Tình hình nghiên cứu đề tài Về vấn đề nghiên cứu quyền con người nói chung, trong đó có một phần nghiên cứu về người đồng tính, song tính và chuyển giới có thể kể đến các công trình ngh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH TÙNG
QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH
VÀ CHUYỂN GIỚI: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thanh Tùng
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI 8
1.1 Khái niệm đồng tính, song tính và chuyển giới 8
1.2 Những vấn đề đặt ra đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới 15
1.3 Vị trí, vai trò của quyền người đồng tính, song tính và chuyển giới trong hệ thống pháp luật về quyền con người 17
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
Chương 2: QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI TRONG CÁC VĂN KIỆN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 30
2.1 Pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong các công ước quốc tế 30
2.1.1 Hiến chương Liên Hợp Quốc 36
2.1.2 Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền 37
2.1.3 Nguyên tắc Yogyakarta về quyền của người đồng tính 39
2.2 Pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới tại một số quốc gia trên thế giới 42
Trang 42.2.1 Pháp luật một số quốc gia đối với quyền của người đồng tính và
song tính 42
2.2.2 Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về quyền của người chuyển giới 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
Chương 3: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI Ở VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NHÓM NGƯỜI NÀY 62
3.1 Thực trạng xã hội về người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam 62
3.2 Thực trạng pháp luật về người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam 67
3.2.1 Quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong pháp luật Việt Nam hiện hành 67
3.2.2 Những vướng mắc, bất cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới 91
3.3 Quan điểm và những giải pháp cơ bản bảo đảm quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam 97
3.3.1 Một số quan điểm định hướng chung 97
3.3.2 Những giải pháp pháp lý về bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới 99
3.3.3 Những giải pháp về mặt nhận thức và xã hội 110
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 112
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
APA: Hiệp hội Tâm lý Hoa kỳ (American Psychological
Association) BLDS: Bộ luật dân sự 2005 BLHS: Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 HIV/AIDS: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (viết tắt
tiếng Anh của từ Human immunodeficiency virus infection/Acquired immunodeficiency syndrome) ILO: Tổ chức lao động quốc tế
LGBT: Người đồng tính, song tính và chuyển giới (lesbian,
gay, bisexual, transgender) MSM: Man who have Sex with Man ( Nam quan hệ tình
dục đồng giới)
OHCHR: Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền
(Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights)
UNFPA: Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc UNHRC: Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc UNICEF: Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc
WHO: Tổ chức Y tế thế giới
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các quốc gia và vùng lãnh thổ hợp pháp hóa quan hệ
Bảng 3.1: Đặc điểm tính dục người LGBT ở Việt Nam 64 Bảng 3.2: Tình trạng nghề nghiệp và thu nhập người LGBT ở Việt Nam 65 Bảng 3.3: Tỷ lệ người dân có quen biết người đồng tính chia theo
vùng và nhóm tuổi 79 Bảng 3.4: Quan điểm của người dân về tác động của hợp pháp hóa
hôn nhân đồng giới chia theo vùng và nhóm 79
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tự do chính là một trong những qui luật hình thành các giá trị con người Không có tự do thì không có con người hay con người không có nhân cách toàn diện Chính vì lẽ đó mà Điều đầu tiên trong Tuyên Ngôn Quốc tế về
Quyền con người 1948 ghi rằng: “Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng
về nhân phẩm và các quyền” [15]
Có lẽ câu hỏi lớn nhất trong cuộc đời mỗi chúng ta phải trả lời: Tôi là
ai? Khi biết mình là ai rồi thì chúng ta mới sống đúng với con người thật của
mình được Nếu như bạn được tạo hóa tạo ra có đôi chút khiếm khuyết mà trở nên khác thường thì liệu rằng bạn có thể sống tự do và bình đẳng với những người khác Câu trả lời tất nhiên là có, nhưng đằng sau nó là cả một sự đấu tranh không biết mệt mỏi để giành được sự tự do và bình đẳng này
Cộng đồng những người đồng tính, song tính và chuyển giới trên thế giới cũng như ở Việt Nam luôn phải hứng chịu những sự kỳ thị, phân biệt của
xã hội, khiến ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền tự do, bình đẳng của nhóm người này Việc phân biệt, đối xử trong suốt quá trình lịch sử khiến cho
quyền của nhóm người này đang bị đe dọa ngày càng nghiêm trọng hơn
Hiện nay, quyền những người đồng tính, song tính, chuyển giới thường được gọi chung là quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới đang được vận động pháp điển hóa trong luật quốc tế một cách mạnh mẽ Đây là một vấn đề gây nhiều tranh cãi trên lĩnh vực quyền con người trong vài thập
kỷ gần đây Những người ủng hộ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới đã lập nên các tổ chức và phát động những phong trào mang tích chất toàn cầu để vận động cho việc thừa nhận và pháp điển hóa các quyền được kết hôn giữa người đồng giới; quyền được nuôi con nuôi của các cặp
Trang 82
đồng giới nam; và trên hết là quyền của tất cả những người đồng tính, song tính và chuyển giới không bị phân biệt đối xử do xu hướng tính dục và bản
dạng giới của họ "Tính đến nay, trên thế giới có 16 quốc gia thừa nhận quyền
kết hôn bình đẳng trên toàn lãnh thổ và 02 quốc gia chỉ công nhận ở một số bang/tiểu bang/vùng lãnh thổ" [28] Bên cạnh đó một số quốc gia khác cũng
chấp nhận hai người đồng giới đăng ký sống hợp pháp cùng nhau dưới những hình thức kết hợp dân sự, quan hệ có đăng ký, quan hệ gia đình có đủ quyền
lợi như vợ chồng dị tính khác
Không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia, phòng trào vận động cho các quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới còn mở rộng cuộc vận động các tổ chức quốc tế và tổ chức khu vực Phong trào này đã thành công trong việc nhận được sự ủng hộ của Liên minh Châu Âu và Tổ chức các nước Châu Mỹ Họ đã trình lên Liên Hợp Quốc một dự thảo Tuyên bố của
Liên Hợp Quốc về xu hướng tính dục và bản dạng giới (the United Nations
Declaration on Sexual Orientation and Gender Identity) vào ngày 18/12/2008
Nội dung của dự thảo Tuyên bố lên án những hành vi bạo lực, quấy rối, phân biệt đối xử, loại trừ, kỳ tị, định kiến, giết hại, hành quyết, tra tấn, bắt giữ và tước bỏ các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội dựa trên về xu hướng tính dục và
bản dạng giới
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Quyền của người đồng tính,
song tính và chuyển giới: Pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam"
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với mục đích so sánh về pháp luật và thực tiễn về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên thế giới
và ở Việt Nam Từ những nghiên cứu cơ bản về pháp luật, thực tiễn ở các cấp
độ, các phạm vi sẽ mang lại những bài học, kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật liên quan đến quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam sao cho phù hợp với
Trang 93
luật nhân quyền quốc tế nói chung và về quyền của người đồng tính, song tính
và chuyển giới nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Về vấn đề nghiên cứu quyền con người nói chung, trong đó có một phần nghiên cứu về người đồng tính, song tính và chuyển giới có thể kể đến
các công trình nghiên cứu như: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Giáo
trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nhà xuất bản Đại học quốc
gia Hà Nội, năm 2011; Tác giả Hoàng Thị Kim Quế với các bài viết: Quyền
con người và giáo dục quyền con người ở Việt nam hiện nay, Tạp chí Khoa
học Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i (số 4-2006); Quyền con người, đạo đức và
pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2012; Trách nhiệm nhà nước trong việc thừa nhận, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2012 Những công trình nghiên cứu về quyền con người trên tạo ra cơ sở lý luận chung cho các nghiên cứu khác về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trong thời gian gần đây cụm từ người đồng tính, song tính và chuyển giới ngày một nhiều hơn, nó xuất hiện dầy đặc trên các báo, tạp chí khi Bộ tư pháp gửi Công văn đề nghị các tổ chức, đoàn thể cũng như mọi người góp ý kiến cho Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi, bổ sung năm 2014, có một nội dung liên quan đến quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới, đó là công nhận hay không công nhận hôn nhân đồng tính trong pháp luật Việt Nam
Từ đó, có rất nhiều luồng dư luận, những ý kiến trái chiều đến từ các cuộc hội thảo lớn, nhỏ về vấn đề này Song đối với Việt Nam thì vấn đề này còn tương đối mới, có lẽ là mới nhất trong các chủ đề của các vấn đề quyền con người, gây tranh cãi không chỉ ở nước ta và còn ở nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng như phạm vi quốc tế
Trang 104
Đối với việc nghiên cứu các quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới, hiện chúng ta chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới về quy mô cũng như chất lượng, hiện chỉ có thể liệt kê một số tư liệu tham khảo tiêu biểu là một số bài viết được
đăng trên các tạp chí: Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về quyền của
người đồng tính, tác giả Trương Hồng Quang, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư
pháp; Thực tiễn pháp luật Việt Nam về quyền của người đồng tính, tác giả Trương Hồng Quang, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp; Quyền con người
được sống theo đúng giới tính của mình, Cao Vũ Minh, Kỷ yếu tọa đàm khoa
học: Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04/12/2010
Riêng đối với người chuyển giới thì hiện tại chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về người chuyển giới ngoài nghiên cứu bước đầu về người chuyển giới tại Việt Nam do Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE)
thực hiện vào tháng 6-8/2012: Người chuyển giới ở Việt Nam: Những vấn đề
thực tiễn và pháp lý, nhóm tác giả: Phạm Quỳnh Phương, Lê Quang Bình,
Mai Thanh Tú; “Vượt giới” tại Việt Nam: Tổng thuật tài liệu và đề xuất cho
tương lai do Nguyễn Thu Hương thực hiện tháng 5 năm 2012
Ngoài ra gần đây nhất còn cần kể đến cuốn sách của tác giả Trương
Hồng Quang về người đồng tính, song tính và chuyển giới đó là cuốn Người
đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp luật, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Đây là cuốn sách đã có
những đánh giá hết sức cơ bản và tổng thể về vấn đề người đồng tính, song tính và chuyển giới ở cả khía cạnh thực tiễn lần quy định của pháp luật
Do vậy đòi hỏi cần thiết có những đề tài đi sâu phân tích và so sánh nội dung quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên thế giới và ở Việt Nam, chứ không chỉ là đề tài nghiên cứu góc độ nhất định về các quyền
Trang 115
của người đồng tính, song tính và chuyển giới, hoặc là những nghiên cứu về các nhóm đơn lẻ khác nhau của người đồng tính, song tính và chuyển giới Chính vì vậy, mong muốn của tác giả khi triển khai nghiên cứu đề tài này là góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định các quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới, góp phần vận động pháp điển hóa trong luật quốc tế và luật quốc gia ở Việt Nam Trên cơ sở phân tích, so sánh giữa các quy định pháp luật liên quan đến quyền của người đồng tính, song tính
và chuyển giới và định hướng chuẩn chung của thế giới liên quan vấn đề này
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quát về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới; đánh giá pháp luật liên quan đến quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam; từ đó đưa ra những giải pháp cơ bản để đảm bảo quyền của nhóm người này ở Việt Nam hiện nay Cụ thể, đề tài tập trung giải quyết những vấn đề sau đây:
- Trình bày và phân tích ý nghĩa của việc ghi nhận các quyền của người
đồng tính, song tính và chuyển giới
- Phân tích so sánh luật về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong pháp luật một số nước tiêu biểu trên thế giới và Việt Nam Hướng tới đóng góp để hoàn thiện Tuyên bố quốc tế chung về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới phù hợp tiêu chuẩn nhân quyền chung của thế giới thể hiện trong Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế năm 1948
và Công ước về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội 1966
- Đưa ra đề xuất, kiến nghị về việc sửa đổi, bổ sung các quy định trong pháp luật hiện hành liên quan đến quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới, đặc biệt là Hiến Pháp, Bộ luật dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình
Trang 12xử Có lẽ đây là hai trong số các quyền đặc biệt quan trọng đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để tiếp cận vấn đề nghiên cứu đề tài tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, quyền công dân
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích – tổng hợp, xã hội học, so sánh, đánh giá để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan Luận văn cũng khai thác thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã công bố để chứng minh cho các luận điểm
5 Những đóng góp mới của luận văn
Đây là nghiên cứu mang tích chất tổng quát đầy đủ nhất ở cấp độ một luận văn thạc sỹ luật học và tương đối toàn diện của về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên thế giới và ở Việt Nam Mặc dù đây là vấn
đề còn nhiều tranh luận, nhưng qua những phân tích so sánh ở nhiều góc độ,
sẽ mang tới những tri thức mới, cách nhìn nhận mới về vấn đề này cho mọi người nói chung và giới học giả nói riêng
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá, luận văn cũng đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm đưa những quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới vào hiện thực cuộc sống
Trang 137
6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức khoa học cơ bản mang tính lý luận về quyền của người đồng tính, song tính
và chuyển giới; giúp người đọc nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về người đồng tính, song tính và chuyển giới và những quyền con người mà họ đáng được hưởng
Luận văn cũng mang tính thời sự, đóng góp thêm một cơ sở lý luận khoa học cho Bộ Tư pháp trong quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự cũng như những văn bản luật và dưới luật khác sao cho phù hợp với
thực tiễn, đồng thời “đảm bảo tốt hơn các quyền và lợi ích của một số nhóm
xã hội đặc biệt thiệt thòi như phụ nữ, trẻ em, người đồng tính, song tính và chuyển giới, người nghèo, người thiểu số, người khuyết tật” [9]; đó là liên
quan đến vấn đề công nhận hôn nhân đồng tính, quyền kết hôn và/hoặc sông chung thực tế, một trong những quyền căn bản của những người đồng tính, song tính và chuyển giới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia thành 03 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính, song tính và
chuyển giới
Chương 2: Quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong các
văn kiện quốc tế và pháp luật một số quốc gia trên thế giới
Chương 3: Thực trạng bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và
chuyển giới ở Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của nhóm người này
Trang 148
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI
1.1 Khái niệm đồng tính, song tính và chuyển giới
Đồng tính, song tính và chuyển giới là một khái niệm xuất hiện nhiều trong thực tiễn xã hội trong một số năm gần đây tại Việt Nam Tuy nhiên, khái niệm này trên phạm vi quốc tế đã được đề cập đến từ rất lâu Đồng tính, song tính và chuyển giới có thể được gọi tắt là LGBT - là cách gọi theo viết tắt tiếng Anh của các từ Lesbian (đồng tính nữ), Gay (đồng tính nam), Bisexual (song tính) và Transgender (chuyển giới) Như vậy, cách gọi là đồng tính, song tính và chuyển giới hay gọi tắt là LGBT - khi sử dụng cụm từ viết tắt có ý nghĩa tương tự nhau
Thực tiễn cho thấy có nhiều vấn đề về vấn đề đồng tính, song tính và chuyển giới như: đồng tính có phải là giới tính thứ ba, là bệnh hoạn, có khả năng lây truyền hay không? Nên gọi là lưỡng tính hay song tính? Phân biệt người chuyển giới với người đồng tính như thế nào, có phải phẫu thuật chuyển giới rồi thì mới được xem là người chuyển giới hay không? Các câu hỏi này khi được trả lời chúng ta sẽ có cái nhìn chung nhất về đồng tính, song tính và chuyển giới
Đầu tiên chúng ta cần hiểu khái niệm đồng tính và song tính là gì? Trước khi được nghiên cứu một cách đầy đủ nhất thì có một số quan điểm cho rằng, đồng tính, song tính là giới tính thứ ba bên cạnh hai giới tính nam và nữ Đây là một quan niệm mang tính chất sai lầm khi nhận định xu hướng tính dục như một sự phân chia giới tính mang tính chất nguyên nghĩa Khi tìm hiểu
về đồng tính và song tính nhất thiết chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm xu hướng tính dục (sexual orientation) - trong nhiều tài liệu dịch là khuynh hướng tính dục
Trang 159
Ngay từ những năm 1970, Ủy ban giáo dục và thông tin về tình dục ở
Mỹ đã đưa ra định nghĩa hiện đại về tính dục như sau:
Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người
và do đó tác động trở lại xã hội [8]
Tính dục là khía cạnh văn hóa, xã hội và nhân văn của tình dục Như vậy, xu hướng tính dục là một trong những yếu tố cấu thành nên tính dục Những yếu tố còn lại là giới sinh học (cấu trúc gene, ngoại hình, nội tiết), bản sắc giới và vai trò xã hội của giới
Theo định nghĩa của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA) thì:
Xu hướng tính dục là một sự hấp dẫn có tính bền vững về cảm xúc hoặc về mặt tình dục của một người về phía những người khác giới, cùng giới hoặc cả hai giới Nói đến xu hướng tính dục người ta cũng nói đến bản dạng tình dục là cảm nhận của một người tự xác định về xu hướng tính dục của mình [62] Trải qua vài thập niên nghiên cứu về xu hướng tính dục thì có thể chia làm ba dạng với tên gọi: dị tính luyến ái (bị hấp dẫn của người khác giới tính), đồng tính luyến ái (bị hấp dẫn bởi người cùng giới tính), lưỡng tính luyến ái (bị hấp dẫn bởi cả nam và nữ) Khác với hành vi tình dục, xu hướng tính dục bao gồm cả những tình cảm và cảm nhận cá nhân Hành vi tình dục của một người có thể phản ánh xu hướng tính dục của họ, cũng có thể không
Tính dục đồng giới là một xu hướng tính dục trong đó một người cảm
Trang 1610
nhận thấy sự hấp dẫn tính dục chủ yếu từ những người có cùng giới tính với mình Tính dục đồng giới ngược với tính dục khác giới, sự hấp dẫn tính dục đến từ những người thuộc giới tính khác, và khác với lưỡng giới, sự hấp dẫn tính dục đến từ những người thuộc cả hai giới tính
Thực tế hiện nay, có năm xu hướng tính dục chính, đó là:
- Xu hướng tính dục khác giới (Heterosexual) - Người bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với người khác giới tính, không bao giờ có mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra), những người này thường được gọi là người dị tính
- Xu hướng tính dục cùng giới (Homosexual) - Người bị hấp dẫn với người cùng giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra, trong đó nam giới (tiếng Anh gọi là
"gay") và nữ giới (tiếng Anh gọi là "lesbian"), những người này được gọi chung là người đồng tính
- Xu hướng song tính (Bisexual) - Một người không cho rằng mình mang giới tính khác với giới tính sinh học của bản thân và bị hấp dẫn với cả hai giới tính nam và nữ Trước đây, xu hướng này được sử dụng với thuật ngữ
là lưỡng giới Tuy nhiên, nếu sử dụng thuật ngữ này sẽ dễ dẫn đến cách hiểu
là người đó mang trong mình cả hai giới tính nam và nữ Thực chất, họ có cả hai xu hướng tính dục dị tính và đồng tính, không phải mang hai giới tính Từ
đó, thuật ngữ song tính được sử dụng để thay thế thuật ngữ lưỡng giới
- Xu hướng toàn tính (Pansexual) - Người bị hấp dẫn bởi bất kỳ giới nào Cần phân biệt xu hướng toàn tính với xu hướng song tính Khi nói dị tính, đồng tính hay song tính, chúng ta đang dựa trên quan niệm rằng mọi người đều phân ra làm hai giới (nam và nữ) Tuy nhiên ta cũng biết, xét về bản dạng giới, một người có thể nhận mình là nam, nữ, hoặc cả hai, hoặc ở đâu đó giữa nam và nữ, hay ở đâu đó ngoài nam và nữ Như vậy, người song
Trang 1711
tính bị hấp dẫn bởi nam và nữ, còn người toàn tính bị hấp dẫn bởi tất cả mọi người, không phân biệt người đó có nhận dạng giới là gì
- Không bị hấp dẫn tình dục với bất kỳ giới nào (Asexual - Vô tính) đây
là xu hướng tính dục chưa được nghiên cứu nhiều Họ là những người không
có bất kỳ sự hấp dẫn tình dục với bất kỳ người mang giới tính nào, kể cả nam
và nữ, cũng như những người đồng tính khác
Với cách xác định như trên, đồng tình và song tính là hai trong năm xu hướng tính dục của con người không liên quan đến vấn đề giới tính Xu hướng dị tính chiếm số đông trong xã hội hiện nay Một người có giới tính nam hoặc nữ hoàn toàn có thể là người dị tính, đồng tính, song tính, toàn tính hoặc vô tính Cũng cần quan tâm rằng không phải lúc nào xu hướng tính dục cũng được bộc lộ ra bên ngoài để người khác có thể nhận thấy mà nhiều khi
nó được giấu kín Đồng thời các nhà tâm lý xác định rằng không coi xu hướng tính dục là sự lựa chọn có ý thức mà người ta có thể tùy ý thay đổi được và đó
là bản chất tự nhiên, vốn có của mỗi con người từ khi sinh ra
Đồng tính là từ viết tắt của cụm từ đồng tính luyến ái (Homosexual) Người đồng tính là người bị hấp dẫn với người có cùng giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra, trong
đó nam giới (tiếng Anh gọi là "gay") và nữ giới (tiếng Anh gọi là "lesbian"), những người này được gọi chung là người đồng tính
Dưới góc độ khoa học, theo quan điểm của APA, đồng tính hoàn toàn không là sự một sự rối loạn tâm sinh lý mà là một hiện tượng sinh học tự nhiên, chịu sự tác động qua lại phức tạp của các yếu tố di truyền và yếu tố môi trường tử cung trong giai đoạn đầu ở thai nhi Các hành vi tình dục đồng giới, quan hệ yêu đương đồng giới là một trong các dạng thức gắn bó bình thường để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người về tính yêu, sự gắn bó
và quan tâm
Trang 1812
Kết quả nghiên cứu, thống kê, khảo sát của các nhà nghiên cứu tâm thần học, nhi khoa khác đều đi đến kết luận, đồng tính không phải là sự rối loạn tâm thần mà là một hiện tượng bình thường trong tự nhiên, những người
có xu hướng tính dục trên hoàn toàn không phải là do lựa chọn chủ quan của
họ Ngày 17-5-1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xóa bỏ đồng tính ra khỏi danh sách các bệnh tâm thần
Như vậy, cần phải khẳng định lại rằng, đồng tính là một xu hướng tính dục hoàn toàn tự nhiên, không phải là giới tính thứ ba như nhiều người lầm tưởng và cũng không phải một trào lưu Về mặt sinh học, người đồng tính vẫn
là nam giới/nữ giới và cũng không phải là người song tính
Người song tính (bisexual) là người có xu hướng tính dục song tính (có khả năng cảm thấy bị hấp dẫn về mặt tình cảm, cảm xúc hay thể chất với cả hai giới tính là nam và nữ)
Tiếp theo, chúng ta cần tìm hiểu và khái niệm người chuyển giới Khác với người đồng tính hay song tính, người chuyển giới phải đề cập đến khái niệm bản dạng giới (gender identity) và họ tự nhận mình mang giới tính khác với giới tính sinh học
Người đồng tính, song tính liên quan đến khái niệm xu hướng tính dục, chỉ một người có tình cảm, nhu cầu yêu đương với một người cùng giới tính
hay khác giới tính với mình Trong khi đó, khái niệm bản dạng giới được hiểu
là "việc một người tự nhận mình mang một giới tính nào, có thể giống hoặc
khác với giới tính sinh học khi được sinh ra" [63] Có thể hiểu khái quát, nếu
một người sinh ra và tự nhận mình mang giới tính giống với giới tính sinh học khi được sinh ra, có tình cảm, cảm xúc với người cùng giới tính với mình thì người đó là người đồng tính Nếu người này có tình cảm với người khác giới tính với mình thì đó là người dị tính
Tuy nhiên, "nếu người nói trên tự nhận mình mang giới tính khác với giới
tính sinh học khi được sinh ra thì đó là người chuyển giới (transgender)" [29]
Trang 1913
Một điều rất quan trọng là không nhất thiết phải trải qua phẫu thuật chuyển giới thì mới được xem là người chuyển giới Có hai dạng người chuyển giới là: người chuyển giới nam sang nữ (male to female) và người chuyển giới
nữ sang nam (female to male) Ở góc độ xu hướng tính dục, có thể phân chia thành người chuyển giới đồng tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và chỉ yêu nữ giới), người chuyển giới song tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và có thể yêu cả nam giới và nữ giới) và người chuyển giới dị tính (ví dụ người chuyển giới từ nữ sang nam và chỉ yêu nữ
giới) "Nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ người chuyển giới chiếm từ 0,1%
đến 0,5% dân số Một điều tra về giám sát một số hành vi thiểu số trong xã hội
ở Massachusetts (Mỹ) cho thấy có khoảng 0,5% người trong độ tuổi từ 18 đến
64 tự nhận mình là người chuyển giới " [26] Gần đây, trong các cuộc điều tra
dân số tại Mỹ và trên thế giới đã có câu hỏi nhằm xác định bản dạng giới và xu
hướng tính dục, "số liệu ước tính mới nhất cho thấy có khoảng 0,3% dân số Mỹ
là người chuyển giới" [32, tr.25] Việc thu thập số liệu về tỷ lệ người chuyển
giới gặp nhiều khó khăn do sự kỳ thị xã hội khiến người chuyển giới không thể
hiện hoặc công khai giới tính mong muốn của mình "Số liệu tại nhiều nước
châu Âu ghi nhận tỷ lệ người phẫu thuật chuyển giới từ nam sang nữ cao gấp
từ 2,5 lần đến 6 lần tỷ lệ người chuyển giới từ nữ sang nam" [26] Điều này có
nguyên nhân là do người chuyển giới từ nữ sang nam ít tìm đến các cơ sở phẫu thuật chuyển đổi giới tính hơn Các yếu tố văn hóa, xã hội, quan niệm về vai trò giới và tình dục cũng như chi phí tiến hành phẫu thuật chuyển giới tính khiến những số liệu tại các cơ sở y tế không phản ánh đúng thực tế
Trong xã hội, không phải ai cũng có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về bản chất của người chuyển giới Có một số nhận thức sai lầm về người chuyển giới đang tồn tại trong xã hội hiện nay như sau:
Người chuyển giới là những người có giới tính sinh học khác biệt so
với những người dị tính bình thường khác Đây hoàn toàn là quan điểm sai
Trang 20rõ là nam hay nữ…) Như vậy, về bản chất, giới tính của những đối tượng này chưa rõ ràng, cần được phẫu thuật để xác định Việc xác định loại này phải thông qua việc xét nghiệm nhiễm sắc thể giới tính tại các cơ quan y tế để xác định rõ giới tính Điều này hoàn toàn khác so với người chuyển giới
Phải phẫu thuật chuyển giới thì mới được xem là người chuyển giới Quan
điểm này không hoàn toàn đúng Thực ra, chỉ cần một người mong muốn, ý thức mình phải mang giới tính ngược lại so với giới tính sinh học của họ thì
đã được xem là người chuyển giới Tuy nhiên, nếu như pháp luật cho phép phẫu thuật chuyển đổi giới tính (đúng với mong muốn) thì họ phải thực hiện việc phẫu thuật mới được làm lại giấy tờ tùy thân, ví dụ như chứng minh nhân dân, đăng ký lại hộ tịch Lúc này, họ được gọi với một khái
niệm đầy đủ hơn là “người chuyển đổi giới tính (transsexual)" [70] Có thể
nhận thấy mặc dù người chuyển giới và chuyển đổi giới tính tồn tại ở mọi
xã hội, mọi nơi trên thế giới nhưng "những khái niệm này vẫn được hiểu
một cách khá nhầm lẫn và gây lúng túng ngay cả với những người trong cuộc khi không thể xác định bản dạng giới của mình" [65] Nhìn chung,
“transgender” là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng
Những trường hợp như nam giới thường hay giả/cải trang làm nữ giới hoặc ngược lại là người đồng tính Quan điểm này cũng chưa chính xác Trừ
Trang 2115
một số người cải trang thành người giới tính khác để thỏa mãn nhu cầu giải trí thì đa số những người này đều là người chuyển giới Như đã nêu ở trên, vì họ mong muốn thành người có giới tính ngược lại nên họ đã cải trang như vậy (họ không phẫu thuật chuyển giới vì pháp luật chưa cho phép/không có điều kiện kinh tế)
Như vậy có thể hiểu, người chuyển giới là người có giới tính bẩm sinh không trùng với giới tính mong muốn của họ Ví dụ: có cơ thể là nam và nghĩ mình là nữ và ngược lại Người chuyển giới không nhất thiết phải trải qua phẫu thuật thay đổi giới tính
1.2 Những vấn đề đặt ra đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới
Trong cuộc sống của mình, những người có xu hướng tính dục đồng tính và song tính hay những người mang bản dạng giới khác như người chuyển giới phải đối mặt với rất nhiều vấn đề đặt ra về đồi sống xã hội liên quan đến họ
Vấn đề thay đổi xu hướng tính dục, bản dạng giới
Một số người do hiểu biết nhầm lẫn về người đồng tính nên cho rằng,
có thể thay đổi được xu hướng tính dục của người đó bằng các biện pháp y học, dược học Nhóm khác thì lại nghĩ rằng nguyên nhân của các hiện tượng đồng tính là do các tác động về mặt tâm lý, tinh thần nên đã tìm mọi cách thuyết phục, ép buộc người đồng tính kết hôn với người khác giới để thay đổi tình trạng trên Thực tế, đây là những quan điểm sai lầm bởi vì, về bản chất, người đồng tính là những người bình thường về mặt sinh lý Các biện pháp y học nhằm thay đổi các đặc điểm giới tính sinh học không thể làm thay đổi xu hướng tính dục của người đồng tính Các quan điểm chính thống của WHO và APA hiện nay đều cho rằng đồng tính, song tính và chuyển giới là một hiện tượng bình thường, không phải là loại bệnh nên không cần bất kỳ sự chữa trị nào
Trang 2216
Sự kỳ thì của xã hội đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới
Với những người đồng tính và cả người song tính khi thể hiện xu hướng
đồng tính họ phải đối mặt với hội chứng sợ đồng tính luyến ái (homophobia) Có thể hiểu đây là "thái độ ghê sợ, định kiến của xã hội đối với nhóm người đồng
tính hoặc bản thân người đồng tính sợ chính bản thân mình" [35, tr.35]
Chứng tự sợ đồng tính luyến ái Đây là thái độ tiêu cực, cảm thấy sợ hãi với xu hướng tình dục của bản thân khi phát hiện mình là người đồng tính Nguyên nhân của hội chứng tự sợ trên là do những định kiến xã hội, truyền thống đạo đức, tình cảm, niềm tin tôn giáo hoặc tâm trạng lo sợ khi bị phát hiện
là người đồng tính luyến ái Nỗi sợ hãi, lo lắng trên khiến họ thường xuyên cảm thấy bị tổn thương, mặc cảm, tự ti và cô lập dẫn đến việc sử dụng rượu bia, ma túy, quan hệ tình dục bừa bãi, nguy hiểm hơn là dẫn đến việc tự tử
Chứng ghê sợ đồng tính luyến ái Đây là những phản ứng gay gắt của
xã hội đối với người đồng tính thông qua sự phân biệt đối xử trong công việc, trong các sinh hoạt xã hội, các hành vi bạo lực, bạo dâm, giết người đồng tính, chế giễu, khinh bỉ, miệt thị người đồng tính
Hội chứng sợ đồng tính luyến ái đã dẫn đến những hậu quả tiêu cực, đe dọa đời sống tinh thần và sức khỏe người đồng tính khiến cho việc hòa nhập
xã hội của họ gặp nhiều khó khăn Sự gia tăng hay ngầm không phản đối những hành vi kỳ thị trên đồng thời là dấu hiệu đi xuống của đạo đức khi con người mặc nhiên để những điều bất công đó được tồn tại
Việc công khai xu hướng tính dục và bản dạng giới của người đồng tính, song tính và chuyển giới
Công khai thể hiện xu hướng tính dục hay bản dạng giới là nhu cầu, là mong muốn chính đáng của người LGBT nói riêng và của mọi người trong xã hội nói chung Tuy nhiên, đứng trước những định kiến của xã hội, việc công khai xu hướng tính dục và bản dạng giới của người LGBT gặp rất nhiều khó
Trang 2317
khăn và thử thách Sự công khai xu hướng tính dục và bản dạng giới của người đồng tính, song tính cũng có điểm khác so với người chuyển giới
Công khai xu hướng tính dục của người đồng tính là việc công khai vấn
đề đồng tính với chính bản thân mình, với những người chung quanh hoặc gia nhập vào cộng đồng đồng tính
Người chuyển giới thường không giấu được bản dạng giới của mình như người đồng tính hay như những người song tính giấu xu hướng tính dục Nhiều khi người chuyển giới không cần phải nói, thổ lộ mà chỉ cần qua cách
ăn mặc, cử chỉ cũng đoán ra họ là người chuyển giới Khi thể hiện bản dạng giới, người chuyển giới thể hiện khá mạnh mẽ, đôi khi hơi lộ liễu
1.3 Vị trí, vai trò của quyền người đồng tính, song tính và chuyển giới trong hệ thống pháp luật về quyền con người
Quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới suy cho đến cùng cũng là một khía cạnh của quyền con người nói chung Khi chúng ta sinh ra
và tồn tại trên thế giới này thì mỗi con người luôn có những quyền tự nhiên
do tạo hóa trao cho họ
Nhóm người đồng tính, song tính và chuyển giới là những người có những điểm khác biệt cơ bản về xu hướng tính dục và bản dạng giới Họ tồn tại trong xã hội với những sự khác biệt so với phần đông các cá nhân trong xã hội do đó vấn đề quyền của họ cần được nghiên cứu và bảo vệ ở các khía cạnh khác nhau
Trước khi nghiên cứu về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới, chúng ta cần hiểu khái niệm quyền con người là gì Quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác nhau Một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học
Trang 2418
thuyết quyền tự nhiên: "Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể
tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người" [3]
Ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền (OHCHR) thường xuyên được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu:
“Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các
cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [69]
Ở Việt Nam, đã có nhiều tác phẩm phân tích về vấn đề quyền con người Trong tác phẩm Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người,
các tác giả định nghĩa: "Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên,
vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [7, tr.38]
Như vậy, có thể hiểu, quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới là một khía cạnh của quyền con người nói chung, đây là các quyền tự nhiên, là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên và vốn của người đồng tính, song tính và chuyển giới được pháp luật ghi nhận và bảo vệ trên phạm vi quốc gia
tự nhiên của con người
Một là, về sự công bằng trong quyền được sống và được tự do, người đồng tính, song tính và chuyển giới là người bình thường như mọi cá nhân
Trang 2519
khác trong xã hội, có khả năng thực hiện các nghĩa vụ và được quyền hưởng các quyền bình đẳng, ngang nhau như những người khác Một trong những quyền quan trọng nhất là quyền được công nhận và tôn trọng Xã hội cần nhìn nhận người đồng tính, song tính và chuyển giới là những người bình thường với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, không được phép miệt thị, xúc phạm hoặc coi họ như những bệnh nhân lệch lạc về tâm thần Quyền tự nhiên cho rằng
"con người sinh ra tự do" [12], trong đó "tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào"
[66] Như vậy, quyền được công khai xu hướng tính dục và bản dạng giới của mình và sống theo bản năng của xu hướng tính dục, và bản dạng giới đó là một phần của tự do Nhưng trên thực tế người đồng tính, song tính và chuyển giới khi công khai xu hướng tính dục, bản dạng giới thực hiện quyền tự do nói trên lại bị các thành kiến xã hội miệt thị, coi thường về mọi mặt
Hai là, về quyền mưu cầu hạnh phúc Mưu cầu hạnh phúc là một dạng thể hiện của sự tự do, con người bằng khả năng của mình tìm kiếm hạnh phúc, các giá trị sống cho bản thân Đây là một điều hiển nhiên trong mọi chế độ chính trị - xã hội Một trong các giá trị sống đó được tạo dựng từ sự kết hôn, xây dựng gia đình hạnh phúc và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quan hệ hôn nhân ấy Với những người đồng tính, song tính và chuyển giới, kết hôn là điều rất khó Ví dụ như đối với người đồng tính, hiện nay có các hình thức thừa nhận sự chung sống hợp pháp của người đồng tính như: cho phép kết hôn giống như những người dị tính, công nhận dưới hình thức kết hợp dân sự như: kết hợp dân sự, đối tác chung nhà, hình thức hợp danh Về mặt pháp lý,
họ được xem giống như một cặp vợ chồng, nhưng thực tế lại bị hạn chế hơn những cặp vợ chồng dị tính khác ở sự thụ hưởng các chính sách về miễn giảm thuế chung của vợ chồng, các chế độ an sinh xã hội, bảo hiểm, trợ cấp, quyền nhận nuôi con nuôi và thừa kế Mặt khác, giá trị pháp lý của giấy chứng
Trang 2620
nhận kết hợp dân sự rất hạn chế, không đương nhiên có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc hoặc toàn thế giới Đa phần các kiểu kết hợp dân sự chỉ có giá trị trong phạm vi bang, khu vực cho phép đăng ký kết hôn đồng tính, điều này đã gây không ít trở ngại cho các cặp đôi này khi di chuyển hay thay đổi chỗ ở
Quyền tự nhiên là tư tưởng chủ đạo, nguồn cảm hứng để các quốc gia xây dựng chế độ pháp luật hợp lý Chịu ảnh hưởng của các nguyên tắc của quyền tự nhiên, Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hòa Kỳ năm 1776
đã đề cập: "Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [21] Tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp năm 1789 cũng đã khẳng
định: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự
do và bình đẳng về quyền lợi” [21] Trước những khẳng định, tuyên bố trên,
chúng ta không thể loại bỏ người đồng tính, song tính và chuyển giới ra khỏi vòng pháp luật mà cần phải có những quy định rõ ràng nhằm thừa nhận và bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của họ và xem đó như một trong những vấn đề bảo đảm công bằng, bình đẳng trong xã hội
Thứ hai, quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới cần được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật
Quyền con người trong pháp luật là sự cụ thể hóa các quyền tự nhiên của con người vào trong một cơ chế rõ ràng, minh bạch và được bảo đảm thực hiện bởi quyền lực nhà nước Thông qua pháp luật, các nghĩa vụ sẽ được tôn trọng và thực thi, các quyền trở thành quy tắc ứng xử bắt buộc và thống nhất chung của toàn xã hội Quyền con người trong pháp luật là phạm trù rộng lớn không chỉ trong pháp luật của từng quốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế thông qua các điều ước quốc tế và các tuyên ngôn về nhân quyền Trong phạm vi quốc gia, quyền con người được thể chế hóa và bảo vệ đầu tiên thông qua
Trang 2721
hiến pháp Các quy định trong hiến pháp ghi nhận các quyền tự do của con người, tạo ra giới hạn pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước nhằm bảo vệ chặt chẽ các quyền cơ bản của con người để xây dựng chính quyền dựa trên nhận thức nhân bản con người sinh ra là tự do
Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận và bảo vệ quyền con người, các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội cho các công dân Việt Nam Xét ở khía cạnh văn hóa và xã hội cho các công dân Việt Nam, xét ở khía cạnh nào đó, người đồng tính, song tính và chuyển giới là công dân trong xã hội nên có quyền thụ hưởng các quyền nói trên Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi, bổ sung năm 2010 đã quy định cấm kết hôn giữa những người
có cùng giới tính (khoản 5 Điều 10) và pháp luật dân sự đang cấm phẫu thuật chuyển giới đối với người đã hoàn thiện về mặt giới tính (Nghị định 88/2008/NĐ-CP ngày 05/08/2008 của Chính phủ về việc xác định lại giới tính)
Trong luật quốc tế, theo định nghĩa của OHCHR đã nêu thì quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm
và tự do cơ bản của con người Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm
1948 của Liên Hợp Quốc thể hiện sâu sắc tinh thần đó Chủ thể được thừa hưởng những quyền con người là tất cả những người đang sống và tồn tại trên thế giới, đó là:
Tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, ngồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội, không phân biệt địa vụ chính trị, pháp quyền hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà một người xuất thân,
dù quốc gia hay lãnh thổ đó được độc lập, được đặt dưới chế độ
ủy trị, chưa tự quản hay có chủ quyền hạn chế [17]
Trang 2822
Bên cạnh tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 đều đề cập đến các quyền tự do cơ bản của con người tương tự như
trên, "việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng và bất
khả chuyển nhưỡng của tất cả các phần từ trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hòa bình thế giới" [16] Như vậy, một người đồng
tính, song tính hay chuyển giới với tư cách là một phần tử trong đại gia đình
đó cần phải được thừa nhận và bảo vệ ở các quyền: tự do, bình đẳng, quyền kết hôn và quyền được bảo vệ một cách cụ thể và rõ ràng
Về vấn đề quyền của người đồng tính, tháng 12/2008, tổ chức của những người ủng hộ quyền cho người đồng tính đã trình lên Liên Hợp Quốc
dự thảo Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về xu hướng tính dục và bản dạng giới (The United Nation Declaration on Sexual orientation and Gender identity) với nội dung lên án những hành vi bạo lực, quấy rối, phân biệt đối xử, loại trừ, định kiến, sự giết hại, hành quyết, tra tấn, tước bỏ các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới Dự thảo trên đã vấp phải sự phản đối của các nước thuộc khối Ả Rập và Vatican nhưng nhận được
sự ủng hộ của các nước Liên minh Châu Âu
Như vậy, việc thừa nhận và bảo vệ quyền cho người đồng tính, song tính
và chuyển giới - một phạm trù của quyền tự nhiên, chỉ mang tính khả thi khi được pháp luật chính thức thừa nhận Quy định quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong pháp luật vừa bảo đảm cho họ có cơ sở pháp lý vững vàng để tự bảo vệ quyền lợi cho mình vừa bảo đảm sự tuân thủ, tôn trọng các quyền đó của các chủ thể khác trong xã hội
Thứ ba, công nhận và bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới nhằm bảo đảm giá trị xã hội của pháp luật
Trang 2923
Xác lập sự điều chỉnh lên một quan hệ xã hội cụ thể không chỉ dựa trên
ý chí, quyền lợi của giai cấp thống trị mà còn phụ thuộc vào bản chất xã hội của quan hệ đó và mối liên hệ với các yếu tố khác Yêu cầu công nhận, đề ra các biện pháp bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong pháp luật được xem xét dựa trên các căn cứ đó
Về mặt kinh tế: Mặt trái của cơ chế thị trường đã nới rộng khoảng cách giàu nghèo, sự gia tăng chênh lệch trong mức sống và sự hưởng thụ quyền lợi của các nhóm người trong xã hội Trong đó các nhóm thiểu số yếu tiềm năng kinh tế, thiếu quyền lực chính trị là đối tượng dễ bị tổn thương dưới tác động tiêu cực đó nhất
Dưới sự ảnh hưởng của sự kỳ thị, phân biệt đối xử, người đồng tính, song tính và chuyển giới có thể được xem như đối tượng yếu thế trong xã hội Khi tham gia các quan hệ kinh tế như kiếm việc làm, cơ hội thăng tiến trong công việc, vấn đề nhà ở họ có thể gặp nhiều trở ngại và có thể bị đối xử bất công Hơn nữa do người đồng tính, song tính và chuyển giới chiếm tỉ lệ nhỏ trong xã hội nên tiếng nói của họ chưa được chú trọng đúng mức, hệ quả là khả năng tự thân chống đỡ, tự bảo vệ khi quyền lợi chính đáng của mình bị xâm phạm thường rất thấp
Về chính trị: Khi ban hành pháp luật cần chú trọng tới địa vị pháp lý, quyền và lợi ích của các bên để có những quy định phù hợp Thực tế cho thấy với số lượng ít, chưa có sự góp mặt trên các diễn đàn pháp luật, người đồng tính, song tính và chuyển giới chưa bày tỏ được nhiều quan điểm, nguyện vọng của mình để nhà làm luật xem xét và phát triển thành luật Điều này không có nghĩa là chỉ đến khi người đồng tính, song tính và chuyển giới lên tiếng thì pháp luật mới vào cuộc mà phải hiểu rằng quyền được pháp luật bảo
vệ các lợi ích chính đáng là đòi hỏi hợp lý của mọi công dân Nền pháp luật không đề cập đến quyền lợi của số ít người yếu thế thì chưa thể là nền pháp
Trang 3024
luật dân chủ, tiến bộ Người đồng tính, song tính và chuyển giới không phải là hiện tượng xã hội có tính chất tạm thời, sự tồn tại của hiện tượng này là tất yếu, ở mọi xã hội, trong mọi giai đoạn lịch sử Sự phát triển của đời sống xã hội đã nâng cao các đòi hỏi về quyền tự do, quyền sống của con người Trong bối cảnh đó, người đồng tính, song tính và chuyển giới đã này sinh các mâu thuẫn với xã hội có liên quan đến các yêu cầu được xã hội công nhận sự tồn tại của mình được đối sử công bằng, được kết hôn như những người bình thường khác, với những giá trị truyền thống, chuẩn mực văn hóa, đạo đức lâu đời Xung đột ngày một mạnh mẽ của các lợi ích ấy đòi hỏi cần có sự điều chỉnh hợp lý của pháp luật Cần thiết phải có quy phạm điều hòa, giải quyết mâu thuẫn trên để duy trì trật tự xã hội hợp lý, đồng thời bảo vệ toàn diện các quyền cơ bản mà người đồng tính, song tính và chuyển giới đáng được hưởng
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới
Việc thừa nhận người đồng tính, song tính và chuyển giới bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau:
Đầu tiên cần đề cập đến yếu tố truyền thống Đây là yếu tố đầu tiên có
sự liên hệ mật thiết trong việc chi phối các quan điểm về người đồng tính, song tính và chuyển giới Sự phát triển của xã hội cũng ảnh hưởng đến nhận thức của người dân đối với vấn đề người đồng tính, song tính và chuyển giới
Sự ảnh hưởng của các tôn giáo cũng tác động đến việc ghi nhận quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới (nhiều quốc gia, nhiều người theo đạo Công giáo, đạo Hồi không chấp nhận đồng tính, chuyển giới, thậm chí bỏ
tù hoặc tử hình họ ) Tuy nhiên, truyền thống thực chất là do con người tạo
ra và con người hoàn toàn có thể thay đổi theo sự phát triển của xã hội Những mô hình mới về gia đình, về sự đa dạng của bản dạng giới đang dần dần thể hiện rõ nét trong xã hội Trong bối cảnh ấy, sẽ có những trường hợp
Trang 3125
người dân trong xã hội đồng tình phải bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới nhưng khi đi sâu vào những quyền cụ thể thì có những thái độ khác nhau (như không đồng ý cho người đồng tính có quyền kết hôn, không muốn cho người chuyển giới phẫu thuật ) Quan điểm truyền thống cũng khiến nhiều người nghi ngại khi đặt ra vấn đề công nhận quyền bình đẳng của những người đồng tính, song tính và chuyển giới, liệu có dẫn đến suy thoái đạo đức, nòi giống hay không? Nếu cho người chuyển giới phẫu thuật có gây xáo trộn xã hội hay không? Liệu nên can thiệp quan hệ sống chung của người đồng tính hay không? Gia đình đồng tính nuôi dạy con có tốt hay không? Đó là những lo ngại dễ hiểu và luôn xuất hiện nhiều trong thời kì hiện đại ngày nay
Tại Việt Nam, quan niệm về văn hóa gia đình, truyền thống cho rằng, gia đình là tế bào của xã hội, là một đơn vị cộng đồng ra đời cùng với xã hội loài người, bắt nguồn từ việc quan hệ nam nữ, việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái Theo quan niệm truyền thống của Việt Nam đồng tính cần tìm hiểu dưới hai khía cạnh khách quan và chủ quan
Về khách quan, người ta nhìn nhận đồng tính như là một hiện tượng đi ngược lại trật tự tự nhiên mà đặc biệt là tình dục đồng tính Thông thường quan hệ tình dục chỉ phù hợp với bản chất và mục đích của nó khi chúng diễn
ra trong quan hệ yêu thương giữa một người nam với người nữ Và mục tiêu hướng tới của quan hệ yêu thương này chính là việc xác lập quan hệ hôn nhân, một trong những yếu tố duy trì hạnh phúc gia đình chính là quan hệ tình dục và con cái Trong khi đó quan hệ tình dục đồng tính không được xây dựng trên bất cứ nền tảng nào đòi hỏi sự chung thủy và bền vững, nó chỉ là những khoảnh khắc thoáng qua, vì thế xã hội ngày nay không nhìn nhận nó với ánh mắt thiện cảm
Về chủ quan, truyền thống từ xa xưa ở nước ta cũng như những nước
Trang 3226
phương Đông khác, rất coi trọng việc sinh đẻ con cái, nối dõi dòng giống, tổ tiên, đề cao gia đình tôn tộc, anh em Người đàn ông trong gia đình là trụ cột, có nghĩa vụ phải nối dõi tông đường, người phụ nữ phải công dung, ngôn hạnh, phải sinh đẻ tốt để giúp cho gia đình chồng có con nối dõi Vì vậy, mục đích chủ yếu của việc kết hôn là sinh con, nối dõi tông đường Và thật sự thì truyền thống văn hóa ảnh hưởng rất nhiều đến quan niệm của người Việt Nam
về người đồng tính Người Á Đông thường cho rằng những hành vi trái với tự nhiên là những hành vi sai trái với lệ làng, phép nước, vì thế họ luôn nhìn những người đồng tính với ánh mắt chứa đầy sự khinh thị Mặt khác có người còn cho rằng đồng tính là một loại bệnh có thể lây truyền vì thế càng tránh xa người đồng tính ra càng tốt
Từ những cái nhìn khách quan và chủ quan như trên nên người đồng tính dường như không được xã hội Việt nam nhìn nhận như một người bình thường Dưới sự ảnh hưởng của quan niệm truyền thống mà pháp luật Việt Nam chưa có những quy định rõ ràng về việc cấm kỳ thị, phân biệt, đối xử với người đồng tính, bảo vệ người đồng tính (như trẻ em, bạo lực gia đình)
và không công nhận quyền kết hôn của người đồng tính Tuy nhiên, đối với người đồng tính nước ta cũng không quá hà khắc như pháp luật của các nước Hồi giáo
Các yếu tố chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng cũng ảnh hưởng khá lớn đến quan niệm về người đồng tính, song tính và chuyển giới và sự thừa nhận quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới
Hiện nay tại nhiều quốc gia tiến bộ phương Tây cũng chưa thừa nhận quyền đầy đủ của người đồng tính, song tính và chuyển giới Điều này xuất phát từ những đặc điểm hệ thống chính trị của những quốc gia đó được tổ chức theo nguyên tắc đa nguyên và nền dân chủ kiểu phương Tây Do vậy,
sự sung đột lợi ích dẫn đến sự sung đột chính trị, khiến cho việc hợp pháp
Trang 3327
hóa các quyền của nhóm này gặp nhiều khó khăn Bối cảnh có nhiều ý kiến xung đột nhau, mâu thuẫn nhau làm cho quá trình xây dựng pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới bị kéo dài Điều đó cho thấy mặc dù nền dân chủ của các quốc gia này phát triển nhưng cũng kéo theo những hệ lụy nhất định
Yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng cũng có tác động lớn đến quan niệm về người đồng tính, song tính và chuyển giới ở phương Đông cũng như phương Tây Tại Việt Nam thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đã sớm gần gũi với họ Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Về tín ngưỡng, cũng như những
bộ phận khác của văn hóa Việt Nam đều mang những đặc trưng của văn hóa nông nghiệp Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên, đặt niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên - lực lượng thống trị nhân gian Thể hiện qua việc thờ cũng, các nghi lễ, tập tục Các loại tín ngưỡng chủ yếu của Việt Nam có: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ mẫu, sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thành hoàng Trong đó, tín ngưỡng phồn thực coi trọng việc giao phối giữa nam và nữ nhằm sinh sôi, nảy nở, phát triển giống nòi, nên tín ngưỡng phồn thực tuy không cấm quan hệ đồng tính nhưng
nó lại xem mối quan hệ đồng tính là trái tự nhiên và đi ngược lại với niềm tin của tín ngưỡng này
Quan niệm về người đồng tính, song tính và chuyển giới còn bị ảnh hưởng tới chủ nghĩa độc tôn dị tính (Heterosexism)
Đây là khái niệm lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1971 bởi Craig Rodwell một nhà hoạt động đồng tính Vì không phải là thuật ngữ khoa học
mà là thuật ngữ ra đời từ phong trào vận đồng quyền của người đồng tính,
Trang 3428
song tính và chuyển giới nên mỗi nhà hoạt động lại có những cách vận dụng khác nhau Chủ nghĩa độc tôn dị tính có liên hệ mật thiết với nhiều khái niệm khác, đặc biệt là chứng ghê sợ đồng tính Nói ngắn gọn thì:
Chủ nghĩa độc tôn dị tính là hệ thống những quan điểm để bảo vệ cho tính dục khác giới, bao gồm ba thành tố cơ bản: quan điểm mặc định mọi người là dị tính, quan điểm cho rằng dị tính là
ưu việt, và tiến tới chối bỏ, tạo sự thiên vị, phân biệt đối xử với những thiểu số tính dục khá [47]
Truyền thông và báo chí cũng là những yếu tố tác động tới việc định hình nhận thức cho xã hội về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới khi không có nhiều tài liệu liên quan đến vấn đề này
Nếu truyền thông khách quan, đầy đủ thì nhận thức của xã hội cũng có chiều hướng tích cực Nếu truyền thông thiếu tính khách quan tập trung phản ánh những góc khuất xấu trong đời sống của người đồng tính, song tính và chuyển giới thì xã hội có cái nhìn thiếu thiện cảm Truyền thông, báo chí cũng đóng góp tích cực trong tiến trình vận động bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay
Ngoài ra còn có một số yếu tố khác ảnh hưởng đến quan niệm về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam như những người nhiễm HIV/AIDS, người lao động di cư là nhóm quyền của các đối tượng dễ
bị tổn thương Trong đó, quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới mới phát sinh trong xã hội và có nhiều quan điểm khác nhau Quyền của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội vẫn đang ở trong tiến trình đấu tranh, vận động hợp pháp hóa ở nhiều nước Vì vậy, thời gian này bị kéo dài
và có nhiều cản trở là điều dễ hiểu
Trang 3529
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong giai đoạn hiện nay, xu thế chung trên toàn thế giới là xây dựng
nhà nước pháp quyền, các vấn đề về quyền con người ngày càng được quan tâm và tìm hiểu Các quyền cơ bản của con người tồn tại một cách đương nhiên như: quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc được tôn trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, quyền của những nhóm yếu thế trong xã hội như quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới, quyền của những người bị bắt, bị tam giữ, bị tạm giam chưa được các quốc gia trên thế giới quan tâm một cách đúng mực và không có sự đồng đều giữa các quốc gia Đặc biệt quyền của người đồng tính, song tính
và chuyển giới là một khái niệm mới mẻ xuất hiện trên thế giới do đó các quốc gia đang có các cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề này Tuy nhiên, trong xu hướng chung của thời đại, cùng với việc xây dựng nhà nước pháp quyền trên các quốc gia trên thế giới hiện nay quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới đang ngày một được quan tâm hơn, các nghiên cứu, các phản biện xã hội về quyền của nhóm quyền này đang ngày một xuất hiện nhiều hơn trên thế giới Đặc biệt, dưới sức ép và sự đấu tranh của các tổ chức xã hội dân sự, của các tổ chức hoạt động về quyền con người nói chung, tổ chức bảo vệ quyền của nhóm LGBT nói riêng, cũng như của chính cộng đồng LGBT thì quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới bắt đầu được các quốc gia quan tâm và tại nhiều quốc gia trên thế giới đã có những sự thừa nhận nhất định về quyền của họ trong pháp luật như quyền kết hôn, quyền chung sống bằng kết hợp dân sự
Trang 3630
Chương 2
QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI
TRONG CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT
MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
2.1 Pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong các công ước quốc tế
Trong nhiều thập kỷ qua, tổ chức Liên Hợp Quốc đã nỗ lực đấu tranh cho những quyền cơ bản của con người nói chung, trong đó có quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới Mặc dù Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 đã khẳng định quyền con người nói chung, trong
đó có quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới, nhưng sự phân biệt, kỳ thị đối xử bạo lực đối với họ vẫn diễn ra trên thế giới, và trở thành mối quan tâm đặc biệt về vấn đề nhân quyền của Liên Hợp Quốc từ những
năm 90 của thế kỷ XX và kéo dài trong suốt thế kỷ XXI Thậm chí có tới "76
quốc gia mà pháp luật còn phân biệt, đối xử và tội phạm hóa những mối quan
hệ cùng giới người đồng tính bị bắt truy tố và phạt tù" [37] Sau nhiều thập kỷ
khi "xu hướng tính dục" và "bản dạng giới" ít được bàn luận một cách trực tiếp, những lo ngại về sự vi phạm nhân quyền đã khiến Hội đồng nhân quyền của Liên Hợp Quốc coi đây là vấn đề ưu tiên để thảo luận, và chính thức đưa những tuyên bố chung về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới Những bản tuyên bố chung về quyền con người, xu hướng tính dục, và bản dạng giới đã được đề xuất ban đầu trong các phiên họp của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc năm 2006 và năm 2008 Cuộc tranh luận xoay quanh mối quan tâm chính trị về luật phân biệt đối xử và nghĩa vụ của các nhà nước trong thực thi luật nhân quyền quốc tế
Những nỗ lực đầu tiên về thúc đẩy quyền của người đồng tính, song
Trang 3731
tính và chuyển giới diễn ra ở châu Âu từ đầu thập kỷ 1980, sau đó được mở rộng sang các châu lục khác và trên diễn đàn toàn cầu của Liên Hợp Quốc Ở châu Âu, có thể coi sự kiện pháp lý đầu tiên về vấn đề này là phán quyết của
Tòa án Nhân quyền châu Âu trong vụ Dudgeon kiện Vương quốc Anh (Dudgeon v United Kingdom) năm 1981 Vụ này đã mở đường cho một loạt
phán quyết khác cũng về vấn đề quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới của Tòa án Nhân quyền châu Âu trong những năm sau đó Những phán quyết đó của Tòa án Nhân quyền châu Âu đã tạo cơ sở pháp lý cho Hội đồng châu Âu và Liên minh châu Âu ban hành những văn bản pháp luật riêng hoặc lồng ghép vấn đề bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới vào các văn kiện nhân quyền của khu vực này trong hai thập kỷ gần đây Sự phát triển về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong hệ thống pháp luật ở châu Âu đã có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc vận động cho quyền của nhóm này trên diễn đàn Liên Hợp Quốc và ở những khu vực khác Kể từ năm 1993, vấn đề quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới đã được nhắc đến trong Hội nghị nhân quyền thế giới lần thứ hai họp tại Viên (Áo) và trong các sự kiện quốc tế lớn về nhân quyền do Liên Hợp Quốc bảo trợ những năm sau đó Trên diễn đàn Liên Hợp Quốc, bên cạnh những quốc gia ủng hộ, khá nhiều quốc gia đã công khai bày tỏ sự phản đối vấn đề quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới, chủ yếu xuất phát từ những định kiến về văn hóa và tôn giáo Đây chính là lý do chính khiến cho khuôn khổ pháp luật quốc tế về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới phát triển một cách chậm chạp và hiện vẫn còn lạc hậu khá xa so với quyền của nhiều nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác
Để hệ thống hóa lại những vấn đề đặt ra đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới dựa trên báo cáo thực trạng đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới, cũng như chỉ ra những nghĩa vụ của các nhà nước liên
Trang 3832
quan đến các luật nhân quyền quốc tế, tháng 6 năm 2012, Văn phòng Cao ủy
Liên Hợp Quốc về Nhân quyền đã cho xuất bản cuốn cẩm nang: Sinh ra tự
do và bình đẳng - Xu hướng tính dục và bản dạng giới trong Luật nhân quyền quốc tế Với quan điểm rằng muốn bảo vệ cá nhân dựa trên xu hướng tính dục
và bản dạng giới không nhất thiết phải tạo ra những quyền riêng biệt dành cho người đồng tính, song tính và chuyển giới, mà chỉ cần yêu cầu bảo đảm sự thực thi các quyền không phân biệt đối xử trong các văn bản luật pháp quốc tế
đã có, cẩm nang nhấn mạnh vào sự vi phạm nhân quyền và yêu cầu thực hiện nghĩa cụ của các nhà nước Cuốn sách gồm năm phần, nội dung mỗi phần bao
gồm các mục: "xác định nghĩa vụ của Nhà nước, các điều ước quốc tế nhân
quyền có liên quan và quan điểm của các cơ quan nhân quyền dựa trên công ước Mỗi phần cũng luôn có những khuyến nghị cụ thể" [65]
Như vậy có thể thấy, cho tới nay Liên Hợp Quốc đã đang nỗ lực từng bước trong việc chỉ ra những vi phạm nhân quyền đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới cũng như yêu cầu các quốc gia thành viên có những hành động cụ thể tuân thủ những điều luật nhân quyền quốc tế để chấm dứt các hành vi vi phạm nhân quyền Với quan điểm rõ ràng này của Liên Hợp Quốc và những động thái chung tích cực của những người có lương tri trên khắp thế giới, người người đồng tính, song tính và chuyển giới có quyền hi vọng vào một tương lai tự do, bình đẳng và không có phải chịu những sự phân biệt đối xử không đáng có
Nội dung cụ thể của các quy phạm luật quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới được thể hiện trong các Nghị quyết, các báo cáo của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền và Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc như sau:
- Một trong những văn kiện quốc tế đầu tiên của hệ thống Liên Hợp Quốc đề cập trực tiếp đến quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới
Trang 3933
là Tuyên bố của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc (Commission on Human
Rights, nay đã được thay thế bởi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc) về
“Xu hướng tính dục và quyền con người” (Sexual Orientation & Human
Rights) Văn kiện này được thông qua vào tháng 3/2005, do New Zealand đề
xướng và nhận được sự ủng hộ của 32 quốc gia thành viên Ủy ban
- Tuyên bố chung về những vi phạm nhân quyền dựa trên xu hướng
tính dục và bản dạng giới (Human rights violations based on sexual
orientation and gender identity), do Na-uy khởi xướng với sự ủng hộ của 54
quốc gia khác, được công bố bởi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc
(UN Human Rights Council) vào tháng 12/2006 Tuyên bố vạch rõ những
hình thức vi phạm nhân quyền dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới đang diễn ra trên thế giới, nguyên nhân của tình trạng này, đồng thời kêu gọi các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc có những hành động để ngăn chặn và chấm dứt những vi phạm đó
- Tuyên bố chung về quyền con người, xu hướng tính dục và bản dạng
giới (Joint Statement on Human Rights, Sexual Orientation and Gender
Identity) do Ác-hen-ti-na khởi xướng với sự ủng hộ của 66 quốc gia, được
công bố bởi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào ngày 18/12/2008 Tuyên bố khẳng định nguyên tắc không phân biệt đối xử về quyền con người được áp dụng với vấn đề xu hướng tính dục và bản dạng giới, lên án những hành vi bạo lực và phân biệt đối xử dựa trên hai yếu tố này, đồng thời yêu cầu Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thảo luận về những cách thức để ngăn ngừa
và chấm dứt những vi phạm nhân quyền đó Tuyên bố cũng kêu gọi các tổ chức nhân quyền và các quốc gia nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ các quyền của tất
cả mọi người bất kể xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ như thế nào
- Tuyên bố chung về việc chấm dứt các hành động bạo lực và vi phạm
nhân quyền dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới (Ending Acts of
Trang 40dạng giới và đưa những vấn đề này vào khuôn khổ của báo cáo Đánh giá
Định kỳ Toàn thể (Universal Periodic Review - UPR) về thực thi quyền con
người ở các quốc gia Tuyên bố cũng kêu gọi các quốc gia ngăn ngừa những hành động bạo lực, tội phạm hóa và phân biệt đối xử với các cá nhân dựa trên
xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ
- Nghị quyết về “Quyền con người, Xu hướng tính dục và Bản dạng giới”
(Human Rights, Sexual Orientation and Gender Identity - HRC/RES/17/19) do
Nam Phi đề xướng, được thông qua tại Phiên họp thứ 17, tháng 6/2011 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc Đây là nghị quyết đầu tiên của một cơ quan nhân quyền Liên Hợp Quốc đề cập trực tiếp đến vấn đề quyền con người của LGBT Nghị quyết này yêu cầu Cao Ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền tiến hành một nghiên cứu về tình trạng phân biệt đối xử và bạo lực chống lại các cá nhân dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới trong pháp luật và thực tiễn trên thế giới, đồng thời đề xuất các phương thức sử dụng luật nhân quyền quốc tế để chấm dứt những vi phạm nhân quyền dạng này Nghị quyết cũng quyết định tổ chức một cuộc họp tiểu ban tại Phiên họp thứ 19 của Hội đồng Nhân quyền để thảo luận và đưa ra những khuyến nghị về vấn đề đã nêu
- Báo cáo của Cao Ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người về các luật, chính sách phân biệt đối xử và các hành động bạo lực chống lại các cá nhân
dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới (Discriminatory laws and
practices and acts of violence against individuals based on their sexual
orientation and gender identity - A/HRC/19/41, tháng 11/2011)