Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài Nghiên cứu về Nhà nước và DNNN đã cũng có rất nhiều công trình khoa học, như: Chế độ quản lý về quyền sở hữu vốn và tài sản trong doanh nghiệp n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Khương Văn Đạt
QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA NHÀ NƯỚC
VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà nội – 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Khương Văn Đạt
QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA NHÀ NƯỚC
VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Hồng Thái
Hà nội – 2009
Trang 3Chương 1: Cơ sở lý luận về qHPL giữa nhà nước và dNNN 06
1.1 Khái niệm quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN 06
1.1.2 Vị trí, vai trò của hệ thống DNNN trong nền kinh tế thị trường 07
1.1.4 Khái niệm quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN 11
1.2 Cấu trúc của quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN 14
1.2.3 Khách thể của quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN 21
1.3 Đặc điểm của quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và DNNN 22
Trang 41.3.1 QHPL giữa nhà nước và DNNN có những đặc điểm chung của quan
hệ pháp lý
22
1.3.2 QHPL giữa nhà nước và DNNN thể hiện sự tương tác của quyền sở
hữu doanh nghiệp và sở hữu vốn và tài sản trong doanh nghiệp
24
1.3.3 QHPL giữa nhà nước và DNNN thể hiện nội dung pháp lý và kinh tế
của quyền sở hữu nhà nước
25
1.3.4 QHPL giữa nhà nước và DNNN thể hiện quyền tự chủ kinh doanh của
DNNN
27
1.3.5 Nhà nước không trực tiếp thực hiện quyền sở hữu mà thông qua cơ
quan và người quản lý điều hành DNNN được nhà nước bổ nhiệm
28
1.4 Những yếu tố chi phối và tác động đến quá trình hoàn thiện quan hệ
pháp lý giữa nhà nước và DNNN ở Việt Nam
Trang 52.2 Quyền và nghĩa vụ của chủ thể 55
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ chủ thể trong thực hiện quyền tự chủ của
2.3 Khách thể và những trở ngại thách thức của quá trình hoàn thiện
quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN
67
2.3.1 Khách thể của quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN 67
2.3.2 Tình hình DNNN và những kết quả của quá trình hoàn thiện quan
3.1.1 Quyền và nghĩa vụ của nhà nước và DNNN phải được xác lập
phù hợp với kinh tế thị trường
83
3.1.2 Đảm bảo vai trò nòng cốt của DNNN để KTNN giữ vai trò chủ
đạo
85
3.1.4 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động DNNN 90
3.1.5 Hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, đẩy 91
Trang 6mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực kinh tế
3.2 Giải pháp hoàn thiện quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN 93
3.2.2 Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền sở hữu nhà nước với tư cách
nhà nước là nhà đầu tư vào DN
Trang 7DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
DNNQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
HĐQT: Hội đồng quản trị HĐTV: Hội đồng thành viờn HĐBT: Hội đồng bộ trưởng KTNN: Kinh tế nhà nước
QHPL: Quan hệ phỏp lý
SCIC: Tổng cụng ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước
SHNN: Sở hữu nhà nước
TCT: Tổng Cụng ty Nhà nước
Trang 8TNHH: Trỏch nhiệm hữu hạn
UBND: Uỷ ban nhõn dõn
XNQD: Xớ nghiệp quốc doanh
XHCN: Xó hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự ra đời của KTNN gắn với sự ra đời của nhà nước Qua nhiều chặng đường lịch sử, KTNN, cũng như DNNN đã có những bước phát triển đa dạng về quy mô, hình thức tổ chức DNNN tồn tại phổ biến không chỉ ở các quốc gia XHCN mà cả ở các quốc gia tư bản chủ nghĩa Xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề cải cách DNNN, trong đó hoàn thiện quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN luôn là vấn đề được quan tâm đặc biệt nhằm đảm bảo vai trò chủ đạo của KTNN trong đó DNNN là nòng cốt Điều này có ý nghĩa to lớn trong quá trình đổi mới toàn diện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN là mối liên hệ về mặt pháp lý giữa nhà nước và DNNN và luôn được đổi mới, hoàn thiện trên cơ sở hoàn thiện các quan hệ kinh tế Thực tiễn cho thấy, muốn tăng cường hiệu quả hoạt động của DNNN, phải không ngừng hoàn thiện quan hệ giữa nhà nước (nhà đầu tư) và DNNN (đơn vị kinh doanh) cho phù hợp với đặc điểm và điều kiện của nước ta trong từng giai đoạn phát triển
Quá trình hoàn thiện QHPL này đã có những bước tiến rất lớn DNNN từ một đơn vị kinh tế thụ động phụ thuộc hoàn toàn vào nhà nước đã trở thành một DN tự chủ kinh doanh Nhà nước cũng dần chuyển từ việc thực hiện cơ chế tập trung quan liêu sang cơ chế thị trường, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNN Trong hơn hai thập kỷ qua, hoàn thiện QHPL này luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta Hầu hết các nỗ lực đều tập trung vào hoàn thiện môi trường pháp lý và cơ chế kinh tế để tăng cường chức năng chủ sở hữu, hiệu quả vốn đầu tư của nhà nước và quyền tự chủ của DNNN Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của việc hoàn thiện QHPL này vẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn KTNN chưa làm tốt vai trò chủ đạo; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của DNNN chưa cao
Trang 10Hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Thứ nhất là do hệ thống pháp
luật về DNNN chưa phù hợp, tính khả thi không cao, các yếu tố của thị trường phát triển chưa hoàn chỉnh, nhiều quan hệ được thiết lập không trên cơ sở luật pháp dẫn
tới còn sự bất bình đẳng giữa các loại hình DN Thứ hai, do việc chấp hành pháp
luật yếu kém, ý thức tôn trọng pháp luật không cao của nhiều cán bộ, viên chức nhà
nước, người quản lý và lao động trong DNNN Thứ ba, do nhà nước chưa thực hiện
đúng vai trò, chức năng của mình về việc xây dựng môi trường pháp lý và thị
trường bình đẳng Thứ tư, nhà nước chưa phân định rạch ròi giữa quản lý nhà nước
và quản lý kinh doanh, việc thực hiện quyền sở hữu của nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh còn mang nặng tính hành chính, chưa hoàn toàn phù hợp với cơ chế thị
trường Thứ năm, việc phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật đối với các chủ thể
nêu trên chưa kịp thời, chưa nghiêm chỉnh, dẫn đến sự điều chỉnh của pháp luật bị hạn chế
Vì vậy, hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để nhà nước quản lý tốt hơn, thực hiện đúng đắn quyền sở hữu tài sản và vốn của nhà nước tại DNNN, đảm bảo quyền tự chủ, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của DNNN Đặc biệt là, theo quy định tại điều 166 Luật Doanh nghiệp năm 2005, đến tháng 7/2010, tất cả các doanh nghiệp đều phải chuyển đổi theo các loại hình quy định của Luật này
Xuất phát từ lý do đó, học viên đã chọn đề tài: “Quan hệ pháp lý giữa nhà nước và doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay” để làm Luận văn Thạc sĩ
Luật học
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về Nhà nước và DNNN đã cũng có rất nhiều công trình khoa học, như: Chế độ quản lý về quyền sở hữu vốn và tài sản trong doanh nghiệp nhà nước – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận án Thạc sĩ Luật học của tác giả Phạm Bình An (2001), Đổi mới, tăng cường thành phần KTNN – Lý luận, chính sách và giải pháp của GS TS Vũ Đình Bách (chủ biên) (2001), Bàn về cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nước của tác giả Trương Văn Bân (chủ biên) (1996), Địa vị
Trang 11pháp lý của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Luận án Phó Tiến sĩ Luật học của tác giả Trần Thị Hoà Bình (1996), Sở hữu nhà nước và doanh nghiệp nhà nước của PGS, TS Nguyễn Cúc và PGS, TS Kim Văn Chính (2006), Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới DNNN của PGS, TS Ngô Quang Minh (2003), Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước – Những vấn đề lý luận
và thực tiễn của PGS TS Lê Hồng Hạnh (2004) …
Các công trình khoa học trên đã phân tích khái niệm, đặc trưng, vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường, mô hình hệ thống kinh tế xã hội vận dụng vào việc phát triển hệ thống thị trường và nghiên cứu về tác dụng điều tiết hệ thống thị trường của DNNN Chúng cũng đã đề cập đến những vấn đề mang tính lý luận, phương pháp luận và đánh giá thực trạng của quá trình sắp xếp lại DNNN trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Các công trình này đã đánh giá tương đối có hệ thống sự tác động của Nhà nước thông qua luật pháp và các chính sách lớn trong quá trình hình thành và phát triển thị trường ở Việt Nam, đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường và đổi mới sự tác động của Nhà nước đối với thị trường định hướng XHCN Các công trình này cũng đã phân tích cơ sở lý luận, thực trạng và những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước đối với các loại hình DN
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Làm rõ cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN, đánh giá thực trạng quan hệ, đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện QHPL giữa nhà nước với DNNN trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Một là, xác định khái niệm DNNN và khái niệm QHPL giữa nhà nước và
DNNN Từ đó làm sáng tỏ nội dung, đặc điểm, khách thể và các yếu tố tác động đến QHPL giữa nhà nước và DNNN
Trang 12Hai là, đánh giá thực trạng quá trình hình thành và phát triển của QHPL giữa
nhà nước và DNNN ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Ba là, trên cơ sở những tiền đề lý luận và sự đánh giá thực trạng QHPL giữa
nhà nước và DNNN, luận văn đưa ra định hướng và các giải pháp hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN trong điều kiện mới
4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ pháp lý giữa nhà nước với DNNN, trong đó nhà nước với tư cách là nhà đầu tư Việc nghiên cứu các quan hệ pháp luật
cụ thể trong đời sống thực tiễn (trạng thái động) có tính chất minh chứng cho những nhận xét, đánh giá về QHPL giữa nhà nước và DNNN (trạng thái tĩnh)
QHPL giữa nhà nước và DNNN có phạm vi rộng lớn liên quan đến nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải xem xét nhiều góc độ của nhiều ngành khoa học pháp lý Vì vậy, luận văn không tập trung đi sâu vào quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của
DNNN mà tập trung nghiên cứu QHPL giữa nhà nước (nhà đầu tư) và DNNN (tổ chức kinh doanh) Tuy nhiên, do chức năng quản lý kinh tế và chức năng của nhà
đầu tư không phân biệt rạch ròi nên luận văn cũng đề cập đến một số nội dung của quản lý kinh tế liên quan đến quyền tự chủ kinh doanh của DNNN và quyền sở hữu của nhà nước trong quan hệ giữa nhà nước và DNNN
Về thời gian, luận văn chỉ nghiên cứu QHPL giữa Nhà nước ta và DNNN trong giai đoạn đổi mới từ 1986 cho đến nay Việc nghiên cứu trước đổi mới có tính cách rút ra tiền đề để đánh giá thực trạng QHPL này
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật: quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng ta về đổi mới kinh tế, hoàn thiện nhà nước, pháp luật trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân
Trang 13tích, tổng hợp, hệ thống, thống kê, so sánh, phương pháp lịch sử Dựa vào các phương pháp nghiên cứu nêu trên, học viên tiến hành phân tích các quy phạm pháp luật, thu nhập, xử lý số liệu, dữ liệu liên quan đến đề tài, bao gồm các nguồn tư liệu
lý luận về nhà nước, chức năng kinh tế của nhà nước, quan hệ giữa nhà nước với DNNN, quan điểm, lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn của các nhà khoa học trong và ngoài nước Qua đó, xây dựng và hoàn thiện các quan điểm khoa học về vấn đề hoàn thiện QHPL giữa nhà nước với DNNN
Luận văn sử dụng phương pháp xã hội học pháp luật và luật học so sánh thông qua việc sử dụng một số tư liệu và kết luận của một số cuộc phỏng vấn đưa tin và thăm dò xã hội học của một số tác giả, báo chí để xem xét đánh giá những biểu hiện trên thực tế của QHPL giữa Nhà nước và DNNN Phương pháp luật học so sánh được dùng để so sánh sự phát triển, sự tương đồng và khác nhau của một số quy định pháp luật điều chỉnh QHPL ở Việt Nam và ở một số nước khác qua các giai đoạn lịch sử
6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Làm sáng tỏ một cách có hệ thống cơ sở lý luận của việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước với DNNN
Đánh giá một cách khách quan, khoa học về thực trạng QHPL giữa Nhà nước và DNNN ở nước ta trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay
Đề xuất phương hướng và giải pháp về việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN Các phương hướng và giải pháp này sẽ là định hướng cho quá trình nghiên cứu tiếp theo của học viên, định hướng trong công tác hàng ngày của học viên và góp ý cho việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN, làm cho quan hệ ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao hơn nữa quyền tự chủ kinh doanh, hiệu lực quản lý và hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của nhà nước đối với DNNN
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA NHÀ NƯỚC
VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.5 KHÁI NIỆM QHPL GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ DNNN
Nghiên cứu quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN trước hết cần làm rõ quan niệm về DNNN, vì vậy trong phần này luận văn tập trung làm rõ nội hàm khái niệm DNNN
1.5.1 Khái niệm DNNN
DNNN được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau ở các nước do cách tiếp cận khác nhau về khoa học hoặc do để thực hiện các số liệu thống kê với mục đích khác nhau Một số tác giả cho rằng DNNN bao gồm cả những tổ chức nghiên cứu không hoạt động thương mại Trong lúc đó, có những quốc gia khi thống kê DNNN lại không đề cập đến những DNNN do chính quyền địa phương quản lý Tuy nhiên
đa số các nước đều có những điểm chung khi nói đến DNNN, đó là DN thuộc sở
hữu của nhà nước
Hiện nay, chưa có sự thống nhất giữa các quốc gia và các nhà nghiên cứu về khái niệm DNNN Các nước khác nhau có khái niệm về DNNN và giới hạn của DNNN là không giống nhau Tại nước Anh, khi thành lập uỷ ban đặc biệt về quốc
hữu hoá công nghiệp, đã quy định DNNN gồm 3 điều kiện: “(1) HĐQT DN do Chính phủ bổ nhiệm; (2) Uỷ ban quốc hữu hoá công nghiệp kiểm tra tài khoản kinh doanh của DN; (3) Thu nhập của DN phần lớn không dựa vào cung cấp của Quốc hội hoặc của các cơ quan tài chính nhà nước” Ở Pháp, DNNN được xác định là những DN thoả mãn những điều kiện: “Tính công hữu của quyền sở hữu tài sản, nhờ đó chính phủ xác lập được địa vị lãnh đạo đối với DN; có địa vị pháp nhân độc lập như những DN khác; thực hiện các hoạt động kinh doanh độc lập, là tổ chức
Trang 15kinh tế có hạch toán lỗ, lãi chứ không phải là đơn vị hành chính sự nghiệp Ở các nước Thụy Điển, Phần Lan, Braxin, Mêhicô nói chung đều cho rằng DN trong đó
nhà nước sở hữu trên 50% vốn là DNNN” [43, tr.63]
Định nghĩa DNNN được sử dụng khá phổ biến trong báo cáo của Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) Theo UNIDO, DNNN được định nghĩa là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước (SHNN) hoặc do nhà nước kiểm soát có thu nhập chủ yếu từ việc tiêu thụ hàng hoá và cung cấp dịch vụ Theo định
nghĩa này, DNNN bao gồm các DN hoàn toàn thuộc sự quản lý của các bộ, ngành, các DN mà Nhà nước giữ phần lớn cổ phần và cả những DN tuy Nhà nước không giữ phần lớn cổ phần song do sự phân tán của cổ đông mà Nhà nước nắm giữ quyền chi phối 33, tr 69 - 70
Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 của Việt Nam quy định
“Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”
Trên cơ sở tiếp thu định nghĩa về DNNN trên thế giới, học viên nhận thấy nên
định nghĩa DNNN như sau: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế có mục đích thương mại do nhà nước nắm quyền kiểm soát và chi phối
Theo khái niệm này, các đơn vị kinh tế có cơ cấu tổ chức nhất định hoạt động nhằm vào các giá trị lợi ích do nhà nước kiểm soát hoặc chi phối là DNNN Tuy
nhiên, khái niệm “mục đích thương mại”, “kiểm soát và chi phối” được hiểu ở mỗi
quốc gia một cách khác nhau Trong mỗi giai đoạn phát triển, khái niệm trên cũng
có sự thay đổi nhất định
1.5.2 Vị trí, vai trò của hệ thống DNNN trong nền kinh tế thị trường
Mặc dù DNNN trên thực tế tỏ ra kém hiệu quả kinh tế hơn các DN tư nhân; mặc dù DNNN thường trở thành gánh nặng cho ngân sách các quốc gia; mặc dù các chính phủ ngày càng bán hoặc CPH nhiều hơn các DNNN và giảm mạnh đầu tư vào khu vực này, nhưng các DNNN vẫn tiếp tục chiếm một phần quan trọng trong nền kinh tế 106, tr.54
Trang 16Ở nước ta, DNNN giữ vị trí gần như độc tôn trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp DNNN được coi là đơn vị kinh tế cơ sở, là tổ chức xã hội, là trường học chủ nghĩa cộng sản của giai cấp công nhân DNNN đã phát triển với quy mô và số lượng rất lớn và được xác định là lực lượng kinh tế chủ đạo, đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố nền tảng kinh tế – xã hội Vì vậy, QHPL giữa nhà nước và DNNN được xác lập chủ yếu nhằm thực thi chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước và đáp ứng phúc lợi xã hội
Từ khi đất nước thực hiện đường lối đổi mới, trong tư duy lý luận và thực tiễn lãnh đạo của Đảng, quan niệm về vị trí, vai trò của hệ thống DNNN đã có sự thay đổi, ngày càng phù hợp hơn với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng XHCN Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định vai trò chủ đạo của nền KTNN, mà trong đó DNNN có vị trí quan trọng Vai trò của DNNN bắt nguồn
từ mục tiêu xây dựng CNXH mà chúng ta đang phấn đấu thực hiện KTNN được xác định là thành phần chủ đạo của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Với
tư cách là bộ phận nòng cốt của thành phần KTNN, đồng thời phải thực hiện nhiệm
vụ dịch vụ công cộng, DNNN đương nhiên có vị trí trọng yếu của KTNN, vì thế chúng có ý nghĩa quan trọng trong vai trò chủ đạo của KTNN
Đó là những nguyên tắc căn bản nhất thể hiện tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong việc xác định vị trí, vai trò của các DNNN trong nền kinh tế Để các DNNN xác lập và hoạt động trong đời sống kinh tế hết sức năng động và đa dạng theo những nguyên tắc căn bản đó, thì điều có ý nghĩa quyết định phải xác định được cụ thể và chính xác về mặt pháp lý vị trí của chúng, những khả năng và giới hạn cũng như những bảo đảm về tổ chức và hoạt động của chúng trong nền kinh tế
(mối quan hệ giữa chúng với nhà nước) Điều này, tác động mạnh mẽ đến việc hoàn
thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN
1.5.3 Đặc điểm DNNN
DNNN là một trong những chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế
Về mặt pháp lý, DN là chủ thể chủ yếu tham gia các QHPL kinh doanh trên thương trường như mua bán hàng hóa, dịch vụ, giải quyết các tranh chấp, đăng ký
Trang 17hoạt động, giải thể, thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong kinh doanh DNNN là
DN, vì vậy nó có đầy đủ đặc điểm của DN và được nhìn nhận trên cả hai phương diện, đó là kinh tế và pháp lý
Thứ nhất, DNNN là một đơn vị kinh doanh có chức năng chính là sản xuất hàng hoá, dịch vụ Có thể khái quát về đặc điểm này qua sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Khái quát về doanh nghiệp
DN hoạt động kinh doanh là việc DN thực hiện một, một số, hay tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Hộ kinh doanh cá thể, hộ gia đình, tổ hợp tác, những chủ thể này cũng đều trực tiếp tham gia kinh doanh, nhưng pháp luật không thừa nhận là DN Những tổ chức xã hội mà chức năng hoạt động chính của nó không phải là kinh doanh ví dụ như các cơ quan nhà nước, đoàn thể quần chúng, các tôn giáo, các tổ chức từ thiện… cũng không thể coi là DN DNNN được quyền hoạt động kinh doanh trong một số ngành nghề liên quan đến an ninh quốc phòng
và ngành nghề đặc biệt mà DNNQD không được phép kinh doanh nhưng phải hoạt động theo pháp luật
Thứ hai, DNNN là những đơn vị kinh doanh bằng vốn và tài sản của mình
Nhà nước có thể xác định hoặc không xác định mức vốn pháp định dựa trên cơ sở tuỳ theo ngành nghề và loại hình DN
Phân chia thu nhập cho chủ sở hữu, người quản
lý DN và người lao động
Tổ chức và thực hiện các nghiệp vụ quản lý và kinh doanh
Trang 18Thứ ba, DNNN phải đăng ký kinh doanh để trở thành chủ thể kinh doanh
DNNN chỉ có quyền tiến hành kinh doanh sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh
Thứ tư, DNNN phải thực hiện chế độ hạch toán kế toán và thống kê Hạch
toán kế toán nhằm phản ánh trên các chứng từ, tài khoản và sổ kế toán mọi hoạt động kinh doanh, phục vụ cho yêu cầu quản lý, điều hành của chính DN cũng như yêu cầu kiểm soát của nhà nước
Đặc trưng của DNNN khác với DNNQD là sự hỗn hợp của tính kinh doanh và tính công cộng
Tính chất kinh doanh thể hiện ở mục đích hoạt động của DNNN Kết quả và năng lực hoạt động của chúng phụ thuộc vào năng lực thực hiện quyền tự chủ kinh doanh và khả năng tổ chức, quản lý kinh doanh Vì thế, lợi nhuận hay hiệu quả tài chính được pháp luật thừa nhận là một mục tiêu chủ yếu
Tính chất công cộng của DNNN được phản ánh không chỉ qua tính chất công hữu của tài sản, mà còn ở các mục đích sử dụng tài sản và kết quả hoạt động Bên cạnh mục đích kinh doanh, hoạt động của DNNN luôn hướng tới việc phục vụ lợi ích công cộng, xã hội, nhà nước, dịch vụ công ích… cho nên tổ chức và hoạt động của DNNN có những đặc thù khác so với DNNQD
Dựa trên hai tính chất này, chúng ta nhận ra được sự khác nhau giữa DNNN
và DNNQD, đồng thời thể hiện quan hệ hữu cơ giữa chức năng kinh doanh và chức năng công cộng của DNNN
Tính chất “kinh doanh” của DNNN:
Giống như các DNNQD, DNNN hoạt động trong môi trường kinh doanh chịu ảnh hưởng của các yếu tố và quy luật của thị trường Vì vậy, mục tiêu, quyền và nghĩa vụ pháp lý của DNNN cũng như DNNQD Tuy nhiên tính chất kinh doanh của DNNN vẫn có những đặc điểm riêng
Mục tiêu kinh doanh là yếu tố cơ bản đảm bảo sự tồn tại và phát triển của DNNN DNNN có nghĩa vụ phải tạo ra nguồn tài chính cần thiết để duy trì hoạt động của mình và tạo ra lợi nhuận từ chủ yếu kết quả kinh doanh Nhưng, tính chất
Trang 19kinh doanh này bị hạn chế nếu DNNN cung cấp hàng hoá và dịch vụ có tính chất công cộng và nguồn tài chính được bù đắp từ ngân sách nhà nước Vì vậy, đối tượng mục tiêu và phương thức kinh doanh có sự tham gia của nhiều yếu tố và chủ thể liên quan nên quyền tự chủ kinh doanh bị ảnh hưởng
Việc xác định và đánh giá kinh doanh luôn là một vấn đề phức tạp vì tính đa mục tiêu của DNNN Vì vậy, chính sách phân phối lợi nhuận được áp dụng khác với DNNQD Đối với DNNN, đối tượng được quan tâm đầu tiên thường là người lao động, sau đó đến nhà nước (chủ sở hữu quan trọng nhất đối với tài sản của DNNN)
Tính chất “công cộng” của DNNN:
Tính chất “công cộng” là đặc trưng của DNNN thể hiện qua mục đích hoạt động và phương thức kinh doanh của DNNN Lợi ích thu được từ các hoạt động không chỉ được sử dụng để phục vụ cho nhà đầu tư mà còn bị chi phối bởi lợi ích chung của cộng đồng Nhà nước phải đầu tư ở một số lĩnh vực để phục vụ nhu cầu của xã hội, hướng tới việc cải thiện phúc lợi xã hội, ổn định kinh tế – xã hội hơn là tối đa hoá lợi nhuận Có những lĩnh vực dịch vụ, hàng hoá mà nhà nước bắt buộc phải tham gia và giữ quyền chi phối, điều tiết để đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng cho xã hội một cách ổn định, đó là các lĩnh vực liên quan đến an sinh xã hội, hạ tầng cơ sở… hoặc lĩnh vực có yêu cầu vốn đầu tư lớn, lợi nhuận đem lại thấp nên rất ít nhà đầu tư quan tâm những vẫn phải có Đây chính là nhiệm vụ của nhà nước
Về nguyên tắc, lợi ích thu hay quyền sử dụng các lợi ích đó sẽ được phân phối cho chủ sở hữu theo tỷ lệ về sở hữu của họ đối với tài sản Tại DNNN, phần lớn vốn
và tài sản thuộc SHNN tạo ra lợi nhuận thuộc quyền quyết định của nhà nước nhưng nhà nước không trực tiếp nhận và thụ hưởng mà phân chia theo nhiều cách thức, mục đích khác nhau và cho nhiều đối tượng khác nhau Như vậy, điểm khác nhau quan trọng chính là chủ sở hữu tài sản và người hưởng thu lợi ích luôn luôn khác nhau, gây khó khăn cho việc nhà nước thực hiện quyền sở hữu và đánh giá kết quả hoạt động DNNN
1.5.4 Khái niệm quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN
Trang 20Sự tồn tại của DNNN là một tất yếu khách quan Từ đó, sự điều chỉnh của pháp luật đối với DNNN là một tất yếu khách quan bởi hai lý do sau:
Thứ nhất, phải xác lập cơ sở pháp lý cho việc nhà nước thực hiện chức năng quản lý và thực hiện quyền sở hữu
Trong cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, vai trò của pháp luật khá
mờ nhạt và trở nên thứ yếu trước sức mạnh của các mệnh lệnh hành chính Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với DNNN, các cơ quan quản lý nhà nước vẫn cần phải có cơ sở pháp lý để tiến hành hoạt động quản lý Trong nền kinh tế thị trường, pháp luật trở thành công cụ quyết định trong điều chỉnh các quan hệ xã hội căn bản Việc điều chỉnh của pháp luật đối với DNNN ngày càng trở nên là một nhu cầu không thể thiếu để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước thực hiện quyền
sở hữu tại DNNN, điều tiết và định hướng phát triển nền kinh tế
Thứ hai, sự điều chỉnh pháp luật đối với DNNN là cơ sở, là điều kiện cần thiết nhất, quan trọng nhất trong việc tạo “khung pháp lý” cho DNNN tổ chức và hoạt động Bởi lẽ, các chủ thể kinh doanh nói chung, trong đó có DNNN, muốn hoạt
động một cách có hiệu quả thì cần phải có một khung pháp lý đầy đủ và hợp lý Với tư cách là công cụ chủ yếu để nhà nước sử dụng quản lý xã hội, pháp luật xác định bản chất, nội dung, phương hướng, biện pháp thực hiện quan hệ giữa nhà nước và DNNN Vì được xác lập và đảm bảo thực hiện trên cơ sở pháp luật nên nội dung của QHPL giữa nhà nước và DNNN luôn luôn được thể hiện ở hệ thống quyền
và nghĩa vụ pháp lý của hai chủ thể là nhà nước và DNNN Trong đó, quyền pháp lý
là khả năng xử sự của chủ thể theo một cách thức nhất định được pháp luật cho phép Còn nghĩa vụ pháp lý của chủ thể là cách xử sự bắt buộc của chủ thể nhằm đáp ứng quyền và lợi ích của các chủ thể khác Quan hệ đó được pháp luật điều chỉnh sẽ xác lập quyền và nghĩa vụ của chủ thể về mặt lý thuyết Khi có sự kiện pháp lý xảy ra, các quyền và nghĩa vụ đó sẽ được hiện thực hoá Theo GS, TS Đào
Trí Úc, quan hệ pháp lý có thể được xem xét ở phương diện lý thuyết (trạng thái tĩnh) và phương diện thực tiễn (trạng thái động)
Trang 21Quan hệ pháp luật thể hiện trong quy phạm pháp luật, nếu không được áp dụng trong thực tế, thì không bao giờ đạt được mục đích của nó Như vậy, sự liên
hệ giữa quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật là sự liên hệ giữa “cái cần” (cái có thể, cái khả năng) với cái có thực, cái hiện thực Hay nói cách khác: quan hệ pháp luật có thể là quan hệ lý thuyết (tồn tại trong quy phạm) và có thể là quan hệ thực tiễn (cái được thực hiện) Nhưng việc không thực hiện quan hệ pháp luật tất nhiên là không làm mất đi sự tồn tại pháp lý của nó, không có nghĩa là tiêu huỷ quan hệ đó
vì những quyền và nghĩa vụ của chủ thể vẫn nguyên vẹn 72, tr.90 - 91
QHPL giữa nhà nước và DNNN là cơ sở của sự hình thành quan hệ pháp luật
cụ thể giữa nhà nước và DNNN Hay nói cách khác, QHPL giữa nhà nước và DNNN là quan hệ tồn tại trên phương diện lý thuyết còn quan hệ pháp luật giữa nhà
nước và DNNN tồn tại trên phương diện thực tiễn thực hiện pháp luật (phát sinh, thay đổi, chấm dứt khi có sự kiện pháp lý xảy ra)
Như vậy, quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN là mối liên hệ về mặt pháp lý giữa nhà nước và DNNN được xác lập trên cơ sở pháp luật Quan hệ này
được biểu hiện trên thực tiễn là các quan hệ pháp luật cụ thể giữa các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước và DNNN
QHPL giữa nhà nước và DNNN thể hiện sự tác động tương hỗ giữa hai yếu tố
cơ bản là quan hệ xã hội giữa nhà nước, DNNN và pháp luật Sự tồn tại của quan hệ pháp lý này là do nhu cầu cần phải điều chỉnh bằng pháp luật chứ không phải là ý chí độc đoán của nhà nước Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật là yêu cầu khách quan nhưng sự điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ này buộc các chủ thể nhà nước và DNNN trong những hoàn cảnh nhất định phải xử sự theo những cách thức nhất định phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển của xã hội Theo GS,
TS Đào Trí Úc, “Tiền đề của việc hoàn thiện quan hệ pháp luật là việc không ngừng hoàn thiện các quy định pháp luật… và để các quan hệ pháp luật có thể được thực hiện cần đến những điều kiện thực hiện quan hệ pháp luật” 72, tr.80,
81
Trang 22Việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN là một quá trình chứa đựng
cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Dưới góc độ chủ quan, QHPL là một dạng quan hệ xã hội Những quan hệ giữa nhà nước và DNNN có tính điển hình phổ biến được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật sẽ trở thành quan hệ pháp lý QHPL biểu hiện thành quan hệ pháp luật trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể làm nảy sinh quyền và nghĩa vụ chủ thể, từ đó chủ thể pháp luật thể hiện ý chí của mình thông qua hành vi và xử sự của họ Vì vậy, chủ trương, định hướng phát triển kinh
tế, hoàn thiện bộ máy nhà nước, hoàn thiện pháp luật và môi trường kinh doanh đòi hỏi và quyết định việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN
Hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN phải tạo ra cơ chế để nhà nước phát hiện nhanh chóng, xử lý nghiêm minh, triệt để đối với chủ thể có hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ pháp lý trên thực tế Nhà nước cần bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch trong việc quy định về trình tự, thủ tục, xác lập quyền và nghĩa vụ pháp
lý để chúng trở thành hiện thực trên thực tế và mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể cụ thể phải đảm bảo tính kịp thời, nghiêm minh, công bằng, không phân biệt loại hình DN, không phân biệt nhà nước, cá nhân, hay
DN Hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn bản chất quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể kiên quyết xử lý hành vi vi phạm pháp luật để quan hệ pháp luật giữa nhà nước và DNNN phát sinh, thay đổi, chấm dứt từ những sự kiện hợp pháp, tích cực được nhà nước và xã hội không ngừng tạo điều kiện, khuyến khích phát triển
1.6 CẤU TRÚC CỦA QHPL GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ DNNN
Xem xét cấu trúc một loại quan hệ pháp lý là xem xét các bộ phận hợp thành của nó Để phân tích một cách chính xác nhất cấu trúc của quan hệ pháp lý cần xác định khái niệm cấu trúc như là phương thức liên hệ của các yếu tố mang tính hệ thống trong phạm vi của cái toàn bộ
Trong khoa học pháp lý nước ta, quan điểm được thừa nhận và sử dụng rộng rãi là quan hệ pháp lý gồm ba yếu tố hợp thành: chủ thể, khách thể và nội dung
(quyền, nghĩa vụ pháp lý) Quy chế pháp lý và quyền, nghĩa vụ trong quan hệ pháp
Trang 23lý có mối tương quan chặt chẽ Để nghiên cứu cấu thành của quan hệ pháp lý với tính cách là sự thống nhất giữa hình thức pháp lý và nội dung vật chất, cần xem xét hai vấn đề cơ bản: Địa vị pháp lý của chủ thể và khách thể của quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN
1.6.1 Địa vị pháp lý của DNNN
Trong QHPL giữa nhà nước và DNNN, địa vị pháp lý của DNNN có ý nghĩa quan trọng đối với chủ thể pháp lý DNNN Địa vị pháp lý của DNNN quyết định mức tự chủ và tự do kinh doanh trong hoạt động kinh doanh, bao gồm các quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh khi DNNN tham gia vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động
Địa vị pháp lý của DNNN được xem xét từ vị trí, vai trò đến những chức năng của nhà nước đã xác định cho nó Địa vị pháp lý của DNNN được xác định trong các văn bản pháp lý có liên quan đến tổ chức, hoạt động và quản lý hoạt động DNNN, bao gồm hai bộ phận lớn là quyền và nghĩa vụ trong tổ chức quản lý DN và quyết định về tài sản
Quyền và nghĩa vụ trong tổ chức quản lý DNNN được xác định bởi các quy định về: Vị trí, nguyên tắc hoạt động, nhiệm vụ của DNNN; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của DNNN đối với tài sản; tổ chức kinh doanh và tổ chức quản lý DNNN, trong đó có quy định về vị trí của DNNN trong quan hệ đối với cơ quan quản lý cấp trên, với chính quyền địa phương và với các cơ quan quản lý khác
Quyền và nghĩa vụ về tài sản được xác định bởi các quy định liên quan đến việc quản lý hoạt động kinh doanh của DN trên thị trường như: chiến lược kinh doanh, khoa học kỹ thuật, vật tư, tiền lương, tài chính, tín dụng, giá cả, liên doanh, liên kết; xuất nhập khẩu, hợp đồng
Mặt khác, pháp luật luôn thừa nhận sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa DNNN
và DNNQD Vai trò và vị trí của DN trong nền kinh tế thể hiện yêu cầu khách quan của nền kinh tế, là cơ sở để nhà nước xây dựng hệ thống quyền và nghĩa vụ của DN
Ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, mỗi DNNN, tuỳ thuộc vào vị trí, vai trò, nhiệm vụ riêng của mình được nhà nước quy định có quyền và nghĩa vụ đặc thù phù
Trang 24hợp với vị trí và chức năng của nó và quan hệ tổ chức của nó với nhà nước Do đó, khái niệm địa vị pháp lý của DNNN bao gồm vị trí, vai trò, nhiệm vụ của DN trong
xã hội, trong nền kinh tế và hệ thống quyền, nghĩa vụ pháp lý của DNNN
Vì vậy, địa vị pháp lý của DNNN là tổng hợp những quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm được pháp luật quy định, thể hiện vị trí, vai trò và chức năng của nó trong quá trình kinh doanh Đây là cơ sở pháp lý của những quyền hạn, nghĩa vụ
của DNNN khi tham gia vào các QHPL được hình thành trong quá trình kinh doanh Địa vị pháp lý của DNNN bao gồm hai bộ phận
Bộ phận thứ nhất bao gồm những quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm được pháp
luật xác định cho DNNN Bộ phận này thể hiện rõ nhất sự khác nhau trong đặc điểm pháp lý của DNNN với DNNQD DNNN là mô hình tổ chức kinh doanh thuộc SHNN và chịu sự quản lý của nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền Do đó cần có sự phân biệt rõ ràng tư cách của nhà nước trong quan hệ với DNNN với tư cách chủ sở hữu hay thực hiện quyền lực công cộng
Bộ phận thứ hai trong địa vị pháp lý của DNNN là những quyền hạn, nghĩa vụ
của một DN độc lập với chức năng kinh doanh Ở đây, pháp luật phải quy định phù hợp với nguyên tắc thị trường, đảm bảo quyền tự do kinh doanh và sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các loại hình DN không phân biệt quy mô ngành nghề,
sở hữu Nội dung và phạm vi quyền và nghĩa vụ của DNNN phải được quy định phù hợp với những đòi hỏi khách quan do vị trí độc lập của DNNN với tư cách là người cung cấp hàng hoá dịch vụ trong cơ chế thị trường
Về hình thức pháp lý, hai bộ phận này trong địa vị pháp lý của DNNN được thể hiện ở hai hình thức khác nhau Bộ phận thứ nhất được thể hiện trong pháp luật
về DNNN Bộ phận thứ hai thể hiện trong các qui định pháp luật điều chỉnh những quan hệ về DN và kinh doanh
1.6.2 Địa vị pháp lý của nhà nước
Trong QHPL giữa nhà nước và DNNN, nhà nước là chủ thể của quyền lực chính trị, thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt, có chủ quyền quốc gia và đặc biệt
Trang 25có quyền ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật Bằng quyền ban hành pháp luật, nhà nước có quyền quy định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho DNNN, yêu cầu các DNNN sử dụng đúng đắn các quyền và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý, giám sát và xử lý DNNN vi phạm pháp luật Ngược lại, nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện về mọi mặt để các DNNN thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của DNNN Địa vị pháp lý của nhà nước trước hết thể hiện qua hệ thống quyền và nghĩa vụ của nhà nước
Bên cạnh đó, nhà nước còn có nhiệm vụ tạo điều kiện cho các DN, mà nòng cốt là DNNN tham gia vào các thị trường trong và ngoài nước, thông qua đặc quyền
về ngoại giao và chính trị của mình Nhà nước phải cố gắng hợp tác với các quốc gia khác, từ đó tạo cửa mở cho DN tham gia cung cấp dịch vụ và hàng hoá của mình cho các thị trường mới, đồng thời tạo được lĩnh vực kinh doanh mới có tiềm năng cho DN phát triển Nhiệm vụ này được thực hiện thông qua việc pháp luật nội địa hoá các điều ước, cam kết quốc tế
Quyền và nghĩa vụ của nhà nước với DNNN thể hiện qua những quy định về:
Quản lý nhà nước đối với DNNN (tổ chức thực hiện pháp luật, thanh tra, kiểm tra,
xử lý vi phạm) và Trách nhiệm pháp lý của nhà nước đối với DNNN nhằm đảm bảo
các điều kiện thuận lợi cho DNNN thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như bảo vệ các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của DNNN Bởi lẽ, nhà nước và DNNN cũng chỉ được làm những gì trong khuôn khổ pháp luật, vượt ra khỏi khuôn khổ đó là vi phạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm pháp lý
Địa vị pháp lý của nhà nước thể hiện qua hai tư cách chủ thể:
Thứ nhất, nhà nước là chủ thể quản lý nhà nước về mặt kinh tế, có quyền thực
hiện chức năng kinh tế thông qua hai quyền cơ bản là:
a Định hướng phát triển kinh tế, thiết lập trật tự trong quản lý kinh tế, tạo điều
kiện, môi trường và hỗ trợ cho DN hoạt động lành mạnh, có hiệu quả và an toàn Tổ chức các đơn vị kinh tế và hệ thống quản lý nhà nước về kinh tế Nội dung quyền này được thể hiện như sau:
Trang 26 Nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật, xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế theo ngành và các vùng lãnh thổ xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
Xây dựng và ban hành pháp luật, chính sách, chế độ quản lý nhằm cụ thể hoá và thực hiện Hiến pháp, Luật; cung cấp các thông tin cho hoạt động kinh doanh, đầu
tư
Tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bao gồm môi trường kinh tế, pháp lý, chính trị trong và ngoài nước; cải thiện các quan hệ quốc tế về kinh tế, pháp lý, chính trị, ngoại giao tạo cơ hội thuận lợi cho các DN hoạt động, điều tiết và phối hợp hoạt động kinh doanh Thường xuyên tiến hành việc kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh tế và giải quyết, xử lý tranh chấp, khiếu nại
Thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế và kinh doanh, ban hành các tiêu chuẩn và chức danh cán bộ quản lý
b Điều tiết nền kinh tế thông qua thị trường, tác động trực tiếp đối với DNNN như sau:
Trực tiếp điều tiết giá cả của các mặt hàng thiết yếu không thể thay thế trong một
số trường hợp đặc biệt
Điều tiết thị trường bằng cách sử dụng các công cụ điều tiết kinh tế bằng cách quy định các điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục gia nhập thị trường và hoạt động trên thị trường; tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, hạn chế độc quyền của DN và hạn chế tiêu cực của độc quyền nhà nước; điều tiết thu nhập của các chủ thể tham gia thị trường thông qua chính sách thuế
Nhà nước sử dụng pháp luật, kế hoạch, đưa ra các mục tiêu vĩ mô, xác định tốc
độ phát triển, cơ cấu và cân đối lớn; đưa ra các chính sách, giải pháp để dẫn dắt nền kinh tế theo định hướng kế hoạch Kế hoạch kinh tế vĩ mô của nhà nước hướng dẫn hành vi của các chủ thể kinh tế, tác động đến các quyết định cụ thể trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể nhằm phối hợp các hành vi của các chủ thể kinh tế thành sức mạnh chung của toàn bộ nền kinh tế
Trang 27 Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật là việc nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện để pháp luật đi vào cuộc sống, thể hiện ở ba mặt cơ bản là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm pháp luật
Thứ hai, nhà nước là chủ sở hữu đối với DNNN Với tư cách này, nhà nước là
chủ thể có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với DNNN và gián tiếp đối với
tài sản và vốn của nhà nước tại DNNN “Nhà nước là chủ sở hữu DNNN, còn DNNN là chủ sở hữu tài sản trong DN” 18, tr.98 Vị trí pháp lý của nhà nước (chủ thể giao vốn) khi DNNN được thành lập, sắp xếp và việc thực hiện quyền sở hữu
của nhà nước khi DNNN đi vào hoạt động là vấn đề có ý nghĩa lớn trong việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN
DNNN thuộc sở hữu toàn dân nên nhân dân là chủ sở hữu DNNN Nhưng nhân dân không thể trực tiếp thực hiện quyền sở hữu của mình thông qua hoạt động kinh doanh mà phải có tổ chức đại diện, đó là nhà nước Đến lượt mình nhà nước lại
có sự phân công, phân cấp, uỷ quyền cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhất định
Như vậy, có sự “phân cấp, phân quyền” trong cơ chế thực hiện quyền sở hữu đối
với các DNNN
Các học giả nước ngoài thường gọi nhà nước với tư cách nhà đầu tư “Cổ đông
nhà nước” “Nhà nước không chỉ đơn thuần là một người trọng tài, chỉ lập ra và cưỡng chế thực hiện những quy tắc, nhà nước còn là một đấu thủ, thực sự là một đấu thủ quan trọng nhất, trong trò chơi kinh tế” 107, tr.46 Nhà nước với tư cách
là nhà đầu tư phải đối mặt với hai trở ngại: Thứ nhất, nhà nước can thiệp trực tiếp
quá sâu vào hoạt động kinh doanh của DN, hạn chế tính năng động và sự tự chủ của
DNNN; Thứ hai, không thể xác định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm quản lý tài
sản, vốn tại DNNN Yêu cầu đặt ra là phải xác định rõ ràng mối quan hệ giữa chủ SHNN với tổ chức, cá nhân đại diện cũng như mối quan hệ giữa đại diện chủ SHNN với người quản lý DN Chỉ khi giải quyết được các quan hệ phức tạp nêu trên, nhà nước mới có thể thực hiện tốt được vai trò là chủ sở hữu DNNN
Để vừa thực hiện quyền chủ thể với tư cách là chủ sở hữu đối với DNNN, vừa đảm bảo DNNN hoạt động độc lập, có hiệu quả, nhà nước phải xác lập cơ chế trao
Trang 28quyền thích hợp nhằm xác định rõ người (cơ quan) đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại
DN Mục đích góp vốn (giao vốn) để thành lập DNNN là chuyển giao quyền sở hữu
vốn và tài sản cho DNNN với mong muốn khai thác lợi ích từ vốn và tài sản đó
thông qua hoạt động kinh doanh của DNNN (lợi ích này có thể là lợi nhuận hay công cộng) Khi DNNN được thành lập và trở thành chủ thể pháp lý độc lập thì
quan hệ pháp lý giữa DNNN và nhà nước được thể hiện trên thực tế
Sau khi nhà nước thực hiện xong nghĩa vụ góp vốn, thì đồng nghĩa với việc nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu và trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ sang DNNN Hành vi góp vốn của nhà nước thể hiện việc tách một bộ phận vốn và tài sản thuộc sở hữu của nhà nước chuyển thành tài sản độc lập chuyển giao cho
DNNN (một pháp nhân kinh tế) Nếu nhà nước là người góp vốn duy nhất thì nhà
nước sẽ là chủ sở hữu duy nhất DNNN
Với tính chất là một DN, quyền lực chi phối, kiểm soát điều hành DNNN được phân chia theo tỷ lệ vốn góp; Trường hợp đặc biệt, dù nhà nước không chiếm đa số
vốn vào DNNN (cổ đông thiểu số) nhưng theo điều lệ, nhà nước vẫn nắm giữ quyền
lực chi phối, kiểm soát, điều hành DNNN thì họ được coi là chủ sở hữu DNNN tại thời điểm đó, tuy nhiên lúc này DNNN không còn là DN theo đúng nghĩa của nó DNNN là một pháp nhân có tài sản độc lập tách bạch với tài sản của nhà nước mặc dù quyền sở hữu tài sản của DNNN được xác lập từ quyền sở hữu tài sản của nhà nước Vì vậy, DNNN là chủ thể của quyền sở hữu tài sản và có các quyền: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt giống như các chủ sở hữu khác Quyền sở hữu tài sản độc lập là cơ sở pháp lý để DNNN tự chủ hoạt động kinh doanh và thực hiện chế độ trách nhiệm hữu hạn Trên cơ sở này, giữa DNNN và nhà nước có quan hệ mật thiết với nhau nhưng là hai chủ thể pháp lý độc lập được điều chỉnh bằng pháp luật về giao vốn và quản lý vốn đầu tư tại DN, điều lệ và pháp luật điều chỉnh việc thành lập và hoạt động DNNN
Trong nhiều trường hợp, QHPL giữa nhà nước và DNNN trên thực tế đã thể
hiện pháp luật đã không tôn trọng “nguyên lý” của quyền sở hữu Nhà nước không dùng khái niệm “góp vốn” mà dùng khái niệm “giao vốn” Thủ tục, điều kiện giao
Trang 29vốn chẳng khác gì thủ tục hành chính và nội dung của giao vốn chẳng qua chỉ là giao quyền sử dụng vốn Lúc này, DNNN không có quyền sở hữu tài sản tại DN nên không có tư cách pháp nhân đầy đủ và không có quyền tự chủ kinh doanh Vì vậy, việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN phải được xem xét trên cơ sở nhận thức đúng đắn đặc điểm của việc thực hiện quyền sở hữu DNNN
Với tư cách là nhà đầu tư, chủ thể nhà nước chỉ có địa vị pháp lý bình đẳng như các nhà đầu tư khác trong nền kinh tế Quyền, lợi ích và trách nhiệm của chủ SHNN đối với các DNNN tương tự như quyền của chủ tư bản đầu tư trong các công
ty Các quyền này bao gồm các quyền về: định đoạt DN (thành lập, sáp nhập, chia tách, chuyển đổi sở hữu, giải thể DN); quyết định các mục tiêu, phương hướng hoạt
động, mô hình tổ chức, bổ nhiệm người quản lý trong DN; quyết định một số chỉ tiêu cơ bản về hoạt động của DN, trong đó có chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn làm căn cứ để đánh giá chất lượng điều hành, quản lý DN; quy định nguyên tắc phân phối lợi nhuận sau thuế; quyết định tài trợ có liên quan tới kinh phí của chủ đầu tư như đầu tư ban đầu; phê duyệt vay nợ hoặc đầu tư lớn, tăng hoặc giảm vốn điều lệ của DN; giám sát giá cả nếu DN là độc quyền hoặc trợ cấp, bù giá khi cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ theo giá quy định để thực hiện các chính sách xã hội; kiểm tra; giám sát thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ được giao; chịu TNHH trong phạm vi vốn đã đầu tư vào DN; thụ hưởng kết quả kinh doanh của DN
Đồng thời, chủ SHNN cũng phải có các nghĩa vụ sau đối với DNNN: đầu tư
đủ vốn điều lệ cho DN; tuân theo điều lệ DN; chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn điều lệ của DN; tuân theo các quy định của pháp luật về hợp đồng trong việc mua, bán, vay, cho vay, thuê và cho thuê giữ DN và chủ sở hữu; bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm của DN; thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Đặc biệt chủ sở hữu nhà nước còn phải mở ra thêm các thị trường mới, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của DNNN nói riêng và DN nói chung
1.6.3 Khách thể của quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN
Trang 30Khách thể quan hệ pháp lý là “các hành vi của chủ thể”; “là tất cả những gì
mà quan hệ đó tác động”; “là lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thoả mãn những nhu cầu, đòi hỏi của chủ thể”; “là những giá trị vật chất, tinh thần và giá trị xã hội khác mà chủ thể mong muốn đạt được nhằm thoả mãn các lợi ích, nhu cầu của chủ thể” 41, tr.88, 89, 90 Cụ thể như sau:
Khách thể là yếu tố chỉ được hình thành từ thời điểm quan hệ pháp lý được thiết lập bởi sự điều chỉnh của pháp luật Nhu cầu của chủ thể có thể đặt ra hợp pháp hoặc không hợp pháp nhưng khách thể luôn luôn là yếu tố tích cực, chính đáng Điều này đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa các chủ thể về một lợi ích chung
QHPL giữa nhà nước và DNNN biểu hiện trên thực tế rất đa dạng, do đó đòi hỏi phải xem xét kỹ đặc điểm, tính chất của mỗi loại quan hệ, đồng thời vận dụng quan niệm chung về khách thể để xác định khách thể cho từng quan hệ pháp luật cụ thể Trên thực tế, có quan hệ pháp luật phát sinh do chủ thể thực hiện quyền, nghĩa
vụ pháp lý mang tính tự giác, tích cực Nhưng cũng có trường hợp quan hệ pháp luật phát sinh do có vi phạm pháp luật
Như vậy, khách thể quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN là những lợi ích vật chất và các giá trị kinh tế xã hội khác mà các chủ thể hướng tới Việc đạt
tới những lợi ích này nhằm thoả mãn nhu cầu và thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật cụ thể
Với định nghĩa này, khách thể của QHPL giữa nhà nước và DNNN bao gồm: Hiệu quả đầu tư của nhà nước là lợi nhuận, các nguồn thu ngân sách để tích luỹ
Trang 31quốc gia và các giá trị kinh tế xã hội như: xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, bảo đảm hàng hoá, dịch vụ phục vụ an ninh, quốc phòng và hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, nhạy cảm (độc hại, cháy nổ, viễn thông…); bình ổn thị trường, điều tiết nền kinh tế; giải quyết lao động, việc làm; ổn định xã hội; xoá đói giảm nghèo; củng cố độc lập và chủ quyền quốc gia… Đa số các quốc gia cố gắng phân định lợi ích của QHPL này trong trường hợp hướng tới mục đích kinh doanh lợi nhuận và mục đích công cộng
1.7 ĐẶC ĐIỂM CỦA QHPL GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ DNNN
1.7.1 QHPL giữa nhà nước và DNNN có những đặc điểm chung của QHPL
QHPL giữa nhà nước và DNNN là quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi pháp luật DNNN là một chủ thể pháp luật không thể thiếu của nhà nước, đặc biệt là
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Vì vậy, việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với tổ chức và hoạt động của DNNN, điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước và DNNN nhằm xác định tư cách chủ thể độc lập và ranh giới rạch ròi giữa nhà nước
và DNNN là đặc điểm quan hệ này
Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh QHPL giữa nhà nước và DNNN tạo thành một chỉnh thể thống nhất và cùng tác động đến quan hệ này Tuy nhiên mỗi loại văn bản tác động đến quan hệ giữa nhà nước và DNNN dưới một góc độ, một phương diện khác nhau Về chức năng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đó có thể chia thành bốn bộ phận có quan hệ chặt chẽ với nhau, điều chỉnh QHPL giữa nhà nước và DNNN ở những góc độ khác nhau:
Pháp luật về tạo lập, chuyển đổi, chấm dứt và đảm bảo cho chủ thể nhà nước và DNNN về tư cách pháp lý độc lập, về mô hình pháp lý phù hợp và linh hoạt để tồn tại, hoạt động trên thực tế
Pháp luật về thực hiện quyền sở hữu nhà nước khi nhà nước đầu tư, kinh doanh thông qua DNNN
Pháp luật quy định về cách thức xử sự, quyền và nghĩa vụ cụ thể của DNNN khi tham gia vào các quan hệ thị trường với tư cách là một chủ thể kinh doanh và nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế Bộ phận pháp
Trang 32luật trên quy định về những quyền và nghĩa vụ cụ thể trong từng lĩnh vực kinh doanh
Pháp luật về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, phá sản DNNN
Hai bộ phận pháp luật đầu điều chỉnh trực tiếp QHPL giữa nhà nước và DNNN với tư cách nhà nước là nhà đầu tư Nó quy định trực tiếp về quyền và nghĩa
vụ của nhà nước và DNNN trong lĩnh vực sở hữu, quyền tự chủ kinh doanh của DNNN… Hai bộ pháp luật còn lại trực tiếp điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước và DNNN với tư cách nhà nước là tổ chức quyền lực công cộng, quản lý DNNN như một chủ thể kinh doanh bình đẳng trên thị trường Quan hệ giữa hai chủ thể này chặt chẽ với nhau không thể tách rời và thậm chí hoà nhập và không còn ranh giới pháp lý vì là DNNN là “con đẻ” phụ thuộc hoàn toàn vào nhà nước
QHPL giữa nhà nước và DNNN là quan hệ thống nhất về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể Quan hệ giữa nhà nước đối với DNNN là quan hệ giữa
một bên là nhà nước, tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị và một bên là tổ chức kinh tế của nhà nước Trong quan hệ này, nhà nước có hai vị thế, vừa là tổ chức quyền lực chính trị của toàn thể nhân dân, đại diện cho toàn xã hội quản lý DNNN bằng pháp luật, vừa là công cụ bảo đảm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của DNNN Nhà nước ban hành pháp luật nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho quan hệ giữa nhà nước và DNNN phát triển theo ý chí của mình, hướng tới việc phát triển kinh tế, phát huy mọi nguồn lực trong xã hội Nhà nước có quyền đặt ra các quyền
và nghĩa vụ pháp lý cho DNNN còn DNNN là bên phải thực hiện những quyền và nghĩa vụ này nhưng ngược lại, nhà nước phải đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các DNNN được thực hiện trên thực tế và bảo vệ chúng
DNNN cũng có hai vị thế, vừa có quyền đối với nhà nước, vừa là đối tượng tác động của quyền lực nhà nước Ở vị thế thứ nhất, DNNN có quyền yêu cầu nhà nước có nghĩa vụ phải đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của DN, không được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của DN Ở vị thế thứ hai, DNNN phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật và các nghĩa vụ vủa DNNN
Trang 33Về tổng quát, phạm vi hoạt động của nhà nước phải bao trùm phạm vi hoạt động về DNNN và hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế QHPL giữa nhà nước
và DNNN xét ở góc độ chung cũng phải có tính toàn diện, là QHPL đặc biệt trong đời sống kinh tế và cần được xác lập trên quan điểm không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động thực hiện quyền tự chủ kinh doanh của DN
Với tư cách là nhà đầu tư, nhà nước phải tách bạch quyền lực nhà nước ra khỏi
tư cách chủ thể, bình đẳng với DNNN phù hợp với bản chất của quan hệ kinh tế, dân sự giữa hai chủ thể độc lập, một bên là nhà nước với tư cách là chủ sở hữu tài sản đầu tư vào DN, còn bên kia là chủ thể kinh doanh được nhà nước đầu tư vốn và
có quan hệ bình đẳng
1.7.2 QHPL giữa nhà nước và DNNN thể hiện sự tương tác của quyền sở hữu
doanh nghiệp và sở hữu vốn và tài sản trong doanh nghiệp
Xét về tính chất sở hữu, DNNN có thể là sở hữu toàn dân hoặc sở hữu chung của các thành viên góp vốn Do vậy, phần quyền và nghĩa vụ, hưởng lãi và cùng chịu lỗ của thành viên góp vốn vào DNNN tương ứng với phần vốn họ góp vào DNNN và họ chỉ chịu TNHH về các khoản nợ của DNNN trong phạm vi phần vốn góp đó
Quyết định giao vốn hoặc góp vốn của nhà nước là sự kiện pháp lý quan trọng nhất để nhà nước trở thành chủ sở hữu DNNN QHPL giữa nhà nước với DNNN xuất hiện trên thực tế khi có quyết định giao vốn hoặc góp vốn Với tư cách là chủ thể pháp lý độc lập, DNNN thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình một cách độc lập QHPL về quyền và nghĩa vụ giữa nhà nước và DNNN được điều chỉnh bởi quan hệ pháp luật về thực hiện quyền sở hữu tài sản tại DNNN, điều lệ DNNN
Nhà nước đầu tư vào DNNN có nhiều mục đích khác nhau là kinh doanh hay công cộng hoặc cả hai mục đích trên, vì vậy cần nắm giữ quyền chi phối DNNN Điều này khác với nhà đầu tư tư nhân với mục đích chủ yếu là lợi nhuận nhiều hơn
là mục đích tham gia hoạt động, quản lý DN Đối với nhà nước, quyền chi phối là
Trang 34mục tiêu song hành với mục tiêu lợi nhuận Nhà nước không còn quyền chi phối,
DN không còn là DNNN
Thực thi quyền chủ sở hữu DNNN để bảo tồn và phát triển vốn nhà nước nhưng DNNN vẫn phát huy được quyền tự chủ kinh doanh là một vấn đề quan trọng đối với nhà nước trong QHPL với DNNN Đa dạng hoá sở hữu trong DNNN sẽ làm tăng số lượng thành viên và quy mô của DNNN làm cho chúng có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và tính xã hội hoá, khắc phục tình trạng “vô chủ” của tài sản trong DNNN
1.7.3 QHPL giữa nhà nước và DNNN thể hiện nội dung pháp lý và kinh tế của
quyền sở hữu nhà nước
Quan hệ sở hữu xét về mặt pháp lý trước hết phải là tập hợp các quyền về tài
sản do luật định bao gồm ba quyền cơ bản: chiếm hữu (quản lý), sử dụng và định
đoạt Quyền sở hữu chính là các quan hệ sở hữu được hiểu dưới góc độ pháp lý và được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Sở hữu trên thực tế phải được cụ thể hoá thành quyền sở hữu Chính vì sở hữu bao gồm các quyền sở hữu vừa gắn kết với nhau, vừa có thể độc lập nhau nên xuất hiện vấn đề sở hữu thực tế và sở hữu danh nghĩa Nếu chủ SHNN có đầy đủ các quyền sở hữu thì đương nhiên nhà nước có quyền sở hữu thực tế Nhà nước chỉ có quyền sở hữu danh nghĩa là trường hợp nhà nước chỉ
có một số quyền, trong khi chủ thể khác nắm giữ các quyền còn lại, trong đó có quyền sử dụng, khai thác lợi ích từ quyền sở hữu; chủ thể này được gọi là chủ thể được uỷ quyền quản lý
Quyền chiếm hữu (quản lý) là một thuật ngữ hẹp hơn dùng để chỉ hành vi của
chủ thể chiếm giữ đối tượng nào đó thuộc quyền sở hữu của mình Nhóm quyền này bao gồm những quyền gắn với việc sử dụng, khai thác đối tượng sở hữu Nhà nước
có thể trao cho các chủ thể khác một hay một số quyền thuộc nhóm này thông qua các khế ước như cho mượn, cho thuê, uỷ quyền
Nhà nước – chủ sở hữu có quyền sử dụng và định đoạt thu nhập hoặc lợi ích khác do tài sản tạo ra Đây chính là quyền quan trọng của chủ sở hữu, là quyền được
sử dụng toàn bộ lợi nhuận kinh doanh, thu thuế của đối tượng sở hữu phục vụ cho
Trang 35các mục đích của chủ sở hữu, gắn liền với trách nhiệm về tài chính của chủ sở hữu đối với những khoản lỗ phát sinh
Quyền chuyển nhượng là quyền định đoạt của chủ sở hữu cho phép nhà nước
có thể tặng, cho, bán đối tượng sở hữu Quyền này rõ ràng không thể phân chia nhưng có thể uỷ quyền thực hiện Quyền này rất hạn chế, nhất là đối với tài sản có giá trị lớn hoặc đặc biệt và có sự khác biệt khi áp dụng đối với các nhóm đối tượng
sở hữu khác nhau Sự khác biệt này thường được pháp luật quy định rất chặt chẽ
Về mặt pháp lý, sở hữu là quan hệ giữa các chủ thể đối với tài sản, SHNN xác định quyền của nhà nước đối với tài sản Nó xác định rõ tư cách của nhà nước đối với tài sản trong quan hệ tài sản thuộc quyền chi phối của ai Quyền sở hữu có giá trị khẳng định quyền tuyệt đối của nhà nước với tài sản trong quan hệ với chủ thể khác
Về nội dung kinh tế, sở hữu có nội hàm liên quan đến việc sử dụng và hưởng lợi từ tài sản của nhà nước, được xác định thông qua lợi ích kinh tế mà việc sử dụng quyền đó mang lại cho nhà nước Sở hữu về kinh tế được định nghĩa thông qua toàn
bộ các quan hệ kinh tế được thực hiện trong quá trình sử dụng tài sản để đạt lợi ích mong muốn Nội dung pháp lý và nội dung kinh tế của sở hữu có sự khác biệt nhất định Nội dung pháp lý khẳng định tư cách của nhà nước trong quan hệ đối với tài
sản (trạng thái “tĩnh”), nội dung kinh tế khẳng định năng lực sử dụng và chiếm hữu lợi ích thu được từ việc sở hữu (trạng thái “động”)
Mặt khác, giữa hai nội dung này lại có sự thống nhất nhưng quy định lẫn nhau Muốn thực hiện nội dung kinh tế thì trước hết, nội dung sở hữu về mặt pháp lý phải được khẳng định và được bảo vệ, nội dung pháp lý là điều kiện, tiền đề thực hiện nội dung kinh tế Tuy nhiên, xét toàn bộ, điểm mấu chốt để khẳng định tư cách sở hữu thực sự là năng lực sử dụng tài sản của nhà nước trên thực tế, sử dụng không hiệu quả tài sản của nhà nước sẽ làm tăng lãng phí của cải xã hội Lợi ích thu được
từ tài sản đóng vai trò là tiêu chuẩn tối cao để định vị tư cách sở hữu cả về mặt pháp
lý và về mặt kinh tế của nhà nước
Trang 36Sở hữu về mặt pháp lý vừa là hình thức thể hiện vừa là điều kiện thực hiện của
sở hữu kinh tế Ngược lại, sở hữu về mặt kinh tế là cơ sở để sở hữu pháp lý tồn tại như một hình thức khách quan QHPL giữa nhà nước và DNNN trong việc thực hiện quyền SHNN là cơ sở cho QHPL giữa nhà nước và DNNN trong việc thực hiện quyền sở hữu tài sản tại DN trên thực tế
1.7.4 QHPL giữa nhà nước và DNNN thể hiện quyền tự chủ kinh doanh của
Trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp, DNNN không có quyền tự chủ kinh doanh Với chính sách cấp phát – giao nộp Các DN hoạt động trong điều kiện vốn được nhà nước cấp, vật tư được nhận theo chỉ tiêu, sản phẩm sản xuất ra được giao nộp theo địa chỉ và giá cả do nhà nước quy định Các điều kiện vật chất để sản xuất đều được nhà nước bảo đảm cân đối theo các định mức cụ thể, kể cả giá đầu vào và đầu ra DN chỉ như một đơn vị gia công sản phẩm, dịch vụ cho nhà nước Trong điều kiện như vậy, rõ ràng là DN không có và cũng không cần đến các quyền tự chủ sản xuất kinh doanh
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, DN được coi là chủ thể quan trọng và chủ yếu để tiến hành các hoạt động kinh doanh Chính vì vậy, đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh cho DN nói chung và DNNN nói riêng là đòi hỏi khách quan, cấp thiết đối với chúng ta trong việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN
DNNN giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường Một mục đích quan trọng của việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN là đổi mới DNNN
Trang 37để phát huy vai trò và vị trí của nó bằng cách trao quyền tự chủ kinh doanh cho DNNN, nhằm khắc phục tình trạng bị động, thiếu sáng tạo trong hoạt động kinh doanh Quyền tự chủ kinh doanh của DNNN bao gồm:
Quyền quản lý, sử dụng vốn và các nguồn lực khác trong DNNN gồm quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai và các nguồn lực khác do nhà nước giao để sản xuất kinh doanh; quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của DN
Quyền tổ chức quản lý DN, tổ chức kinh doanh gồm: Quyết định tổ chức kinh doanh và bộ máy: mở rộng quy mô kinh doanh theo khả năng của DN và nhu cầu của thị trường; tự lựa chọn thị trường, được xuất khẩu, nhập khẩu; quy định
giá mua, giá bán sản phẩm và dịch vụ (trừ những sản phẩm và dịch vụ do nhà nước quy định giá); đầu tư liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, tổ chức lao
động trong DN, lựa chọn hình thức trả lương, thưởng gắn với hiệu quả kinh doanh của DN và năng suất lao động của cá nhân
Quyền tự chủ và quản lý về tài chính của DN gồm: được nhà nước giao vốn, hạch toán kinh doanh, chủ động tính toán hiệu quả kinh tế, được huy động vốn dưới nhiều hình thức; được sử dụng quỹ khấu hao cơ bản để tái đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị; được lập quỹ đầu tư phát triển, các quỹ khác theo quy định và chia phần còn lại cho người lao động theo kết quả cống hiến của mỗi người và theo cổ phần
1.7.5 Nhà nước không trực tiếp thực hiện quyền sở hữu mà thông qua cơ
quan và người quản lý điều hành DNNN được nhà nước bổ nhiệm
DNNN do nhà nước nắm quyền chi phối, bộ máy tổ chức điều hành phải thể hiện ý chí của nhà nước, ý chí đó được thể hiện thông qua việc thực thi quyền sở hữu tài sản bởi người đại diện của nhà nước Do sự khác biệt về quy mô và mục tiêu của nhà nước nên cơ cấu tổ chức và sự phân cấp thực thi quyền sở hữu tài sản trong DNNN khác nhau ở loại hình DNNN và mô hình tổ chức hoạt động của DNNN Đối với DN cổ phần nhà nước, việc thực thi quyền sở hữu tài sản của DNNN được phân cấp theo cơ cấu tổ chức DNNN gồm: đại hội đồng cổ đông, HĐQT, ban
Trang 38kiểm soát và giám đốc điều hành Đại hội cổ đông là cơ quan quyền lực có quyền quyết định cao nhất Đại hội đồng họp định kỳ và bất thường để thông qua điều lệ DNNN và các vấn đề cơ bản nhất như chiến lược/kế hoạch năm, phân chia lợi nhuận… HĐQT là cơ quan quản lý DN, có toàn quyền nhân danh DN để quyết định mọi vấn đề có liên quan đến mục đích, quyền lợi của DNNN như chiến lược phát triển, phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị… Giám đốc là người do HĐQT bổ nhiệm trong số thành viên HĐQT hoặc thuê để thực thi quyền
sở hữu tài sản của DNNN thông qua việc quyết định tất cả các vấn đề có liên quan đến hoạt động hàng ngày của DNNN HĐQT và giám đốc chịu sự giám sát của ban kiểm soát do Đại hội cổ đông bầu ra Như vậy, tổ chức quản lý DN cổ phần nhà nước có cơ quan quản lý cao nhất nhưng cũng có sự phân công các chức năng cụ thể cho từng cơ quan khác nhau, có sự giám sát lẫn nhau để thực hiện quyền sở hữu tài sản của DNNN
DNNN TNHH cũng có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, cơ quan quản lý gồm HĐTV, giám đốc và được phân chia những quyền hạn nhất định trong việc quản lý, điều hành DNNN và định đoạt tài sản của DNNN Về nguyên tắc, DNNN thực hiện quyền sở hữu tài sản DNNN thông qua người đại diện theo pháp luật của DNNN, người thay mặt DNNN trước pháp luật và với các chủ thể khác Người này có thể là chủ tịch HĐQT/HĐTV hoặc tổng giám đốc/giám đốc DNNN, tuỳ theo quy định của điều lệ
DNNN trực tiếp thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình, còn nhà nước thực hiện quyền định đoạt tài sản DNNN thông qua bộ máy tổ chức nội bộ của DNNN, tức là thực hiện một cách gián tiếp thông qua cơ chế đại diện Như vậy, sự định đoạt về phần vốn góp của nhà nước thuộc cơ quan đại diện của nhà nước Về định đoạt tài sản của DNNN do các cơ quan quản lý trong DNNN quyết định và phụ thuộc vào ý chí của nhà nước Tuy nhiên không thể thực hiện quyền này tự do mà phải tuân theo các quy định của pháp luật và điều lệ
Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và định đoạt tài sản của DNNN không thể thực hiện bằng hành vi đơn lẻ của mỗi cơ quan trong DNNN, mà phải trên cơ sở
Trang 39thống nhất quyền lực từ cơ quan quyền lực cao nhất của DNNN Yêu cầu này xuất phát từ chính đặc điểm của hoạt động quản lý và sử dụng vốn trong DNNN cũng như đặc điểm của quan hệ sở hữu DNNN quy định Chẳng hạn, DNNN thực hiện quyền sử dụng tài sản của mình thông qua các cơ quan quản lý và điều hành Chủ thể trực tiếp điều hành các hoạt động kinh doanh của DNNN là giám đốc Đó là người đứng đầu, là đại diện theo pháp luật của DNNN Dựa trên các quyết định và phương hướng kinh doanh của HĐQT, giám đốc trực tiếp thực thi quyền sở hữu tài sản thông qua việc sử dụng tài sản, vốn để thực hiện các giao dịch phát sinh từ hoạt động của DNNN
Như vậy, quy mô, cách thức hình thành tài sản của DNNN và yêu cầu của nhà nước đã quy định cơ chế thực thi quyền sở hữu tài sản của DNNN Để tránh sự lợi dụng từ cách quản lý trong DN để tư lợi, pháp luật đã quy định một số người không được là người quản lý DN Việc thực hiện quyền sở hữu cũng được quy định khác nhau trong các loại hình DNNN
1.8 NHỮNG YẾU TỐ CHI PHỐI VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH
HOÀN THIỆN QHPL GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ DNNN Ở VIỆT NAM
Quá trình hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN với tư cách nhà nước là nhà đầu tư là một trong những vấn đề trọng tâm của quá trình phát triển, đổi mới kinh tế ở nước ta Nó gồm hai mặt:
Thứ nhất, là đổi mới, thành lập, giải thể, sắp xếp, tổ chức lại các chủ thể nhà nước và DNNN (sáp nhập, chia tách, cổ phần hoá, thành lập TCT…)
Thứ hai, là hoàn thiện các quy định pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước
và DNNN, trong đó chủ yếu là hoàn thiện phương thức và hình thức uỷ quyền thực hiện quyền sở hữu tài sản tại DNNN, đổi mới mức độ, phạm vi tự chủ của DNNN trên các mặt như kế hoạch, tài chính, thị trường, đầu tư, sử dụng lao động…
Có thể khái quát các yếu tố chi phối, tác động đến QHPL giữa nhà nước và DNNN như sau:
1.8.1 Chức năng kinh tế của nhà nước
Ban đầu, chức năng kinh tế của nhà nước còn hạn chế, hầu như chỉ là việc phân phối lại, đảm bảo cơ sở kinh tế cho các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đấu
Trang 40tranh chống thiên nhiên, bảo vệ sản xuất Cùng với sự phát triển của nhà nước, chức năng kinh tế cũng mở rộng và phát triển Nhà nước ngày càng nắm trong tay một cơ
sở vật chất rất lớn của nền sản xuất, trong đó có các tư liệu sản xuất chủ yếu Nhà nước không chỉ như là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng mà nhà nước còn là một chủ thể kinh tế
Nhà nước thiết lập khu vực kinh tế của mình để thực hiện các chức năng điều tiết, phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể pháp lý trong xã hội Việc xuất hiện SHNN về các tư liệu sản xuất làm cho nhà nước tham gia vào các quan hệ thuộc về cơ sở hạ tầng và bắt đầu hình thành khu vực KTNN Vì vậy, nhà nước trở thành chủ thể tham gia trực tiếp toàn bộ các giai đoạn của quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Nhà nước đã trở thành chủ thể pháp lý là chủ sở hữu tài sản và tiến hành các hoạt động kinh doanh
Ở nước ta trong một số giai đoạn, do đòi hỏi của nhiệm vụ phát triển kinh tế, khắc phục sự tụt hậu kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên chức năng kinh tế của nhà nước mở rộng, nhà nước cũng bắt buộc phải có các cơ sở kinh tế nhất định
để thực hiện các chức năng kinh tế mở rộng của mình Sự hình thành khu vực KTNN như một tất yếu khách quan, đặc biệt là việc hình thành và xây dựng XNQD, DNNN Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, nhà nước đã tiến hành quốc hữu hoá DNNQD và kế thừa những cơ sở vật chất đó để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển kinh tế đất nước Trong giai đoạn này, QHPL giữa nhà nước và DNNN là quan hệ hành chính với thành phần chủ thể hạn chế và với nội dung pháp
lý đơn điệu, cứng nhắc Trong điều kiện hiện nay, với nhiều yếu tố mới như toàn cầu hoá kinh tế, khoa học công nghệ phát triển, nhà nước phải thực hiện một cách hiệu quả chức năng kinh tế của mình, đổi mới và phát triển các điều kiện để thực hiện chức năng kinh tế, trong đó có việc thực hiện SHNN, đổi mới khu vực KTNN, trong đó quan trọng nhất là DNNN
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhà nước có vai trò quan trọng Điều đó biểu hiện ở chỗ nhà nước, trước hết, là một tác nhân quyết định đối với sự hình thành, phát triển nhanh kinh tế thị trường bằng việc nắm những ngành kinh tế, kỹ thuật mũi nhọn, then chốt, tạo lập sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại, ban hành và có nghĩa vụ tạo các cơ chế, điều kiện