Tình hình nghiên cứu đề tài Là một trong những chế định quan trọng của pháp luật lao động, thời gian qua đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến các quy định của pháp l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ VĂN LUẬN
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ VĂN LUẬN
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Thị Thu Hiền và không sao chép của ai Các số liệu trong luận văn là do tôi tự tiến hành khảo sát, thu thập, đảm bảo sự chính xác và trung thực Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Hà Nội, ngày … tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Văn Luận
Trang 4THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI 7 1.1 Khái quát chung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 7
1.1.1 Khái niệm thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 7 1.1.2 Ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với thời giờ làm việc, thời
giờ nghỉ ngơi 9 1.1.3 Nguyên tắc pháp lý cơ bản điều chỉnh thời giờ làm việc và nghỉ ngơi 12
1.2 Quy định của Pháp luật Việt nam về thời giờ làm việc, thời giờ
nghỉ ngơi 14
1.2.1 Pháp luật về thời giờ làm việc 14 1.2.2 Pháp luật về thời giờ nghỉ ngơi 23
1.3 Một số điểm bất cập của pháp luật hiện hành về thời giờ làm
việc, thời giờ nghỉ ngơi 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỜI
GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU 44 2.1 Thực trạng thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc 44
2.1.1 Thời giờ làm việc tiêu chuẩn 44
Trang 52.1.2 Thời giờ làm thêm 47
2.1.3 Làm việc ban đêm 49
2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về thời giờ nghỉ ngơi 51
2.2.1 Thời giờ nghỉ có hưởng lương 51
2.2.2 Thời gian nghỉ không hưởng lương 55
2.3 Thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với một số đối tượng người lao động đặc thù 56
2.4 Những yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu 59
2.4.1 Quy mô và lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu 59
2.4.2 Hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động tại tỉnh Lai Châu 62
2.4.3 Chất lượng nguồn nhân lực đang làm việc trong các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh Lai Châu 64
2.4.4 Năng lực hoạt động của tổ chức công đoàn các cấp 66
2.5 Hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các danh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU 72
3.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 72
3.1.1 Những yêu cầu cơ bản đối với việc hoàn thiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 72
Trang 63.1.2 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về thời giờ làm
việc, thời giờ nghỉ ngơi 75
3.2 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu 79
3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cho các bên của quan hệ lao động 79
3.2.2 Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động tại tỉnh Lai Châu 81
3.2.3 Tăng cường năng lực của hệ thống tổ chức công đoàn, đặc biệt là công đoàn cơ sở 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 92
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLLĐ: Bộ luật Lao động
ILO: Tổ chức Lao động Quốc tế
LĐ - TB và XH: Lao động, Thương binh và Xã hội
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một trong những chế định quan trọng của pháp luật lao động vì nó liên quan trực tiếp đến đời sống và việc làm của người lao động Thực hiện tốt quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi không chỉ đảm bảo sức khoẻ cho người lao động mà còn giúp người
sử dụng lao động tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh khoa học, hiệu quả Kết quả thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thời gian vừa qua cho thấy về cơ bản, các doanh nghiệp đã tuân thủ quy định của pháp luật về thời giờ làm việc tiêu chuẩn, thời giờ nghỉ ngơi Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng vi phạm trong việc tăng thời giờ làm việc tiêu chuẩn, tăng số giờ làm thêm vượt quá mức cho phép, giảm và cắt bớt thời gian nghỉ ngơi của người lao động
Tỉnh Lai Châu được thành lập theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 01/01/2004 trên cơ sở chia tách tỉnh Lai Châu (cũ) và sáp nhập huyện Than Uyên, tỉnh Lào Cai Với nguồn tài nguyên phong phú và cơ chế, chính sách hợp lý, tỉnh Lai Châu đã và đang thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư vào địa phương Sau hơn 10 năm chia tách và thành lập, Lai Châu đã thu hút được hơn 160 dự án của các nhà đầu tư trong và ngoài nước với tổng số vốn đăng kí đạt gần 83.000 tỷ đồng Tính đến tháng 9 năm 2018 tổng số doanh nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh là 3019 doanh nghiệp
Nhằm hạn chế và đẩy lùi các vi phạm pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu, vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Lai Châu, từ đó đề xuất giải
Trang 9pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hơn nữa hiệu quả áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Vì những lý do đó, tác giả chọn đề tài
“Thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu” làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một trong những chế định quan trọng của pháp luật lao động, thời gian qua đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến các quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Ngoài một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, một số tác giả đã lựa chọn chế định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp hoặc luận văn thạc sỹ của mình Cụ thể:
- Đặng Xuân Lợi (2000), Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo Bộ luật
lao động Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội;
- Nguyễn Thị Thanh (2010), Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ
ngơi, thực trạng và một số kiến nghị, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội;
- Đỗ Thị Hằng (2009), Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi - Quy định
pháp luật và thực tiễn thực hiện ở một số doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Giang,
Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội;
- Khuất Văn Trung (2011), Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ
nghỉ ngơi ở Việt Nam – Thực trạng và một số kiến nghị, Luận văn cao học,
Khoa Luật – Đại học Quốc Gia
Các công trình khoa học trên đã nghiên cứu quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và thực trạng áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Tuy nhiên, đối tƣợng nghiên cứu của các công trình trên đều là quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của BLLĐ năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) Thực trạng thực hiện pháp luật
về thơi giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong các công trình khoa học nói trên
Trang 10hoặc mới chỉ tập trung ở một số tỉnh (như Bắc Giang), hoặc chỉ được đánh giá mang tính khái quát chung trên toàn quốc
Đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong các doanh nghiệp hoạt động tại tỉnh Lai Châu
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn sẽ phân tích thực trạng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại Việt Nam; thực trạng áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong một số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Lai Châu Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đã tập trung giải quyết các nhiệm vụ chính sau:
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
và thực trạng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam
Thứ hai, làm rõ thực trạng áp dụng các quy định về thời giờ làm việc,
thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Thứ ba, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu: (i) pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo quy định của BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành; (ii) thực trạng áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Trang 11Do không có điều kiện khảo sát việc áp dụng thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong tất cả các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Lai Châu nên phạm vi nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật của luận văn chỉ giới hạn trong 20 doanh nghiệp
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu về vấn đề này, tác giả đã vận dụng những phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển lực lượng lao động ở Việt
Nam trong giai đoạn mới
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện luận văn bao gồm: phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh, tổng hợp, điều tra
xã hội học Cụ thể:
- Phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích và tìm hiểu các vấn
đề lý luận, quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, các yêu cầu của việc hoàn thiện quy định của pháp luật cũng như đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại chương 2
và chương 3 của luận văn;
- Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm đối chiếu giữa quy định của pháp luật hiện hành với quy định của pháp luật các giai đoạn trước đây; giữa quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của ILO và pháp luật lao động các quốc gia khác trong khu vực;
- Phương pháp chứng minh được sử dụng ở hầu hết các nội dung của luận văn nhằm đưa ra các dẫn chứng làm rõ các luận điểm của tác giả trong các nội dung của luận văn;
Trang 12- Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong việc rút ra những nhận định, ý kiến đánh giá sau quá trình phân tích ở từng ý, từng tiểu mục, đặc biệt được sử dụng để kết luận các chương và kết luận chung của luận văn;
- Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để khảo sát về tình hình thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu
6 Tính mới và ý nghĩa của luận văn
Là một công trình khoa học nghiên cứu toàn diện về thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu, luận văn có những tính mới sau:
- Luận văn đã phân tích được thực trạng thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại một số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Lai Châu, từ đó chỉ ra những hành vi vi phạm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi còn tồn tại trong các doanh nghiệp được khảo sát
- Luận văn đã xác định được yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung một số nội dung của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong các doanh nghiệp tại tỉnh Lai Châu
Những kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLLĐ năm 2012 Những số liệu thống kê trong luận văn là cơ sở đáng tin cậy để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Lai Châu nắm được tình hình thực hiện pháp luật, từ đó có những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong các doanh nghiệp đang hoạt động tại tỉnh Lai Châu Ngoài ra, luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có mong muốn tìm hiểu pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Trang 137 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 03 chương,
cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
và quy định của pháp luật Việt Namvề thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ
nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC,
THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI
1.1 Khái quát chung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
1.1.1 Khái niệm thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Làm việc và nghỉ ngơi là một trong những quyền cơ bản của công dân
Khoản 2 Điều 35 Hiến pháp năm 2013 quy định “Người làm công ăn lương
được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi” Trong quan hệ lao động, làm việc và nghỉ ngơi là hai phạm
trù có mối liên hệ mật thiết với nhau tạo lập nên một trong các quyền và nghĩa
vụ chủ yếu của chủ thể trong quan hệ pháp luật lao động Tuy nhiên, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, vì những nguyên nhân khác nhau mà tính hợp lý, cân đối trong tương quan giữa thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi rất dễ bị phá vỡ Chính vì vậy, sự điều chỉnh của pháp luật đối với lĩnh vực này là hết sức cần thiết
Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
Trong khoa học kinh tế - lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
được xem xét chủ yếu dưới góc độ của việc tổ chức quá trình lao động Theo
đó, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi phải được đặt trong mối quan hệ hữu
cơ giữa năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động với mục tiêu sử dụng ít nhất thời gian làm việc mà vẫn đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất Dưới góc
độ này, thời giờ làm việc chính là khoảng thời gian cần và đủ để năng suất lao động hoàn thành; thời giờ nghỉ ngơi là khoảng thời gian cần thiết để người lao động tái sản xuất lại sức lao động đã hao phí nhằm đảm bảo quá trình lao động diễn ra liên tục
Trang 15Trong khoa học luật lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
- Dưới góc độ là một nguyên tắc cơ bản của Luật lao động: thời giờ làm
việc, thời giờ nghỉ ngơi được coi là quyền và nghĩa vụ cơ bản của người lao động và người sử dụng lao động mà các quy phạm pháp luật lao động cần phản ánh rõ tư tưởng đó
- Dưới góc độ là một định mức lao động: thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được hiểu là một quỹ thời gian cần thiết cho người lao động để hoàn thành công việc được giao và kịp thời tái tạo sức lao động cho quá trình lao động
- Dưới góc độ là một nội dung của quan hệ pháp luật lao động: thì trong thời gian làm việc, người lao động phải có mặt tại địa điểm làm việc và thực hiện nhiệm vụ được giao như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động Ngoài thời gian đó, người lao động được toàn quyền sử dụng thời gian nghỉ ngơi theo ý muốn của mình
Dưới góc độ pháp lý, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi được biểu
hiện dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật lao động Quan hệ này thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm giữa người lao động
và người sử dụng lao động Khi tham gia quan hệ này, người lao động phải trực tiếp hoàn thành nghĩa vụ lao động của mình, phải tuân thủ những quy định nội bộ và có quyền được hưởng những thành quả trong khoảng thời gian
đó Ngoài thời giờ làm việc là thời giờ nghỉ ngơi, người lao động được tự do
sử dụng khoảng thời gian đó theo ý muốn của bản thân mình
Như vậy, dưới góc độ pháp lý có thể hiểu thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi như sau:
Thời giờ làm việc là khoảng thời gian do pháp luật quy định hoặc do các bên thoả thuận, trong thời gian đó người lao động phải có mặt tại địa điểm làm việc để thực hiện những công việc, nhiệm vụ được giao phù hợp với các quy định của pháp luật và sự thỏa thuận trong hợp đồng lao động
Trang 16Thời giờ nghỉ ngơi là khoảng thời gian trong đó người lao động không phải thực hiện những nghĩa vụ lao động và có quyền sử dụng thời gian đó theo ý muốn của mình
Là một chế định pháp luật, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi bao
gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về thời gian người lao động phải làm việc, phải thực hiện nhiệm vụ được giao và những khoảng thời gian cần thiết để người lao động được nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe và tái sản xuất sức lao động của mình
Tóm lại, dù thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có được nghiên cứu dưới góc độ gì đi nữa thì mục đích chính của việc nghiên cứu đó cũng là để tìm ra một thời giờ làm việc hợp lý, một thời gian nghỉ ngơi thích hợp nhằm tăng năng suất lao động đồng thời bảo vệ sức khỏe cho người lao động
1.1.2 Ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Việc điều chỉnh pháp luật đối với thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động không chỉ có ý nghĩa với người lao động mà còn có ý
nghĩa với cả người sử dụng lao động và Nhà nước, cụ thể:
1.1.2.1 Đối với người lao động
Thứ nhất, việc quy định thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tạo điều
kiện cho người lao động thực hiện đầy đủ nghĩa vụ lao động trong quan hệ,
đồng thời giúp người lao động bố trí, sử dụng quỹ thời gian một cách hợp lý
Quy định về thời giờ làm việc có ý nghĩa như một đại lượng thời gian cần thiết để người lao động thực hiện nghĩa vụ lao động đã cam kết trong hợp đồng lao động Việc quy định khung tối đa thời giờ làm việc, cũng như quy định các loại thời giờ nghỉ ngơi giúp người lao động có sự lựa chọn phù hợp với điều kiện cá nhân, đảm bảo năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc Do vậy với việc điều tiết thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động
Trang 17một cách hợp lý, pháp luật tạo điều kiện cho người lao động được đảm bảo thực hiện các quyền khác của mình như quyền tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp Đồng thời, người lao động còn có điều kiện chăm lo hạnh phúc gia đình, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề và tham gia các hoạt động xã hội khác
Ngoài ra, quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là căn cứ để người lao động hưởng những quyền lợi như: tiền lương, tiền thưởng, các chế độ trợ cấp…
Thứ hai, quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có ý
nghĩa trong bảo hộ lao động, đảm bảo thời gian nghỉ ngơi cho người lao động
Điều 24 Tuyên bố chung về quyền con người năm 1948 có ghi: “Mỗi
người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả quyền được có ngày làm việc được giới hạn một các hợp lý và được nghỉ định kỳ có hưởng lương” Như
vậy, vấn đề thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một trong những nội dung thuộc quyền con người
Ở Việt Nam, vấn đề này luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu, điều này thể hiện trong Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 Xuất phát từ quyền con người, BLLĐ đã dành hẳn 01 chương quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Các quy định này đã tạo ra hành lang pháp lý nhằm bảo vệ sức khỏe của người lao động, có tính đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, vừa không thiệt hại cho sản xuất kinh doanh, vừa không làm giảm sút khả năng lao động, khả năng sáng tạo của người lao động Quy định pháp luật về mức thời gian làm việc tối đa, mức thời gian nghỉ ngơi tối thiểu hoặc quy định về thời giờ làm việc rút ngắn… chính là căn
cứ pháp lý đảm bảo quyền được bảo vệ sức khỏe của người lao động, nhằm tránh sự lạm dụng của người sử dụng lao động đối với người lao động, góp phần tạo điều kiện cho người lao động tái sản xuất sức lao động
Trang 18Chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi còn là một trong những nội dung để tổ chức công đoàn tham gia xây dựng và đấu tranh quyền lợi cho người lao động Vì mục tiêu lợi nhuận tối đa, người sử dụng lao động rất dễ vi phạm quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Chính vì thế, công đoàn với tư cách là tổ chức bảo vệ quyền lợi người lao động sẽ phải căn cứ vào các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi để đấu tranh với người sử dụng lao động, đem lại quyền lợi chính đáng cho người lao động
1.1.2.2 Đối với người sử dụng lao động
Thứ nhất, việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi giúp
người sử dụng lao động xây dựng kế hoạch tổ chức sản xuất kinh doanh khoa học và hợp lý, sử dụng một cách tiết kiệm các nguồn tài nguyên trong doanh nghiệp nhằm đạt các mục tiêu kinh doanh đã đề ra Căn cứ vào khối lượng công việc, tổng quỹ thời gian cần thiết hoàn thành và quy định của pháp luật
về thời giờ làm việc của người lao động mà người sử dụng lao động xây dựng định mức lao động, xác định được chi phí nhân công và bố trí sử dụng lao động linh hoạt, hợp lý đảm bảo hiệu quả cao nhất
Thứ hai, những quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là căn
cứ pháp lý để người sử dụng lao động thực hiện quyền quản lý, điều hành, giám sát lao động, đặc biệt trong xử lý kỷ luật lao động, từ đó đảm bảo cho hoạt động quản lý lao động của người sử dụng lao động đi vào nề nếp
1.1.2.3 Đối với Nhà nước
Quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thể hiện rõ thái độ của Nhà nước đối với lực lượng lao động - nguồn tài nguyên quý giá nhất của quốc gia, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình Bằng việc điều chỉnh pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, Nhà nước kiểm tra giám sát quan hệ lao động, tạo cơ
sở pháp lý để giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng nảy sinh giữa các bên tham gia quan hệ lao động liên quan đến thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Trang 19Ngoài ra, cùng với các quy định pháp luật về việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động… quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cũng phản ánh trình độ phát triển, điều kiện kinh tế của các quốc gia và tính ưu việt của chế độ xã hội Thông thường ở những nước có nền kinh tế phát triển, trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến, thời gian làm việc được rút ngắn hơn so với các nước khác
1.1.3 Nguyên tắc pháp lý cơ bản điều chỉnh thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Trong cơ chế thị trường, các nguyên tắc điều chỉnh thời giờ làm việc và nghỉ ngơi vừa phải đảm bảo được mục đích bảo hộ người lao động, hạn chế
sự lạm dụng sức lao động từ phía người sử dụng lao động, vừa phải bảo đảm
sự đáp ứng được yêu cầu tự do thỏa thuận của các bên, sự năng động của cơ chế thị trường, vừa phản ánh được sự tiến bộ của khoa học, công nghệ và năng suất lao động xã hội đạt được trong từng thời kỳ
1.1.3.1 Nguyên tắc thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi do Nhà nước quy định
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện: Nhà nước là chủ thể có quyền can thiệp vào thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động bằng việc quy định khung thời giờ làm việc ở mức tối đa và thời giờ nghỉ ngơi ở mức tối thiểu
Nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầu bảo vệ người lao động – chủ thể thường có vị thế yếu hơn trong quan hệ lao động Nếu để người sử dụng lao động tự quy định thì thời giờ làm việc thì đây là vấn đề đầu tiên thường bị lạm dụng Nếu để cho hai bên của quan hệ lao động tự do thỏa thuận mà không có sự can thiệp của Nhà nước bằng khung pháp luật sẽ dẫn đến việc người sử dụng lao động lợi dụng vị thế của mình để đặt người lao động vào việc phải chấp nhận mức thời giờ làm việc do người sử dụng lao động đưa ra
Thể hiện nguyên tắc này, pháp luật lao động của các quốc gia đã quy định
Trang 20các khung làm việc ở mức tối đa Chẳng hạn, ở Việt Nam, BLLĐ năm 2012 đã quy định thời giờ làm việc tối đa không quá 48 giờ trong 01 tuần [42, Điều 104]; quy định số giờ làm thêm tối đa của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong
01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số giờ không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm [42, Điều 106, Khoản 2] Ngược lại với khung giờ làm việc tối đa, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động luôn được pháp luật quy định ở mức tối thiểu Chẳng hạn, tại Điều 108 BLLĐ năm
2012 của Việt Nam quy định trường hợp người lao động làm việc liên tục 08 giờ hoặc 06 giờ theo quy định tại Điều 104 của BLLĐ thì được nghỉ giữa giờ “ít nhất 30 phút” (nếu làm việc ban ngày), “ít nhất 45 phút” (nếu làm việc ban đêm)
1.1.3.2 Nguyên tắc thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi do các bên trong quan hệ lao động thỏa thuận, khuyến khích theo hướng có lợi cho người lao động, phù hợp với quy định của pháp luật
Nguyên tắc này thể hiện: mặc dù thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
do Nhà nước quy định nhưng để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân, quyền chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và quyền tự định đoạt của người lao động, việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi phải đảm bảo nguyên tắc tự do thỏa thuận, phù hợp với pháp luật Tuân thủ thời giờ làm việc là nghĩa vụ của người lao động – những người ở vị thế yếu thế hơn so với người sử dụng lao động nên những thỏa thuận này được khuyến khích theo hướng có lợi cho người lao động Nội dung của nguyên tắc này thể hiện rõ ở việc Nhà nước – thông qua việc ban hành các quy phạm pháp luật, chỉ can thiệp ở tầm vĩ mô bằng việc quy định các giới hạn pháp luật
về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Việc cụ thể hóa thời giờ làm việc,
Trang 21thời giờ nghỉ ngơi như thế nào tùy thuộc vào ý chí của chủ thể tham gia trên
cơ sở thỏa thuận, thương lượng phù hợp điều kiện, đặc điểm riêng
1.1.3.3 Nguyên tắc rút ngắn thời giờ làm việc đối với một số đối tượng
đặc biệt hoặc làm những công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
Nguyên tắc này chính là sự cụ thể hóa trong việc bảo hộ lao động đối với lao động đặc thù Xuất phát từ đặc điểm riêng của một số đối tượng lao động, một số ngành nghề, công việc nhất định mà nguyên tắc pháp lý về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đòi hỏi phải có những điều chỉnh riêng Nguyên tắc rút ngắn thời giờ làm việc được áp dụng đối với người lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, lao động nữ, lao động là người tàn tật, lao động chưa thành niên, lao động là người cao tuổi…
Nguyên tắc rút ngắn thời giờ làm việc đối với một số đối tượng người lao động đặc biệt hoặc những người lao động làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm xuất phát từ việc nghiên cứu tâm sinh học, với những đối tượng này, lượng công việc như nhau thì mức hao phí sức lao động bỏ ra của họ cao hơn so với lao động bình thường và do vậy, khả năng phục hồi sức khỏe, tái tạo sức lao động cũng lâu hơn Vì vậy, đòi hỏi phải có những quy định riêng phù hợp với đối tượng này nhằm đảm bảo sức khỏe cho người lao động
1.2 Quy định của Pháp luật Việt nam về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
1.2.1 Pháp luật về thời giờ làm việc
1.2.1.1 Thời giờ làm việc tiêu chuẩn
Thời giờ làm việc tiêu chuẩn là số giờ làm việc tối đa mà pháp luật quy định, vượt qua giới hạn đó hoặc là không được phép hoặc là phải đảm bảo quyền lợi cao hơn cho người lao động
Thời giờ làm việc tiêu chuẩn được quy định trên cơ sở tiêu chuẩn hoá thời giờ làm việc biểu hiện bằng việc quy định số giờ làm việc trong một ngày
Trang 22đêm, một tuần lễ hoặc số ngày làm việc một tháng, một năm Trong đó, việc tiêu chuẩn hoá ngày làm việc, tuần làm việc là quan trọng nhất, là cơ sở dễ dàng để trả công lao động và xác định tính hợp pháp của các thoả thuận về thời giờ làm việc Ngày làm việc tiêu chuẩn chính là việc quy định độ dài thời gian làm việc của người lao động trong một ngày đêm (24 giờ) và tuần làm việc tiêu chuẩn là số giờ hoặc ngày làm việc trong một tuần (07 ngày)
Thời giờ làm việc tiêu chuẩn được chia làm hai loại: thời giờ làm việc bình thường và thời giờ làm việc rút ngắn
- Thời giờ làm việc bình thường: được áp dụng cho các công việc bình
thường, không có tính chất độc hại, nặng nhọc, nguy hiểm hay đối tượng người lao động đặc biệt nào
Thời giờ làm việc bình thường được quy định tại Điều 104 BLLĐ năm
2012 Theo đó, thời giờ làm việc bình thường của người lao động không quá
08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ
Trên cơ sở quy định về thời giờ làm việc tối đa này, các bên trong quan hệ lao động có quyền thỏa thuận thời gian làm việc cụ thể trong hợp đồng lao động hay thỏa ước lao động tập thể hoặc người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc của đơn vị mình trong nội quy lao động nhưng không được cao hơn thời giờ làm việc luật định Cách quy định như trên khuyến khích cả hai bên
có những thỏa thuận có lợi cho người lao động, khuyến khích các đơn vị sử dụng lao động cạnh tranh giảm giờ làm cho người lao động
Quy định của pháp luật Việt Nam về thời giờ làm việc tiêu chuẩn phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế và các nước trong khu vực Chẳng hạn, Ở Philippine, pháp luật quy định thời giờ làm việc không quá 8 giờ mỗi
Trang 23ngày [38, Điều 84]; Ở Campuchia quy định “Trong tất cả các cơ sở thuộc các loại hình, cho dù cung cấp đào tạo nghề, hoặc mang tính chất từ thiện hoặc nghề tự do, số giờ làm việc của người lao động kể cả nam và nữ không được vượt quá 8 tiếng mỗi ngày, hoặc 48 tiếng mỗi tuần” [9, Điều 137]; Indonesia quy định thời giờ làm việc theo 02 phương án: 7 giờ một ngày và 40 giờ trong một tuần cho 06 ngày làm việc một tuần hoặc 08 giờ làm việc một ngày, 40 giờ làm việc một tuần cho 05 ngày làm việc trong tuần [32, Điều 77, Khoản 2]
- Thời giờ làm việc rút ngắn: là loại thời giờ làm việc có độ dài ngắn
hơn thời giờ làm việc bình thường mà người lao động vẫn hưởng nguyên lương Thời giờ làm việc rút ngắn được áp dụng đối với những người lao động làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc một số đối tượng lao động có đặc điểm riêng như phụ nữ có thai, lao động chưa thành niên, người tàn tật, người cao tuổi Chẳng hạn, người lao động làm các công việc trong điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ LĐ – TB và XH chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành thì thời giờ làm việc không quá 06 giờ trong 01 ngày [42, Điều 104, Khoản 3]; Người lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi có thai đến tháng thứ 07, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương [42, Điều 155, Khoản 2]; Người lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thì thời giờ làm việc bình thường vẫn là không quá 08 giờ trong 01 ngày nhưng không quá 40 giờ trong 01 tuần Đối với người lao động dưới 15 tuổi, thời giờ làm việc không vượt quá 04 giờ trong 01 ngày hoặc 20 giờ trong 01 tuần [42, Điều 163, Khoản 2]
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 45/2013/NĐ – CP ngày 10 tháng 05 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của BLLĐ về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động, một số thời giờ sau được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương: Thời
Trang 24giờ nghỉ trong giờ làm việc; thời giờ nghỉ giải lao theo tính chất của công việc; thời giờ nghỉ cần thiết trong quá trình lao động đã được tính trong định mức lao động cho nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người; thời giờ nghỉ mỗi ngày 60 phút đối với người lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi; thời giờ nghỉ mỗi ngày 30 phút đối với người lao động nữ trong thời gian hành kinh; thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động; thời giờ học tập, huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động; thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc được người sử dụng lao động đồng ý; thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do công đoàn cấp trên triệu tập cán bộ công đoàn không chuyên trách theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời giờ làm việc được rút ngắn mỗi ngày ít nhất 01 giờ đối với người lao động cao tuổi trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu
1.2.1.2 Thời giờ làm thêm
Thời giờ làm thêm là thời giờ làm việc của người lao động ngoài phạm vi thời giờ làm việc tiêu chuẩn được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động của đơn vị sử dụng lao động Người lao động làm thêm giờ được trả tiền lương làm thêm giờ theo quy định của pháp luật
Việc xác định thời giờ làm thêm phụ thuộc vào thời giờ làm việc tiêu chuẩn của từng đối tượng cụ thể Nếu xem xét về hình thức, việc quy định thời giờ làm thêm mâu thuẫn với ý nghĩa và nguyên tắc của việc quy định thời giờ làm việc trong việc đảm bảo thời giờ nghỉ ngơi, quyền bảo hộ lao động của người lao động Tuy nhiên, xem xét trong quan hệ lao động với nhu cầu
và mục đích tham gia của các bên chủ thể thì trong một số trường hợp nhất định, làm thêm giờ là nhu cầu tất yếu, khách quan vì lợi ích của hai bên chủ thể Người lao động cũng muốn được làm thêm giờ để tăng thêm thu nhập trang trải cuộc sống Khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho thấy, có tới 75,5% lao động phải làm thêm giờ để tăng thu nhập và cải thiện
Trang 25cuộc sống [59] Người sử dụng lao động muốn người lao động làm thêm giờ
để hoàn thành đơn hàng, khối lượng công việc… đúng hạn Chính vì vậy, để hạn chế sự lạm dụng từ phía người sử dụng lao động, pháp luật các nước cũng như pháp luật Việt Nam đều quy định những điều kiện nhất định mà người sử dụng lao động phải tuân theo khi huy động người lao động làm thêm giờ
Theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam, người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ 03 điều kiện sau đây:
Một là, việc làm thêm giờ phải được sự đồng ý của người lao động
Quy định này có nghĩa: việc làm thêm giờ là sự tự nguyện của người lao động Nếu người lao động không đồng ý thì người sử dụng lao động không được ép buộc người lao động làm thêm giờ
Tuy nhiên, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào và người lao động không được từ chối trong các trường hợp sau đây: thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật; thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa và khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh và thảm hoạ [42, Điều 107]
Hai là, bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không vượt quá
quy định của pháp luật Cụ thể, thời giờ làm thêm không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày Trong trường hợp đơn vị sử dụng lao động
áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và
số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 12 giờ trong 01 ngày khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần; không quá
30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá
300 giờ trong 01 năm
Trang 26Các trường hợp đặc biệt được làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong 01 năm bao gồm: sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước; các trường hợp khác phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn Khi tổ chức làm thêm giờ trong trường hợp đặc biệt này, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về lao động tại địa phương [11, Điều 4, Khoản 2] Việc quy định chế độ làm thêm giờ giới hạn ở mức tối đa là hết sức cần thiết trong việc bảo vệ sức khỏe của người lao động, đặc biệt đối với các lao động đặc thù
Ba là, sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong 01 tháng (tối
đa 07 ngày liên tục trong tháng), người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ Trường hợp không bố trí nghỉ bù đủ số thời gian thì phải trả lương làm thêm giờ theo quy định của pháp luật
Ngoài quy định chặt chẽ về làm thêm giờ, BLLĐ năm 2012 quy định cấm hoặc hạn chế làm thêm giờ đối với các đối tượng như lao động nữ có thai, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi [42, Điều 115, Khoản 1], lao động chưa thành niên [42, Điều 163, Khoản 2,3], lao động là người khuyết tật bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên [42, Điều 178, Khoản 1]
1.2.1.3 Thời giờ làm việc ban đêm
Thời giờ làm việc ban đêm là khoảng thời gian làm việc được ấn định tuỳ theo vùng khí hậu
Việc quy định thời giờ làm việc ban đêm tùy thuộc vào vùng khí hậu bởi yếu tố khí hậu có ảnh hưởng tới độ dài của đêm Vì vậy hầu hết các nước khi quy định về thời giờ làm đêm rất linh hoạt, căn cứ vào khu vực địa lý, mùa trong năm… thậm chí cả độ tuổi giới tính của người lao động Ví dụ,
Trang 27Luật lao động tiêu chuẩn Nhật Bản quy định thời gian làm đêm tính từ 22 giờ đến 5 giờ nhưng tùy theo mùa, khu vực và độ tuổi của người lao động có nơi được tính từ 23 giờ đến 6 giờ hoặc tính từ 22 giờ 30 đến 5 giờ 30 Ở Campuchia, Điều 144 Luật lao động quy định, đêm là khoảng thời gian ít nhất 11 giờ liên tục có nghỉ giải lao trong khoảng 22 giờ đến 5 giờ sáng
Trước đây, theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 195/CP ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ năm 1994 về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thì thời giờ làm đêm được tính theo từng khu vực (từ Thừa Thiên – Huế trở ra phía Bắc được tính từ 22 giờ đến 6 giờ; từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào phía Nam được tính từ 21 giờ đến 5 giờ) Tuy nhiên, hiện nay, Điều 105 BLLĐ năm 2012 quy định thời giờ làm đêm thống nhất trong toàn quốc, từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau
Làm việc ban đêm có những ảnh hưởng, biến đổi nhất định đến tâm sinh lý của người lao động, làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện cho sự phát triển của các tình trạng bệnh lý (nếu có)… Điều này dẫn đến nhu cầu được bảo vệ và bù đắp hao phí sức lao động cao hơn so với làm việc vào ban ngày Chính vì vậy, người lao động làm việc vào ban đêm được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương và tiền lương của công việc đang làm vào ban ngày [42, Điều 97, Khoản 2] Khi làm việc ban đêm người lao động cũng được nghỉ ngơi nhiều hơn so với làm việc ban ngày Nếu làm việc ca đêm được nghỉ ít nhất 45 phút tính vào giờ làm việc [42, Điều 108, Khoản 2]
Mặt khác, do những ảnh hưởng nhất định của làm việc ban đêm đối với sức khỏe của người lao động nên pháp luật của Việt Nam cũng như của đa số các nước cũng quy định hạn chế làm đêm đối với một số đối tượng ILO có ba công ước về thời giờ làm đêm của lao động nữ và ba công ước làm đêm của lao động chưa thành niên Ở Việt Nam, các đối tượng thuộc trường hợp cấm
Trang 28hoặc bị hạn chế làm thêm giờ cũng thuộc các đối tượng không được hoặc hạn chế làm thêm ban đêm
1.2.1.4 Thời giờ làm việc linh hoạt
Thời giờ làm việc linh hoạt là thời giờ làm việc cho phép người lao động lựa chọn số giờ làm việc trong một ngày, một tuần hoặc được giao việc làm ở nhà…
Loại thời giờ làm việc này khó áp dụng trong điều kiện tổ chức sản xuất và lao động theo dây chuyền khép kín nhưng lại phù hợp với lao động giản đơn thủ công trong thương mại và dịch vụ Mục đích của việc quy định này nhằm tạo điều kiện cho những người lao động có hoàn cảnh đặc biệt hoặc làm công việc đặc biệt như lao động nữ, người chưa thành niên, người cao tuổi, người tàn tật, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao … có cơ hội tìm việc làm phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình
Đặc trưng cơ bản nhất của thời giờ làm việc linh hoạt chính là sự co dãn, mềm dẻo về độ dài thời gian và thời điểm làm việc của người lao động Các bên trong quan hệ lao động có thể thoả thuận để điều chỉnh độ dài cũng như thời điểm làm việc và tự phân phối thời gian làm việc cho phù hợp với nguyện vọng cá nhân và yêu cầu chung của đơn vị sử dụng lao động
Mô hình cơ bản của thời giờ làm việc linh hoạt là xê dịch thời gian làm việc (biến đổi thời điểm làm việc) và thời gian làm việc không đầy đủ (biến đổi độ dài thời gian làm việc)
- Mô hình xê dịch thời gian làm việc: áp dụng cho những người lao động làm việc đủ thời gian quy định Theo đó, người lao động được quyền xê dịch thời gian bắt đầu và kết thúc làm việc theo tiêu chí ngày, tháng, năm làm việc
- Mô hình thời giờ làm việc không đầy đủ: thường được áp dụng cho những người lao động làm việc không trọn thời gian (theo ngày, tuần, tháng,
Trang 29năm làm việc) Theo mô hình này thì độ dài thời gian làm việc của người lao động ngắn hơn độ dài thời gian làm việc của người làm việc tương tự mà làm đầy đủ thời gian theo quy định
Ở Việt Nam, thời giờ làm việc linh hoạt với mô hình xê dịch thời gian làm việc không được quy định cụ thể trong pháp luật lao động mà do các bên của quan hệ lao động tự thoả thuận Hiện nay ở nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam, với một số vị trí làm việc, người sử dụng lao động cho phép người lao động đăng ký lựa chọn thời điểm bắt đầu làm việc (ví dụ, bắt đầu làm việc từ
9 giờ, sẽ kết thúc thời gian làm việc vào 18 giờ; bắt đầu từ 8.30 sẽ kết thúc vào lúc 17 giờ 30)
BLLĐ năm 2012 chỉ quy định về thời giờ làm việc linh hoạt theo mô hình thời giờ làm việc không đầy đủ Theo quy định tại Điều 34 BLLĐ năm 2012, người lao động làm việc không trọn thời gian là người lao động
có thời gian làm việc ngắn hơn sao với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần được quy định trong pháp luật về lao động, thoả ước lao động tập thể doanh nghiệp, thoả ước lao động tập thể ngành hoặc quy định của người sử dụng lao động Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động làm việc không trọn thời gian khi giao kết hợp đồng lao động Người lao động làm việc không trọn thời gian được hưởng lương, các quyền và nghĩa vụ như người lao động làm việc trọn thời gian, quyền bình đẳng về cơ hội, không bị phân biệt, đối xử, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động
Ngoài trường hợp làm việc không trọn thời gian do hai bên tự thoả thuận, Điều 166 BLLĐ năm 2012 còn quy định về áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian đối với người lao động cao tuổi và người lao động đang làm việc năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu
Trang 301.2.2 Pháp luật về thời giờ nghỉ ngơi
1.2.2.1 Thời giờ nghỉ có hưởng lương
* Nghỉ trong giờ làm việc, nghỉ chuyển ca
Thời giờ nghỉ trong giờ làm việc là thời gian xen vào giữa thời giờ làm việc trong một ngày đối với người lao động và được tính là thời gian làm việc của người lao động
Điều 108 BLLĐ năm 2012 và Điều 5 Nghị định số 45/2013/NĐ – CP
đã quy định về thời giờ nghỉ trong giờ việc của người lao động như sau: Thời gian nghỉ giữa giờ làm việc được coi là thời giờ làm việc áp dụng trong ca liên tục 08 giờ trong điều kiện bình thường hoặc 06 giờ trong trường hợp được rút ngắn Người lao động làm việc vào ban ngày, được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút Trường hợp làm việc ban đêm, người lao động được nghỉ giữa giờ ít nhất 45 phút, tính vào thời giờ làm việc Thời điểm nghỉ cụ thể do người
sử dụng lao động quyết định Ngoài thời giờ nghỉ ngơi trong ca làm việc bình thường như trên, người lao động làm việc trong ngày từ 10 giờ trở lên kể cả
số giờ làm thêm thì được nghỉ thêm ít nhất 30 phút tính vào giờ làm việc Ngoài thời gian nghỉ giữa giờ theo quy định của pháp luật, người sử dụng lao động quy định trong Nội quy lao động thời điểm các đợt nghỉ ngắn và ghi vào nội quy lao động của đơn vị
Quy định cho phép người sử dụng lao động được chủ động quyết định thời điểm nghỉ cụ thể trong giờ làm việc nhằm tạo điều kiện cho việc tự chủ điều hành hoạt động của đơn vị một cách linh hoạt Người sử dụng lao động
có thể bố trí cho tất cả mọi người lao động nghỉ cùng một lúc hoặc có thể bố trí thay phiên nhau nghỉ Thời điểm nghỉ cụ thể do người sử dụng lao động bố trí căn cứ vào tính chất công việc và yêu cầu của cơ sở sản xuất kinh doanh
Nhằm bảo vệ sức khoẻ cho người lao động làm việc theo ca, Điều 109 BLLĐ năm 2012 quy định người lao động làm việc theo ca được nghỉ ít nhất
12 giờ trước khi chuyển sang ca làm việc khác
Trang 31* Nghỉ lễ, tết
Theo quy định tại Điều 115 BLLĐ năm 2012 và Điều 8 Nghị định số 45/2013/NĐ - CP người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương những ngày lễ, tết sau:
- Tết dương lịch: 01 ngày (ngày 1 tháng 1 dương lịch)
- Tết âm lịch: 05 ngày (người sử dụng lao động có thể lựa chọn cho nghỉ theo một trong 2 phương án: 01 ngày cuối năm và 04 ngày đầu năm âm lịch hoặc 02 ngày cuối năm và 03 ngày đầu năm âm lịch Người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo phương án nghỉ Tết Âm lịch cho người lao động trước khi thực hiện ít nhất 30 ngày)
- Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch)
- Ngày Chiến thắng: 01 ngày (ngày 30tháng 4 dương lịch)
- Ngày Quốc tế lao động: 01 ngày (ngày 1 tháng 5 dương lịch)
- Ngày Quốc khánh: 01 ngày (ngày 2 tháng 9 dương lịch)
Ngoài những ngày nghỉ trên, đối với người lao động là người nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức của người Việt Nam được nghỉ thêm 01 ngày tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước họ
Nếu những ngày nghỉ nói trên trùng vào ngày nghỉ hàng tuần thì người lao động được nghỉ bù vào ngày tiếp theo
Có thể nói các quy định nói trên đã tạo điều kiện cho người lao động yên tâm nghỉ ngơi, giúp người lao động có điều kiện chăm lo gia đình Đồng thời đây là cơ sở pháp lý bảo vệ người lao động tránh bị người sử dụng lao động lạm dụng sức lao động
* Nghỉ hằng năm
- Điều kiện nghỉ hằng năm
Theo quy định tại Điều 111 BLLĐ năm 2012, người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương Thời gian được coi là thời gian làm việc của người lao
Trang 32động cho một người sử dụng lao động để tính ngày nghỉ hằng năm được quy định rõ tại Điều 6 Nghị định số 45/2013/NĐ – CP Cụ thể: Thời gian học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động theo cam kết trong hợp đồng học nghề, tập nghề; thời gian thử việc theo hợp đồng lao động sau
đó làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo khoản 1 Điều 116 của Bộ luật lao động; thời gian nghỉ việc không hưởng lương nếu được người sử dụng lao động đồng ý nhưng cộng dồn không quá 01 tháng; thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng cộng dồn không quá 06 tháng; thời gian nghỉ do ốm đau nhưng cộng dồn không quá 02 tháng; thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không
do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc; thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội
Về cơ bản, quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện nghỉ hằng năm cũng tương đồng với các nước trong khu vực Ở Indonesia, người lao động được nghỉ hằng năm là 12 ngày làm việc sau khi người lao động làm việc 12 tháng liên tục [32, Điều 79, Khoản 2] Ở Philipine quy định về quyền được thưởng phép như sau “một người lao động đã làm việc ít nhất 01 năm sẽ được thưởng 05 ngày hằng năm có lương” [38, Điều 95]; Ở Campuchia tất cả người lao động có quyền được nghỉ phép hằng năm theo tỷ lệ 1,5 ngày nghỉ phép có lương cho một tháng làm việc liên tục [9, Điều 166]
- Số ngày nghỉ hằng năm
Thời gian để tính nghỉ hằng năm là theo năm dương lịch Nếu người lao động có thời gian làm việc đủ 12 tháng kể cả thời gian được coi là thời gian làm việc theo Điều 5 Nghị định 45/2013/NĐ - CP nêu trên, thì được nghỉ
Trang 33hàng năm đủ số ngày quy định Cụ thể: 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường; 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có
có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ LĐ – TB và XH chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật; 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ LĐ – TB và XH chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành
Ngoài ra số ngày nghỉ hằng năm còn được tính theo thâm niên làm việc Cứ 5 năm làm việc cho doanh nghiệp hoặc một người sử dụng lao động thì được tính nghỉ thêm 01 ngày Đây là quy định nhằm bù đắp lại công sức
mà người lao động bỏ ra
Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động, pháp luật cũng quy định nếu chưa đủ 12 tháng thì ngày nghỉ hằng năm được tính tương ứng với số tháng làm việc trong năm Cụ thể, lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày được nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm để tính thành số ngày được nghỉ hằng năm; kết quả phép tính lấy tròn số hàng đơn vị, nếu phần thập phân lớn hơn hoặc bằng 0,5 thì làm tròn lên 01 đơn vị
- Cách thức nghỉ hằng năm
Về cách thức nghỉ hằng năm, người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động trong doanh nghiệp Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần [42, Điều 111, Khoản 2,3]
Để tạo điều kiện nghỉ ngơi tối đa cho những người lao động nghỉ hằng
Trang 34năm ở những địa điểm quá xa, mất nhiều thời gian đi lại, khoản 4 Điều 111 BLLĐ năm 2012 quy định: Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thuỷ mà số ngày đi đường cả đi
và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm
- Thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ
Theo quy định của BLLĐ năm 2012, những ngày nghỉ hằng năm, người lao động được hưởng nguyên lương Khi nghỉ hằng năm, người lao động được ứng trước một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ Tiền lương làm căn cứ để trả cho người lao động trong ngày nghỉ hằng năm là tiền lương ghi trong hợp đồng lao động của tháng trước liền kề, chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của người sử dụng lao động, nhân với số ngày người lao động nghỉ hằng năm [14, Điều 26, Khoản 2]
Theo quy định tại Điều 114 BLLĐ năm 2012 thì người lao động được trả lương những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc ngày chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm trong những trường hợp sau: người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm được tính như sau: Đối với người lao động đã làm việc từ đủ 06 tháng trở lên là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm Đối với người lao động chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm vì các lý do khác là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người sử dụng lao động tính trả bằng tiền những ngày chưa nghỉ hằng năm Đối với người lao động có thời gian làm việc dưới 06 tháng là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của toàn bộ thời gian làm việc Tiền lương tính
Trang 35trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm là tiền lương chia cho số ngày làm việc bình thường theo quy định của người sử dụng lao động của tháng trước liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động tính trả, nhân với số ngày chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm
Có thể nói, pháp luật về nghỉ hằng năm khá hoàn chỉnh Các quy định về nghỉ hàng năm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động được nghỉ ngơi, giúp
họ giảm bớt những mệt nhọc, căng thẳng trong công việc, đồng thời giúp người
sử dụng lao động chủ động hơn trong việc bố trí, sắp xếp, tổ chức kinh doanh
* Nghỉ việc riêng hưởng nguyên lương
Nghỉ về việc riêng là thời gian nghỉ để người lao động giải quyết nhu cầu tình cảm cá nhân hoặc gia đình họ Khoản 1 Điều 116 BLLĐ năm 2012 quy định người lao động được nghỉ việc riêng, hưởng nguyên lương trong những trường hợp sau: Bản thân người lao động kết hôn: nghỉ 03 ngày; con của người lao động kết hôn: nghỉ 01 ngày; bố, mẹ (kể cả bên chồng và bên vợ) chết, vợ hoặc chồng chết, con chết: nghỉ 3 ngày
Tuy nhiên, pháp luật khi quy định nghỉ vì việc riêng cần tính đến điều kiện đi lại bao gồm cả thời gian đi lại vì nhiều trường hợp nơi nghỉ việc riêng
và nơi làm việc cần thời gian đi lại
1.2.2.2 Thời giờ nghỉ không hưởng lương
* Nghỉ hằng tuần
Ngày nghỉ hằng tuần là hết sức cần thiết để người lao động tái tạo sức lao động Theo quy định tại Điều 110 BLLĐ năm 2012 thì mỗi tuần, người lao động được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục Người sử dụng lao động được quyền chủ động trong việc quy định ngày nghỉ hằng tuần (có thể vào ngày chủ nhật hoặc một ngày cố định khác trong tuần) nhưng phải ghi vào nội quy lao động của đơn vị mình Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động
Trang 36không thể nghỉ hằng tuần thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đảm bảo cho người lao động được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày Dự thảo BLLĐ sửa đổi năm 2018 giữ nguyên quy định về ngày nghỉ hằng tuần của BLLĐ năm 2012
Trong những ngày nghỉ hằng tuần, người lao động không được hưởng lương Nếu người sử dụng lao động yêu cầu người lao động làm thêm giờ và được người lao động đồng ý thì phải trả lương làm thêm giờ theo mức 200%
so với tiền lương làm việc vào ngày bình thường
Quy định về ngày nghỉ hằng tuần của pháp luật Việt Nam hoàn toàn phù hợp với quy định về ngày nghỉ hằng tuần của ILO Ngày nghỉ hằng tuần được ILO quy định trong Công ước số 14 năm 1921 về nghỉ hằng tuần trong công nghiệp, Công ước số 106 năm 1957 về nghỉ hằng tuần trong thương mại và văn phòng Theo đó, mỗi tuần làm việc người lao động được nghỉ ít nhất là 01 ngày làm việc Trên cơ sở đó, hiện nay, xu hướng giảm giờ làm việc và tăng ngày nghỉ hằng tuần đang phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Hầu hết các nước trong khu vực ASEAN đều quy định người lao động được nghỉ ít nhất 01 ngày liên tục nhưng quy định ngày nghỉ khác nhau Chẳng hạn, ở Thái Lan ngày nghỉ hằng tuần có thể ấn định dựa trên sự thỏa thuận của người sử dụng lao động và người lao động nhưng phải đảm bảo ít nhất 01 tuần có 01 ngày nghỉ và khoảng cách giữa các ngày nghỉ hằng tuần không dưới 6 ngày [52, Phần 28]; ở Philipine, người lao động được nghỉ 24 giờ liên tục sau 06 ngày làm việc bình thường liên tục Người sử dụng lao động sẽ quyết định và lên lịch nghỉ hằng tuần cho người lao động Tuy nhiên, người sử dụng lao động phải tôn trọng sự lựa chọn của người lao động về ngày nghỉ hằng tuần khi sự lựa chọn đó dựa trên cơ sở tôn giáo [38, Điều 91]
* Nghỉ việc riêng không hưởng lương
Theo quy định tại khoản 2 Điều 116 BLLĐ năm 2012, người lao động
Trang 37được nghỉ việc riêng 01 ngày nhưng không được hưởng lương và phải thông báo với người sử dụng lao động khi có những sự kiện pháp lý sau: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị,
em ruột kết hôn
Đây là quy định mới của BLLĐ năm 2012 Quy định này tạo điều kiện cho người lao động được nghỉ việc để khi những người thân thích của mình bị chết hoặc khi anh, chị, em ruột của mình kết hôn Đây là quy định hoàn toàn phù hợp với thực tiễn vì khi gia đình người lao động có những sự kiện trên, hầu hết người lao động đều nghỉ việc
* Nghỉ không hưởng lương theo thỏa thuận
Bên cạnh việc quy định một số thời gian nghỉ theo chế độ, pháp luật cũng tôn trọng nguyên tắc tự do thoả thuận của các bên, đảm bảo quan hệ giữa các bên diễn ra hài hòa bằng việc cho phép các bên được tự do thoả thuận thời giờ nghỉ theo nhu cầu và phù hợp với điều kiện của các bên Khoản
3 Điều 116 BLLĐ năm 2012 quy định: “Người lao động có thể thỏa thuận với
Người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương”
1.2.3 Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với những người làm công việc có tính chất đặc biệt và một số đối tượng người lao động đặc thù
1.2.3.1 Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với những người làm công việc có tính chất đặc biệt
Việc quy định một thời giờ làm việc và nghỉ ngơi riêng biệt, hợp lý nhằm bảo vệ cho người lao động làm những công việc đặc biệt Đối với các công việc có tính chất đặc biệt như: vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không, thăm dò khai thác dầu khí trên biển, trong các lĩnh vực nghệ thuật, sử dụng kỹ thuật bức xạ và hạt nhân, ứng dụng kỹ thuật sóng cao tần, công việc của thợ lặn, công việc của thợ hầm lò, các công việc sản xuất
có tính thời vụ và các công việc gia công hàng xuất khẩu theo đơn đặt hàng,
Trang 38các công việc phải thường trực 24/24 giờ thì các Bộ, Ngành trực tiếp quản lý các công việc trên quy định cụ thể thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, sau khi thoả thuận với Bộ LĐ- TB và XH
(i) Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với các đối tượng là những người lao động làm công việc bức xạ, hạt nhân
Người lao động làm các công việc bức xạ, hạt nhân là đối tượng lao động đặc biệt Tùy vào nhóm ngành nghề họ đảm nhiệm, cũng như mức độ độc hại, tính chất nguy hiểm của công việc, mức độ ảnh hưởng bởi bức xạ ion hoá gây ra đối với người lao động làm công việc bức xạ, hạt nhân mà pháp luật có những quy định riêng nhằm bảo đảm sức khỏe, tính mạng cũng như hiệu quả công việc cho người lao động Thông tư số 31/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thực hiện chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với những người làm công việc bức xạ, hạt nhân:
* Thời giờ làm việc
Theo quy định tại điểm 1 phần II, Thông tư số 31/2007 thì: Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn 02 giờ đối với nhân viên bức xạ làm nghề, công việc quy định tại Nhóm 1 của Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 31/2007/TT-BKHCN Cụ thể những người lao động làm các công việc sau: Làm việc trong lò phản ứng hạt nhân; sản xuất đồng vị phóng xạ; vận hành thiết bị chiếu xạ công nghiệp (khử trùng, bảo quản thực phẩm, biến tính vật liệu…); vận hành thiết bị chiếu xạ có thiết kế tự che chắn, thiết bị chiếu xạ mô/máu; vận hành thiết bị chụp ảnh phóng xạ công nghiệp; sử dụng các thiết
bị đo mật độ/ độ ẩm dùng nguồn phóng xạ ngoài hiện trường; làm việc với các nguồn phóng xạ hở trong y học hạt nhân và trong ứng dụng đồng vị phóng xạ khác; khai thác, chế biến, xử lý quặng phóng xạ
Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn 01 giờ đối với nhân viên bức xạ làm nghề, công việc bức xạ, hạt nhân khác quy định tại Nhóm 2 của
Trang 39Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 31 Cụ thể, những người làm công việc: vận hành các thiết bị đo bức xạ trong y học hạt nhân; vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng các thiết bị đo hạt nhân trong công nghiệp: thiết bị đo mức, thiết bị đo chiều dày, thiết bị đo độ tro than, thiết bị đo mật độ, thiết bị soi bo mạch, thiết
bị khử tĩnh điện; sử dụng các nguồn phóng xạ chuẩn, mẫu chuẩn phóng xạ cho thiết bị đo bức xạ; sử dụng các thiết bị phân tích huỳnh quang tia X, bắt điện tử, phổ kế Mossbauer; vận chuyển nguồn phóng xạ, chất thải phóng xạ; vận hành máy soi chiếu hành lý, kiểm tra an ninh
Để bảo vệ sức khoẻ cho những người lao động làm công việc bức xạ, pháp luật không cho phép người sử dụng lao động thoả thuận với người lao động để làm thêm giờ, trừ trường hợp đặc biệt (như khắc phục sự cố, tai nạn nghiêm trọng), đơn vị sử dụng lao động được phép huy động nhân viên bức
xạ làm thêm giờ, nhưng không quá 3 giờ trong một ngày
* Thời giờ nghỉ ngơi
Thời giờ nghỉ ngơi với người lao động làm các công việc liên quan đến bức
xạ, hạt nhân được quy định tại điểm 2, phần II của Thông tư số BKHCN Theo đó, người lao động làm công việc bức xạ ngoài thời giờ làm việc được rút ngắn thì còn được nghỉ ít nhất 30 phút nếu làm việc vào ban ngày và 45 phút nếu làm việc vào ban đêm, tính vào giờ làm việc
31/2007/TT-Trong trường hợp người lao động làm công việc bức xạ được yêu cầu làm thêm từ 02 giờ trở lên trong ngày, trước khi làm thêm phải được bố trí nghỉ ít nhất 30 phút tính vào thời giờ làm thêm
Do tính chất nguy hiểm của công việc nên số ngày nghỉ hàng năm của người lao động làm công việc bức xạ cũng nhiều hơn người lao động bình thường Cụ thể: Nhân viên bức xạ làm nghề, công việc bức xạ, hạt nhân thuộc Nhóm 1 của Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 31 được nghỉ hàng năm là
16 ngày làm việc Nhân viên bức xạ làm nghề, công việc bức xạ, hạt nhân
Trang 40thuộc Nhóm 2 của Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 31 được nghỉ hàng năm là 14 ngày làm việc
(ii) Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm việc trong các trang trại
Theo Thông tư số 23/2000/TT-BLĐTBXH hướng dẫn áp dụng một số chế độ đối với người lao động làm việc trong các trang trại thì người lao động làm việc trong các trang trại là người lao động ít nhất đủ 15 tuổi có khả năng lao động và có ký kết hợp đồng lao động hoặc thoả thuận lao động với chủ trang trại bao gồm: Lao động nông thôn (nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản)
chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm; lao động tự do; lao động đang trong
thời gian chờ việc, ngừng việc Do tính chất đặc thù đó mà thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động được quy định như sau:
- Trường hợp khoán theo khối lượng công việc, khối lượng sản phẩm:
người lao động tự bố trí thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi nhưng phải hoàn thành công việc theo thời hạn mà hai bên đã cam kết
- Trường hợp chủ trang trại quản lý thời giờ làm việc để trả công: thời
giờ làm việc do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 8 giờ/ngày Khi có nhu cầu khắc phục thiên tai, giải quyết khó khăn cho kịp thời vụ thì hai bên thoả thuận kéo dài thời giờ làm việc nhưng thời giờ làm thêm không quá 4 giờ/ngày Tiền công và phụ cấp làm thêm giờ do hai bên thoả thuận
Trường hợp làm việc 30 ngày/tháng thì cứ sau 6 ngày làm việc người lao động được nghỉ 1 ngày, nhưng ngày nghỉ không nhất thiết vào ngày chủ nhật mà do hai bên thoả thuận
Trường hợp thời hạn làm việc liên tục từ 1 năm trở lên thì cứ 01 năm làm việc người lao động được nghỉ phép 12 ngày có hưởng tiền công Nếu có tháng lẻ thì cứ mỗi tháng được nghỉ thêm 01 ngày Thời gian nghỉ cụ thể do hai bên thoả thuận Hai bên có thể thoả thuận để người lao động được nhận tiền công thay cho nghỉ phép