1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tục khởi tố vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ

98 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ NGỌC

THủ TụC KHởI Tố Vụ áN HìNH Sự

TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ NGỌC

THủ TụC KHởI Tố Vụ áN HìNH Sự

TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐỖ NGỌC QUANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ của khởi tố vụ án hình sự và thủ tục khởi tố vụ án hình sự 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Đặc điểm 9

1.1.3 Nhiệm vụ 12

1.1.4 Phân biệt khởi tố vụ án hình sự với khởi tố bị can 14

1.2 Quá trình phát triển của luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự 16

1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 16

1.2.2 Giai đoạn từ 1988 đến nay 19

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ THỦ TỤC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN TỪ 2012 - 2016 21

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục khởi tố vụ án hình sự 21

2.1.1 Căn cứ khởi tố vụ án hình sự và không khởi tố vụ án hình sự 21

2.1.2 Thẩm quyền ban hành quyết định khởi tố vụ án hình sự và quyết định không khởi tố vụ án hình sự 37

2.1.3 Trình tự khởi tố vụ án hình sự 45

2.1.4 Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 56

Trang 5

2.2 Thực tiễn thi hành luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình

sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2012 - 2016 59

2.2.1 Tình hình khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ

2012 - 2016 59 2.2.2 Những thiếu sót, tồn tại trong khởi tố vụ án hình sự địa bàn tỉnh

Phú Thọ từ 2012 - 2016 66 2.2.3 Những nguyên nhân gây nên những thiếu sót, tồn tại trong khởi

tố vụ án hình sự địa bàn tỉnh Phú Thọ từ 2012 - 2016 69

2.3 Những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về

khởi tố vụ án hình sự 70 Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC

THI LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ THỦ TỤC KHỞI TỐ

VỤ ÁN HÌNH SỰ 78 3.1 Tiếp tục hoàn thiện các quy định Bộ luật tố tụng hình sự

2015 về thủ tục khởi tố vụ án hình sự 79 3.2 Ban hành các văn bản hướng dẫn Bộ luật tố tụng hình sự

2015 về thủ tục khởi tố vụ án hình sự 80 3.3 Thực hiện tốt cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp 81 3.4 Quản lý chặt chẽ việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố giác, tin

báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 82 3.5 Nâng cao trình độ, năng lực, trách nhiệm, đạo đức nghề

nghiệp đối với cán bộ trong các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng 83 3.6 Xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành 84 3.7 Nâng cao nhận thức về đấu tranh, phòng chống tội phạm và

phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia vào công tác tư pháp 85 KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Bảng 2.2 Kết quả tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị

khởi tố của Cơ quan điều tra tỉnh Phú Thọ 64 Bảng 2.3 Kết quả công tác kiểm sát của Viện kiểm sát trong giai

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó

cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có hay không các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội để ban hành quyết định khởi tố vụ

án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Với tính chất là một giai đoạn độc lập và đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, thủ tục khởi tố hình sự đóng một vai trò vô cùng quan trọng Nếu khởi tố vụ án không kịp thời thì sẽ bỏ lọt tội phạm Ngược lại, nếu khởi tố vụ án không chính xác sẽ dẫn đến oan sai cho người vô tội, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nghị quyết số 08/NQTW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về

“Một số nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, đã đặt ra

yêu cầu: “Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và

trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ…” [6]

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã kéo theo sự phát triển rất nhanh của các quan hệ dân sự, kinh tế, lao động… Cùng với đó là tình hình tội phạm xảy ra với những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi và tính chất phức tạp, mang tính tổ chức cao… Do đó, đòi hỏi quá trình giải quyết vụ

án hình sự phải kịp thời, nhanh chóng, đáp ứng được mục tiêu chung không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng các quy định về khởi tố vụ án hình sự còn hạn chế, bất cập, việc nhiều các cơ quan có thẩm quyền xác định không đúng căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình

sự nên dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, bắt, giữ, giam, truy tố oan sai người

Trang 8

vô tội Thực trạng đó làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước mà trước hết là

uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm lòng tin của Nhân dân đối với nền tư pháp Xã

hội chủ nghĩa Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Thủ tục khởi tố vụ

án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)"

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc khởi tố vụ án hình sự, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề này Điển hình như: tác giả

Khuất Văn Nga với bài viết: Những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về

cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời

kỳ đổi mới, Tạp chí Kiểm sát, số 7/2004; tác giả Phạm Văn Huân với luận văn

thạc sỹ: Những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự, năm 2013; tác giả Nguyễn Khắc Quang với luận văn thạc sỹ: Vai trò của Viện kiểm sát trong

khởi tố vụ án hình sự, năm 2014; tác giả Trần Duy Phương với luận văn thạc

sỹ: Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự

Việt Nam, năm 2015; tác giả Nguyễn Đức Hải với luận án tiến sĩ luật học: Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam Những công trình kể trên chưa nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn

diện về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự nói chung, về thủ tục khởi tố nói riêng, đặc biệt là các vấn đề về thẩm quyền khởi tố, trình tự khởi tố Mặc dù vậy, các công trình khoa học, các bài viết trên đây là những tài liệu tham khảo rất có giá trị để nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn

3 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố vụ án hình sự và thủ tục khởi tố vụ án hình sự Đồng

Trang 9

thời đánh giá thực trạng việc áp dụng quy định của luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ đó làm cơ sở đề ra các giải pháp hoàn thiện

Luận văn không nghiên cứu tình hình khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các

cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu đề tài được thực hiện trên cơ sở gắn liền lý luận

và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp Các vấn đề trong luận văn được phân tích, lý giải trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phỏng vấn chuyên gia; sưu tầm số liệu thực tế, phương pháp xử lý dữ liệu

6 Ý nghĩa và nhiệm vụ của luận văn

- Về ý nghĩa: Các kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, vận dụng trong quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Đồng thời qua việc phát hiện những tồn tại trong thực tiễn giải quyết các vụ án góp phần nâng cao chất lượng thực thi pháp luật trong thực tiễn

- Nhiệm vụ: Phân tích làm rõ các khái niệm, đặc điểm cơ bản về khởi tố

Trang 10

vụ án hình sự và thủ tục khởi tố vụ án hình sự; phân tích các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục khởi tố vụ án hình sự; nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục khởi tố trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và nêu ra được các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng thực thi pháp luật

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về khởi tố vụ án hình sự và thủ tục

khởi tố vụ án hình sự

Chương 2: Quy định của Luật tố tụng hình sự về thủ tục khởi tố vụ án hình

sự và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn từ 2012-2016

Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng thực thi Luật tố tụng

hình sự về thủ tục khởi tố vụ án hình sự

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ của khởi tố vụ án hình sự và thủ tục khởi tố vụ án hình sự

1.1.1 Khái niệm

Khoa học tư pháp hình sự Việt Nam có phân định các giai đoạn tố tụng hình sự Nếu trong các hình thức tố tụng khác, việc phân chia các giai đoạn tố tụng chỉ có ý nghĩa phân chia các việc làm của Toà án từ khi có khởi kiện đến khi tiến hành xét xử thì trong tố tụng hình sự, phân chia các giai đoạn không chỉ đơn thuần là xác định nhiệm vụ của từng giai đoạn, mà còn làm rõ quyền

và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án) trong thực hiện nhiệm vụ tố tụng, cũng như trong việc đưa

ra các văn bản tố tụng phù hợp của quá trình giải quyết vụ án hình sự Vì vậy, các giai đoạn tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự kể từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phải được diễn ra liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian với những hành vi tố tụng khác nhau Kết thúc giai đoạn tố tụng này mới chuyển sang giai đoạn tố tụng khác; giai đoạn tố tụng trước làm cơ sở cho giai đoạn tố tụng sau; giai đoạn tố tụng sau kiểm nghiệm lại kết quả đạt được của giai đoạn trước Mỗi giai đoạn tố tụng thực hiện một nhiệm vụ theo một định hướng nhất định của quá trình tố tụng

và chứa đựng những đặc điểm riêng biệt Các giai đoạn tố tụng hình sự hợp thành tổng thể quá trình tố tụng thống nhất và có quan hệ khăng khít với nhau

Có thể nói, các giai đoạn tố tụng hình sự là các phần độc lập, liên quan,

kế tiếp nhau của quá trình tố tụng, giai đoạn trước là điều kiện, là cơ sở pháp

lý làm phát sinh giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra và kế thừa kết quả của giai đoạn trước, tạo thành một quá trình tố tụng hoàn chỉnh, liên tục Mỗi giai

Trang 12

đoạn có nhiệm vụ tố tụng cụ thể; có cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tương ứng; có trình tự, thủ tục thực hiện các hành vi tố tụng riêng; các quan hệ tố tụng và những quyết định tố tụng riêng đảm bảo giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn, khách quan, toàn diện và kịp thời Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động phức tạp, gắn liền với việc phát hiện, xử lý tội phạm và người phạm tội và liên quan trực tiếp đến các quyền, lợi ích hợp pháp của con người

Mỗi giai đoạn có những nhiệm vụ tố tụng nhất định: Nhiệm vụ giai

đoạn khởi tố vụ án là xác định dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án; nhiệm vụ giai đoạn điều tra là xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, xác định thiệt hại, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố bị can; nhiệm vụ của giai đoạn truy

tố là kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng

mà Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã áp dụng, trên cơ sở đó Viện kiểm sát

ra quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; còn nhiệm vụ của giai đoạn xét xử là phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo

Mỗi giai đoạn có những chủ thể tham gia tố tụng xác định: trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan có thẩm quyền khởi tố được quy định rộng hơn và khác so với các giai đoạn tố tụng khác Ở các giai đoạn tố tụng khác, như trong giai đoạn điều tra, chỉ có Cơ quan điều tra mới có quyền điều tra, trừ những trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng ít nghiêm trọng được cơ quan hữu quan hoàn thành hồ sơ và chuyển cho Viện kiểm sát; giai đoạn truy tố chỉ do Viện kiểm sát tiến hành; giai đoạn xét xử chỉ do Tòa

án tiến hành Mỗi giai đoạn được kết thúc bằng văn bản tố tụng khác nhau: giai đoạn khởi tố vụ án được kết thúc bằng quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án; giai đoạn điều tra vụ án được kết thúc bằng văn bản kết

Trang 13

luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra; giai đoạn truy tố được kết thúc bằng quyết định truy tố bị can (bản cáo trạng) hoặc quyết định trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; các giai đoạn xét xử kết thúc bằng bản

án, quyết định…

Có nhiều quan điểm khác nhau về phân chia các giai đoạn tố tụng Tuy nhiên, cách hiểu chung nhất của đa số các luật gia, trong tố tụng hình sự có 04 giai đoạn cơ bản: giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra vụ án hình sự; giai đoạn xét xử vụ án hình sự và giai đoạn thi hành bản án hình sự Như vậy, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình

sự Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không quy định khái niệm thế nào là vụ án hình sự nhưng căn cứ quy định của pháp luật thì có thể hiểu vụ án hình sự là

vụ việc có hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại đến những khách thể mà pháp luật hình sự bảo vệ Đó là những vụ việc có hành vi vi phạm pháp luật

đã xảy ra hoặc đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra mà Bộ luật hình sự có quy định hành vi đó là tội phạm Về mặt hình thức, vụ án hình sự được hiểu là vụ án do các cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử, giải quyết theo trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định nhằm phát hiện, xử lý mọi hành vi phạm tội Trong vụ án hình sự thì nghĩa vụ chứng minh một người có tội hay

vô tội thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Như vậy, để xác định sự kiện đã xảy ra mang dấu hiệu của một vụ án hình sự cần phải được chính thức giải quyết bằng con đường tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật, cơ quan có thẩm quyền phải xác minh tìm hiểu những thông tin cơ bản ban đầu để phục vụ cho việc ra quyết định xác định sự việc

đã xảy ra là vụ án hình sự và chính thức đưa vụ án vào quá trình tố tụng Những hoạt động tố tụng ban đầu này được thực hiện trong giai đoạn đầu tiên của vụ án là giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Trang 14

Quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý đầu tiên cho phép Cơ quan điều tra áp dụng các hoạt động điều tra nhằm làm rõ tội phạm và người phạm tội một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời Các hoạt động điều tra

và việc áp dụng biện pháp ngăn chặn chỉ được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố vụ án Tuy nhiên trong trường hợp cần thiết phải làm sáng tỏ những tài liệu đầu tiên, xác định hoàn cảnh, địa điểm xảy ra tội phạm, thu thập những vật chứng và những tình tiết có giá trị cho việc phát hiện tội phạm thì tiến hành khám nghiệm hiện trường; trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì bắt người trước khi khởi tố vụ án

Như vậy, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố

tụng, trong đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập, xử lý các thông tin ban đầu để xác định có hoặc không có dấu hiệu tội phạm và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết

vụ án hình sự

Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có một chương quy định về khởi tố vụ án hình sự với tư cách là một chế định pháp luật, theo đó có những quy định về thẩm quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng và quy định về thủ tục khởi tố vụ án hình sự Như chúng ta đã biết, thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức Thủ tục khởi tố vụ án hình sự chính là trình

tự theo luật định để khởi tố vụ án hình sự Nhiều chuyên gia cho rằng thủ tục khởi tố vụ án hình sự được bắt đầu từ khi xác nhận được dấu hiệu tội phạm của các cơ quan điều tra; nhưng để xác nhận được dấu hiệu tội phạm thì phải bắt đầu từ khi tiếp nhận nguồn thông tin về tội phạm Theo quan điểm của người viết, để hiểu sâu, hiểu rõ hơn về quy trình khởi tố hay thủ tục khởi tố vụ

án hình sự chúng ta nên đi theo 3 bước: Bước thứ nhất là việc tiếp nhận nguồn

Trang 15

tin về tội phạm; bước thứ hai là giải quyết nguồn tin về tội phạm; bước thứ ba

là ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự

1.1.2 Đặc điểm

Như phần trên đã trình bày, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, theo đó, các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền sẽ phải thực hiện các bước gồm tiếp nhận, xác minh, thẩm tra tin báo, tin tố giác về tội phạm để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm và ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Do vậy, thủ tục khởi tố

vụ án có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, khởi tố vụ án nói chung và thủ tục khởi tố vụ án nói riêng có

ý nghĩa quyết định đến việc có hay không vụ án hình sự, làm cơ sở cho hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình tố tụng

Trong các công trình nghiên cứu và công bố đều tương đối thống nhất quan điểm: quá trình tố tụng đối với vụ án hình sự thường được bắt đầu kể từ khi nhận được tin báo, tin tố giác về tội phạm về tội phạm Những tin báo, tin

tố giác về tội phạm có thể là tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; người phạm tội tự thú Đây là những thông tin ban đầu mà công dân, cơ quan, tổ chức với sự hiểu biết của mình cho rằng, những gì mình nhìn thấy, nghe thấy có thể là những sự kiện phạm tội và họ đã thông báo cho các

cơ quan điều tra, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Những hoạt động cụ thể trong tiếp nhận thông tin về tội phạm từ các nguồn khác nhau tuỳ thuộc vào hình thức thông tin của người cung cấp, có thể bằng miệng, điện thoại, đơn thư, văn bản v.v Việc tiếp nhận tin báo là

Trang 16

nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan nói trên Các cơ quan tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm có trách nhiệm trả lời cho cơ quan, tổ chức hoặc người đã cung cấp tin Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, người cung cấp tin yêu cầu giữ bí mật thì các cơ quan tiến hành tố tụng nêu trên phải giữ

bí mật cho họ Nhiệm vụ tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm được pháp luật tố tụng hình sự quy định, cụ thể: Cơ quan điều tra phải tiếp nhận những tố giác, tin báo về tội phạm đối với những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của mình; Viện Kiểm sát, sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm có trách nhiệm chuyển ngay những thông tin này đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm đối với những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của mình Nếu tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra thì phải chuyển ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền, sau khi tiếp nhận Đồng thời Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ Người đã tố giác tội phạm

Pháp luật tố tụng hình sự nghiêm cấm những hành vi của những người thuộc các cơ quan này từ chối việc tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Mọi trường hợp không làm hoặc làm trái các quy định về tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm phải được xem xét, quy trách nhiệm

rõ ràng Các cơ quan tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm sau khi tiếp nhận, nếu xét thấy không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì phải báo hoặc chuyển ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết vụ việc

đó Trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền

ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Trên cơ sở có quyết định này thì hoạt động điều tra vụ án mới được bắt đầu

Thứ hai, thủ tục khởi tố vụ án hình sự chỉ diễn ra trong một thời hạn

Trang 17

nhất định Thời điểm bắt đầu được tính từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng nhận được những thông tin, tin tức (tin báo, tin tố giác ) về tội phạm từ các nguồn khác nhau Khoảng thời gian từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc tuỳ thuộc vào tính phức tạp, rõ ràng của những thông tin, tin tức đã nhận được về tội phạm

Trong thời hạn không quá 20 ngày kể từ khi nhận được tố giác hoặc tin báo về tội phạm, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin vào quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo

có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá 2 tháng Trong thời hạn nêu trên, các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải kết luận có hay không có dấu hiệu tội phạm trong tố giác hoặc tin báo về tội phạm để ra một trong hai quyết định: quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Trong thực tế, đa số các trường hợp có thể xác định được ngay dấu hiệu tội phạm sau khi nhận được những thông tin về tội phạm Nhưng cũng không

ít trường hợp, việc xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm rất khó khăn, nhất là trong những thông tin liên quan đến tham nhũng, đến tội phạm chức

vụ, kinh tế Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến thời hạn trong việc ra những quyết định liên quan Pháp luật tố tụng hình sự ấn định thời hạn để thúc đẩy trách nhiệm của các Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát phải tiến hành những hoạt động cần thiết kể từ khi nhận được những thông tin về tội phạm

Thứ ba, dấu hiệu tội phạm là căn cứ pháp lý để ra quyết định khởi tố vụ án

hình sự Để có được kết luận một cách chính xác về tội phạm và người phạm tội cần phải trải qua các hoạt động hoạt động điều tra Do vậy, không được nhầm lẫn rằng, đã khởi tố vụ án hình sự là khẳng định có tội phạm xảy ra

Trang 18

Do đặc tính pháp lý của quyết định khởi tố vụ án hình sự liên quan đến quyền tiến hành các hoạt động điều tra và đụng chạm vào những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà cần thiết phải hết sức chặt chẽ Chỉ được khởi

tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Dấu hiệu tội phạm là những dấu hiệu được quy định trong luật hình sự thể hiện trong các sự việc,

sự kiện phạm tội là việc có dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện Cần chú ý trong giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền chưa thể ngay lập tức xác định được đầy đủ các dấu hiệu tội phạm Cho nên khi có sự việc xảy ra, chỉ cần xác định có hành vi nguy hiểm cho xã hội là đã có căn cứ

ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Việc làm rõ, đầy đủ các dấu hiệu hiệu tội phạm có khi phải trải qua quá trình điều tra mới có thể biết được

Thứ tư, chỉ những cơ quan có thẩm quyền mới có quyền ra quyết định

khởi tố vụ án hình sự

Cơ quan có thẩm quyền mới có quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình

sự không chỉ là các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn có các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ

án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định không khởi tố

vụ án của các Cơ quan điều tra và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra Sau khi có quyết định khởi tố vụ án, những hoạt động điều tra vụ án hình sự đó được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định

1.1.3 Nhiệm vụ

Mỗi giai đoạn tố tụng hình sự đều có những nhiệm vụ riêng biệt, nhiệm

Trang 19

vụ quan trọng của giai đoạn khởi tố chính là xác định dấu hiệu của tội phạm, kết thúc thủ tục khởi tố, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ phải ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố Khi tiếp nhận tin tức về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định xem có sự việc phạm tội xảy ra hay không, không chỉ xem xét có sự việc phạm tội xảy ra mà cần xác định xem có dấu hiệu tội phạm không Tuy nhiên, đây chỉ là những xác định

sơ bộ chứ chưa kết luận một cách chắc chắn rằng có tội phạm và người phạm tội Nếu xác định có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Nếu xác định không có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, có trường hợp đặc biệt, khi xác định những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không khởi tố vụ án hình sự mà

có thể xử lý bằng các biện pháp khác (hành chính, dân sự, hòa giải…)

Nhiệm vụ xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để khởi tố hoặc không khởi tố vụ án của giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm tất cả tội phạm nào cũng được phát hiện kịp thời, nhanh chóng và bị trừng phạt theo đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không một người vô tội nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan Ngược lại, nếu các hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn khởi tố không đầy đủ, chính xác thì có thể dẫn đến sai lệch hoặc khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Mỗi giai đoạn có một trình tự, thủ tục các hành vi tố tụng riêng do bản chất pháp lý, nội dung các nhiệm vụ cần giải quyết và những đòi hỏi cụ thể của các nguyên tắc tố tụng chung được thể hiện trong giai đoạn đó quyết định Nhiệm vụ trong khởi tố vụ án chỉ là xác định dấu hiệu nào đó của tội phạm nên các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tiếp nhận thông tin về tội phạm, kiểm tra, xác minh sơ bộ, ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố

Trang 20

vụ án hình sự Trong giai đoạn điều tra, các hoạt động điều tra rất phức tạp đi kèm là những thủ tục tố tụng riêng biệt theo luật định, ví dụ như hoạt động khởi tố bị can, hỏi cung bị can, lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, khám xét, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định Trong giai đoạn truy tố, với trách nhiệm thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát sau khi tiếp nhận hồ sơ về vụ án của Cơ quan điều tra, trong thời hạn không quá

20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, 30 ngày đối với phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, Viện kiểm sát phải ra quyết định truy tố bị can, hoặc trả lại hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung hoặc quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Theo quy định của Luật tố tụng hình sự, thực hiện chế độ 2 cấp xét xử, bản án và quyết định của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật

1.1.4 Phân biệt khởi tố vụ án hình sự với khởi tố bị can

Nếu như khởi tố vụ án hình sự là việc cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền, sau khi xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm (sự việc, sự kiện phạm tội được gây nên bởi con người) ra quyết định khởi tố vụ án hình

sự để tiến hành điều tra với sự việc phạm tội, thì khởi tố bị can là việc Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát ra quyết định khởi tố hình sự một người khi có căn cứ cho rằng họ đã thực hiện hành vi phạm tội để tiến hành các biện pháp điều tra với con người này Như vậy, giữa khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can có những điểm giống nhau và khác nhau cần thiết phải được phân biệt

Điểm giống nhau cơ bản giữa khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can

là việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố về hình sự để tiến hành các biện pháp điều tra theo luật định Quy trình và thủ tục áp dụng các biện pháp điều tra đều giống nhau Những gì thu được sau khi tiến hành các biện pháp điều tra đều trở thành chứng cứ, chứng minh tội phạm và người phạm tội là bị can

Trang 21

Tuy nhiên, khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:

Khởi tố vụ án hình sự là khởi tố đối với một sự việc, sự kiện phạm tội Còn khởi tố bị can là khởi tố về hình sự đối với một con người cụ thể Do vậy, căn cứ để ra các quyết định này có khác nhau Căn cứ để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự là khi xác định có dấu hiệu tội phạm; căn cứ để ra quyết định khởi tố bị can là khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội (dựa vào các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể)

Xét về mặt thời gian, quyết định khởi tố vụ án hình sự phải có trước quyết định khởi tố bị can Không bao giờ quyết định khởi tố bị can có trước quyết định khởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể ra hai quyết định cùng một thời gian ngay khi việc xác định được dấu hiệu tội phạm thì cũng đồng thời xác định được ngay người thực hiện hành vi phạm tội Ví dụ, trong các vụ án liên quan đến tội nhận hối lộ, đưa hối lội, môi giới hối lộ Trong các vụ án này thường xác định được ngay dấu hiệu tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội

Khởi tố vụ án hình sự có thể được thực hiện bởi các cơ quan tiến hành

tố tụng nhằm nhanh chóng triển khai ngay các biện pháp điều tra Còn khởi tố

bị can chỉ có thể được thực hiện bởi Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và chỉ một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như

Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm đối với trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng Các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không được ra quyết định khởi tố bị can

Trong quyết định khởi tố vụ án hình sự được ghi rõ tội danh khởi tố về tội gì, điều khoản nào của Bộ luật hình sự Nhưng trong quyết định khởi tố bị can phải được ghi rõ đặc điểm nhân thân của bị can, bị can bị khởi tố về tội

Trang 22

gì, theo điều, khoản nào của Bộ luật hình sự Trong trường hợp một người phạm nhiều tội khác nhau thì quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ từng tội danh mà họ đã phạm Cơ quan ra quyết định khởi tố bị can phải giao quyết định khởi tố của mình hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện Kiểm sát và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can Trong quá trình điều tra, khi thấy tội danh ghi trong quyết định khởi tố không phù hợp hoặc chưa đầy đủ thì cơ quan điều tra có thể thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can

Như vậy, khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đều là phản ứng của

cơ quan có thẩm quyền đối với tội phạm và hành vi phạm tội, cụ thể là ra quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can Việc phân biệt khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can có ý nghĩa rất quan trọng bởi quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can sau khi có hiệu lực đều ảnh hưởng đến quyền con con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, do đó khi áp dụng các biện pháp tố tụng này đòi hỏi phải xuất phát từ yêu cầu bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân

và bảo vệ lợi ích nhà nước

1.2 Quá trình phát triển của luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự

1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình

sự năm 1988

Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã mở ra thời kỳ mới cho đất nước Việt Nam, xoá bỏ hoàn toàn chế độ nửa thuộc địa phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nước của Nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo Cùng với việc củng cố, bảo vệ chính quyền non trẻ, Đảng và Nhà nước ta

đã quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng và áp dụng pháp luật để bảo vệ tổ quốc Luật tố tụng Việt Nam ra đời cùng với Nhà nước kiểu mới, Nhà nước của dân, do dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và theo nhiều

Trang 23

chuyên gia cho rằng trong số các điều luật hiện có của nước ta hiện nay, luật

tố tụng hình sự là một trong những ngành luật ra đời sớm nhất và phát triển nhất Thời kỳ đầu Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do chưa thể ngay một lúc ban hành đầy đủ các văn bản điều chỉnh nhiều lĩnh vực trong đời sống

xã hội nên theo quy định tại Sắc lệnh ngày 10/10/1945 thì các cơ quan nhà nước được tạm thời cho áp dụng luật lệ của chế độ cũ, nhưng phải tuân theo

nguyên tắc "không trái với nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

và dựa vào ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa" [14, tr.41] Sau đó là một loạt

các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự đã được ban hành như: Sắc lệnh số

13 ngày 24/1/1946 quy định về thành lập các toà án, có chức năng xét xử các

vụ án hình sự thường và các tranh chấp dân sự; Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/

1946 về thành lập Tòa án quân sự, theo đó Tòa án quân sự có chức năng xét

xử tất cả những người nào phạm tội gì có phương hại tới nền độc lập của Việt Nam dân chủ cộng hòa; Sắc lệnh 23 ngày 21/2/1946 về thành lập tổ chức Việt Nam công an vụ; Sắc lệnh 163 ngày 26/3/1946 về tổ chức các tòa án binh lâm thời; Sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946 quy định về quyền tự do thân thể; Sắc lệnh 51 ngày 17/4/1946 quy định về nhiệm vụ của Dự thẩm, Biện lý, Chánh

án và một số thủ tục tố tụng; Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 quy định quyền hạn và nhiệm vụ của Công an tư pháp…

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, các Luật tổ chức Tòa án, Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1960 là cơ sở pháp lý để xây dựng và hoạt động của các

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình

sự Mặc dù chưa có Bộ luật tố tụng hình sự nhưng căn cứ vào Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát Nhân dân, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an đã có nhiều thông tư hướng dẫn về thủ tục tố tụng hình sự Ở miền Nam, trong vùng tạm bị chiếm, chính quyền Ngụy quyền Sài Gòn đã ban hành nhiều văn bản về tố tụng hình sự và

Trang 24

đặc biệt Bộ luật tố tụng hình sự ban hành ngày 20/12/1974 theo Sắc luật TT/SLU của Tổng thống Việt Nam cộng hòa, quy định trình tự thủ tục giải quyết vụ án hình sự nhằm đàn áp phong trào cách mạng của Nhân dân ta Sau ngày 30/4/1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật 01-SL-76 ngày 15/3/1976 quy định về Tổ chức Tòa

027-án nhân dân và một số thủ tục giải quyết vụ 027-án hình sự Nhìn chung hệ thống văn bản pháp luật tố tụng của nước ta giai đoạn trước 1988, các văn bản có tính pháp lý cao như luật, pháp lệnh mới chỉ quy định các vấn đề về tổ chức, hoạt động của bộ máy của các cơ quan tiến hành tố tụng mà không đề cập đến các quy định về trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự mà lại được điều chỉnh chủ yếu bởi các văn bản dưới luật Chính điều này đã khiến việc áp dụng pháp luật trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự không

có sự thống nhất, đồng bộ, dẫn đến những sai lầm lớn như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm các quyền, lợi ích của công dân…

Năm 1980, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; ngày 3/7/1981, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Tòa

án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Ngày 28/6/1988, Quốc hội thông qua Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước ta, có hiệu lực ngày 1/1/1989 Tại Lời nói đầu của Bộ luật đã khẳng định:

Kế thừa và phát triển pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước

ta từ Cách mạng tháng tám đến nay, với tinh thần đổi mới trên mọi mặt của đời sống xã hội, Bộ luật quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức xã hội và công dân trong việc tham gia

tố tụng, đề cao vai trò của các tổ chức xã hội và công dân trong việc tham gia tố tụng, kết hợp sức mạnh pháp chế Xã hội chủ nghĩa với sức mạnh của quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm

Trang 25

Các quy định về thủ tục, trình tự trong giải quyết vụ án hình sự trước đây được quy định rải rác trong các văn bản dưới luật đã được pháp điển hóa thành những quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự, tạo sự thống nhất, thuận lợi trong thực tiễn áp dụng pháp luật Bộ luật ra đời đáp ứng được yêu cầu đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án khách quan, chính xác, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thực hiện pháp chế Xã hội chủ nghĩa

1.2.2 Giai đoạn từ 1988 đến nay

Từ năm 1989 đến trước năm 1999, trong quá trình thi hành, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã được sửa đổi 02 lần (lần thứ nhất tại kỳ họp thứ bảy Quốc hội khóa VIII, lần thứ hai tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa IX) để phù hợp với Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 và phù hợp với thực tiễn đấu tranh chống tội phạm Với sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 1999 (có hiệu lực ngày 1/1/2000), nhiều quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan không còn phù hợp nữa Do vậy, ngày 9/6/2000, Quốc hội lại thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự (lần thứ ba) nhằm thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 cũng như phù hợp với tiến trình dân chủ và đổi mới của đất nước

Qua gần 15 năm thi hành và 3 lần sửa đổi, bổ sung, Bộ luật tố tụng hình

sự năm 1988 đã là một trong những căn cứ pháp lý giúp cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án tiến hành các hoạt động của mình một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, góp phần phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó cải cách tư pháp, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 không còn phù hợp nữa và đã bộc lộ một số hạn chế nhất định Nghị quyết 08-

Trang 26

NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về "Một số nhiệm vụ trọng tâm

công tác tư pháp trong thời gian tới" đã tạo sự thay đổi, chuyển biến lớn về

hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan tiến hành tố tụng hình

sự nói riêng Cùng với sự đổi mới hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong tố tụng hình sự là một trong những nhân tố đột phá quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Các nghị quyết của Đảng nói chung đã được pháp luật hóa thành những quy định pháp luật tương ứng như Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân… và được pháp luật hóa thành những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa các văn bản pháp luật, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, có hiệu lực từ ngày 1/7/2004 đã đáp ứng được yêu cầu về đổi mới hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng tinh giảm bộ máy, thống nhất đầu mối, nâng cao chất lượng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Trang 27

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ THỦ TỤC KHỞI TỐ

VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN

có dấu hiệu tội phạm Có dấu hiệu tội phạm chính là căn cứ cần và đủ để các

cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự và "xác định dấu hiệu tội phạm

của giai đoạn này là xác định những dấu hiệu hành vi và sự kiện phạm tội, luật chưa yêu cầu phải xác định người phạm tội"[1, tr.201] Lật ngược lại vấn

đề ở đây đó là: Dấu hiệu tội phạm là gì? Làm sao để xác định dấu hiệu tội

phạm? Theo quan điểm của các chuyên gia thì: “Dấu hiệu tội phạm là những

dấu hiệu được quy định trong Điều 8 Bộ luật hình sự” [14, tr.238] Theo Điều

8 Bộ luật hình sự năm 1999 thì có thể xác định dấu hiệu tội phạm ở tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi; tính có lỗi của hành vi; hành vi đó phải được quy định trong luật hình sự; hành vi đó phải được xử lý bằng hình phạt

Những dấu hiệu tội phạm chỉ được "xác định thông qua các nguồn tin

(cơ sở) do luật định có giá trị pháp lý để khởi tố vụ án" [31, tr.241] Điều 100

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định 5 nguồn thông tin cụ thể làm cơ sở xác định có dấu hiệu tội phạm gồm: tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; Cơ quan điều

Trang 28

tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; phạm tội tự thú 5 nguồn thông tin tên mới chỉ là những cơ sở ban đầu để cơ quan tiến hành tố tụng xác minh xem có dấu hiệu tội phạm hay không, từ đó xác định có đủ hay không đủ căn cứ để khởi tố vụ

án hình sự Điều đó có nghĩa là "những nguồn tin đó chưa phải là căn cứ khởi

tố mà chúng mới chỉ là nguồn, là cơ sở hàm chứa những thông tin cho phép

đi đến kết luận có căn cứ hay không để khởi tố vụ án hình sự" [41, tr.201]

Năm nguồn thông tin là cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm được người viết khái quát thành 3 nguồn thông tin chính sau: thứ nhất là tố giác và tin báo về tội phạm (trong đó có tin báo của cơ quan, tổ chức và tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng); thứ hai là thông tin do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; thứ ba là phạm tội tự thú

a Tố giác và tin báo về tội phạm

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không quy định thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm, tuy nhiên tại một số văn bản hướng dẫn của các ngành có đưa ra khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm Theo đó:

Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện, tố cáo người phạm tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 100, Điều 101

và Điều 103 của Bộ luật tố tụng hình sự Tin báo về tội phạm là việc cơ quan, tổ chức báo tin hoặc đăng tin có nội dung phản ánh

về tội phạm xảy ra cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo

Trang 29

quy định tại khoản 2, 5 Điều 100, Điều 101 và Điều 103 của Bộ luật tố tụng hình sự [52]

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2003 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, ngày 02/8/2013 dưới sự chứng kiến của Bộ trưởng Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tài chính và lãnh đạo các ngành liên quan, đại diện các bộ: Bộ Công an, Bộ quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 16 tháng 9 năm 2013 Theo Điều 3, Thông tư 06/2013 thì tố giác được hiểu là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan,

cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết; tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách

nhiệm tiếp nhận, giải quyết

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn liên ngành đều xác định chủ thể của tố giác chỉ có thể là cá nhân và việc tố giác tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân Tố giác được thể hiện dưới một hình thức nhất định, có thể trực tiếp bằng lời nói, thư, điện thoại, văn bản… Luật không bắt buộc công dân chỉ được tố giác đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án mà tạo điều kiện cho họ có thể tố giác bất cư quan, tổ chức nào thấy thuận tiện Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cũng

quy định rằng: "Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện

kiểm sát, Tòa án hoặc với cơ quan, tổ chức khác" Việc quy định như vậy tạo

Trang 30

điều kiện cho việc phát hiện tội phạm được nhanh chóng, thông tin về tội phạm giữa Nhân dân và Nhà nước được phát huy hiệu quả cao Mặc khác, quy định này còn tạo điều kiện cho Nhân dân tham gia rộng rãi vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong đấu tranh với tội phạm, bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Khác với tố giác về tội phạm, chủ thể của tin báo về tội phạm lại là cơ quan, tổ chức (cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp, kinh

tế, đại sứ quán nước ngoài, tổ chức phi chính phủ ) Căn cứ vào Điều 100 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 3 Thông tư 06/2013 thì tin báo

có thể được phân thành hai loại: Tin báo do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự bằng văn bản; Tin báo về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng Tin báo của cơ quan, tổ chức

là những thông tin về tội phạm do cơ quan, tổ chức phát hiện hoặc nhận được

tố giác của công dân và báo cáo bằng văn bản với Cơ quan điều tra Cũng như đối với công dân, khi phát hiện ra các tin tức về tội phạm, cơ quan, tổ chức cũng có quyền và nghĩa vụ báo tin cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để nhanh chóng phát hiện tội phạm Ngoài ra, cơ quan, tổ chức còn có nghĩa vụ tiếp nhận các tin tức về tội phạm do công dân gửi đến, theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư 06/2013 có nêu nguyên tắc về tiếp nhận, giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm: "Không được vì bất cứ lý do gì mà từ chối việc

tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố" Phát

huy vai trò to lớn của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật, khoản 3 Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự quy định thông tin về tội phạm được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng là cơ sở để khởi tố vụ án hình sự Vì vậy, khi

có tin báo về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan

Trang 31

tin báo đó, nếu thấy có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định khởi tố vụ án hình

sự để điều tra phát hiện tội phạm Trong một số trường hợp, cơ quan thông tin đại chúng đề nghị cơ quan có thẩm quyền có ý kiến để trả lời bạn đọc thì cơ quan được yêu cầu phải có văn bản trả lời thông tin, báo chí đã đưa tin

Khi có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khởi tố

vụ án hình sự để mọi tội phạm đều bị phát hiện và xử lý kịp thời "Việc khởi tố

vụ án hình sự không phụ thuộc vào người có quyền lợi bị xâm hại có đồng ý hay không Nhà nước không cho phép một cá nhân, tổ chức nào được can thiệp

để tội phạm xảy ra mà không bị khởi tố" [31, tr.239] Tuy nhiên trong thực tế

có nhiều trường hợp việc khởi tố vụ án hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện tội phạm có thể gây thêm những tổn thất về tinh thần cho người bị hại Vì vậy, quy định việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại tạo điều kiện cho người bị hại được tự do lựa chọn cách giải quyết hoặc là yêu cầu pháp luật can thiệp, hoặc là tự dàn xếp với người đã gây thiệt hại cho mình một cách ổn thỏa Bộ luật tố tụng hình sự không quy định khởi tố

vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là một căn cứ độc lập để khởi tố

mà nó được coi là một nguồn thông tin đặc biệt bởi nó chính là từ sự tố giác của công dân đối với hành vi phạm tội Tuy nhiên nó khác với nguồn tố giác tại Điều 104 ở chỗ: quyết định khởi tố vụ án hình sự không phụ thuộc sự đồng ý hay không đồng ý của người bị hại còn tố giác công dân được quy định tại Điều 105 thì quyết định khởi tố vụ án hình sự phụ thuộc vào sự đồng ý hay không đồng ý của người bị hại Khoản 1 Điều 105 quy định:

Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131, 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại là chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Đối với những vụ án về các tội phạm nêu trên, nếu người bị hại không

Trang 32

yêu cầu khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án Việc ra quyết định khởi tố theo yêu cầu của người bị hại cũng phải tuân thủ các quy định chung về xác định dấu hiệu tội phạm Yêu cầu khởi tố của người bị hại được thể hiện qua đơn yêu cầu hoặc ý kiến ở biên bản ghi lời khai Trong trường hợp vụ án đã được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm, người đã khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ Nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra, nếu vụ án đã kết thúc điều tra và hồ sơ được chuyển sang Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát đình chỉ vụ án theo quy định tại Khoản 1 Điều

169 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nếu hồ sơ đã chuyển sang Tòa án thì Tòa án đình chỉ vụ án Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố vụ án rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì mặc dù người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ

án Đối với những trường hợp người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức

b Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm

Thông qua việc thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiều điều kiện phát hiện hành vi vi phạm pháp luật Bên cạnh đó, một số cơ quan khác thực hiện chức năng chính của họ là hành chính - quản lý nhưng do lĩnh vực công tác thường liên quan đến các hành vi phạm tội như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân nên được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều

Trang 33

tra Khi tiến hành hoạt động trong lĩnh vực công tác của mình như thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, các cơ quan này cũng có điều kiện phát hiện sự việc phạm tội Tất cả những tài liệu, thông tin do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra thu thập theo đúng thủ tục tố tụng xác định dấu hiệu tội phạm là cơ sở khởi tố vụ

án hình sự Mặt khác, khoản 4 Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 còn quy

định cụ thể và bổ sung thêm một số cơ quan khác như: "…lực lượng Cảnh sát

biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân…"

Pháp luật quy định như vậy nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể đặc biệt góp phần phòng chống tội phạm; bên cạnh đó, việc mở rộng phạm vi chủ thể này với mục đích không bỏ lọt tội phạm, tức là pháp luật trang bị cho họ phát hiện dấu hiệu tội phạm trên mọi lĩnh vực có quyền năng khởi tố vụ án hình sự khi

có căn cứ khởi tố

c Người phạm tội tự thú

Quy định trường hợp tự thú trong pháp luật là thể hiện chính sách khoan hồng nhất quán của Nhà nước ta, thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc ta đối với những người lầm lỗi mà chịu ăn năn hối cải Thành tâm tự thú là một hành vi tích cực và là biểu hiện của sự ăn năn muốn hối cải của người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi phạm pháp Luật hình sự quy định việc người phạm tội tự thú là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Khoản o, Điều 46, Bộ luật hình sự năm 1999) Quy định về tự thú còn là quy định mang tính phòng ngừa tích cực Hành vi tự thú không chỉ giúp cho các

cơ quan bảo vệ pháp luật sớm phát hiện ra tội phạm và ngăn chặn được những hành vi tiếp tục thực hiện tội phạm mà còn tác động tích cực đến những đối tượng khác đã hoặc đang có hành vi phạm tội, làm cho các đối tượng này phải hoang mang, dao động mà tự kiềm chế các hành vi và ý đồ thực hiện tội phạm của mình Tự thú còn có ý nghĩa tích cực ở chỗ làm giảm bớt những chi phí

Trang 34

cần thiết cho việc điều tra, truy bắt đối tượng phạm tội; rút ngắn thời hạn thực hiện các hành vi tố tụng Vì những ý nghĩa đó, pháp luật tố tụng hình sự nước

ta luôn khuyến khích tự thú; đồng thời quy định những thủ tục tố tụng và các điều kiện pháp lý có lợi cho người tự thú

Người tự thú là người sau khi có hành vi phạm tội đã tự ăn năn về tội lỗi của mình mà tự nguyện khai báo và giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật nhanh chóng làm rõ các tình tiết vụ án và ngăn chặn các hành vi phạm tội khác Người phạm tội được coi là tự thú khi tự đến cơ quan có trách nhiệm khai báo đầy đủ về hành vi phạm tội của mình Người tự thú bao gồm: những người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị phát giác hoặc đã bị phát hiện, bị giam giữ, bị phạt tù đã bỏ trốn hoặc đang bị truy nã mà ra tự thú

2.1.1.2 Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Theo nguyên tắc chung, khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Mục đích của việc khởi tố vụ án hình sự là sự xác nhận về mặt pháp lý một vụ việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm để tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (dựa vào những cơ sở tại Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự 2003) Tuy nhiên không phải mọi trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều khởi tố vụ án đúng như những quy định của pháp luật hình

sự và pháp luật tố tụng hình sự Bởi giới hạn giữa khởi tố và không khởi tố vụ

án đối với nhiều trường hợp trong thực tiễn là rất khó xác định, dễ nhầm lẫn khi phân tích để áp dụng pháp luật Do đó, để phòng ngừa việc khởi tố vụ án hình sự không chính xác hoặc không đúng pháp luật nên luật quy định những trường hợp không được khởi tố

Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, mỗi căn cứ đều độc lập, chỉ cần có một căn cứ làm cơ

sở pháp lý thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình

Trang 35

1 Không có sự việc phạm tội; 2 Hành vi không cấu thành tội phạm; 3 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; 4 Người mà hành vi phạm tội của họ

đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5 Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; 6 Tội phạm đã được đặc xá; 7 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác

 Không có sự việc phạm tội

Không có sự việc phạm tội được hiểu là trên thực tế không có hành vi (hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội xảy ra hoặc cũng không có căn cứ nào để xác định tội phạm Do đó, việc khởi tố vụ án hình sự không mang lại ý nghĩa nào hết, mà còn trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước Thông thường có hai trường hợp xác định không có sự việc phạm tội

Trường hợp thứ nhất: có sự việc xảy ra trong thực tế nhưng không phải

do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra như có người chết do tự sát mà không

có các tội phạm có liên quan như bức tử, giúp đỡ người khác tự sát, không cứu giúp người ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng hoặc chết do bệnh

lý, chết do già yếu…

Trường hợp thứ hai: không có sự việc nào xảy ra mà nguồn tin (tố giác,

tin báo…) sai không phản ánh đúng sự thật hoặc do nhầm lẫn của người tố giác hoặc do vu khống, hoặc do giả tạo… Trong trường hợp trên, sau khi cơ quan chuyên môn có thẩm quyền xác định rõ ràng không có sự việc phạm tội thì sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

 Hành vi không cấu thành tội phạm

Để xác định là có tội phạm cụ thể nào đó, trước hết, hành vi vi phạm pháp luật được xem xét phải có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm

cụ thể được ghi nhận trong điều luật cụ thể của luật hình sự Nếu hành vi

Trang 36

không có hoặc có nhưng không đầy đủ những dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nào thì hành vi ấy không phải là tội phạm và người đã thực hiện hành vi

đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trên thực tiễn cho thấy có ba trường hợp hành vi không cấu thành tội phạm:

Trường hợp thứ nhất: hành vi đó về hình thức có một số dấu hiệu

trong cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự nhưng không đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể đó như: không có lỗi, hậu quả không đáng kể, số lượng tài sản chiếm đoạt không đạt mức quy định của điều luật…

Trường hợp thứ hai: hành vi tuy về hình thức có dấu hiệu cấu thành tội

phạm cụ thể của Bộ luật hình sự nhưng tính chất mức độ nguy hiểm không đáng kể như: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dưới một triệu đồng mà chưa bị xử lý hành chính…

Trường hợp thứ ba: hành vi đã có những tình tiết loại trừ tính nguy

hiểm cho xã hội như sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, thực nghiệm hoa học, thi hành mệnh lệnh, bắt giữ người phạm tội, những rủi

ro trong nghiên cứu khoa học…

Do đó, trong những trường hợp trên các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu

trách nhiệm hình sự

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là căn cứ quan trọng để khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người Bởi đến một độ tuổi nhất định thì con người có khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi

và mới điều khiển được hành vi của mình Do đó, Bộ luật hình sự 1999 quy

định: "1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội

phạm; 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách

Trang 37

nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng" [25, Điều 12] Như vậy, pháp luật quy định con người đến độ

tuổi nêu trên thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra Nếu người chưa đủ 14 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không khởi tố vụ án hình sự dù tội phạm rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng Nếu người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự và bị khởi tố vụ án khi phạm một tội có đủ hai điều kiện sau: một là, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; hai là, tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý đối với tội phạm rất nghiêm trọng hoặc vô ý hay cố ý đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Do đó, cần phải xác định chính xác độ tuổi của một người Để xác định được độ tuổi của người chịu trách nhiệm hình sự phải dựa trên các cơ sở: giấy khai sinh (bản gốc), sổ đăng ký khai sinh và các bằng chứng xác thực khác… Các giấy tờ phản ánh ngày sinh của người đang bị xem xét vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự phải đủ độ tin cậy Tuy nhiên, không phải lúc nào những giấy tờ trên đều thực hiện đúng sự thật, do đó nếu có nghi ngờ thì phải trưng cầu giám định về tuổi Từ căn cứ vừa nêu trên cơ quan có thẩm quyền khởi tố không được khởi tố vụ án để truy cứu trách nhiệm hình sự những người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự

 Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định

đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật

Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật tức là sự kiện pháp lý làm phát sinh các quan hệ tố tụng hình sự ban đầu đã được xác lập, còn quyết định đình chỉ vụ án là văn bản pháp lý của Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định chấm dứt việc tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự

Bản án hay quyết định của Tòa án, cơ quan xét xử của nước Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp luật tức không có kháng cáo,

Trang 38

kháng nghị thì Cơ quan điều tra cũng như Viện kiểm sát không được khởi tố

vụ án hình sự lần thứ hai đối với hành vi phạm tội đã có bản án hoặc quyết định nhằm đảm bảo sự thống nhất trong việc giải quyết vụ án hình sự Bởi Tòa án ra bản án nhân danh Nhà nước để quyết định việc bị cáo phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp lý pháp khác, nếu có căn cứ để đình chỉ vụ án thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án Do đó, khi Tòa án đã

ra bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đối với việc nào đó thì có nghĩa là sự việc đó đã được giải quyết và không ai có quyền khởi tố lại sự việc đã được giải quyết Nếu có lý do xác định bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án không đúng thì Viện kiểm sát kháng nghị theo quy định của pháp luật

Khi phát hiện tình tiết mới, Cơ quan điều tra không thể căn cứ quyết định khởi tố vụ án trước đó để khởi tố bị can đối với các đối tượng có dấu hiệu tội phạm mới được phát hiện qua xác minh đơn tố giác của người đã bị kết án, vì vụ án đã khởi tố, đã được giải quyết bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp này phải được giải quyết theo tủ tục tái thẩm, vì tình tiết mới làm thay đổi bản chất nội dung của vụ án đã được quy định tại Điều 290, 291 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như: lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện không đúng sự thật; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xét xử sai; vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác trong vụ án giả mạo hoặc không đúng sự thật; những tình tiết khác cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật

Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật ngay

để chấm dứt việc giải quyết vụ án khi có những căn cứ do pháp luật quy định,

cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố lại đối với sự việc đã được ghi

Trang 39

trong quyết định đình chỉ vụ án Nếu có căn cứ xác định quyết định này không đúng thì khiếu nại quyết định và việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXV Bộ luật tố tụng hình sự 2003

Khi có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật thì không được khởi tố vụ án hình sự lần nữa phù hợp với nguyên tắc không truy cứu trách nhiệm hình sự hai lần đối với một hành vi phạm tội Những quy định này nhằm tránh tình trạng một hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhiều lần hoặc việc giải quyết vụ án không đủ căn cứ pháp lý nhưng vẫn bị khởi tố dẫn đến vi phạm pháp luật tố tụng hình sự, ảnh hưởng đến những quyền cơ bản của công dân, gây thiệt hại cho Nhà nước và xã hội

 Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là một khoảng thời gian kể từ ngày có hành vi phạm tội xảy ra (tức ngày tội phạm được thực hiện) mà khi hết thời hạn đó thì người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự 2003) Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự dài hay ngắn tùy thuộc vào tính chất và mức

độ nghiêm trọng của tội phạm: 5 năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với các tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Đối với tội phạm đã được thực hiện nhưng sau một thời gian nhất định

do pháp luật quy định, nếu người thực hiện tội phạm đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì không được khởi tố vụ án hình sự nữa Bởi vì, thời gian trôi qua đã lâu, khó khăn trong việc thu thập đầy đủ chứng cứ; mặt khác người phạm tội đã tự sửa chữa, không phạm tội mới, do đó không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự để cải tạo, giáo dục họ nữa Đồng thời, quy định này còn thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người thực hiện hành vi phạm tội trong công cuộc phòng chống tội phạm

Tuy nhiên, luật quy định, nếu trong thời hạn nói trên người phạm tội cố

Trang 40

tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính vào thời hiệu; thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ Đồng thời nếu trong thời hạn đó, người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó là trên một năm tù thì thời gian đã qua không được tính vào thời hiệu và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới Mặt khác, theo quy định tại Điều

24 Bộ luật hình sự 1999 thì căn cứ không khởi tố vụ án hình sự vì "đã hết thời

hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự" không áp dụng đối với các tội phạm xâm

phạm an ninh quốc gia và tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh còn đối với các tội phạm khác nếu qua thời gian quy định tại khoản 2 Điều 23 Bộ luật hình sự 1999 thì không khởi tố vụ án hình sự nữa

 Tội phạm đã được đại xá

Đại xá là hình thức khoan hồng của Nhà nước đối với những người phạm tội do cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước - Quốc hội quyết định Quyết định đại xá của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất có thẩm quyền công bố vô tội hoặc cho miễn giảm một phần hoặc toàn bộ hình phạt đối với hành vi của một loại hay một số loại can phạm nhất định Hình thức và mức

độ đại xá được nêu rõ trong văn bản về đại xá Trong văn bản đại xá có thể công bố vô tội, phóng thích hoặc miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với một loại hoặc một số loại can phạm nào đó Đối với những tội phạm được đại

xá thì không được khởi tố vụ án hình sự Không khởi tố vụ án đối với những hành vi đã xảy ra trước khi văn bản đại xá được ban hành Những vụ án đã được khởi tố, điều tra, truy tố hay đang xét xử đều được đình chỉ Thông thường khi có một sự chuyển biến quan trọng về chính trị của đất nước, thi hành chính sách khoan hồng nhân đạo, Quốc hội quyết định tha cho tất cả những người phạm một số loại tội phạm nào

Cần phân biệt giữa đại xá và đặc xá để tránh sự nhầm lẫn giữa hai hình

Ngày đăng: 17/03/2021, 15:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm