1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền công đoàn của người lao động việt nam trong xu hướng cam kết thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

92 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới .... Tuy nhiên, để đạ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN KHÁNH LINH

QUYÒN C¤NG §OµN CñA NG¦êI LAO §éNG VIÖT NAM TRONG XU H¦íNG CAM KÕT THùC HIÖN C¸C HIÖP §ÞNH TH¦¥NG M¹I Tù DO THÕ HÖ MíI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN KHÁNH LINH

QUYÒN C¤NG §OµN CñA NG¦êI LAO §éNG VIÖT NAM TRONG XU H¦íNG CAM KÕT THùC HIÖN C¸C HIÖP §ÞNH TH¦¥NG M¹I Tù DO THÕ HÖ MíI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ HOÀI THU

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Khánh Linh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CÔNG ĐOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG XU HƯỚNG CAM KẾT THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 6

1.1 Khái quát về các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 6

1.2 Khái quát chung về quyền công đoàn của người lao động 10

1.2.1 Khái niệm quyền công đoàn của người lao động 10

1.2.2 Nội dung quyền công đoàn của người lao động 13

1.2.3 Các đảm bảo cho quyền công đoàn của người lao động 23

1.3 Quyền công đoàn của người lao động theo quy định của pháp luật quốc tế 28

Kết luận Chương 1 42

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CÔNG ĐOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRONG XU HƯỚNG CAM KẾT THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 43

2.1 Thực trạng quy định về quyền công đoàn của người lao động Việt Nam trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 43

2.1.1 Về quyền thành lập, gia nhập công đoàn 43

2.1.2 Về quyền tự quyết công việc nội bộ của tổ chức công đoàn của người lao động 50

Trang 5

2.1.3 Về quyền thương lượng tập thể và đình công 52

2.1.4 Về quyền bảo vệ tổ chức và cán bộ công đoàn 55

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật và quyền công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 58

2.3 Đảm bảo thực thi quyền công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 62

2.3.1 Các điều kiện nội tại để đảm bảo thực thi các cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 62

2.3.2 Đảm bảo từ phía các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới 66

Kết luận Chương 2 69

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUYỀN CÔNG ĐOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG XU HƯỚNG CAM KẾT THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 70

3.1 Yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật về quyền tự do công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 70

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 74

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 77

Kết luận chương 3 80

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Chữ cái viết tắt Cụm từ đầy đủ

Trans-Pacific Partnership - Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

về thuế quan và mậu dịch

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, hợp tác và liên kết kinh tế trên quy mô toàn cầu cũng như khu vực là xu thế tất yếu mà tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù mạnh hay yếu đều hướng đến Quá trình toàn cầu hóa này có ảnh hưởng to lớn đến tất cả các lĩnh vực của đời sống con người như kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa… trong đó có vấn đề lao động và pháp luật lao động cũng chịu những ảnh hưởng sâu rộng về mọi mặt như các vấn đề liên quan đến việc làm, tiêu chuẩn lao động, công đoàn,

Những năm qua Việt Nam, đã và đang bước quá trình hội nhập kinh tế với nhiều lợi thế và thách thức được đặt ra Để đón bắt các cơ hội phát triển mới, từ đại hội VII (1991) đến nay Đảng ta đã đề ra các chủ trương nhất quán

về hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng chủ động, đa phương hóa, đa dạng hóa, chú trọng đến các đối tác chiến lược và các nước có chung đường biên giới Năm 2015 được coi là năm của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam Ngoài việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN, Việt Nam đã kết thúc quá trình đàm phán và đi vào ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do Tính đến thời điểm tháng 2/2016, Việt Nam đã ký kết 11 FTA khu vực và song phương Cùng với quá trình toàn cầu hóa, nội dung và phạm vi của các Hiệp định thương mại tự do ngày càng được mở rộng Nếu như trong giai đoạn đầu, nội dung FTAs chủ yếu quy định về thương mại truyền thống như việc giảm thiểu các hàng rào thương mại như thuế quan, quota, hải quan thì dần dần các điều khoản nhằm bảo đảm cạnh tranh lành mạnh như sở hữu trí tuệ, đầu tư,… được đưa vào nội dung của FTA Các FTA thế hệ mới tiếp tục

mở rộng phạm vi điều chỉnh đến những vấn đề không liên quan trực tiếp đến thương mại truyền thống như lao động và môi trường, chi tiêu chính phủ…

Trang 8

Các hiệp định này góp phần tạo kết nối và hòa nhập, tăng cường khả năng hợp tác với những nền kinh tế trọng điểm, thúc đẩy kích cầu hoạt động giao thương giữa Việt Nam với kinh tế thế giới Tuy nhiên, để đạt được những lợi ích thương mại và đầu tư, Việt Nam phải cam kết cải cách sâu rộng trên nhiều lĩnh vực trong đó phải kể đến cam kết về quyền công đoàn của người lao

động.Tác giả chọn đề tài: “Quyền công đoàn của người lao động Việt Nam

trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.”

để tìm hiểu những thuận lợi,khó khăn, mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam trong việc đảm bảo thực thi quyền công đoàn của người lao động khi Việt Nam gia nhập các FTA thế hệ mới; Từ đó đưa ra một số kiến nghị để quyền công đoàn của người lao động được thực thi một cách có hiệu quả

2 Tình hình nghiên cứu của luận văn

Trong thời gian qua, về vấn đề quyền công đoàn của người lao động Việt Nam đã được một số tác giả nghiên cứu và đề cập trong các công trình nghiên cứu như:

- Bài viết “Quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động theo TPP và yêu cầu hoàn thiện pháp luật” của PGS,TS Lê Thị Hoài Thu

trên Tạp chí nghiên cứu Lập Pháp, 1+2(329+330), Tập 1

- Bài viết “Quyền công đoàn của người lao động và thực hiện hóa quyền này - Kinh nghiệm của thế giới và thực tiễn của Việt Nam hiện nay”

của PGS.TS Nguyễn An Ninh & NCS Vũ Đức Anh đăng tải trong chuyên

mục nghiên cứu – trao đổi, Tạp chí Cộng sản online 2016

- Bài viết: “Quyền thành lập, tham gia công đoàn trong luật quốc tế

và luật Việt Nam” của Ths Cao Nhất Linh đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử ngày 21/03

- Quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động ở Việt Nam hiện nay, năm 2015, Luận văn Ths Luật học của Vũ Thị Hường;

Trang 9

- Quyền tự do công đoàn của người lao động ở Việt Nam hiện nay - Luận văn thạc sĩ luật học, năm 2017, luận văn Ths Luật học của Nguyễn Thị

Mùi và một số công trình nghiên cứu khác

Các công trình này đã nghiên cứu và lãm rõ được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền công đoàn của người lao động được quy định trong pháp luật lao động Việt Nam cũng như trên thế giới.Tuy nhiên cùng với sự chuyển biến mạnh mẽ và nhanh chóng về tình hình chính trị - xã hội cũng như xu hướng toàn cầu hóa, những quy định pháp luật về quyền công đoàn của người lao động đã và đang có sự biến đổi đặc biệt là khi Việt Nam đẩy mạnh việc ký kết các Hiệp định Thương mại tự do Thế hệ mới.Chính vì vậy việc đi sâu vào nghiên cứu về khía cạnh quyền công đoàn trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy quá trình đàm phán các hiệp định thương mại thế hệ mới là việc mang ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu

sắc Do đó tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Quyền công đoàn của

người lao động Việt Nam trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.”

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn

Mục tiêu nghiên cứu:

Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về về quyền công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn:

Một là nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quyền công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Hai là nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp

Trang 10

luật về quyền công đoàn của người lao động việt nam trong xu hướng cam kết thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Ba là đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quyền công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Nhưng vấn đề lý luân & quy định của pháp luật Việt Nam về quyền công đoàn; Quy định về quyền công đoàn trong các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đã và đang gia nhập

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Quyền công đoàn trong pháp luật Việt Nam, trong các Công ước quốc tế và trong các quy định của các FTA thế hệ mới mà Việt Nam gia nhập Chủ yếu là trong Hiệp định CPTPP và EVFTA

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin mà chủ yếu là phương pháp biện chứng biện chứng và duy vật lịch

sử kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu; Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn, sử dụng một số kết quả điều tra xã hội học của các cơ quan và tổ chức có thẩm quyền để tổng kết về thực tiễn từ

đó đưa ra những kiến nghị góp phần xây dựng pháp luật Việt Nam

6 Tính mới và những đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu tổng quát về quyền công đoàn của người lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam và theo quy định của các Hiệp định FTA thế hệ mới mà Việt Nam gia nhập Từ đó tìm ra những giải pháp để đảm bảo cho việc thực hiện các cam kết về quyền công đoàn cho người lao động của Việt Nam

Trang 11

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền công đoàn của người lao

động trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế

hệ mới

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về

quyền công đoàn của người lao động Việt Nam trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quyền

công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CÔNG ĐOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG XU HƯỚNG CAM KẾT THỰC HIỆN

CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI

1.1 Khái quát về các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Tự do hóa thương mại đã và đang trở thành xu thế để phát triển nền kinh tế của nhiều quốc gia trong những thập kỷ gần đây Việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do (Free trade agreement được viết tắt là FTA) là phương thức hữu hiệu để các quốc gia thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại Sự ra đời, phát triển của FTA gắn liền với quá trình phát triển của thương mại thế giới Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tình hình giao thương giữa các nước diễn ra khá tự do.Nhưng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai cùng với cuộc đại khủng hoảng 1929 - 1933 đã tác động mạnh đến hoạt động thương mại quốc tế Để khôi phục nền kinh tế, nhiều quốc gia đã xác lập các hàng rào thuế quan để bảo hộ thị trường nội địa trước sự xâm nhập của hàng hóa bên ngoài Tuy nhiên nhu cầu mở rộng giao thương, đầu tư giữa các quốc gia là tất yếu bởi nhờ sự phát triển của khoa học, kỹ thuật nên hàng hóa, dịch

vụ ngày một phát triển cả về chất và lượng.Cùng với các thỏa thuận ưu đãi riêng giữa hai hay một số quốc gia, nhu cầu về một dạng hình thỏa thuận có tính đa phương trong cắt giảm thuế quan cũng ngày càng gia tăng Sự ra đời của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1948 chính là đáp ứng xu thế chung này Trải qua nhiều vòng đàm phán để ký kết các thỏa thuận thương mại, tại vòng đàm phán thứ tám ,các nước thành viên nhất trí thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thay cho GATT WTO lẽ ra là sân chơi lý tưởng cho tự do hóa thương mại trên phạm vi toàn cầu Nhưng với

170 quốc gia thành viên, phạm vi quá rộng khiến việc đàm phán tìm lợi ích

Trang 13

chung cho tất cả các quốc gia với trình độ phát triển và nhu cầu quá khác nhau liên tục rơi vào bế tắc Đến vòng đàm phán Đô-ha bế tắc xuất phát từ bất đồng

về chính sách thương mại trong nông nghiệp giữa Mỹ và Ấn Độ… và kết quả

là đàm phán bị hoãn vào năm 2008 Để đối phó với những bế tắc trong vòng đàm phán Đô-ha các nước quay sang ký kết các FTA, dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ của các FTA trong những thập niên gần đây Các FTA được hình hình thành thời gian qua xuất phát từ chính những bất đồng trong quá trình hội nhập đa phương bởi vì các quốc gia đều nhận thấy rằng, để thúc đẩy tự do hóa thương mại nhanh hơn cũng như mức độ cam kết sâu rộng hơn, con đường thuận lợi nhất chính là đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự

do khu vực và song phương

FTA là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào

đó bằng việc cắt giảm thuế quan, có các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên Các nội dung mà FTA đề cập đến thường bao gồm: Quy định về việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan; Quy định về danh mục mặt hàng đưa vào cắt giảm thuế quan; Quy định về lộ trình cắt giảm thuế quan; Quy định về quy tắc xuất xứ Vẫn dựa trên những cách thức tương tự WTO nhưng thay vì trên quy mô toàn cầu, FTA hướng tới khu vực hóa, vì vậy các FTA cũng dễ dàng được ký kết hơn

và có ảnh hưởng sâu hơn Cùng với quá trình toàn cầu hóa, nội dung và phạm

vi của các Hiệp định thương mại tự do ngày càng được mở rộng Cho đến nay, các FTA đã trải qua 4 thế hệ, nếu thế hệ FTA đầu tiên chỉ tập trung vào thương mại hàng hóa thì đến thế hệ FTA thứ 2 đã mở rộng thêm dịch vụ Thế

hệ FTA thứ 3 mở rộng thêm lĩnh vực đầu tư và thế hệ FTA thứ 4 hiện nay còn liên quan đến các lĩnh vực phi thương mại như môi trường, công đoàn…và các FTA thế hệ thứ tư này thường được gọi dưới tên là các FTA thế hệ mới

Trang 14

Thuật ngữ “thế hệ mới” hoàn toàn mang tính tương đối, được dùng để cho các FTA có phạm vi toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do hóa thương mại hàng hóa Các FTA thế hệ mới có một số đặc trưng sau:

- Các cam kết được quy định một cách linh hoạt, tạo điều kiện cho các nước đi sau (các nước đang phát triển) có thể điều chỉnh chính sách theo lộ trình phù hợp với trình độ phát triển của mình Nếu như trong FTA truyền thống, lộ trình cắt giảm thuế thường kéo dài không quá 10 năm, thì trong các FTA thế hệ mới nhìn chung lộ trình được đẩy nhanh hơn

- Về cơ chế giám sát của các FTA thế hệ mới có yêu cầu cao hơn, chặt chẽ hơn trong quá trình thực thi Ví dụ theo quy tắc xuất xứ từ sợi trong CPTPP, sản phẩm may mặc của một quốc gia phải được làm từ vải được dệt

từ sợi do chính quốc gia đó sản xuất mới được hưởng ưu đãi từ các nước thành viên CPTPP

- Về cơ chế pháp lý trong giải quyết các tranh chấp phát sinh, các FTA thế hệ mới áp dụng một số quy chế giải quyết tranh chấp bằng việc nhà nước kiện nhà nước hoặc nhà đầu tư kiện nhà nước mà các FTA thế hệ

cũ không có

- Ngoài ra, trong các FTA thế hệ mới đều có thành viên với trình độ phát triển kinh tế cao hàng đầu thế giới Các thành viên có trình độ phát triển cao trong các FTA thế hệ mới là động lực dẫn dắt hợp tác, là cơ sở cho các thỏa thuận sâu, rộng, và các cam kết ở mức cao trong nội khối FTA Đây cũng

là điều khác biệt với các FTA truyền thống

Nội dung của các FTA thế hệ mới không chỉ dừng lại ở các vấn đề thương mại mà nội dung các hiệp định này còn đề cập tới những vấn đề không phải là thương mại trực tiếp nhưng có liên quan đến thương mại, như đấu thầu, môi trường, sở hữu trí tuệ, lao động và công đoàn Trên thực tế, trước đây tiêu chuẩn lao động và vấn đề môi trường là những vấn đề đã từng

Trang 15

được đưa ra khỏi Chương trình nghị sự thương mại toàn cầu kể từ Hội nghị Xi-a-tơn của WTO năm 1999, bởi các nước đang phát triển lúc đó còn nghi ngại, cho rằng đây dường như là những “hàng rào bảo hộ mới”.WTO gần như không đề cập gì tới tiêu chuẩn lao động Tại thời điểm đó, có một làn sóng dịch chuyển nhà máy từ các quốc gia phát triển như Mỹ, châu Âu sang Hàn Quốc, đến Trung Quốc, rồi Việt Nam Cứ như vậy, các nhà máy dịch chuyển

để tận dụng nguồn lao động giá rẻ tại các nước đang phát triển.Trong quá trình này, điều kiện lao động ngày càng bị hạ thấp, có những thời điểm, lương của lao động chỉ được trả ở mức 10 đô la Mỹ/tháng [31] Từ đó xuất hiện ý kiến cho rằng nên đưa tiêu chuẩn lao động vào các FTA thế hệ mới Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động ngày càng được coi trọng trên cơ sở coi người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm trong thương mại quốc tế, nên trước hết họ phải được bảo đảm các quyền, lợi ích và các điều kiện lao động cơ bản.Liên quan đến vấn đề lao động, có 2 nhóm quan điểm trái ngược nhau về vai trò của các tiêu chuẩn lao động trong quá trình toàn cầu hóa, cũng như việc đưa các tiêu chuẩn lao động quốc tế vào trong các các FTA

Những người theo chủ thuyết thương mại tự do (free trade) coi các tiêu chuẩn lao động là rào cản đối với thị trường, và theo họ, điều kiện lao động sẽ được cải thiện từ quá trình phát triển kinh tế, và tất cả mọi người (trong đó tất nhiên có người lao động) sẽ được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa Những người này cho rằng thay vì thúc đẩy phát triển kinh tế, Tổ chức lao động quốc

tế ILO vẫn duy trì cách thức tiếp cận cũ, cách thức lập quy theo lối suy nghĩ của thế kỷ trước và không thể hiện vai trò tích cực trong việc tiếp cận các cơ hội cũng như thách thức mới của nền kinh tế trong quá trình toàn cầu hóa Từ

đó họ cho rằng việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế là không cần thiết và vai trò của ILO là không cần thiết [15]

Trang 16

Khác với những người theo chủ thuyết thương mại tự do, những người theo trường phái thương mại công bằng (fair trade), các tổ chức dân sự và nhóm những nhà hoạt động về quyền của người lao động lại cho rằng bên cạnh những mặt tích cực, toàn cầu hóa cũng bộc lộ những mặt tiêu cực Tình trạng lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, bóc lột, tình trạng phân biệt đối

xử trong lao động, điều kiện lao động tồi tàn, người lao động bị bóc lột vẫn diễn ra nhiều và có xu hướng phức tạp hơn Họ cho rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa, các tiêu chuẩn lao động quốc tế càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.Đồng thời để đánh giá về hiệu quả hoạt động của ILO, những người theo quan điểm này cho rằng ILO đã thất bại trong việc đảm bảo thi hành các tiêu chuẩn do chính mình ban hành và việc vi phạm các tiêu chuẩn lao động quốc tế vẫn là phổ biến Phương pháp đảm bảo thi hành các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO dựa trên việc thuyết phục là chính cho nên không hiệu quả [15] Từ đó, họ đề xuất đưa các tiêu chuẩn lao động quốc tế vào trong các FTA và sử dụng chế tài thương mại đối với những quốc gia vi phạm pháp luật lao động quốc tế Trong phạm vi luận văn này chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu về những vấn đề liên quan đến quyền công đoàn của người lao động được đề cập trong các FTA thế hệ mới

1.2 Khái quát chung về quyền công đoàn của người lao động

1.2.1 Khái niệm quyền công đoàn của người lao động

Công đoàn là tổ chức do người lao động thành lập nên dựa trên cơ sở

tự nguyện, hoạt động vì mục đích bảo vệ quyền lợi của người lao động Công đoàn xuất hiện khi giai cấp công nhân ý thức được về sức mạnh tập thể và biết chăm lo bảo vệ quyền lợi cho chính mình Sự ra đời của công đoàn như một điều tất yếu của lịch sử kể từ khi quan hệ lao động xuất hiện Xuất phát từ những mâu thuẫn giai cấp do bị bóc lột sức lao động, những người công nhân đã đứng lên đấu tranh chống lại giai cấp tư sản để bảo vệ

Trang 17

quyền lợi chính đáng của mình Trải qua những cuộc đấu tranh cho lợi ích, quyền lợi của giai cấp mình, quần chúng công nhân dần ý thức được tầm quan trọng của việc liên kết lại với nhau để chống lại sự đàn áp của giới chủ Nếu như ban đầu chỉ là sự phản kháng rời rạc, tự phát của một số cá nhân thì dần dần thành sự liên kết của cả một phân xưởng, một nhà máy… Hình thức ban đầu của công đoàn là các “Hội tương trợ”, Hội huynh đệ”, “Hội hữu nghị”… được những người công nhân thành lập lên để giúp đỡ lẫn nhau Vào thời kỳ đầu, tổ chức và hoạt động của các hội này bị các nhà nước cấm đoán, đàn áp những phong trào công nhân, công đoàn vẫn phát triển rộng khắp.Trải qua quá trình đấu tranh bền bỉ, lần lượt các nhà nước tư bản buộc phải thừa nhận địa vị hợp pháp của công đoàn Cho đến nay, tổ chức công đoàn ngày một phát triển rộng rãi, không chỉ trong giai cấp công nhân, ở tầng lớp làm công ăn lương mà còn phát triển ở hàng ngũ viên chức nhà nước,tầng lớp trung lưu.Ở nhiều nước tư bản phát triển, công đoàn không chỉ là tổ chức nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân, mà con đóng vai trò người hoà giải, cân bằng lợi ích giữa giới chủ, công nhân và chính phủ Hiện nay trên thế giới có 3 tổ chức công đoàn quốc tế:

- Liên hiệp công đoàn thế giới (WFTU) thành lập 3/10/1945 đây là tổ chức của lao động thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít Hiện nay, tổ chức này có 102 tổ chức công đoàn thành viên ở 74 nước với tổng số đoàn viên khoảng 407 triệu người

- Liên hiệp quốc tế các công đoàn tự do (CFTU), thành lập vào năm

1949 tại Luân đôn Hiện nay CFTU có khoảng 140 triệu thành đoàn viên thuộc 160 trung tâm công đoàn ở 120 nước trên thế giới

- Liên hiệp công đoàn thế giới (WCL) thành lập năm 1920 tại Hà Lan

có khoảng 25 triệu đoàn viên ở 60 quốc gia

Xét từ lịch sử hình thành và phát triển của tổ chức công đoàn, ta thấy

Trang 18

quan niệm về quyền công đoàn gắn chặt với quan niệm về công đoàn Công đoàn là tổ chức tự nguyện, độc lập, do công nhân thành lập và hoạt động vì mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của công nhân và công đoàn chính là một dạng đặc thù của hội Công đoàn mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của một hội theo khái niệm hội là "tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động" Vì vậy quyền công đoàn của người lao động là một dạng của quyền lập hội, gắn với chủ thể

là công nhân Tự do hiệp hội là một trong những quyền con người cơ bản thuộc một trong những tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản đã được quy định trong Tuyên bố về các Nguyên tắc cơ bản và các Quyền tại nơi làm việc (Declaration on Fundamental Principles and Rights at Work) năm 1988 của ILO Trong tuyên bố này ILO khẳng định 4 nhóm tiêu chuẩn lao động quốc tế

cơ bản gồm:

- Tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể

- Xóa bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc;

- Xóa bỏ có hiệu quả lao động trẻ em

- Xóa bỏ phân biệt đối xử trong công việc

Theo luật nhân quyền quốc tế, tự do hiệp hội bao gồm ba khía cạnh: (i) thành lập ra các hội mới, (ii) gia nhập các hội đã có sẵn, và (iii) hoạt động, điều hành các hội, bao gồm cả việc tìm kiếm, huy động các nguồn kinh phí [7, tr 13] Từ đó ta có thể hiểu quyền công đoàn (trade union/labour union rights) là quyền của người lao động được tham gia và thiết lập những tổ chức do họ tự mình chọn lựa, mà không cần cấp phép trước hay nói cụ thể hơn quyền công đoàn của người lao động cũng bao gồm 3 nội dung chính đó là: (i) thành lập ra các tổ chức công đoàn mới, (ii) gia nhập tổ chức công đoàn

đã có sẵn, và (iii) tham gia hoạt động, điều hành các tổ chức công đoàn Đây

là những nhu cầu, lợi ích công đoàn tự nhiên vốn có và khách quan của người

Trang 19

lao động được pháp luật quốc tế và quốc gia công nhận và bảo vệ Một trong những lý do quyền công đoàn của người lao động thuộc nhóm những tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản bởi vì nó đóng vai trò quan trọng cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường Khi quyền tự do công đoàn được thực thi hiệu quả sẽ tạo ra cơ sở pháp lý cho người lao động và người sử dụng lao động thiết lập các tiêu chuẩn lao động khác trong quan hệ lao động Ví dụ như đại diện của người lao động và người sử dụng lao động có thể thương lượng về tiền lương, thời gian làm thêm,… Đây chính là nền tảng cho sự vận hành của thị trường lao động

1.2.2 Nội dung quyền công đoàn của người lao động

Thứ nhất, quyền thành lập và gia nhập tổ chức công đoàn

Tương tự với quyền lập hội thì đây là một quyền cơ bản của con người nói chung của người lao động nói riêng Điều 23 khoản 4 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã ghi nhận: “Tất cả mọi người đều có quyền, cùng với người khác, thành lập các công đoàn hay gia nhập vào các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”

Theo từ điển tiếng Việt thì thành lập là chính thức lập nên, dựng lên (thường nói về một tổ chức quan trọng) như thành lập công ti, ngày thành lập Đảng [12] Ngoài ra theo cách hiểu thông thường, thuật ngữ “thành lập” được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất là thành lập một tổ chức mới, thứ hai là thành lập một thành viên mới của tổ chức đã có [27] Ở các quốc gia khác nhau thì quyền thành lập công đoàn của người lao động lại được hiểu theo những cách khác Đối với những quốc gia đi theo mô hình công đoàn đơn nhất như Việt Nam, Trung Quốc… thì chỉ có một tổ chức công đoàn duy nhất đại diện, bảo

vệ quyền lợi cho người lao động và tổ chức này là thành viên của hệ thống chính trị được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Như vậy người lao động ở những quốc gia này có quyền cùng nhau lựa chọn giữa việc thành lập hay

Trang 20

không thành lập tổ chức công đoàn và nếu thành lập công đoàn thì tổ chức đó

sẽ trực thuộc sự quản lý của tổ chức công đoàn cấp trên Bên cạnh đó cũng có nhiều quốc gia xây dựng mô hình đa công đoàn trong số đó một số quốc gia cho phép nhiều công đoàn hoạt động nhưng vẫn có một công đoàn nòng cốt, lại có nhiều quốc khác cho phép tồn tại nhiều hình thức đại diện song song với hình thức công đoàn Như vậy quyền thành lập tổ chức công đoàn ở các quốc gia này sẽ được hiểu theo nghĩa thứ nhất Người lao động ở các quốc gia này có quyền tự do liên kết với những người khác để thành lập một hoặc nhiều công đoàn khác nhau để đảm bảo cho việc bảo vệ lợi ích của mình đúng theo tinh thần của Công ước số 87 về quyền tự do liên kết và quyền được tổ

chức quy định: “Người lao động và người sử dụng lao động, không phân biệt

dưới bất kỳ hình thức nào, đều không phải xin phép trước mà vẫn có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình, với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ chức đó” Mặc dù

không phải xin phép trước nhưng để thành lập nên tổ chức công đoàn hoạt động một cách hợp pháp thì ở mỗi quốc gia lại có những quy tắc nhất định về điều kiện, thủ tục để thành lập công đoàn Ở nhiều quốc gia để thành lập nên

tổ chức công đoàn hoạt động một cách hợp pháp mặc dù không phải xin phép nhưng vẫn cần đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hồ sơ đăng ký cần có một số giấy tờ như: đơn đăng ký, điều lệ, quy chế, tuyên bố thành lập, danh sách, thông tin thành viên tham gia và người chịu trách nhiệm pháp lý Khi xét thấy hồ sơ đăng ký hợp lệ, mục đích thành lập, điều lệ hợp pháp,… thì các cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết một cách nhanh chóng và thiện chí Cơ quan có thẩm quyền có thể từ chối đơn xin thành lập tổ chức công đoàn nhưng phải nêu rõ lý do từ chối đơn Theo khuyến nghị của Liên hợp quốc thì cơ quan có thẩm quyền nên công nhận sự tồn tại của tổ chức công đoàn bằng “ một thủ tục thông báo” (a notification procedure) sẽ phù hợp hơn

Trang 21

là một thủ tục cho phép (prior authorization procedure) [5] Bởi lẽ theo theo luật nhân quyền cũng như các công ước về quyền tự do liên kết thì tự do lập hội là một quyền đương nhiên của con người Như vậy ở nhiều quốc gia sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền không phải là điều kiện cho việc hiện diện một công đoàn Và thủ tục thông báo và cấp phép cũng chỉ mang ý nghĩa chính để các cơ quan chức năng có thể thống kê về các công đoàn đang hoạt động Tuy nhiên quyền tự do thành lập tổ chức công đoàn cũng không phải là một quyền tự do tuyệt đối mà nó có những giới hạn quyền nhất định vì một số

lý do như để đảm bảo an ninh quốc gia và lợi ích cộng đồng; Cũng như để đảm bảo cho chính việc hoạt động có hiệu quả của các tổ chức công đoàn và cân bằng được lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động Pháp luật mỗi quốc gia đều đặt ra một số quy định cơ bản để thành lập nên tổ chức công đoàn như: mục đích, điều lệ, thành viên, quy trình thủ tục thành lập Các điều kiện cụ thể đối với thành viên công đoàn đó là: điều kiện về số lượng thành viên tham gia, quốc tịch, độ tuổi của các thành viên Ví dụ như về số lượng thành viên để thành lập công đoàn có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia Luật hội của Ba Lan yêu cầu cần có 15 người để thành lập một hội, trong khi đó luật Ai Cập cần có 10 người, Luật Ấn Độ cần 7 người và luật của Pháp chỉ cần 2 người là có thể lập hội

Cùng với quyền thành lập công đoàn, người lao động còn có quyền gia nhập cũng như xin rút lui khỏi công đoàn Thuật ngữ gia nhập được hiểu là một chủ thể (quốc gia, tổ chức, cá nhân) tự nguyện tán thành những quy định của tổ chức đã có trong xã hội và tự nguyện xin gia nhập vào tổ chức đó và được tổ chức đồng ý Đối với những nước chỉ có một tổ chức công đoàn duy nhất thì người lao động có quyền tự nguyện gia nhập hay không gia nhập tổ chức công đoàn này mà không bị bất kỳ chủ thể nào khác ép buộc Đối với những quốc gia theo hướng đa nguyên về công đoàn thì người lao động có

Trang 22

quyền tự do lựa chọn tham gia hay không tham gia vào công đoàn này, hay công đoàn khác để bảo vệ lợi ích của mình một cách tốt nhất Việc gia nhập tổ chức công đoàn của người lao động cũng có một số những điều kiện nhất định

về quốc tịch và độ tuổi của người gia nhập Luật công đoàn Singapore quy định những người trên 16 tuổi có thể gia nhập công đoàn; Luật Công Đoàn Nga quy định độ tuổi được tham gia tổ chức công đoàn là 14 tuổi Hơn nữa luật công đoàn Nga còn cho phép công dân nước ngoài và những người không quốc tịch sống trên lãnh thổ của Liên bang Nga đều được tham gia công đoàn Quyền thành lập và gia nhập tổ chức công đoàn có thể nói là một quyền tự nhiên của người lao động bởi vì xét về bản chất và nguồn gốc hình thành nên

tổ chức công đoàn thì tổ chức này ra đời do sự tác động của thị trường, sự tương đồng về địa điểm làm việc, nhu cầu hay sự quan tâm chung

Thứ hai là quyền tổ chức nội bộ của công đoàn

Người lao động có quyền xây dựng quy chế, điều lệ; tổ chức bộ máy duy trì hoạt động; xây dựng các quy chế tài chính, các quy đinh về quyền và nghĩa vụ của đoàn viên công đoàn,… Nhà nước cần hạn chế một cách tối đa

sự can thiệp của mình vào những hoạt động nội bộ của các tổ chức công đoàn Các tổ chức công đoàn có quyền tự xây dựng quy chế, điều lệ cho tổ chức mình không vi phạm quy định pháp luật; Nội dung quy chế, điều lệ được xây dựng dựa trên cơ sở quyền tự do ý chí của các thành viên và thông qua sự bàn bạc, thống nhất của các thành viên bao gồm tất cả các nội dung như mục đích, cách thức, phạm vi, nguyên tắc hoạt động của tổ chức, Ngoài ra người lao động cũng có quyền bầu ra ban lãnh đạo của tổ chức mình Các cơ quan Nhà nước không được thay đổi việc bầu chọn này cũng như không được cử người của mình vào ban lãnh đạo hay yêu cầu các tổ chức công đoàn Đồng thời tổ chức công đoàn cũng có quyền tự mình xây dựng những kế hoạch hoạt động hàng năm cũng như tự mình xây dựng, tiếp nhận các nguồn lực tài chính để

Trang 23

đảm bảo cho sự hoạt động của tổ chức mình Các cơ quan độc lập do Nhà nước lập ra có quyền xem xét báo cáo của các tổ chức công đoàn như một cơ chế đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm giải trình, nhưng một thủ tục như vậy không được mang tính chất tùy tiện và phải tôn trọng nguyên tắc không phân biệt đối xử và quyền riêng tư của các tổ chức đó [10] Tuy nhiên đối với một số quốc gia theo mô hình công đoàn đơn nhất lại có một số những giới hạn đối với quyền tổ chức nội bộ công đoàn Ví dụ như về vấn đề quy chế tài chính thì các tổ chức công đoàn ở Việt Nam phải tuân theo các quy định về thu chi kinh phí, đoàn phí công đoàn theo quy định của pháp luật và điều lệ công đoàn Việt Nam Cụ thể theo quy định của pháp luật hiện nay thì tại doanh nghiệp có tổ chức công đoàn thì người lao động tham gia tổ chức công đoàn phải đóng đoàn phí công đoàn với mức 1% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, những mức đống đoàn phí phí hàng tháng tối đa chỉ bằng 10% mức lương cơ sở Tuy nhiên Doanh nghiệp chỉ được hưởng 60% tổng số thu đoàn phí công đoàn mà phải nộp 40% tổng số thu đoàn phí công đoàn cho công đoàn cấp trên

Thứ ba, quyền thương lượng tập thể và đình công

Quyền đại diện và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là quyền vốn có của Công đoàn nó gắn liền với sự hình thành và phát triển của Công đoàn Trong đó, quyền đại diện cho người lao động tham gia vào các hoạt động thương lượng tập hay lãnh đạo đình công là quyền hết sức quan trọng của công đoàn Việc đảm bảo cho quyền thương lượng tập hay lãnh đạo đình công của công đoàn cũng chính là những đảm bảo cho quyền tự

do công đoàn của người lao động

Tại nơi làm việc, thương lượng là cơ sở cho việc tìm kiếm sự cân bằng giữa các lợi ích của người lao động với người sử dụng lao động và tiến tới các

Trang 24

điều kiện và phạm vi việc làm chấp nhận được đối với hai bên trong quan hệ lao động Thương lượng tập thể là việc tập thể lao động thảo luận, đàm phán với người sử dụng lao động nhằm mục đích xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; Xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thoả ước lao động tập thể; Giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động Cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, quan hệ lao động ngày càng đòi hỏi sự hài hoà về lợi ích trên cơ sở thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động về quyền lợi và nghĩa vụ nhưng không trái với quy định của pháp luật Trong quan hệ lao động, thương lượng là hình thức cơ bản

và đặc biệt quan trọng, đòi hỏi những điều kiện và cơ chế thực thi thích hợp, bởi lẽ chất lượng của thương lượng quyết định chất lượng của thỏa ước tập thể và sẽ có tác động thường xuyên, lâu dài đến môi trường lao động, ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sản xuất của đơn vị sử dụng lao động Thỏa ước lao động tập thể được coi là “bộ luật con” tại doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh, là công cụ, phương tiện điều chỉnh quan hệ lao động, là nguồn bổ sung của pháp luật lao động Việc thương lượng phải đảm bảo tính

tự nguyện và bình đẳng, hai bên cùng có lợi Có thể nói hoạt động thương lượng cũng là việc chia phần “một chiếc bánh lợi ích”, nên không phải khi nào các bên cũng dễ dàng thống nhất được với nhau về mọi vấn đề; cũng sẵn sàng nhượng bộ.Chính vì vậy việc thương lượng, ký kết và thực hiện Thoả ước lao động tập thể có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ lao động vậy nên tổ chức Công đoàn có đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đại diện cho tập thể lao động thương lượng và ký kết TƯLĐTT với người sử dụng lao động

Tổ chức công đoàn muốn nâng cao vị thế của tổ chức mình và thu hút thêm đoàn viên thì cần có kế hoạch và hành động nâng cao chất lượng thương lượng tập thế phù hợp với nhu cầu, lợi ích thiết thân của người lao động mà

Trang 25

không phải là sao chép những nội dung của pháp luật quy định Hay trong vấn

đề xử lý kỷ luật lao động công đoàn cũng đóng vài trò quan trọng Trên thực

tế, nhằm duy trì hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp, người sử dụng lao động có thể áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật lao động khác nhau theo luật định Tuy vậy, cần nhìn nhận rằng khi vấn đề xử lý kỷ luật chưa được đặt ra, người lao động đã ở một vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động Vậy thì khi phát sinh căn cứ để xử lý kỷ luật lao động, sự chênh lệch về mặt vị thế còn lớn hơn rất nhiều nếu người lao động không có một tổ chức đại diện đứng

ra để bảo vệ quyền lợi cho họ Thực tiễn cho thấy, rất nhiều trường hợp người

sử dụng lao động đã lợi dụng việc xử lý kỷ luật lao động và sự thiếu hiểu biết

về pháp luật của người lao động để áp dụng các hình thức kỷ luật lao động vượt quá mức độ vi phạm của họ hoặc các chế tài khác không được pháp luật quy định để xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của bản thân người lao động Chính bởi lẽ đó, sự xuất hiện của tổ chức Công đoàn sẽ giúp cho người lao động có tiếng nói hiệu quả hơn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Ở hầu hết các nước đều quy định chỉ có công đoàn mới là tổ chức đại diện của người lao động có quyền thương lượng tập thể với người sử dụng lao động; Chỉ có một số ít nước như Trung Quốc, Campuchia quy định thương lượng tập thể có thể được thực hiện ở những nơi chưa có công đoàn Trong trường hợp này, thương lượng tập thể được thực hiện giữa đại diện được bầu của người lao động với người sử dụng lao động Lý do của quy định này xuất phát từ lý thuyết căn bản rằng, quyền thương lượng tập thể là quyền phát sinh

từ quyền tổ chức của người lao động Trong quan hệ lao động, người lao động

có quyền tổ chức, tập hợp nhau lại thành công đoàn để có sức mạnh tập thể và dùng sức mạnh tập thể đó thương lượng với người sử dụng lao động một cách bình đẳng nhằm xác lập các điều kiện lao động trong quan hệ lao động Một

lý do khác là công đoàn nhiều nước cho rằng, việc cho phép các đại diện của

Trang 26

người lao động, nhưng không phải là công đoàn cũng có quyền thương lượng tập thể có nguy cơ làm suy yếu công đoàn vì khi đó người lao động không còn nhu cầu thành lập hoặc gia nhập công đoàn nữa nên đã đấu tranh để không thừa nhận tư cách thương lượng tập thể của các đại diện không phải là công đoàn Chính vì vậy, hình thức thương lượng tập thể chủ yếu chỉ được thừa nhận ở những nơi đã có công đoàn là một thực tiễn phổ biến Hệ thống tiêu chuẩn lao động quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thừa nhận

hệ thống đại diện kép của người lao động, bao gồm đại diện công đoàn và các đại diện được bầu của người lao động mà không phải là công đoàn đều có thể

có quyền thương lượng tập thể Tuy nhiên, các Công ước của ILO cũng đồng thời quy định khi trong một cơ sở có cả những đại diện công đoàn và những đại diện được bầu không phải là công đoàn thì phải bảo đảm rằng sự có mặt của các đại diện được bầu không được dùng để làm suy yếu vị trí của công đoàn và hai hệ thống đại diện này phải được khuyến khích để hợp tác với nhau Ngoài ra, đối với các nước tồn tại hệ thống đa công đoàn thì việc xác định công đoàn có tư cách tiến hành thương lượng tập thể tương đối đa dạng

và phức tạp Một số nước quy định công đoàn nào có số lượng đoàn viên chiếm đa số lực lượng lao động (thường là trên 50%) thì có thể thay mặt tập thể lao động tiến hành thương lượng tập thể áp dụng cho toàn bộ người lao động của doanh nghiệp (Nhật Bản, Hàn Quốc) Một số nước khác như Philipines và Indonesia lại quy định chỉ có công đoàn nào đại diện nhất tức là

có số lượng đoàn viên lớn nhất, mới có quyền thương lượng tập thể Hay như pháp luật Campuchia lại quy định tất cả các công đoàn đều có quyền thương lượng tập thể và kết quả thương lượng của từng công đoàn với người sử dụng lao động chỉ áp dụng đối với đoàn viên của công đoàn đó Mặc dù việc xác định công đoàn có quyền thương lượng tập thể khá phức tạp và đa dạng song vẫn có một điểm chung, thống nhất ở tất cả các quốc gia là công đoàn có

Trang 27

quyền thương lượng tập thể là tổ chức công đoàn có đoàn viên là người lao động đang được sử dụng bởi người sử dụng lao động [11]

Đình công là một trong những quyền cơ bản của người lao động được pháp luật quốc tế ghi nhận gắn liền với quyền của tổ chức đại diện người lao động (công đoàn) Đây là một biện pháp đấu tranh kinh tế của người lao động nhằm gây sức ép về mặt kinh tế (thể hiện ở sự ngừng việc tập thể) thông qua

đó, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về kinh tế cho người sử dụng lao động để đạt được yêu sách về quyền và lợi ích [3] Trong pháp luật quốc tế, quyền đình công đã được ghi nhận cụ thể tại Điều 8 - Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Đại hội đồng Liên hợp quốc (năm 1966) Quyền này cũng được cụ thể hóa trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, giới hạn được thực hiện quyền này đến đâu lại phụ thuộc vào quan điểm của mỗi một quốc gia, mỗi Nhà nước Trên thế giới có quốc gia thừa nhận quyền đình công của người lao động nhưng cũng có nước hiện vẫn tồn tại những quy định hạn chế, thậm chí là không thừa nhận; và cũng có quốc gia ghi nhận đình công là quyền hiến định song có quốc gia cũng mới chỉ ghi nhận đình công là quyền luật định Mặc dù vậy các quốc gia cũng đã thể hiện ý chí thống nhất thông qua việc ghi nhận đình công là một trong những quyền của người lao động Điểm d khoản 1 Điều 8 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 nêu rõ: Các thành

viên của Công ước cam kết bảo đảm “Quyền đình công với điều kiện là quyền

này phải được thực hiện phù hợp với luật pháp của mỗi nước” Trong khi đó

ILO nhận định về đình công như sau: Đình công là một trong những biện pháp thiết yếu mà người lao động và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, không chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính nghề nghiệp, mà còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính sách

Trang 28

kinh tế - xã hội và các vấn đề lao động bất kỳ loại nào mà người lao động trực tiếp quan tâm

Thứ tư, quyền bảo vệ tổ chức và cán bộ công đoàn

Theo khuyến cáo của Tổ chức lao động quốc tế cũng như thực tiễn lịch sử phong trào công đoàn các nước trên thế giới cho thấy các tổ chức công đoàn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức về quản lý, vận hành và hoạt động trong môi trường quan hệ lao động hiện nay Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các tổ chức công đoàn thường là do có sự can thiệp của giới chủ vào hoạt động của công đoàn hoặc

do những hành vi không công bằng đối với cán bộ công đoàn, đoàn viên công đoàn Chính điều này sẽ làm giảm hoặc triệt tiêu năng lực đại diện của công đoàn và gây ra sự e ngại, lo sợ đối với một số cán bộ công đoàn muốn hoạt động công đoàn thực chất

Do đó có thể thấy sức mạnh và năng lực của tổ chức công đoàn phụ thuộc vào cán bộ công đoàn có được bảo vệ, chống lại các hành vi can thiệp, thao túng, thiếu thiện chí của người sử dụng lao động hay từ phía chính quyền Chính vì vậy công đoàn cần có tiếng nói độc lập và quyết đoán trong quá trình đối thoại, thương lượng, đàm phán với người sử dụng lao động về các vấn đề về tiền lương, điều kiện lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và các điều kiện làm việc khác trong quan hệ lao động Do đó:

Những hành vi không công bằng trong lao động đang làm suy yếu nghiêm trọng phong trào công đoàn và sự phát triển quan

hệ lao động nói chung nó gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả cuối cùng và tính bền vững của các hoạt động công đoàn Điều này đã trở thành một vấn đề quan trọng cần phải được hiểu rõ hơn và được đối phó tốt hơn trong bối cảnh các nước đang phát triển như ở Việt Nam đang trong quá trình cải cách cho phù hợp với nền kinh tế thị

Trang 29

1.2.3 Các đảm bảo cho quyền công đoàn của người lao động

Thứ nhất, đảm bảo về kinh tế: kinh tế luôn là yếu tố cơ bản nhất, trọng

yếu nhất, bao trùm và chi phối các quan hệ khác trong đời sống xã hội và quyền công đoàn của người lao động cũng không nằm ngoài số đó Trong mỗi hình thái kinh tế thì quyền của người lao động nói chung cũng như quyền công đoàn của người lao động nói riêng lại được quan tâm bảo vệ ở những mức độ khác nhau Trong bối cảnh nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong

đó chính phủ đóng vai trò quyết định trong việc phân phối, sản xuất, tiêu thụ của toàn bộ nền kinh tế, nơi mà người lao động được khuyến khích hỗ trợ người quản lý hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất thì công đoàn đóng vai trò trung gian làm cầu nối giữa người lao động và người quản lý Hoạt động công đoàn thường tập trung nhiều vào quản lý phúc lợi và tổ chức các sự kiện văn hóa, xã hội hơn là đại diện cho người lao động trong các vấn đề quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể và đối thoại xã hội Khác với nền kinh

tế kế hoạch hóa tập trung, trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo

cơ chế thị trường thì quan hệ lao động trở nên phức tạp hơn với sự khác biệt

về lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động trong khu vực ngoài nhà nước ngày càng lớn Công đoàn được kỳ vọng đại diện cho người lao động trong thương lượng với người sử dụng lao động và tham vấn với cơ quan nhà nước Trong nền kinh tế thị trường quan hệ lao động mang tính chất làm công ăn lương sẽ phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Sự khác biệt lợi ích giữa hai bên trong quan hệ lao động ngày một rõ nét Tình trạng người lao động bị bóc lột, ức hiếp có thể sẽ gia tăng vì vậy vai trò của tổ chức công đoàn sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn

Ngoài ra, trong xu thế hiện nay, việc hội nhập kinh tế quốc tế đang dần chiếm ưu thế và trở thành mục tiêu phát triển của các quốc gia Đa phần các quốc gia đều đang hướng tới đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa về kinh tế

Trang 30

thông qua các hiệp định thương mại tự do Toàn cầu hóa là sự hội nhập của các hoạt động kinh tế xuyên qua biên giới lãnh thổ và thông qua các loại thị trường khác nhau Các vấn đề lao động là một trong những yếu tố chịu sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa.Toàn cầu hóa cho phép người lao động có nhiều sự lựa chọn hơn về phạm vi và cơ hội việc làm Không chỉ bó hẹp trong một quốc gia mà người lao động còn có thể di chuyển sang quốc gia khác để tìm kiếm việc làm Sự chuyển dịch lao động trong quá trình toàn cầu hóa chính là giải pháp để giải quyết sự chênh lệch về điều kiện lao động, nhu cầu lao động giữa nước giàu và nước nghèo Trước đây, các quốc gia đang phát triển sẵn sàng duy trì chi phí lao động rẻ mạt và bỏ qua việc cải thiện điều kiện lao động nghèo nàn của người lao động nhằm cắt giảm chi phí sản xuất hàng hóa để tăng sức cạnh tranh trên thị trường Vì vậy vấn đề làm thế nào để vừa đẩy mạnh hội nhập về kinh tế vừa giải quyết vấn đề lợi ích của người lao động là vấn đề cấp thiết được đặt ra Và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới hiện nay là công cụ hữu ích để bảo đảm quyền lợi cho người lao động Đây cũng chính là sự bảo đảm về mặt kinh tế đối với quyền của người lao động nói chung và quyền công đoàn nói riêng Để đủ điều kiện gia nhập các hiệp định này nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thì bắt buộc các quốc gia thành viên phải đáp ứng các yêu cầu về các tiêu chuẩn về lao động trong các hiệp định đặt ra

Thứ hai, đảm bảo về thể chế xã hội Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ có

thể dù có trình độ phát triển khác nhau hay giống nhau, nhưng đều được vận hành bởi sự chi phối trực tiếp hay gián tiếp của một thể chế nhất định Cho đến hiện nay đã và đang có sự ghi nhận rộng rãi về vai trò của thể chế đối với

sự phát nói chung, tăng trưởng phát triển kinh tế nói riêng, song vẫn chưa có

sự thống nhất chung về lý luận thể chế và còn tồn tại những quan niệm khác nhau về thể chế [26] Theo quan niệm của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF):

Trang 31

Thể chế có thể được hiểu là cái tạo thành khung khổ trật tự cho các quan hệ của con người, định vị cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia tương tác; là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc, những ràng buộc và các chuẩn mực, giá trị chung được mọi người chia sẻ [4] Hiểu một cách khái quát thì Thể chế là những nguyên tắc xác định mối quan hệ xã hội; định hình cách thức ứng xử của các thành viên trong xã hội và điều chỉnh sự vận hành xã hội.Khi xét đến khía cạnh sự đảm bảo của thể chế xã hội lên quyền công đoàn của người lao động

ta có thể thấy đây là yếu tố góp phần đảm bảo quyền công đoàn của người lao động được thực thi một cách thực chất Bởi lẽ, nếu toàn thể xã hội nói chung, người lao động, người sử dụng lao động nói riêng không ý thức được và sử dụng có hiệu quả quyền của mình thì chủ trương chính sách của nhà nước khó

mà triển khai được Định nghĩa một cách dễ hiểu thì đảm bảo về mặt xã hội được hiểu là cách nhìn nhận, đánh giá, quan điểm của các chủ thể trong xã hội đối với quyền công đoàn của người lao động Xét quyền công đoàn của người lao động dưới khía cạnh quyền tự do lập hội thì ta thấy về bản chất từ thuở khai sinh, con người không có được những năng lực đặc biệt nhưng lại có tư cách làm chủ muông thú, điều đó chính là do biết liên kết với nhau Đến khi

có Nhà nước thì bản thân Nhà nước cũng được coi là một dạng đoàn thể của nhân dân, nhưng vì tập trung được sức mạnh của số đông nên hình thành nên một tổ chức chính trị cai quản, quản lý toàn bộ đất nước [6, tr 110] Từ thời phong kiến khi mà chế độ quân chủ chuyên chế chiếm ưu thế thì thể hiện những giới hạn vô cùng khắt khe đối với các quyền của người dân Thế nhưng, ngay cả những thời kỳ thể chế Nhà nước bị coi là hà khắc trong tiến trình lịch sử thì cũng đã thấy được việc “quản lý” toàn bộ các hoạt động, hành

vi liên quan đến một chủ đề, quyền cụ thể nào đó là điều bất khả thi Bởi vì

Trang 32

Nhà nước không phải là thiết chế có đủ quyền năng để “quản lý” mọi mặt của đời sống xã hội Nhận thức đó đã được rút ra từ trong lịch sử, mang tính quy luật xã hội và phù hợp với các quy luật của tự nhiên Nói cách khác, cần hiểu chức năng quản lý của Nhà nước thể hiện ở việc Nhà nước đặt ra những giới hạn của sự vận động, mà những chủ thể hay hành vi nào vượt ra khỏi giới hạn

đó sẽ phải chịu sự quản lí của Nhà nước để quay trở lại phạm vi thuộc ngưỡng giới hạn Nhìn vào lịch sử hình thành của tổ chức công đoàn ta thấy không phải ngay từ đầu tổ chức này đã được Nhà nước thừa nhận Thời kỳ đầu, tổ chức công nhân và hoạt động công đoàn hầu như đều bị các Nhà nước chèn

ép và cấm đoán như Anh có luật chống tổ chức đoàn thể, Pháp có luật Cha- bre, Mỹ đưa ra phán quyết “tội âm mưu” đối với yêu cầu nâng lương của công nhân [16] Các tổ chức công đoàn phải hoạt động bí mật trong một khoảng thời gian dài dưới sự truy nã, đàn áp gắt gao của giai cấp thống trị Nhưng phong trào công đoàn vẫn nổ ra và phát triển ở khắp nơi buộc các giai cấp tư sản phải đưa ra sự điều chỉnh về thể chế để làm giảm áp lực xã hội lên chế độ Các nhà nước tư bản cũng dần dần phải thừa nhận địa vị hợp pháp của công đoàn, thừa nhận quyền công đoàn của người lao động trong chế độ tư bản chủ nghĩa Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, công đoàn cũng được thừa nhận và trở thành và trở thành một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị và thể hiện vai trò tham gia làm chủ xã hội của người lao động Trong xu hướng hiện nay, khi mà nền kinh tế thị trường phổ chiếm ưu thế tại các quốc gia thì quyền công đoàn của người lao động lại tiếp tục đối mặt với những thách thức mới Theo đuổi lợi nhuận luôn là thuộc tính bản chất của tư bản, toàn cầu hóa kinh tế khiến cho đặc tính này thể hiện đầy đủ và rõ nét hơn Tỷ lệ tổ chức công đoàn ở các nước phương Tây giảm đi và sự áp chế đối với công đoàn của các nước đang phát triển nhằm thu hút vốn đầu tư trở thành thực trạng

Trang 33

nghiêm trọng mà công đoàn gặp phải Trong hoàn cảnh đó, người lao động cần ý thức rõ được những quyền lợi cơ bản của mình để có thể bảo vệ bản thân cũng như tham gia đấu tranh cho những quyền lợi đó của mình; Đồng thời người sử dụng lao động cần tuân thủ và tạo điều kiện cho người lao động thực hiện quyền hợp pháp của mình Ngoài ra các chủ thể, cá nhân, các

tổ chức xã hội khác cũng cần trợ giúp; tư vấn, phản biện và giám định xã hội, góp tham gia giám sát thực hiện luật pháp, chủ trương, chính sách, kế hoạch hoạt động của các cơ quan nhà nước liên quan đến sự bảo đảm quyền công đoàn của người lao động

Thứ ba, về mặt pháp luật, quyền công đoàn của người lao động được

thừa nhận cả trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia Trong pháp luật quốc tế quyền công đoàn đã được thừa nhận trong nhiều các văn kiện quan trọng chủ yếu là các Văn kiện của Liên hiệp quốc, Các văn kiện của ILO và các hiệp định thương mại tự do Cụ thể như: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự

và chính trị năm 1966; Tuyên bố của ILO về nguyên tắc cơ bản và các quyền tại nơi làm việc được thông qua vào năm 1998; Công ước số 87 về quyền tự

do công đoàn và bảo về quyền công đoàn của Tổ chức lao động quốc tế, Công ước số 98 của Tổ chức lao động quốc tế về quyền tổ chức và thoả ước lao động tập thể và các thoả ước liên quan (năm 1949)… Trong pháp luật của các quốc gia, thì đối với mỗi quốc gia lại có mức độ đảm bảo quyền công đoàn của người lao động ở các mức độ khác nhau Ở Việt Nam thì quyền của người lao động nói chung, và quyền công đoàn nói riêng là những nội dung được quy định trong Hiến pháp, các bộ luật và các văn bản pháp luật có liên quan khác.Trên cơ sở sự công nhận của pháp luật này, người lao động có cơ

sở pháp lý để hưởng dụng quyền của mình, có thể làm những điều mà pháp

Trang 34

luật không cấm; Đồng thời các chủ thể khác có trách nhiệm tôn trọng và đảm bảo thực thi quyền công đoàn của người lao động trên thực tế

1.3 Quyền công đoàn của người lao động theo quy định của pháp luật quốc tế

Quyền công đoàn của người lao động không còn là nội dung mới trong pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Cơ sở lý luận

để quy định về quyền công đoàn của người lao động xuất phát từ vấn đề lý luận về quyền cong người nói chung và quyền của người lao động nói riêng

Ở cấp độ quốc tế, quyền công đoàn được bảo vệ chủ yếu bởi các điều ước quốc tế đa phương của Liên hợp quốc và Tổ chức lao động quốc tế, Các Hiệp

định thương mại tự do giữa các quốc gia Trong đó các văn kiện pháp lý quốc

tế đặc biệt quan trọng đó là Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948); Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR); Công ước quốc tế

về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 (ICESCR); Trong các công ước của tổ chức lao động quốc tế ILO như: Công ước số 87 về quyền tự do liên kết, tự do hiệp hội (1948); Công ước số 98 về quyền tổ chức thương lượng tập thể (1949) và trong Tuyên bố về các quyền lao động cơ bản của ILO tại nơi làm việc năm 1998 Trong những văn kiện này, có những văn kiện ràng buộc nghĩa vụ thực hiện của các quốc gia thành viên (ICCPR; ICESCR,…), cũng có những văn kiện chỉ mang tính chất khuyến nghị mà không bắt buộc thực hiện (UDHR) [1] Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về những quy định về quyền công đoàn của người lao động trong những văn kiện này

Thứ nhất, trong các văn kiện của Liên hợp quốc Trước tiên ta phải

kể đến Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 Tuyên ngôn này được thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 bởi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc nhằm thúc đẩy việc bảo vệ quyền con người một cách toàn diện Dù không có

Trang 35

giá trị pháp lý bắt buộc, nhưng văn kiện này có thể được xem như là một học thuyết pháp lý làm cơ sở cho việc xây dựng các văn bản pháp lý quốc tế về

những quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền công đoàn [13]

Công đoàn là một dạng của hiệp hội hoạt động vì lợi ích chung của các thành viên mà cụ thể là hoạt động vì lợi ích của người lao động Quyền tự do hội họp cũng bao hàm quyền công đoàn Tại điều 20 của Tuyên ngôn này đã

quy định: “Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình;

Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn” Tiếp đó tại Điều 23 khoản

4 công ước này lại tiếp tục khẳng định: "Ai cũng có quyền thành lập nghiệp

đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình…" Từ những

quy định trên, có thể thấy quyền này bao gồm cả ba khía cạnh: thành lập ra các tổ chức công đoàn mới, gia nhập các tổ chức công đoàn đã có sẵn, và hoạt động, điều hành các tổ chức công đoàn, bao gồm cả việc tìm kiếm, huy động các nguồn kinh phí Quyền công đoàn được coi như một quyền cơ bản của con người mà theo như Lời mở đầu của Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người thì đây là những phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới

Ngoài tuyên ngôn thế giới về quyền con người, là một trong những văn kiện quốc tế thừa nhận giá trị pháp lý của quyền công đoàn, Liên hợp quốc còn ban hành nhiều công ước khác trong đó có những điều khoản quy định các quốc gia thành viên, khi phê chuẩn công ước, phải tôn trọng và tạo điều kiện cho tất cả người lao động tham gia, thành lập công đoàn để bảo vệ lợi ích của họ trong quan hệ lao động với giới chủ

Một trong số đó phải kể đến công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị Tại điều 22, khoản 1 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và

chính trị năm 1966 (ICCPR) quy định: “Mọi người đều có quyền tự do lập hội

Trang 36

với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình” Quyền về công đoàn được coi là một khía cạnh quan trọng

của quyền tự do hội họp đồng thời cũng là một thành tố không thể thiếu để đảm bảo quyền làm việc và quyền có điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi Tương tự với quy định trong ICCPR, Điều 8, khoản 1 Công ước quốc tế

về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 cũng thừa nhận quyền tự

do công đoàn của tất cả mọi người Theo đó, “Các quốc gia thành viên của

Công ước cam kết đảm bảo quyền của mọi người được thành lập và gia nhập công đoàn mà mình lựa chọn, để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình” Cụm từ: “Cam kết đảm bảo” trong công ước này đã thể hiện

mức độ cam kết cao của các nước thành viên khi gia nhập công ước đối với quyền công đoàn của người lao động Mỗi quốc gia khi gia nhập Công ước này đều có nghĩa vụ tuân theo quy định trên một cách nghiêm ngặt Đây nghĩa

vụ tức thời, đòi hỏi quốc gia thành viên phải thực thi ngay mà không qua lộ trình liên tục tiến bộ (Lộ trình cho phép các nước đề ra tiến trình, các biện pháp tổ chức thực hiện điều ước trong từng giai đoạn, phù hợp với tình hình phát triển của mỗi đất nước) [24] Tuy nhiên đây không phải quyền tự do tuyệt đối tại khoản 2 Điều 22 ICCPR xác định, tự do hiệp hội có thể bị hạn chế bằng pháp luật nếu như điều đó là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng hay các quyền và tự do của người khác và chúng ta có thể hiểu quyền thành lập công đoàn không nằm ngoài giới hạn đó

cụ thể như sau:

Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ,

vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo

vệ sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng hay các quyền và tự do

Trang 37

của người khác Điều này không ngăn cản việc đặt ra những hạn chế hợp pháp trong việc thực hiện quyền này đối với những người làm việc trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát;

Trong CESCR cũng quy định tương tự như vậy Qua quy định này ta thấy được quyền công đoàn là một quyền tự do của cá nhân và tập thể người lao động nên chỉ bị giới hạn trong một số trường hợp cụ thể Những giới hạn được áp dụng để bảo vệ các quyền của cá nhân khác chứ không phải cho phép các quốc gia thành viên áp đặt các hạn chế một cách tùy tiện, bất hợp lý, làm phương hại đến quyền công đoàn Những giới hạn được áp dụng để bảo vệ các quyền của cá nhân hơn là cho phép các quốc gia thành viên áp đặt các hạn chế với quyền đó; Cụm từ “Theo quy định của pháp luật” hàm ý với điều kiện phải nhất quán với Công ước, không được tùy tiện, bất hợp lý hoặc phân biệt đối xử, đồng thời phải rõ rang và dễ tiếp cận với mọi người, kèm theo các biện pháp bảo vệ và khắc phục hiệu quả chống lại việc áp pháp luật một cách bừa bãi để hạn chế quyền Các quốc gia thành viên của công ước phải tôn trọng quyền này ở mức tối đa có thể và chỉ được áp đặt các giới hạn khi thực

sự cần thiết Vậy thế nào là thực sự cần thiết Theo nguyên tắc Limburg (Các nguyên tắc về bản chất và phạm vi nghĩa vụ của các quốc gia theo Công ước CESCR được ban Thư ký của Khối Thịnh vượng chung và CESCR đưa ra) cho rằng tiêu chí “thực sự cần thiết” có thể được xác lập trên ba căn cứ: i) Sức

ép của công luận hoặc nhu cầu xã hội; ii) Việc theo đuổi một mục đích chính đáng, và iii) Tỷ lệ theo mục đích đó Đồng thời, nguyên tắc cốt lõi của một xã hội dân chủ là công nhận và tôn trọng các quyền con người đã được quy định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc và UDHR, nghĩa là việc áp đặt giới hạn lên quyền về công đoàn không được vi phạm các quyền con người đã được công nhận trong công pháp quốc tế [24] Ngoài ra còn có những căn cứ khác

có thể được viện dẫn làm cơ sở để áp đặt giới hạn lên quyền công đoàn là “an

Trang 38

ninh quốc gia”, “trật tự công cộng” và “quyền và tự do của người khác”.Lý do

an ninh quốc gia có thể được viện dẫn để xem xét áp dụng các biện pháp giới hạn chỉ khi các biện pháp này được thực hiện để bảo vệ sự tồn tại của quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị chống lại vũ lực hoặc đe dọa

vũ lực; Nếu mối đe dọa đến an ninh quốc gia chỉ trong phạm vi nhỏ có tính chất tương đối biệt lập thì không được viện dẫn lý do này để áp đặt các giới hạn quyền Ngoài ra, một yếu tố khác có thể viện dẫn để giới hạn quyền công đoàn đó là “ trật tự công” “Trật tự công” được hiểu là tổng thể các nguyên tắc thành văn hoặc bất thành văn trong một trật tự pháp lý, được coi là các nguyên tắc mang tính nền tảng mà các chủ thể không thể vi phạm hoặc có thỏa thuận khác, các quy phạm này có tính chất loại trừ cả pháp luật nước ngoài cũng như các văn bản có tính chất pháp lý của cơ quan công quyền nước khác.Vì vậy, khái niệm trật tự công cộng phải được diễn giải trong bối cảnh mục đích của quyền cụ thể đang là đối tượng có thể bị áp đặt hạn chế Mặt khác, các cơ quan hoặc công chức nhà nước có trách nhiệm duy trì trật tự công cộng phải chịu sự kiểm soát khi thực thi quyền lực của mình, thông qua các cơ chế như nghị viện, tòa án hoặc các cơ quan độc lập có chức năng phù hợp Cuối cùng, là yêu tố “quyền và tự do của người khác” được coi là tiêu chí để giới hạn quyền công đoàn Quyền tự do của người khác ở đây có thể bao gồm nhưng không giới hạn các quyền tự do cơ bản của con người được quy định trong tuyên ngôn thế giới về quyền con người cũng như các quyền

tự do mà pháp luật không cấm Nếu quyền công đoàn làm ảnh hưởng đến những quyền tự do của con người thì có thể bị áp dụng các biện pháp giới hạn Tuy nhiên công ước cũng quy định đối với những người làm việc trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát thì cần đặt ra những hạn chế hợp pháp trong việc thực hiện quyền này bởi vì đây là những đối tượng chủ thể đặc biệt

có thể gây những ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị, trật tự an ninh xã hội

Trang 39

Ngoài ra Công ước này còn nhấn mạnh quyền của các tổ chức công đoàn được thành lập các liên hiệp công đoàn quốc gia và quyền của các liên hiệp công đoàn quốc gia được thành lập hay gia nhập các tổ chức công đoàn quốc tế

Trong các văn kiện pháp lý của Liên hợp quốc liên quan đến quyền công đoàn của người lao động còn phải kể đến Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên của gia đình họ được Liên Hiệp quốc thông qua năm 1990 có hiệu lực từ 01/07/2003 Mục đích của Công ước này là nhằm bảo vệ lợi ích của người lao động khi làm việc ở nước ngoài Lao động di trú đã trở thành một làn sóng, một xu hướng trong nhiều thập kỷ trở lại đây tạo nên một bộ phận lớn người lao động làm việc ở nước ngoài từ đó đặt

ra yêu cầu cần phải thiết lập những tiêu chuẩn để bảo vệ quyền lợi cho họ trong

đó có quyền công đoàn Tại Điều 26 của công ước này đã ghi nhận:

1 Các Quốc gia thành viên thừa nhận quyền của người lao động di trú và các thành viên gia đình họ:

a Được tham gia vào các cuộc họp, các hoạt động của công đoàn và của những hiệp hội khác được thành lập theo pháp luật, nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế, xã hội, văn hóa và các lợi ích khác của

họ, chỉ phụ thuộc vào những quy định của các tổ chức liên quan;

b Được tự do tham gia bất kỳ công đoàn hay tổ chức nào

đã đề cập ở trên, chỉ phụ thuộc vào những quy định của các tổ chức liên quan;

c Được tìm kiếm sự hỗ trợ và trợ giúp từ các công đoàn và các hiệp hội đã đề cập ở trên

Đồng thời tại Điều 40 Công ước này cũng quy định:

Người lao động di trú và các thành viên gia đình họ có quyền lập hội và các nghiệp đoàn tại quốc gia nơi có việc làm nhằm thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích về kinh tế, xã hội, văn hóa và các lợi ích

Trang 40

Như vậy người lao động di trú và các thành viên gia đình họ được hưởng trọn vẹn quyền công đoàn trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên tham gia công ước này mà không bị phân biệt đối xử với người lao động trong nước

Thứ hai, trong các công ước của ILO ILO (International Labour

Organization) - Tổ chức Lao động Quốc tế là một cơ quan đặc biệt của Liên Hiệp Quốc chuyên quản các vấn đề về lao động Mục tiêu hoạt động của tổ chức là xúc tiến các quyền tại nơi làm việc, khuyến khích các cơ hội về việc làm bền vững, tăng cường bảo trợ xã hội và đẩy mạnh đối thoại xã hội về các vấn đề có liên quan tại nơi làm việc Trong đó, quyền tự do công đoàn luôn là tâm điểm được bảo vệ bởi ILO Để thực hiện mục tiêu hoạt động của mình ILO đã ban hành nhiều văn kiện về lao động trong đó về vấn đề quyền công đoàn trong đó phải kể đến: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản và các quyền tại nơi làm việc (Declaration on Fundalmental Principles and Rights at Work) năm 1988 của ILO; Hai văn kiện quan trọng có nội dung quy định về quyền công đoàn đó là Công ước số 87 về quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức năm 1948 và Công ước số 98 về việc áp dụng những

nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể 1949

Quan điểm của ILO trong tuyên bố năm 1988 về các quyền và nguyên tắc cơ bản tại nơi làm việc nhanh chóng được thừa nhận và và được khẳng định bởi Liên Hiệp Quốc, Các tổ chức quốc tế cũng như các học giả trên toàn thế giới Vì vậy từ sau khi Tuyên bố này được thông qua các FTA có chứa điều hòa về lao động đều điện dẫn đến Tuyên bố này Tuyên bố năm 1998 của ILO khẳng định 4 nhóm quyền và nguyên tắc cơ bản tại nơi làm việc gồm: Tự

do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể; Xóa bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc; Xóa bỏ có hiệu quả lao động trẻ em; và Xóa

bỏ phân biệt đối xử trong công việc Theo ILO, các quyền và nguyên tắc cơ

Ngày đăng: 17/03/2021, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w