do

cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án phải là sự việc có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, nếu không được cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước thì việc giải quyết của Tòa án là vi phạm pháp luật thì Tòa án phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS Quy định này nhằm bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết vụ án, bảo đảm mối liên hệ giữa các Bản án, Quyết định của Tòa án và bảo đảm tính chính xác, đúng đắn trong việc giải quyết vụ án

Bên canh đó, nếu phát sinh các trường hợp như: Cần thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp; hoặc chưa có kết quả thực hiện ủy thác tư pháp; hoặc chưa nhận được các tài liệu, chứng cứ từ cơ quan, tổ chức mà thời hạn chuẩn bị xét xử (kể

cả trường hợp đã gia hạn) đã hết; hoặc tuy đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử; hoặc tại phiên tòa xét xử mà xét thấy cần phải thực hiện ủy thác tư pháp; hoặc cần yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ mới giải quyết

Trang 24

được vụ án thì Tòa án phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Quy

định này nhằm bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và tính chính

xác, đúng đắn trong việc giải quyết VADS

Ngoài ra, nếu trong quá trình giải quyết VADS, phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu vi hiến, trái luật và pháp luật mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật này, thì trong thời gian chờ đợi Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời kiến nghị, Tòa án phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án nhằm bảo đảm sự tương thích pháp luật và tránh tình trạng áp dụng pháp luật sai, bảo đảm tính chính xác và đúng đắn trong việc giải quyết vụ án [37, tr 516]

Nhóm thứ ba: Các căn cứ khác theo quy định của pháp luật

Trên thực tế, trong quá trình giải quyết VADS có thể phát sinh một số trường hợp cần hoặc phải tạm ngừng giải quyết vụ án để bảo đảm quyền lợi của đương sự và tính chính xác, đúng đắn của việc giải quyết vụ án mà BLTTDS chưa quy định nhưng lại được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác; hoặc sau khi BLTTDS có hiệu lực thi hành mới được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó; hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên Khi đó, Tòa án cần hoặc phải xem xét tính phù hợp với quy định của pháp luật để ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS Đây là quy định mở, mang tính dự phòng của các nhà lập pháp đối với những trường hợp phát sinh những lý do mà Tòa án cần hoặc phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và tính chính xác, đúng đắn của việc giải quyết vụ án

1.6 Lược sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Để có một cái nhìn tổng thể, hệ thống về đề tạm đình chỉ giải quyết VADS và có cơ sở cho việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố

Trang 25

tụng dân sự Việt Nam hiện hành về tạm đình chỉ giải quyết VADS, thì việc nghiên cứu lược sử phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về vấn đề này là cần thiết Từ đó, cũng có thể giúp chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm, giải pháp để hoàn thiện hơn pháp luật tố tụng dân sự hiện hành

Cùng với sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, các quy định về tạm đình chỉ giải quyết VADS cũng không ngừng phát triển và hoàn thiện hơn Căn cứ vào các mốc thời gian quan trọng trong quá trình phát triển

của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, việc nghiên cứu lược sử pháp luật tố

tụng dân sự Việt Nam về tạm đình chỉ giải quyết VADS được thực hiện theo các giai đoạn từ năm 1945 đến nay; cụ thể như sau:

1.6.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1959

Trong giai đoạn này, phải kể đến các Sắc lệnh như: Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946, Sắc lệnh số 130/SL ngày 19/7/1946 quy định về thể thức thi hành án, Sắc lệnh số 185/SL ngày 26/5/1948 về ấn định thẩm quyền các Tòa án sơ cấp và đệ nhị cấp, Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp là luật tố tụng, Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/01/1950 quy định về ly hôn… Đây là các Sắc lệnh đã được áp dụng tại Tòa án để giải quyết các vụ việc dân sự trong giai đoạn này Ngoài ra, còn có Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945, đã cho giữ tạm thời các luật lệ của chế độ cũ, tuy nhiên, Sắc lệnh này đã không chỉ rõ cho giữ tạm thời các BLDS - Thương sự

tố tụng được áp dụng tại Tòa án dưới thời Pháp thuộc

Trong những năm 1945 – 1954, ngoài các Sắc lệnh trên, gần như không

có văn bản nào quy định chính thức về các vấn đề liên quan đến thủ tục tố tụng dân sự - thương sự, cũng không có quy định riêng về vấn đề tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự Trong giai đoạn này, các Tòa án chỉ tập trung xét xử các

vụ án hình sự mà không chú trọng vào việc giải quyết các tranh chấp dân sự

Trang 26

Sau năm 1954, để chấm dứt việc áp dụng các luật lệ cũ ban hành trước năm 1945 còn được tạm giữ theo Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số 19/VHH ngày 30/6/1955 và Thông tư số 2140/VHH/HS ngày 6/12/1955; TANDTC đã ra chỉ thị số 772-NC ngày 10/7/1959 đình chỉ việc áp dụng luật pháp cũ của đế quốc, phong kiến Tuy nhiên, thời kỳ này có rất ít các văn bản quy định về thủ tục tố tụng dân sự đặc biệt là những quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự [25, tr 24-25] Ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn vẫn cho áp dụng các luật lệ cũ được ban hành từ thời Pháp thuộc và ban hành một số văn bản để quy định và giải thích những vướng mắc

1.6.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến 1989

Trong giai đoạn này, Luật tổ chức Tòa án năm 1960 và Luật tổ chức VKSND đã được ban hành Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật tố tụng được coi là cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết VADS tại Tòa án, chủ yếu là dưới dạng các Công văn, Chỉ thị và các Thông tư do TANDTC ban hành [33 tr 22]

Có thể kể đến các văn bản như: Thông tư số 1080-TC ngày 25/9/1961 của TANDTC hướng dẫn về việc thực hiện thẩm quyền mới của TAND thuộc tỉnh, thị xã, huyện, khu phố; hay Thông tư số 2421-TC ngày 29/12/1961 của TANDTC về việc thực hiện chế định Hội thẩm Nhân dân; đặc biệt, phải kể đến Thông tư số 39/NCLP ngày 21/01/1972 cả TANDTC hướng dẫn việc thụ

lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân và gia đình và tranh chấp về dân sự đã quy định về vấn đề tạm đình chỉ giải quyết vụ án Có thể coi những quy định trong các Thông tư này là tiền đề cho việc xây dựng các quy định về tạm đình chỉ giải quyết VADS [25, tr 25]

1.6.3 Giai đoạn từ năm 1990 đến 2004

Trong giai đoạn này, sự ra đời của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS năm 1989 đã phản ánh đúng thời kỳ phát triển của lịch sử, đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong quá trình lập pháp của Nhà nước về pháp luật

Trang 27

tố tụng dân sự Đây là văn bản pháp luật chính thức điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực pháp luật tố tụng dân sự, bao hàm một quy trình tố tụng khép kín và thống nhất, được áp dụng trong công tác xét xử, giải quyết các VADS Pháp lệnh này đã kế thừa và phát triển những quy định về thủ tục tố tụng dân

sự trước đó Vấn đề tạm đình chỉ giải quyết VADS được ghi nhận tại Điều 45 của Pháp lệnh này [12, Điều 45]

TANDTC cũng đã có những hướng dẫn áp dụng các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS về tạm đình chỉ như: Nghị quyết số 03/NQ-HĐTP ngày 19/10/1990 của Hộ đồng thẩm phán - TANDTC; Công văn số 124/NCLP ngày 13/12/1991 của TANDTC giải thích một số vấn đề về thủ tục

tố tụng dân sự; Công văn số 517/NCLP ngày 09/10/1993 của TANDTC về việc ly hôn với một bên đang ở nước ngoài [33, tr 23-24]

Điều 45 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS năm 1989 đã quy định tương đối đầy đủ và bao quát được các trường hợp Tòa án có thể Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS Theo đó, Tòa án có thể ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS trong những trường hợp sau:

- Nguyên đơn hoặc bị đơn chết mà chưa có người thừa kế tham gia

tố tụng;

- Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 47 của Pháp lệnh này mà một trong các đương sự không thể có mặt vì bị ốm nặng hoặc có

lý do chính đáng khác;

- Không tìm được địa chỉ của bị đơn;

- Cần đợi kết quả giải quyết vụ án hình sự, vụ án dân sự khác; sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án [12]

Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết VADS được quy định, hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/NQ-HĐTP ngày 19/10/1990 của HĐTP – TANDTC

và Công văn số 101/NCLP ngày 7/5/1990 của TANDTC Theo đó, Quyết

Trang 28

định tạm đình chỉ giải quyết VADS của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, khánh nghị theo thủ tục phúc thẩm; Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS của Tòa án cấp phúc thẩm có giá trị chung thẩm và có hiệu lực pháp luật ngay kể từ thời điểm ban hành, nếu có kháng nghị sẽ được giải quyết theo thủ tục Giám đốc thẩm; nếu có khiếu nại sẽ được giải quyết theo thủ tục giải quyết khiếu nại

1.6.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến 2015

Trong giai đoạn này, nhằm góp phần tạo cơ sở vững chắc cho việc giải quyết các vụ việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, ngày 14/6/2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS tại kỳ họp Quốc hội thứ 5 Khóa XI (được gọi là BLTTDS 2004)

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của 03 pháp lệnh về thủ tục tố tụng (Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996) trước đó, BLTTDS 2004 đã quy định về vấn

đề tạm đình chỉ giải quyết vụ VADS tương đối đầy đủ từ Điều 189 đến Điều

194 và Điều 311 của Bộ luật này [33 tr 25]

Theo đó, Điều 189 của BLTTDS 2004 quy định các trường hợp Tòa án

có thể Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS như sau:

- Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó

- Một bên đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật

- Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế

- Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án

Trang 29

- Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định [23]

Ngoài ra, vấn đề tạm đình chỉ giải quyết VADS cũng được hướng dẫn tại các Nghị quyết của HĐTP – TANDTC như: Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005, Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006, Nghị quyết

số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 05/18/2006 [25, tr 28]

Nhằm khắc phục những hạn chế trong BLTTDS 2004 và bảo đảm tính chính xác, đúng đắn trong việc giải quyết VADS, tại kỳ họp Quốc hội thứ 9 ngày 29/3/201, Quốc hội Khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS 2004 có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 Bộ luật này đã bổ sung thêm

căn cứ để Tòa án ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án: “Cần đợi kết

quả thực hiện ủy thác tư pháp hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án mà thời hạn giải quyết đã hết.”

Cùng với việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS 2004, HĐTP - TANDTC đã ban hành các Nghị quyết hướng dẫn thực hiện như: Nghị quyết

số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012; Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012;… Mặc dù đã có những sửa đổi, bổ sung phù hợp hơn, song qua quá trình áp dụng thực tiễn cho thấy BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm

2011 vẫn còn một số hạn chế nhất định, khiến việc thực thi pháp luật không đồng nhất và gặp nhiều khó khăn

1.6.5 Giai đoạn từ năm 2016 đến nay

Trong giai đoạn này, Hiến pháp năm 2013 đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung toàn diện BLTTDS nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách Tư pháp, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp nhằm bảo đảm sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Luật tổ chức TAND, khắc phục các hạn chế, tăng cường tranh tụng, bảo đảm tính công khai, dân chủ, công bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ trong quá trình tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của họ [33, tr 28]

Trang 30

Trên cơ sở đó, tại Kỳ họp thứ 10 ngày 25/11/2015, Quốc hội Khóa XIII

đã thông qua BLTTDS (được gọi là BLTTDS 2015) Các vấn đề tạm đình chỉ giải quyết VADS được quy định cụ thể tại các Điều 214, Điều 215, Điều 216

và một số Điều khác có liên quan của Bộ luật này Về cơ bản, những quy định tại BLTTDS này đã khắc phục được thiếu sót, hạn chế trong quy định về tạm đình chỉ giải quyết VADS so với những quy định trước đây Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng thực tiễn, BLTTDS 2015 cho thấy đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập về tạm đình chỉ giải quyết VADS, cần tiếp tục được nghiên cứu để đưa ra các giải pháp khắc phục và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về vấn đề này

Kết luận Chương 1

Trong chương này, cơ sở lý luận về tạm đình chỉ giải quyết VADS đã được xây dựng như: Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của tạm đình chỉ giải quyết VADS; cơ sở khoa học và phân loại căn cứ tạm đình chỉ của tạm đình chỉ giải quyết VADS; quá trình phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

về tạm đình chỉ giải quyết VADS Những vấn đề lý luận này là cơ sở trong việc hình thành các quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết VADS và việc áp dụng các quy định của pháp luật về vấn đề này trong thực tiễn

Theo đó, tạm đình chỉ giải quyết VADS là việc Tòa án tạm ngừng giải quyết VADS khi có căn cứ do pháp luật quy định, khi lý do tạm đình chỉ

không còn thì Tòa án tiếp tục giải quyết VADS đó

Tạm đình chỉ giải quyết VADS chỉ làm gián đoạn tạm thời tiến trình tố tụng đang được tiến hành do xuất hiện những tình tiết, sự kiện pháp lý nhất định trong một thời hạn nhất định, không làm chấm dứt việc giải quyết vụ án; mọi hoạt động tố tụng sẽ được khôi phục khi căn cứ tạm đình chỉ giải quyết

vụ án không còn và Tòa án ra Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án trong thời hạn pháp luật quy định; tạm đình chỉ giải quyết VADS được áp dụng ở Tòa án

Trang 31

cấp sơ thẩm; Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Tạm đình chỉ giải quyết VADS có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; hạn chế những sai lầm có thể xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án và bảo đảm VADS được xem xét, giải quyết khách quan, chính xác và đúng đắn Cơ sở khoa học của tạm đình chỉ giải quyết VADS là nhằm bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tham gia tố tụng của đương sự và người đại diện hợp pháp của đương sự; bảo đảm mối liên hệ giữa các Bản án, Quyết định của Tòa án và bảo đảm tính chính xác, đúng đắn trong việc giải quyết vụ án và nhằm bảo đảm trật tự công, sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết vụ án

Xuất phát từ ý nghĩa và cơ sở khoa học của tạm đình chỉ giải quyết VADS, ngay từ những văn bản quy định về thủ tục tố tụng dân sự đầu tiên của Việt Nam như Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các VADS năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 đã có những quy định về tạm đình chỉ giải quyết VADS Đặc biệt, kể từ khi ban hành các BLTTDS 2004, BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 và BLTTDS 2015 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành các Bộ luật này, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tạm đình chỉ giải quyết VADS ngày một hoàn thiện hơn, góp phần tích cực vào công cuộc cải cách Tư pháp và việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và tính chính xác, đúng đắn của việc giải quyết vụ án

Trang 32

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Trên cơ sở lý luận về tạm đình chỉ giải quyết VADS tại Chương 1 và trong khuôn khổ là một đề tài Luận văn, tác giả xác định đối tượng và phạm

vi nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các quy định của BLTTDS 2015 về tạm đình chỉ giải quyết VADS Do đó, tại chương này, Luận văn chỉ tập trung vào việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá các quy định của BLTTDS 2015 về tạm đình chỉ giải quyết VADS trong tố tụng dân sự Việt Nam, có đối chiếu với một

số quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan

2.1 Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Cơ sở để Tòa án ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS là các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VADS do pháp luật quy định Trong pháp luật

tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành, các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VADS được quy định tại khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015; các căn cứ này cũng được áp dụng cho tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm tại Tòa án cấp phúc thẩm Ngoài ra, tuy BLTTDS 2015 không có quy định về căn cứ tạm đình chỉ giải quyết việc dân sự, nhưng theo Điều 316 BLTTDS 2015 thì Tòa án cũng có thể áp dụng các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VADS quy định tại khoản 1 Điều 214

Bộ luật này để làm căn cứ cho tạm đình chỉ giải quyết việc dân sự [8, tr 285]

Trên cơ sở kế thừa quy định của Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các VADS và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan trước đây quy định về tạm đình chỉ giải quyết VADS, đặc biệt là kế thừa các quy định của BLTTDS 2004 và BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 về tạm đình chỉ giải quyết VADS; các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VADS đã được BLTTDS

2015 quy định tương đối đầy đủ, cụ thể và bao quát được các trường hợp Tòa

án cần hoặc phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS Về cơ bản, các

Trang 33

quy định của BLTTDS 2015 cũng đã khắc phục được những thiếu sót, hạn chế của các quy định trước đó BLTTDS 2015 quy định các trường hợp là căn cứ

để Tòa án ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS như sau:

2.1.1 Trường hợp đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể

Trường hợp này là căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VADS được quy định

tại điểm a khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015: “Đương sự là cá nhân đã chết,

cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó”

- Trường hợp đương sự là cá nhân đã chết mà chưa có cơ quan, tổ

chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân đó:

Căn cứ này được áp dụng khi một trong các đương sự là cá nhân đang tham gia vào việc giải quyết vụ án đã chết mà chưa có người (bao gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân) kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cá nhân đó Thực tiễn trong việc giải quyết các vụ án cho thấy, trong một số trường hợp, khi Tòa án đang tiến hành giải quyết vụ án thì có đương sự là cá nhân chết nhưng chưa có người thừa kế, kế thừa quyền và nghĩa vụ của cá nhân đó, việc này làm gián đoạn tiến trình tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án

Trường hợp khi chưa xác định được người thừa kế, kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng hoặc người thừa kế chưa sẵn sàng kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cá nhân đã chết để tham gia tố tụng thì Tòa án cần hoặc phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS, để xác định và đưa người kế thừa các quyền, nghĩa vụ của cá nhân đã chết vào tham gia tố tụng, bảo đảm quyền tham gia tố tụng, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ [25, tr 31]

Khoản 1 Điều 68 BLTTDS 2015 quy định: “Đương sự trong vụ án dân

sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”

Trang 34

Theo đó, trong quá trình giải quyết VADS nếu có một bên đương sự

(bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) là cá

nhân chết mà chưa xác định được người thừa kế, kế thừa quyền và nghĩa vụ của đương sự đó thì Tòa án sẽ phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án Như vậy, phạm vi áp dụng tạm đình chỉ giải quyết vụ án đã được mở rộng hơn và đã khắc phục được hạn chế so với những quy định trước đây trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết VADS Trước đây, việc tạm đình chỉ giải quyết VADS chỉ được áp dụng đới với trường hợp nguyên đơn và bị đơn chết, không áp dụng đối với trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tuy nhiên, Tòa án cũng chỉ được ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS trong trường hợp đương sự chết nhưng quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ thuộc trường hợp được thừa kế theo quy định của pháp luật

Khoản 1 Điều 25 BLDS 2015 quy định: “Quyền nhân thân được quy định

trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.”;

Khoản 1 Điều 74 BLTTDS 2015 quy định: “Trường hợp đương sự là

cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng.” [24]

Theo các quy định trên, trong trường hợp quyền, nghĩa vụ của đương

sự đã chết là quyền, nghĩa vụ về nhân thân thì không được kế thừa; chỉ trong trường hợp quyền, nghĩa vụ của đương sự đã chết là quyền, nghĩa vụ về tài sản thì mới được kế thừa, người thừa kế mới được tham gia tố tụng Do vậy, nếu quan hệ đương sự đang yêu cầu Tòa án giải quyết là quan hệ về tài sản,

mà trong quá trình giải quyết vụ án có đương sự bị chết, thì Tòa án phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án; nếu quan hệ đương sự đang yêu cầu Tòa án giải quyết là quan hệ nhân thân, mà trong quá trình giải quyết vụ án có đương sự bị chết, thì Tòa án phải ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

Trang 35

Bên cạnh đó, theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 thì trong trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; và/hoặc trường hợp cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó thì Tòa án phải

ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án [18] Đây là một điểm cần lưu ý để xác định chính xác được Tòa án phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ

án hay Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tuy nhiên, pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành chưa có quy định đối với trường hợp đương sự là cá nhân chết trong quá trình giải quyết vụ án mà quyền, nghĩa vụ tố tụng của cá nhân đó thuộc diện được thừa kế nhưng không có người thừa kế hoặc có người thừa kế nhưng người đó không được kế thừa

Thực tiễn cho thấy, có trường hợp trong thời gian giải quyết vụ án xuất hiện sự kiện một bên đương sự là cá nhân chết, cá nhân đó có để lại tài sản nhưng không có người thừa kế hoặc có người thừa kế nhưng người đó không được kế thừa Chẳng hạn như trong vụ án về kiện đòi tài sản, theo quy định của pháp luật thì quyền, nghĩa vụ tố tụng của cá nhân đó được được thừa kế Nhưng, nếu phát sinh trường hợp cá nhân đã chết đó không có người thừa kế

để kế thừa các quyền, nghĩa vụ tố tụng của cá nhân đó; hoặc cá nhân đó có người thừa kế nhưng người đó thuộc diện bị truất quyền thừa kế, do đó không được kế thừa các quyền, nghĩa vụ tụ tụng của cá nhân đã chết Khi đó, Tòa án

sẽ giải quyết như thế nào đối với tài sản và các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự là cá nhân đã chết? Hiện tại, chưa có quy định nào hướng dẫn việc áp dụng pháp luật trong trường trường hợp này

Điều 622 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp không có người thừa kế

theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.” [24]

Trang 36

Theo đó, trong trường hợp đương sự là cá nhân đã chết mà không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật; hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì quyền và nghĩa vụ của cá nhân đã chết thuộc về Nhà nước Trường hợp này, Tòa án cần có hướng dẫn chi tiết theo hướng phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án và đại diện Cơ quan Nhà nước nhận quyền tài sản sẽ kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cá nhân là

đương sự đã chết

- Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó:

Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 22 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTP - TANDTC thì “Trường hợp cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ

tố tụng của cơ quan, tổ chức đó” là trường hợp đã có Quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể cơ quan, tổ chức đó nhưng cơ quan, tổ chức mới chưa được thành lập hoặc đã thành lập nhưng chưa có đủ điều kiện để hoạt động theo quy định của pháp luật đối với loại hình cơ quan, tổ chức đó [14]

“Trường hợp cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức

kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó” là trường hợp chưa xác định được cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 74 BLTTDS 2015

Như vậy, căn cứ này được áp dụng trong trường hợp đương sự là cơ quan,

tổ chức đang tham gia tố tụng thì bị hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa xác định được người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của cơ quan,

tổ chức đó để đưa vào tham gia tố tụng; khi đó, Tòa án phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS cho đến khi xác định được người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức đó và đưa vào tham gia tố tụng

Trang 37

Việc xác định người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Điều

74 BLTTDS 2015; cụ thể:

- Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của cơ quan,

tổ chức đó được xác định như sau:

+ Trường hợp tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là công ty

cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức

là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng;

+ Trường hợp cơ quan, tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là

cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì đại diện hợp pháp của cơ quan,

tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó hoặc đại diện hợp pháp của

cơ quan, tổ chức tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó tham gia tố tụng;

+ Trường hợp tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì cá nhân, tổ chức tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó tham gia tố tụng

- Trường hợp thay đổi chủ sở hữu của tổ chức và có việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho chủ sở hữu mới thì chủ sở hữu mới kế thừa quyền, nghĩa

Trang 38

diện hoặc tổ chức đó phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể thì các cá nhân là thành viên của tổ chức đó tham gia tố tụng [18]

So sánh với Điều 74 BLTTDS 2015, thì căn cứ tạm đình chỉ quy định tại Điều 214 BLTTSD 2015 còn bỏ sót các trường hợp Tòa án phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS khi chưa xác định được người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng Cụ thể, tại điểm a khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015: Chỉ quy định tạm đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó; không quy định trường hợp cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng phải chấm dứt hoạt động (ví dụ: doanh nghiệp bị Phòng Đăng ký kinh doanh thu hồi hoặc

bị Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp…); trường hợp tổ chức chuyển đổi hình thức tổ chức, thay đổi chủ sở hữu của tổ chức và chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho tổ chức mới; trường hợp tổ chức không có tư cách pháp nhân (ví dụ: doanh nghiệp tư nhân; chi nhánh, địa điểm kinh doanh của công ty) đang tham gia quan hệ dân sự mà người đại diện tham gia tố tụng chết Như vậy là không phù hợp với quy định tại Điều 74 BLTTDS

2015 về kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng

Trên thực tế có xảy ra các trường hợp trên Vậy, khi xảy ra các trường hợp trên thì Tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Do đó, cần có văn bản hướng dẫn thi hành/áp dụng một số điều của BLTTDS 2015, có bổ sung thêm các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VADS trên cho phù hợp với Điều 74 BLTTDS

Trang 39

“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể

nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”;

Theo đó, khi có chủ thể cho rằng một cá nhân là đương sự trong vụ án mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án phải giải thích, hướng dẫn để chủ thể

đó thực hiện quyền yêu cầu tuyên bố cá nhân đó mất năng lực hành vi dân sự theo quy định; trường hợp chủ thể đó có yêu cầu và Tòa án thụ lý yêu cầu này thì Tòa án áp dụng khoản d khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 để ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS, chờ kết luận giám định pháp y tâm thần [30]

Dựa trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra Quyết định tuyên bố cá nhân mất năng lực hành vi dân sự Cá nhân mất năng lực hành vi dân sự không còn khả năng nhận thức, không làm chủ được hành vi của mình nên họ không thể trực tiếp tham gia tố tụng để thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình Do vậy, trong trường hợp này, cần có người đại diện theo pháp luật của cá nhân đó và Tòa án phải đưa người đại diện theo pháp luật vào tham gia tố tụng để bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tham gia tố tụng của đương sự và người đại diện của họ Người đại diện theo pháp luật có thể là: Cha mẹ đối với con chưa thành niên; hoặc người giám hộ đối với người được giám hộ; hoặc người được Tòa án chỉ định đối với người bị mất năng lực hành vi dân sự [25, tr 33]

Như vậy, nếu đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người

chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật của họ thì Tòa án phải ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Quy định này là phù hợp, bởi nếu Tòa án vẫn cứ tiếp tục tiến hành giải quyết vụ việc mà chưa

có người đại diện theo pháp luật thay cá nhân đó thực hiện các quyền, nghĩa

vụ tố tụng của cá nhân đó thì sẽ không bảo đảm quyền tiếp cận công lý của

Trang 40

công dân, tính chính xác, đúng đắn của việc giải quyết vụ án và không bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tham gia tố tụng của đương sự và người đại diện của họ [8, tr 287]

Điều 23 BLDS 2015 quy định về người có khó khăn trong nhận thức,

làm chủ hành vi: “Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà

không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.”

Đây là một quy định mới so với BLDS 2005, việc bổ sung quy định

này là hợp lý, hoàn toàn phù hợp với thực tế hiện nay cũng như phù hợp với nhiệm vụ mà Hiến pháp năm 2013 và BLDS 2015 đề ra nhằm bảo vệ tối đa

quyền con người, quyền công dân Bởi lẽ, trước đây, theo BLDS năm 2005,

căn cứ vào khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà được phân ra nhiều mức độ khác nhau Cá nhân khi đủ độ tuổi và không thuộc trường hợp mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ là những người có năng lực pháp luật đầy đủ, là người tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự bằng hành vi của họ và tự chịu trách nhiệm, tự thực hiện nghĩa vụ dân sự bằng hành vi của

họ [21] Điều đó không phù hợp và không bảo đảm yếu tố công bằng về quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các quan hệ dân sự Bởi, trong trường hợp nếu cá nhân do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự

mà phải chịu trách nhiệm như một người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự đầy đủ là không hợp lý

Trên thực tế, không phải mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân lúc nào cũng chỉ trong hai thái cực là đầy đủ hoặc mất năng lực hành vi dân

Ngày đăng: 17/03/2021, 15:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w