1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý cán bộ công chức cấp quận qua thực tiễn tại địa bàn quận hai bà trưng

109 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hạn chế về tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm trong quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức của quận Hai Bà Trưng 61 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN LAN HƯƠNG

QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN QUA THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN LAN HƯƠNG

QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN

QUA THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Hồng Thái

Hà nội - 2013

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Lan H-ơng

Trang 4

1.1.1.2 Quan niệm về quản lý, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước

đối với cán bộ, công chức

1.1.2 Đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nước đối với cán bộ, công

chức chính quyền cấp quận hiện nay

15

1.1.2.1 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức

của chính quyền cấp quận

Trang 5

1.2.1 Mục tiêu quản lý cán bộ, công chức 29 1.2.2 Nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức 30 1.2.3 Nội dung cơ bản của quản lý cán bộ, công chức 31

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁN

BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN TẠI QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

35

2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tác động đến quản lý

nhà nước đối với cán bộ, công chức quận Hai Bà Trưng

2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở

quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

39

2.2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức 39 2.2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở

quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

42

2.2.2.1 Thực trạng về xây dựng thể chế và bộ máy quản lý đối với

cán bộ, công chức

42

2.2.2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm trong quản lý

nhà nước đối với cán bộ, công chức của quận Hai Bà Trưng

Trang 6

2.3.2 Hạn chế về tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm trong quản

lý nhà nước đối với cán bộ, công chức của quận Hai Bà Trưng

61

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN TẠI QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.2.1 Hoàn thiện thể chế pháp lý và kiện toàn bộ máy quản lý đối

với cán bộ, công chức cấp quận

73

3.2.2 Tăng cường công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý

nhà nước với cán bộ, công chức

80

3.2.3 Xử lý vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với cán

bộ, công chức

91

3.2.4 Kết hợp chặt chẽ công tác quản lý cán bộ của cấp ủy đảng

với quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

2.2 Kết quả xếp loại CBCC từ năm 2006 đến năm 2011 52

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, trong xây dựng Đảng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề cán bộ bao giờ cũng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Khi Đảng đã có đường lối đúng đắn thì công tác tổ chức nói chung, công tác cán bộ nói riêng là nhân tố chủ yếu quyết định sự thắng lợi của nhiệm vụ cách mạng Chủ tịch Hồ Chí minh đã chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" [21, tr 269]; "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém" [21, tr 487] Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa VIII) "Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"

đã khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [8, tr 34]

Trong giai đoạn cách mạng mới, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức,

nỗ lực đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh" Mục tiêu đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, đòi hỏi phát huy cao nhất mọi nguồn lực, tiềm năng, trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ các cấp Mặt khác, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực, trong nước diễn biến phức tạp, chứa đựng nhiều nhân tố tiềm ẩn gây gây mất ổn định; chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tăng cường đẩy mạnh chiến lược "Diễn biến hòa bình", chống phá cách mạng Việt Nam, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, làm tê liệt hệ thống chính trị, thủ tiêu chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tập trung mũi nhọn tấn công chủ yếu vào đội ngũ cán bộ, đảng viên Bên cạnh đó, tình trạng suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ tham

Trang 10

nhũng, lãng phí, quan liêu; sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển đất nước Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một

số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay" đã xác định

ba vấn đề đang thực sự cấp bách, cần làm ngay đó là:

(1) Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp (2) Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (3) Xác định rõ thẩm quyền trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị [13, tr 13]

Vì vậy trong giai đoạn hiện nay đã đề ra yêu cầu rất cao, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp thiết trong quản lý cán bộ, công chức (CBCC) các cấp

Về mặt thể chế, năm 2008 Quốc hội đã ban hành Luật CBCC, Chính phủ đã có các nghị định để triển khai thực hiện, Bộ Nội vụ và các cơ quan chức năng đã có nhiều văn bản để hướng dẫn thi hành Tuy nhiên quá trình tổ chức triển khai thực hiện còn nhiều khó khăn, vướng mắc nhất là ở cấp quận; mỗi nơi có nhiều cách vận dụng khác nhau, chưa có sự thống nhất, đồng bộ trong quản lý CBCC Trong khi yêu cầu nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế đòi hỏi đội ngũ CBCC phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân Đồng thời cũng đặt ra yêu cầu rất cao đối với cơ quan quản lý CBCC và sử dụng CBCC phải nâng cao chất lượng tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch, giải quyết các chế độ chính sách, phân công bố trí sử dụng CBCC có hiệu quả như vậy mới xây dựng đội CBCC đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Đối với quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội, các cấp ủy và chính quyền rất chú trọng xây dựng bộ máy nhà nước vững mạnh, nhằm quản lý có

Trang 11

hiệu quả công việc ở địa phương trong tình hình mới Tuy nhiên, đội ngũ CBCC của chính quyền cấp quận thời gian qua chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động quản lý nhà nước (QLNN), sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong thực hiện công tác tổ chức, quản lý CBCC chưa nhịp nhàng và chặt chẽ Việc kiểm tra, giám sát, phát hiện các vi phạm của CBCC chưa được tiến hành thường xuyên Đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN đối với CBCC chưa đào tạo cơ bản về nghiệp vụ Hiệu quả quản lý và sử dụng đội ngũ CBCC còn nhiều yếu kém, hạn chế, bất cập

Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài "Quản lý cán bộ, công

chức cấp quận qua thực tiễn tại địa bàn quận Hai Bà Trưng" làm luận văn

Thạc sĩ, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chủ đề về xây dựng và quản lý CBCC là chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu ở Việt Nam Đã có nhiều công trình nghiên cứu, từ các bài khoa học, luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu các cấp, sách chuyên khảo, trong đó có nhiều công trình có giá trị như:

+ Đề tài khoa học cấp nhà nước, "Luận cứ khoa học việc nâng cao

chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", năm 2001 Đề tài này dựa trên quan điểm lý luận và tổng kết

thực tiễn, đã được phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp

+ Đề tài khoa học cấp Bộ Nội vụ: "Cải cách công vụ, công chức đúng quy trình tiến độ tạo động lực phát triển kinh tế- xã hội ", 2008 Đề tài này chỉ

đề cập đến công tác xây dựng đội ngũ CBCC nói chung theo yêu cầu cải cách công vụ, công chức nhà nước

Trang 12

+ Luận án tiến sĩ Luật học của Mạc Minh Sản: "Hoàn thiện pháp luật

về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", bảo vệ tại Học viện Chính trị-

Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2008 Đề tài mới chỉ làm rõ các khái niệm công vụ, cán bộ công chức, khái lược sự hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật về cán bộ chính quyền cơ sở, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật cán bộ chính quyền cơ sở

+ Sách chuyên khảo: "Công vụ, cán bộ, công chức nhà nước" của

GS.TS Phạm Hồng Thái, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2004, tập trung làm rõ khái niệm CBCC trên cơ sở phân tích pháp luật về CBCC ở Việt Nam, chỉ ra xu hướng điều chỉnh của pháp luật về CBCC ở Việt Nam

+ Sách chuyên khảo "Thể chế công vụ" của TS Nguyễn Cảnh Hợp

Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2011, trong đó tập trung làm rõ các khái niệm công vụ, CBCC, khái lược sự hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật về cán bộ, công chức, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức Phân tích nội dung các quy định của pháp luật về công vụ, công chức, nội dung pháp luật về quản lý CBCC ở tất cả các khâu

+ Luận văn thạc sĩ Luật học của Phạm Minh Triết "Hoàn thiện pháp luật về công chức hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay", bảo vệ tại Học

viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2003 Luận văn chỉ đề cập đến thực trạng pháp luật, từ đó đề ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật công chức hành chính

Đề tài khoa học của Phòng Nội vụ, quận Hai Bà Trưng "Đánh giá công chức hành chính tại quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, thực trạng

và giải pháp", hoàn thành năm 2010 Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu phần

đánh giá công chức hành chính của quận Hai Bà Trưng

Nhìn chung, những công trình trên đã có những đóng góp trên phương diện lý luận, thực tiễn về vấn đề CBCC và công tác CBCC Tuy nhiên các

Trang 13

công trình nghiên cứu đó hoặc mới dừng lại ở mặt phương pháp luận là chủ yếu, hoặc chỉ tập trung vào mô tả thực trạng, cũng như đề cập đến một số giải pháp trước mắt về CBCC và công tác CBCC Đây là công trình nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với CBCC chính quyền cấp quận

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

* Nhiệm vụ của luận văn:

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về quản lý CBCC chính quyền cấp quận

- Đánh giá thực trạng và chỉ ra được những nguyên nhân, kết quả và hạn chế trong quản lý CBCC chính quyền cấp quận ở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

- Đề xuất các giải pháp và những kiến nghị bảo đảm quản lý CBCC chính quyền quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Về đối tượng nghiên cứu

Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý CBCC chính quyền cấp quận thuộc địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu

Là đội ngũ CBCC chính quyền cấp quận thuộc địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội Các số liệu, tư liệu phục vụ cho luận văn giới hạn chủ yếu từ năm 2006 đến nay

Trang 14

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở thực tiễn

Các văn bản liên quan tới công tác CBCC của Quận ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) quận Hai Bà Trưng; thực tiễn công tác quản lý CBCC chính quyền cấp quận trên địa bàn quận Hai Bà Trưng; các tư liệu, số liệu báo cáo, điều tra, khảo sát thực tiễn của tác giả là

cơ sở thực tiễn của luận văn

* Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin; đề tài sử dụng và kết hợp chặt chẽ phương pháp lôgíc với phương pháp lịch sử, chú trọng phương pháp phân tích, tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn và tổng kết thực tiễn, thống kê, so sánh

Cụ thể: Chương 1 và chương 3: chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để xây dựng cơ sở lý luận và đề xuất các quan điểm, giải pháp Chương 2: Sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể, thống kê, so sánh

6 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cung cấp những cơ sở khoa học giúp cho Quận ủy, UBND quận Hai Bà Trưng trong lãnh đạo, quản

lý đội ngũ CBCC chính quyền cấp quận đạt hiệu quả cao hơn Góp phần nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Trang 15

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính nhà nước, đào tạo chuyên gia pháp luật ngành luật học

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với cán bộ, công

chức cấp quận

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức cấp

quận tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước đối với

cán bộ, công chức cấp quận tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Trang 16

cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả…" [10, tr 158] Để đạt được mục tiêu đó phải tăng cường QLNN đối với CBCC hiện nay Trước hết cần nghiên cứu, làm rõ một số khái niệm sau đây

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Quan niệm về cán bộ, công chức

Trong tiếng Việt: Thuật ngữ cán bộ được sử dụng rất không xác định với nhiều nghĩa khác nhau Thời kỳ mới lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, được dùng để chỉ tất cả những người tham gia cách mạng, lãnh đạo nhân dân giành chính quyền; những người giữ chức vụ, lãnh đạo, quản lý trong các

cơ quan, tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đoàn thể v.v Thậm chí còn dùng để chỉ tất cả mọi người làm việc trong khu vực công Theo "Từ điển Tiếng Việt", Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, nêu rõ cán bộ có hai nghĩa: "1- Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước; 2- Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt người thường không

Trang 17

có chức vụ" [24, tr 236] Đối với nước ta thuật ngữ "Công chức", đã được sử dụng từ lâu và có nhiều văn bản đã quy định Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL ban hành Quy chế công chức, nhưng trong thời gian chiến tranh giải phóng dân tộc thường gọi và dùng là cán bộ Trong những năm của thập niên 90, cán bộ ở hai hệ thống: (Nhà nước) được gọi là công chức và (Đảng, đoàn thể) được gọi là cán bộ Năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định 169/HĐBT quy định đối tượng công chức; đến ngày 9 tháng 3 năm 1998 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh CBCC Theo Điều 1 pháp lệnh CBCC thì: "Công chức là những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, được tuyển dụng, bổ nhiệm làm nhiệm vụ thường xuyên trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước theo ngạch, bậc lương được Pháp luật quy định" [2, tr 7]

Năm 2008, Quốc hội ban hành Luật CBCC trong đó quy định:

Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [22, tr 1];

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, trong biên

Trang 18

chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [22, tr 1-2]

Như vậy, theo quy định của Luật CBCC thì tiêu chí để xác định cán

bộ gắn liền với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; còn tiêu chí để xác định công chức gắn liền với cơ chế tuyển dụng,

bổ nhiệm vào ngạch chức vụ, chức danh Đồng thời giữa cán bộ và công chức

có những tiêu chí chung là: Công dân Việt Nam; trong biên chế, hưởng hương

từ ngân sách nhà nước Như vậy, Luật CBCC năm 2008, đã giải quyết căn bản thế nào là cán bộ, thế nào là công chức và phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với cơ chế hình thành Tuy nhiên, do đặc điểm của thể chế chính trị

ở Việt Nam, mặc dù đã được phân định rõ giữa cán bộ và công chức nhưng điều đó cũng chỉ mang tính tương đối, giữa cán bộ và công chức có nhiều điểm chồng lấn, trùng nhau Thực tế cho thấy cùng một con người đều làm việc trong cơ quan nhà nước nhưng giai đoạn này là cán bộ "vì được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ"; nhưng giai đoạn khác lại là công chức

vì do yêu cầu nhiệm vụ được điều động, bổ nhiệm vào ngạch và chức danh khác (không qua bầu cử)

1.1.1.2 Quan niệm về quản lý, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức

Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, khi lao động sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định đòi hỏi phải có sự phân công và hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả, năng suất lao động cao hơn Sự liên kết những cá nhân người lao động riêng lẻ trong cộng đồng, tất yếu cần phải có hoạt động chỉ huy, điều hành, kiểm tra chỉnh lý để phối hợp sự nỗ lực của các thành viên nhằm đạt mục tiêu chung, các thao tác đó được gọi là thao tác quản lý (lao động quản lý)

Trang 19

Khi bàn về quản lý, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về quản lý:

- Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người

- Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc thông qua con người và làm việc với con người

- Quản lý là vận dụng khai thác các nguồn nhân lực (hiện hữu và tiềm năng) kể cả nguồn vật lực để đạt đến những kết quả mong muốn

- Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý (con người và tập thể người) nhằm làm cho hệ thống quản lý hoạt động có hiệu quả, giải quyết được những nhiệm vụ đề ra, là sự trông coi, gìn giữ, tổ chức và điều khiển hoạt động theo những yêu cầu, nhiệm vụ nhất định

- Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi, quá trình xã hội để chúng phát triển hợp qui luật, đạt mục đích đề ra và đúng ý định của người quản lý…

Như vậy, quản lý là một quá trình xã hội, là một thuộc tính nội tại của mọi quá trình lao động xã hội Bất cứ lao động xã hội nào cũng cần có ở một chừng mực quản lý nhất định, để xác lập sự tương tác giữa công việc cá thể

và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong vận động của toàn bộ

cơ chế sản xuất; qui mô lao động xã hội càng rộng lớn thì đòi hỏi càng cao về chất lượng của quản lý Cho nên, có thể coi quản lý như là lao động để "điều khiển lao động" là điều kiện quan trọng làm cho xã hội loài người vận hành

và phát triển Bởi tính đặc thù của loại lao động này mà sự phân công lao động xã hội dẫn tới việc tách quản lý thành một chức năng độc lập

Bản chất quản lý của xã hội là quản lý con người và các mối quan hệ của họ, nó bảo đảm sự phù hợp tối đa giữa nhân tố chủ quan tức hoạt động tự giác của con người với tính tất yếu khách quan, sự vận động hợp qui luật của

Trang 20

mỗi lĩnh vực hoạt động thực tiễn của con người Vì vậy, có thể coi quản lý như là công cụ, cơ chế để điều hành hoạt động của con người trong mỗi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện mục đích đề ra

Hoạt động quản lý bao gồm hai bộ phận quan hệ gắn bó khăng khít với nhau, đó là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Chủ thể quản lý là một

tổ chức hay một tác nhân có chức năng điều khiển hệ thống quản lý, làm cho

nó vận hành tới mục tiêu dự kiến và bộ phận bị quản lý (đối tượng quản lý); đối tượng quản lý gồm những người thừa hành trực tiếp các nhiệm vụ và tuân theo những qui định của việc quản lý Giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản

lý có mối quan hệ qua lại thông qua quan hệ quản lý, phương pháp và phương tiện quản lý làm cho toàn bộ hệ thống quản lý vận hành Các yếu tố chủ thể, đối tượng, mục tiêu, phương pháp, phương tiện là cơ cấu chung của mỗi hệ thống quản lý Khẳng định vấn đề này, V.I Lênin đã viết: "Muốn quản lý tốt

mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa" [18, tr 473]

Như vậy, quản lý theo nghĩa chung nhất: Là một quá trình bao gồm tổng thể các tác động, điều khiển, phối hợp hoạt động của chủ thể và đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra

1.1.1.3 Về quản lý nhà nước

Khi xã hội đã phân chia thành các giai cấp tất yếu đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức và phương thức quản lý mới, như vậy Nhà nước ra đời Một trong những đặc điểm cơ bản của nhà nước là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị, nhà nước ban hành pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật nhà nước là tổ chức duy nhất ban hành pháp luật và áp dụng pháp luật để quản lý xã hội

Có ý kiến cho rằng, QLNN là "sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước" [25, tr 258] Và như vậy,

Trang 21

tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng QLNN, "Pháp luật trở thành phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước Đồng thời bằng pháp luật Nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt Nhà nước tiến hành các hoạt động quản lý" [23, tr 12]

Theo Từ điển Luật học, quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa

Theo nghĩa rộng, QLNN được hiểu là tác động của nhà nước với các hình thức hoạt động của bộ máy nhà nước lên các quan hệ xã hội để bảo đảm cho các quan hệ xã hội phát triển theo đúng mục tiêu đã định, ngăn ngừa các khuynh hướng phát triển sai lệch, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện phát triển sai trái Theo nghĩa hẹp, QLNN là tác động của nhà nước bằng hình thức hoạt động của một loại cơ quan trong bộ máy nhà nước gọi là cơ quan

QLNN (cũng thường gọi là cơ quan hành chính hay hành pháp) mà nhiệm

vụ là chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật của cơ quan quyền lực nhà nước

Cũng có quan điểm cho rằng, QLNN là thực hiện quyền lực nhà nước

về chính trị, kinh tế và hành chính để quản lý công việc chung của quốc gia Nói cách khác, QLNN là việc tổ chức, thực thi quyền lực của nhà nước trong việc quản lý các nguồn lực xã hội và kinh tế, phục vụ cho phát triển đất nước

Như vậy, các quan niệm về QLNN có thể khác nhau về cách diễn đạt,

song đều thể hiện nội dung cơ bản của QLNN là: Sự tác động mang tính quyền lực nhà nước của chủ thể QLNN lên các đối tượng QLNN nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước

1.1.1.4 Quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức chính quyền cấp quận

Pháp luật là ý chí của nhân dân được cụ thể hóa thành các quy định mang tính quyền lực nhà nước, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, hành

vi của tất cả các tổ chức chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và của mọi công dân QLNN có thể phân chia theo các lĩnh vực quản lý sau:

Trang 22

Thứ nhất, QLNN trong lĩnh vực quan hệ xã hội: Nhà nước sử dụng

pháp luật để tổ chức, điều hành các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… đưa pháp luật vào đời sống nhằm duy trì, giữ gìn trật tự, an ninh xã hội, phục vụ lợi ích công dân

Thứ hai, QLNN trong lĩnh vực tổ chức nhà nước: Nhà nước sử dụng

pháp luật để xây dựng và hoàn thiện BMNN, gồm cơ cấu tổ chức, xây dựng định biên trong tổ chức, chỉ đạo vận hành của tổ chức, quản lý sự thay đổi của

tổ chức

Thứ ba, QLNN đối với CBCC nhà nước: với tư cách là chủ thể quản

lý, nhà nước sử dụng pháp luật để tác động lên đối tượng quản lý là CBCC

Nước ta có bốn cấp chính quyền: cấp trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện, quận, thị xã và cấp xã, phường,thị trấn Trong đó CBCC chính quyền các cấp từ trung ương đến xã, phường đều nằm trong số lượng CBCC hành chính Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận văn này là CBCC chính quyền cấp quận, cụ thể là CBCC thuộc diện quản lý của Ban Thường vụ Quận ủy, UBND quận Hai Bà Trưng

Quản lý nhà nước đối với CBCC là một bộ phận chuyên biệt của khoa học quản lý nói chung, quản lý con người nói riêng Đây là quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, xem xét CBCC, đánh giá đúng đắn từng người, cả đội ngũ CBCC làm cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBCC được chính xác; bố trí, sử dụng CBCC đúng chỗ, thích hợp, đảm bảo bộ máy nhà nước vận hành đạt hiệu quả cao QLNN đối với CBCC bao hàm từ quản lý hệ thống đến quản lý các phân

hệ của nó và đặc biệt là quản lý từng người và cả đội ngũ CBCC; theo hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương Trên thực tế quản lý CBCC

ở các cấp phải nhằm mục tiêu tạo điều kiện tối ưu để xây dựng đội ngũ CBCC vững mạnh, phục vụ cho sự phát triển của đất nước Quản lý CBCC có thể coi

là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống) mang

Trang 23

tính tổ chức, của chủ thể quản lý đến đội ngũ CBCC để làm cho qui trình này vận hành tốt, hoàn thành những mục tiêu dự kiến

Từ những phân tích trên, có thể hiểu QLNN với CBCC chính quyền cấp quận là một dạng của QLNN, có đầy đủ các đặc điểm chung của QLNN, đồng thời có những đặc điểm riêng xuất phát từ mục đích, yêu cầu quản lý và đặc thù của đối tượng quản lý là CBCC chính quyền cấp quận QLNN đối với CBCC chính quyền cấp quận trong tiến trình đổi mới ở nước ta hiện nay phải thể hiện được cơ chế tác động mang tính quyền lực trong hoạt động quản lý của nhà nước, thông qua các cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước nhằm đạt mục đích quan trọng là vừa bảo đảm cho CBCC phát huy được vai trò, trách nhiệm và quyền hạn trong thực hành công vụ, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong QLNN đối với CBCC

Tóm lại, QLNN đối với CBCC chính quyền cấp quận được hiểu là

hoạt động của nhà nước trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về CBCC và

xử lý các vi phạm pháp luật nhằm tác động lên hoạt động của CBCC theo những phương thức nhất định để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý của nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ ngày một chính quy, chuyên nghiệp, có tinh thần, thái độ phục vụ trong công vụ

1.1.2 Đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức chính quyền cấp quận hiện nay

1.1.2.1 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức của chính quyền cấp quận

Thứ nhất: QLNN đối với cán bộ, công chức trên cơ sở pháp luật

Để quản lý xã hội, nhà nước dùng nhiều phương tiện, biện pháp nhưng pháp luật là phương tiện cơ bản nhất Thông qua các quy định của pháp luật, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, quyền hạn và nghĩa vụ, các chế độ, thể

lệ, quy chế của các cơ quan QLNN, quy chế CBCC nhà nước, tổ chức bộ máy

Trang 24

nhà nước để thực thi quản lý CBCC Đồng thời qua đó nhà nước tự hoàn thiện chính bản thân mình

Như vậy, pháp luật là phương tiện để nhà nước sử dụng tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Thực tiễn QLNN đối với CBCC cho thấy có thể sử dụng đồng thời nhiều biện pháp khác nhau như: hành chính, giáo dục, thuyết phục, vận động, nêu gương…, song tất cả những biện pháp trên vẫn phải nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép Vì vậy; là

cơ sở pháp lý là yếu tố quan trọng, chủ yếu, quyết định hiệu lực, hiệu quả quản lý

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, sự vận động của xã hội là tuyệt đối, bản chất của sự vận động là cái cũ mất đi, cái mới ra đời, cái mới thay thế cái cũ có sự kế thừa và phát triển Sự vận động của xã hội sẽ nảy sinh nhiều vấn đề mới, để quản lý xã hội nhà nước phải có các quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề mới nảy sinh Như vậy pháp luật nhà nước bao giờ cũng sau những hiện tượng, hành vi của xã hội QLNN đối với CBCC cũng phải tuân thủ theo quy luật ấy Nó vừa mang đầy đủ những yếu tố của QLNN nói chung, nhưng cũng mang đặc điểm riêng đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý phù hợp với sự vận động của xã hội, qua đó chủ thể quản lý và đối tượng được quản lý mới phát huy được vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản

lý và thực hành công vụ

Thực tế ở nước ta, Ngày 26/02/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh CBCC, để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội ngày 13/11/2008 Quốc hội ban hành Luật CBCC Đây là sự kiện pháp lý, đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CBCC ở nước ta Cùng với sự ra đời của Pháp lệnh, Luật CBCC Chính phủ đã ban hành các nghị định, thông, tư hướng dẫn thi hành; Bộ Chính trị, cấp ủy đảng, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội ban hành quy chế quản lý CBCC, qua đó đã trở thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trang 25

về CBCC nhà nước rõ ràng hơn, có hiệu lực pháp lý cao Từ Pháp lệnh CBCC đến Luật CBCC hệ thống pháp luật về CBCC đã có những thay đổi đáng kể, điều này đã góp phần tạo cơ sở pháp lý cho hoàn thiện và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC nhà nước, nâng cao chất lượng hoạt động công vụ, từng bước đáp ứng yêu cầu của cơ chế QLNN trong giai đoạn mới

Thứ hai, đặc điểm về chủ thể quản lý

Chủ thể quản lý xã hội nói chung là bộ máy điều khiển, quản lý công việc hành chính nhà nước với các phương pháp quản lý và hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước Đó là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được pháp luật quy định để nhân danh nhà nước sử dụng quyền lực được giao nhằm điều hành, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình vận động theo ý chí của mình nhằm đạt được mục đích đã được định trước Chủ thể quản lý có quyền hạn và trách nhiệm thực hiện hành vi quản lý được giao, tác động lên đối tượng quản lý nhằm phối hợp hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân, tạo thành hoạt động chung thống nhất trong tập thể hướng theo một mục tiêu nhất định Chủ thể quản lý thực hiện nhiệm vụ quản lý thông qua việc sử dụng phương tiện là pháp luật, điều lệ, nội quy, quy chế để tác động lên đối tượng quản lý

Luật CBCC, điều 67 quy định chủ thể QLNN đối với CBCC như sau:

(1) Việc quản lý cán bộ công chức được thực hiện theo quy định của luật này, các quy định khác của pháp luật liên quan, Điều

lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (2) Chính phủ thống nhất quản lý về công chức Bộ nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công chức Bộ và các cô quan ngang

bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về công chức theo phân công, phân cấp của Chính phủ Ủy ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi

Trang 26

nhiệm vụ quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về công chức theo phân cấp của Ủy ban nhân danh cấp tỉnh (3) Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện quản lý công chức theo phân cấp của cơ quan có thẩm quyền và theo quy định của Chính phủ [22, tr 20-21]

Theo Điều 48 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức quy định "Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công chức trong phạm vi cả nước" [3, tr 22] Sở Nội vụ là cơ quan tham mưu của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện chức năng QLNN trực tiếp về công chức trong các CQHC nhà nước, đơn vị sự nghiệp của nhà nước theo chỉ tiêu biên chế Chính phủ như tuyển dụng, nâng ngạch, chuyển loại, chuyển ngạch, tiếp nhận, điều động, thuyên chuyển, kỷ luật, nghỉ hưu, thôi việc, nâng bậc lương thường xuyên, nâng bậc lương trước thời hạn, nâng phụ cấp thâm niên vượt khung

Theo Điều 107 Luật tổ chức HĐND và UBND quy định UBND cấp quận quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động, tiền lương theo phân cấp của UBND cấp trên

Như vậy, chủ thể quản lý đối với CBCC là các cấp ủy đảng từ trung ương đến địa phương, các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp (chính phủ và UBND các cấp) Chủ thể quản lý đối với CBCC cấp quận là Ban Thường vụ Quận ủy, UBND cấp quận Ngoài ra, chủ thể quản lý đối với CBCC cấp quận còn là các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân, được nhà nước, cấp ủy đảng trao quyền thực hiện hoạt động quản lý như Bí thư, Phó Bí thư thường trực, Chủ tịch UBND cấp quận, Ban Tổ chức Quận ủy, Phòng Nội

vụ cấp quận Còn chủ thể QLNN đối với CBCC chỉ là những cơ quan, tổ chức nhà nước, những người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó

Trang 27

Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền và thực hiện cải cách hành chính (CCHC) ở nước ta hiện nay, cần huy động sự tham gia của các tổ chức khác (như đoàn thể, quần chúng, nhân dân…) vào quản lý CBCC Mặt khác, cần giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách, phát huy vai trò của người đứng đầu thông qua phương tiện điều lệ, quy chế quy định, các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước đã ban hành để thực hiện vai trò QLNN đối với CBCC đạt hiệu quả cao

Thứ ba, đặc điểm về đối tượng quản lý

Đối tượng quản lý của QLNN bằng pháp luật đối với CBCC cấp quận

là CBCC trong các cơ quan chuyên môn thuộc Quận ủy, UBND, Mặt trận, các ban, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội cấp quận

Như vậy, đối tượng của QLNN đối với CBCC cấp quận là những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong Quận ủy, UBND, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội quận

và những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Quận ủy, UBND, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội quận,trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Để hiểu rõ về đặc điểm đối tượng quản lý, trước hết phải có quan điểm, đánh giá đúng đắn về CBCC và vai trò của họ trong đời sống nhà nước

và xã hội;

Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH phấn đấu đến năm 2020 nước ta

cơ bản trở thành nước công nghiệp, Đảng ta luôn xác định, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Trong đó: "Cán bộ

là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, dân tộc, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [7, tr 34] Như vậy, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào đội ngũ CBCC luôn

có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của xây dựng phát triển đất nước, bảo

Trang 28

vệ Tổ quốc Vì vậy tiếp tục đổi mới công tác CBCC trong tình hình hiện nay

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tình hình hiện nay

Những năm qua, đội ngũ CBCC thuộc quận Hai Bà Trưng đã khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng của mình, đã có nhiều đóng góp to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội địa phương Tuy nhiên, trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, trước yêu cầu cao của sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển kinh tế - xã hội thì đội ngũ CBCC cấp quận đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài, ảnh hưởng trực tiếp đến triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật nhà nước trong cuộc sống Tác phong, phong cách làm việc của phần lớn CBCC ở cấp quận chưa chính quy, công nghiệp, thiếu khoa học, sáng tạo; tư duy nhiệm kỳ, đặt lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm lên trên lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia, dân tộc Giải quyết công vụ tùy tiện, mang nhiều yếu tố tình cảm, tình trạng phép vua thua lệ làng vẫn còn khá phổ biến trong ứng xử ở cộng đồng Không ít CBCC có những biểu hiện quan liêu, hạch sách dân, né tránh sự thật, giải quyết không công bằng các kiến nghị, đề nghị, khiếu kiện của dân, thực hiện sai chế độ chính sách, pháp luật nhà nước, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vun vén cá nhân…làm mất lòng tin của nhân dân, cản trở sự phát triển của xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương

Hoạt động của CBCC cấp quận là là sự phản ánh rõ nhất năng lực lãnh đạo của cấp ủy đảng, điều hành, quản lý xã hội của chính quyền, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị- xã hội quận Hoạt động của bộ máy Đảng nhà nước, thực chất là thiết chế quyền lực để lãnh đạo, quản lý xã hội, phục vụ cho nhân dân và sự phát triển của đất nước CBCC nhà nước là những người thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quyền lực đó nên hoạt động của nó mang tính chất phục vụ Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ CBCC gắn với "quyền lực công" tức là hoạt động phục vụ công quyền Do vậy, hoạt động của CBCC bảo đảm bằng quyền

Trang 29

lực nhà nước và sử dụng quyền lực đó để thực hiện các nhiệm vụ, là người thực thi quyền lực nhà nước, đại diện cho nhà nước trong việc quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu chung của xã hội

Thứ tư, đặc điểm về hình thức, phương pháp quản lý CBCC

- Hình thức QLNN được hiểu là "sự biểu hiện về hoạt động quản lý

của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, thẩm

quyền của mình đối với các quan hệ xã hội" [1, tr 84]

Để thực hiện một công việc hoặc điều chỉnh một hành vi hoạt động của CBCC thuộc quyền, các cơ quan quản lý hoặc các thủ trưởng… phải ra quyết định quản lý CBCC… để mọi CBCC căn cứ vào đó mà thực hiện, đồng thời cơ quan quản lý và các thủ trưởng lấy đó làm chứng cứ xem xét đối tượng thực hiện đúng hay không đúng, từ đó truy cứu trách nhiệm và xử lý theo pháp luật Quyết định quản lý đó có thể là quyết định quy phạm pháp luật hay quyết định cá biệt cụ thể

Việc ban hành quyết định quy phạm trong QLNN về CBCC được pháp luật quy định chặt chẽ trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

là hình thức pháp lý quan trọng nhất trong hoạt động của các chủ thể QLNN nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình

Ngoài ra, ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật về CBCC cũng là hình thức pháp lý Thông qua việc ban hành các văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, các chủ thể QLNN tác động một cách tích cực và trực tiếp đến hoạt động của tổ chức trực thuộc và CBCC

- Phương pháp QLNN về CBCC là cách thức điều hành để đảm bảo

việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của chủ thể quản lý về công tác cán bộ

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với CBCC cấp quận được sử dụng rất nhiều phương pháp quản lý, nhưng chủ yếu tập trung vào những một

số phương pháp sau:

Trang 30

+ Phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức: Là phương pháp quan trọng hàng đầu, tác động trực tiếp về tư tưởng và tinh thần đối với CBCC để họ giác ngộ lý tưởng, nâng cao nhận thức chính trị, pháp luật, ý thức trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp trong thi hành công vụ, đem hết sức mình ra cống hiến

Xuất phát từ thể chế chính trị ở nước ta, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, và vì dân; CBCC nhà nước là "công bộc" của nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng" [21, tr 269] Luật CBCC quy định:

Cán bộ, công chức phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh

dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu

sự giám sát của nhân dân Chấp hành nghiêm chỉnh đường nối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước [22, tr 3] Mục đích của phương pháp này nhằm xây dựng đội ngũ CBCC có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, quyết tâm phấn đấu theo con đường XHCN, gắn bó với sự nghiệp cách mạng, có ý thức tổ chức và tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiêm vụ được giao

+ Phương pháp tổ chức: Đây là biện pháp rất quan trọng, mang tính đồng bộ là cơ sở nền tảng vững chắc trong quản lý CBCC

Bởi vì, tổ chức là phương thức tồn tại của con người và xã hội, không

mộ cá nhân nào đứng ngoài xã hội và không một thành viên nào của một tổ chức nhất định lại đứng ngoài tổ chức đó Trong mối quan hệ con người và tổ chức, có con người tốt mới có tổ chức mạnh; ngược lại có tổ chức mạnh mới rèn luyện được con người tốt Các Mác viết: "Thực vậy, tư tưởng căn bản

Trang 31

không thực hiện được cái gì hết Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn" [20, tr 181]

Như vậy, dùng phương pháp tổ chức là đưa CBCC vào khuôn khổ, kỷ luật, kỉ cương thông qua quy chế, quy trình, nội quy hoạt động cụ thể của tổ chức để thực hiện quản lý đội ngũ và từng cá nhân CBCC Thực hiện phương pháp này phải thường xuyên duy trì các chặt chẽ chế độ quy định, phân công quy trách nhiệm rõ ràng, tăng cường công tác kiểm tra và xử lý kết quả đã kiểm tra một cách dân chủ, công bằng, làm tốt thì thưởng, làm không tốt thì

xử phạt; qua đó hiệu quả quản lý được nâng lên, chất lượng công việc được đảm bảo, đoàn kết nội bộ được giữ vững

- Phương pháp hành chính, pháp lý: Là phương pháp cần thiết, thể hiện quyền lực trong quản lý CBCC Thực chất của phương pháp này là chủ thể quản lý dùng quyền lực của mình, được pháp luật cho phép ra các mệnh lệnh hành chính dứt khoát, áp đặt, bắt buộc đối với CBCC thuộc quyền phải thi hành Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động trực tiếp lên đối tượng quản lý bằng các điều kiện cụ thể (nội dung, không gian, thời gian, phương pháp, lực lượng, kết quả…) của chủ thể quản lý, nhằm đảm bảo cho hoạt động quản lý

có hiệu lực và giữ vững kỷ cương, pháp luật nhà nước Khi sử dụng phương pháp này chủ thể quản lý cần nắm vững thẩm quyền, các quy định của pháp luật, khả năng hoàn thành của CBCC, ra các mệnh lệnh chính xác, đồng thời chịu trách nhiệm về các quyết định của mình với cấp trên, trước pháp luật

- Phương pháp kinh tế: Là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của CBCC thông quan việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợi ích của CBCC Sử dụng phương pháp này còn là sự quan tâm của chủ thể quản lý đối với CBCC, nhất là trong giai đoạn hiện nay thu nhập của CBCC chủ yếu bằng lương, so với mặt bằng trung của xã hội còn thấp, đời sống của

số đông CBCC gặp nhiều khó khăn, đàm bảo tốt lợi ích vật chất sẽ tạo lên động lực thúc đẩy CBCC phấn đấu vươn lên, hoàn thành tốt nhiệm vụ

Trang 32

Quá trình thực hiện chủ thể quản lý phải đảm bảo dân chủ, công khai, công bằng, đúng các quy định của pháp luật, kiên quyết chống các biểu hiện

vụ lợi, tham ô…

Ngoài ra, để quản lý CBCC, CQCH còn sử dụng một số phương pháp khoa học khác như phương pháp kế hoạch hóa, phương pháp thống kê, phương pháp tâm lý xã hội…

Trong quá trình quản lý CBCC phải kết hợp hài hòa, chặt chẽ các phương pháp trên, không quá coi trọng hoặc xem nhẹ phương pháp nào Trong đó phương pháp hành chính - pháp lý là rất cần thiết và cực kỳ quan trọng; phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức phải chú trọng tiến hành thường xuyên, liên tục, nghiêm túc; phương pháp tổ chức phải khoa học

cơ bản và cương quyết; phương pháp kinh tế, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động của CBCC nhà nước

1.1.2.2 Yêu cầu quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức cấp quận

Trước yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, nền hành chính dân chủ, pháp quyền, chính quy, hiện đại và một đội ngũ CBCC hợp lý về cơ cấu, đủ số lượng, chất lượng cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, tận tâm phục vụ nhân dân, có kiến thức

kỹ năng nghề nghiệp cao, được trang bị những tri thức quản lý tiên tiến, tiếp cận kịp thời sự biến đổi của khoa học công nghệ, đáp ứng những yêu cầu mới của đất nước Từ thực tiễn trên đã đặt ra yêu cầu rất cao trong quản lý đối với đội ngũ CBCC đảm bảo cho bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương điều hành xã hội có hiệu quả Vì vậy QLNN đối với CBCC cấp quận phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau:

- Yêu cầu chung: Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 Hội nghị

lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đề ra các yêu cầu sau:

Trang 33

Xây dựng tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan, giữa các cấp chính quyền, giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, giữa tập thể và người đứng đầu cơ quan hành chính; hoạt động có kỉ luật, kỉ cương và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản

lý nhà nước… Cải cách hành chính phải đáp ứng được yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm và tận tụy phục vụ nhân dân Cải cách hành chính phải hướng tới xây dựng một nền hành chính hiện đại, ứng dụng có hiệu quả thành tựu phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin [10, tr 159]

- Yêu cầu cụ thể đối với QLNN đối với CBCC cấp quận

+ Yêu cầu về tính hợp hiến, hợp pháp của QLNN đối với CBCC

Yêu cầu này đòi hỏi chủ thể quản lý phải thực hiện công tác quản lý CBCC trên cơ sở pháp luật quy định Đòi hỏi Ban Thường vụ Quận ủy, UBND quận trước hết phải ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể, chi tiết, kịp thời, không trái với các quy định của luật pháp và văn bản cấp trên; đồng thời tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định đã ban hành Tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật là yêu cầu quan trọng của Nhà nước pháp quyền XHCN Chủ thể quản lý CBCC cấp quận phải chấp hành triệt để không được trái quy định vượt quá thẩm quyền, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của cả hệ thống pháp luật

Pháp luật là công cụ quản lý cơ bản nhất đối với bất kỳ hoạt động nào của đời sống kinh tế - xã hội Nhà nước là một thiết chế quyền lực chính trị, việc thực thi quyền lực của Nhà nước được thực hiện trên cơ sở của pháp luật, Pháp luật là phương tiện hiệu quả nhất trong việc chuyển tải quyền lực nhà nước đến mọi cá nhân, tổ chức Như vậy, không có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật thì không thể quản lý xã hội nói chung và quản lý CBCC nói

Trang 34

riêng một cách có hiệu quả Sự quản lý của Nhà nước chỉ có thể thực hiện và phát huy hiệu quả khi điều chỉnh các hành vi của xã hội bằng các quy định cụ thể của hiến pháp và được bảo đảm thực hiện bằng một cơ chế pháp lý phù hợp với xã hội

Yêu cầu đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp là các quy định, các tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục của quản lý CBCC mà chủ thể quản lý ban hành và thực hiện phải tuân thủ theo Hiến pháp - Là đạo luật gốc cơ bản của Nhà nước

ta, đồng thời phải thống nhất với hệ thống các văn bản pháp luật khác như Bộ luật lao động, Luật Quốc tịch, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức HĐND

và UBND, Luật Giáo dục Các nghị định của Chính phủ, các văn bản hướng dẫn thi hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong quản lý CBCC thì việc phân cấp thẩm quyền, tuyển dụng, sử dụng, thăng giáng, khen thưởng,

kỷ luật… Vì vậy, việc thực thi công vụ trong quản lý CBCC của chủ thể quản

lý phải thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền được luật pháp quy định quy định rất cụ thể từ trung ương đến địa phương, trong đó có cấp quận Qua đó nâng cao hiệu lực quản lý,phát huy tốt vai trò của đội ngũ CBCC; mặt khác tăng cường giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong việc thực hiện pháp luật về QLNN đối với CBCC, mọi hành vị vi phạm phải được xử lý nghiêm minh

+ Yêu cầu về tính toàn diện trong QLNN đối với CBCC cấp quận

Yêu cầu về tính toàn diện trong QLNN đối với CBCC phải có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữ các ngành, các cấp; cơ quan quản lý và cơ quan sử dụng; phát huy yếu tố tự quản lý của CBCC, vai trò giám sát quản lý của mặt trận và các đoán thể; giữa các mặt, các khâu, từ việc lựa chọn, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng đến việc quy hoạch, bố trí, sử dụng chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật …tạo nên chuyển biến toàn diện, đồng bộ, nhịp nhàng trong công tác quản lý CBCC

Tính toàn diện còn thể hiện quản lý cả số lượng lẫn chất lượng, từng con người lẫn đội ngũ; từng loại CBCC, từng cấp, từng ngành, quản lý cả

Trang 35

phẩm chất lẫn năng lực, sức khỏe lẫn kiến thức chuyên môn; quản lý lịch sử CBCC gắn với quá trình hoạt động thực tiễn; nắm chắc tình hình gia đình, hậu phương CBCC và mối quan hệ xã hội của họ Nói tóm lại, phải quản lý toàn diện cả về lịch sử chính trị, tư tưởng, đạo đức, tác phong, trình độ, kiến thức, năng lực công tác, tâm lý, tình cảm, nguyện vọng, quan hệ xã hội, gia đình của CBCC Cùng với yêu cầu về tính toàn diện song phải có trọng tâm, trọng điểm tránh dàn trải chung chung Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng đội ngũ CBCC, từ đó phân loại, loại nào yếu, yếu mặt nào, khâu nào cần được bổ sung… mà tập trung đầu tư sức lực vào những nội dung đó để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC

+ Yêu cầu về bảo đảm dân chủ trong QLNN đối với CBCC cấp quận

Trong quá trình quản lý đội ngũ CBCC, vấn đề "dân chủ" có ý nghĩa

lý luận và thực tiễn to lớn "Dân chủ" để nhằm phát huy tính sáng tạo, tính năng động, tính bình đẳng, tính công khai trong quá trình quản lý đội ngũ CBCC ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị

Trong tình hình hiện nay dân chủ là một khâu then chốt của việc đổi mới cơ chế quản lý CBCC và là điều kiện cần thiết để bảo đảm cho công tác cán bộ đạt hiệu quả cao Tình trạng thiếu dân chủ không kết hợp đúng đắn giữa tập trung và dân chủ, dân chủ hình thức đã làm cho việc đánh giá, bố trí,

sử dụng CBCC thiếu chính xác, thiếu công bằng và là một nguyên nhân làm cho CBCC không thoải mái, thắc mắc, thậm chí gây mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng, làm cho bộ máy chính quyền trì trệ, kém hiệu quả, thậm chí gây cản trở xã hội Đã đến lúc vấn đề dân chủ cần được quán triệt đầy đủ hơn trên các mặt của công tác cán bộ, nhất là ở một số khâu trọng yếu

Dân chủ trong QLNN đối với CBCC là yêu cầu cơ bản, là một vấn đề

có tính nguyên tắc Trong quá trình quản lý CBCC đều được tiến hành công khai như khi tuyển dụng phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người biết để đăng ký Khi bổ nhiệm CBCC vào vị trí lãnh

Trang 36

đạo cũng công khai số lượng, vị trí, tiêu chuẩn chức danh bổ nhiệm, điều kiện bổ nhiệm, danh sách CBCC được đưa vào quy hoạch Trong quy định

về quy trình đánh giá CBCC cũng vậy, người đứng đầu cơ quan đơn vị phải

có trách nhiệm thông báo cho CBCC biết kết quả đánh giá của cấp có thẩm quyền sau một thời gian công tác để người đó có hướng phấn đấu tiếp tục hoặc khiếu nại nếu như thấy kết quả đánh giá đó không phản ánh đúng kết quả công tác của mình Việc bố trí, sử dụng CBCC cũng cần bảo đảm tính dân chủ, tránh cách làm tùy tiện áp đặt Trước khi quyết định, cấp có thẩm quyền cần trực tiếp trao đổi ý kiến với đương sự và tôn trọng quyền được đề đạt ý kiến, nguyện vọng của đương sự Đặc biệt đối với cán bộ diện Quận ủy quản lý cần giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, quy chế, quy định về công tác cán bộ, chống bè phái cục bộ, lợi dụng dân chủ trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ

+ Yêu cầu về tính sáng tạo và tính hiện đại trong QLNN đối với CBCC

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học quản lý trong khu vực, trên thế giới và yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đòi hỏi công tác quản lý nhân sự phải đáp ứng ngang tầm với

sự phát triển của đất nước, vì vậy đội ngũ CBCC phải dần dần đáp ứng yêu cầu của thời đại Do đó, quản lý CBCC phải phải có tính sáng tạo, nghiên cứu

và tiếp thu tinh hoa khoa học quản lý nhân sự của các nước tiên tiến trên thế giới, vận dụng linh hoạt vào điều kiện, đặc điểm của mỗi địa phương, cơ quan

tổ chức và thực tế đội ngũ CBCC để tiến hành

Yêu cầu này đòi hỏi xây dựng một nền hành chính dân chủ, pháp quyền, chính quy, hiện đại, có một đội ngũ CBCC đủ mạnh, có kiến thức khoa học hiện đại, năng lực và trình độ chuyên môn tốt Con người trong cơ quan quản lý CBCC, sử dụng CBCC được trang bị những tri thức quản lý tiên tiến, có tâm, có tầm, đi tắt đón đầu, tiếp cận và ứng dụng kịp thời sự biến đổi của khoa học công nghệ, làm tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy đảng, chính

Trang 37

quyền trong quản lý CBCC, qua đó mới phát huy được hiệu lực, hiệu quả của

bộ máy nhà nước, đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội

1.2 MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN

1.2.1 Mục tiêu quản lý cán bộ, công chức

Quản lý CBCC cũng giống như quản lý nhân lực của tổ chức nhằm tạo

ra nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức Mục tiêu

quản lý là "cái" cần hướng tới, cần đạt được của chủ thể quản lý Trong

QLNN đối với CBCC thì mục tiêu cần đạt được là xây dựng đội ngũ CBCC

có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; trung thành tuyệt đối chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cả trong nhận thức và hành động; chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Trên cương vị, chức trách được giao

có năng lực chuyên môn tốt, nắm vững đường lối của Đảng, có kiến thức về chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ

Có khả năng nắm bắt thực tiễn nhanh, đề xuất nhiều chủ trương, giải pháp, lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống Chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình Luôn phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương Có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, phong cách làm việc khoa học, có tinh thần đoàn kết cao, nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Gương mẫu học tập tư tưởng và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân Bản thân và gia đình không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực Mặt khác tập trung nâng cao năng lực của

cơ quan tham mưu, giúp việc về công tác quản lý và cơ quan sử dụng CBCC

để bảo đảm cho CBCC thực thi tốt nhiệm vụ, công vụ đúng pháp luật quy định, đáp ứng yêu cầu quản lý và điều hành xã hội có hiệu lực, hiệu quả

Trang 38

Để đạt được mục tiêu nêu trên, phải kết hợp chặt chẽ giữa quản lý CBCC với quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị, quản lý công việc gắn với quản lý con người, không ngừng hỗ trợ những điều kiện thiết thực cho việc tái sản xuất sức lao động, phương tiện và điều kiện làm việc của CBCC Không ngừng đổi mới và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về CBCC vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là nhiệm vụ cấp bách của sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước tiến lên, thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH Những quy định pháp lý về CBCC phải tạo ra được cơ chế mới trong việc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo hướng tinh, gọn đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và xu thế hội nhập quốc tế

1.2.2 Nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức

Cán bộ, công chức là một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực quan trọng trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị -

xã hội, một mặt phải tuân thủ các nguyên tắc đặc trưng trong khoa học quản

lý nguồn nhân lực Mặt khác, đây là nguồn nhân lực đặc biệt, mang những đặc trưng riêng, do đó quản lý CBCC phải tuân thủ một số nguyên tắc có tính đặc thù riêng, Điều 5 luật CBCC năm 2008 quy định việc quản lý CBCC phải

tuân thủ 5 nguyên tắc sau đây:

- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của nhà nước

- Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế

- Thực hiện nguyên tắc tập trung, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng

- Việc sử dụng, đánh giá, phân loại CBCC phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ

- Thực hiện bình đẳng giới

Trang 39

1.2.3 Nội dung cơ bản của quản lý cán bộ, công chức

Nội dung quản lý CBCC được quy định trong Luật CBCC năm 2008

Đó là nội dung nhằm xây dựng, phát triển đội ngũ CBCC đáp ứng được nhiệm vụ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội Theo quy định của Luật CBCC năm 2008, việc quản lý CBCC bao gồm những nội dung cơ bản sau:

- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về CBCC;

- Xây dựng kế hoạch, quy hoạch CBCC;

- Quy định chức danh và cơ cấu cán bộ;

- Quy định ngạch, chức danh, mã số công chức; mô tả, quy định vị trí việc làm và cơ cấu công chức để xác định số lượng biên chế;

Ngoài các nội dung trên, việc quản lý CBCC còn bao gồm các công tác liên quan được quy định tại Luật CBCC như tuyển dụng, sử dụng, bố trí, đào tạo, bồi dưỡng điều động, biệt phái, bổ nhiệm, từ chức, miễn nhiệm, luân chuyển, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, chế độ tiền lương

Cùng với việc quy định những nội dung quản lý CBCC, pháp luật cũng quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của tùng cơ quan, tổ chức trong việc quản lý đội ngũ CBCC Trên cơ sở phân định cán bộ với công chức trong Luật CBCC năm 2008, việc quản lý cán bộ và công chức đã có những quy định phù hợp với đặc điểm, tính chất, hoạt động của từng nhóm Cán bộ

là người được hính thành thông qua cơ chế bầu cử hoặc phê chuẩn để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo theo nhiệm kì trong các cơ quan, tổ chức Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội Do đó, việc quản lý cán bộ được thực hiện theo pháp luật (Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức HĐND, UBND; Luật Bầu cử, ) hoặc theo Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội Bên cạnh đó là các quy định hướng dẫn của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ban Tổ chức Trung ương Đảng và các cơ quan được phân cấp quản lý

Trang 40

Việc quản lý công chức được quy định đẻ đảm bảo sự thống nhất trong xây dựng và phát triển đội ngũ công chức Trong đó, khoản 2 Điều 67 Luật CBCC năm 2008 đã giao "Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về công chức" [22, tr 21] Điều đó nghĩa là việc quản lý công chức nhà nước trong cơ các quan, tổ chức Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập đều phải thống nhất thực hiện theo các quy định của luật CBCC và các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành Bao gồm từ công việc quản lý biên chế, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, điều động, biệt phái, bổ nhiệm, từ chức, luân chuyển đến các công việc đánh giá, khen thưởng, kỉ luật, thôi việc, nghỉ hưu

Cần phải phân biệt nội dung quản lý cán bộ, quản lý công chức của cơ quan QLNN về cán bộ, về công chức với nội dung quản lý cán bộ, quản lý công chức của cơ quan sử dụng cán bộ, sử dụng công chức Mặc dù về hình thức, nội dung QLNN đối với cán bộ hoặc công chức có thể có những quy định giống như với cơ quan sử dụng cán bộ hoặc công chức nhưng phạm vi

và thẩm quyền quản lý của hai cơ quan loại này không giống nhau

Muốn xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm

vụ của cơ quan tổ chức, trước hết cần phải ban hành thể chế quản lý công chức: sau đến là triển khai thực hiện và tuân thủ đúng quy định về quản lý công chức và cuối cùng là bộ mày thực hiện quản lý đội ngũ công chức

Để đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả và tính thống nhất trong QLNN cần phải thể chế đầy đủ các nội dung quản lý công chức thành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định việc thực hiện các nội dung quản lý công chức nêu trên Đây chính là hình thức biểu hiện của thể chế quản lý công chức Thể chế này quy định, hướng dẫn các nội dung liên quan đến tiêu chuẩn, điều kiện tuyển công chức; quyển lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của công chức; những điều công chức không được làm; cách thức, trình tự, thủ tục trong công tác khen thưởng, kỉ luật, thăng tiến, sử dụng, bổ nhiệm, chế độ đãi

Ngày đăng: 17/03/2021, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm