Dưới góc nhìn khoa học nhìn nhận lại các giá trị đương đại cũng như các bài học kinh nghiệm từ lịch sử, chủ đề nghiên cứu này sẽ góp phần nhận diện đầy đủ hơn quá trình hình thành và phá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM TUẤN ANH
QUAN CHẾ THỜI HẬU LÊ VÀ NHÀ NGUYỄN - NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ GIÁ TRỊ KẾ THỪA TRONG HOÀN THIỆN BỘ MÁY NHÀ NƯỚC HIỆN
NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM TUẤN ANH
QUAN CHẾ THỜI HẬU LÊ VÀ NHÀ NGUYỄN - NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ GIÁ TRỊ KẾ THỪA TRONG HOÀN THIỆN BỘ MÁY NHÀ NƯỚC HIỆN
NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 8380101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN MINH TUẤN
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng…năm 2018
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Tuấn Anh
Trang 4THỜI HẬU LÊ VÀ THỜI NHÀ NGUYỄN 9 1.1 Tổng quan về quan chế, quan chế thời Hậu Lê và quan chế
thời nhà Nguyễn 9
1.1.1 Khái niệm quan chế 9 1.1.2 Đặc trưng của quan chế thời Hậu Lê và quan chế thời nhà Nguyễn 11 1.1.3 Vai trò của quan chế 15
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của quan chế thời Hậu Lê
và thời nhà Nguyễn 18
1.2.1 Cơ sở kinh tế xã hội và hệ tư tưởng chính trị pháp lý tác động
đến quan chế thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn 18 1.2.2 Quá trình xây dựng và phát triển quan chế thời Hậu Lê và
thời nhà Nguyễn 32
1.3 So sánh quan chế thời Hậu Lê, thời nhà Nguyễn và các
triều đại khác trong thời kỳ Trung đại ở Việt Nam 37
1.3.1 Mối quan hệ giữa quan chế và bộ máy nhà nước thời Trung đại 37 1.3.2 So sánh quan chế thời Hậu Lê, thời nhà Nguyễn và các triều
đại khác trong thời kỳ Trung Đại ở Việt Nam 38
Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUAN CHẾ THỜI HẬU
LÊ – THỜI NHÀ NGUYỄN VÀ CÁC GIÁ TRỊ KẾ THỪA TRONG HOÀN THIỆN BỘ MÁY NHÀ NƯỚC HIỆN NAY 41 2.1 Những nội dung cơ bản của quan chế thời Hậu Lê và thời
nhà Nguyễn 41
Trang 52.1.1 Chế độ đào tạo quan lại 41
2.1.2 Chính sách tuyển chọn và sử dụng quan lại 48
2.1.3 Trách nhiệm của quan lại 57
2.1.4 Bổ nhiệm và điều chuyển quan lại 68
2.1.5 Chế độ đãi ngộ và kiếm tra giám sát quan lại 72
2.2 Giá trị lịch sử - pháp lý của quan chế thời Hậu Lê và nhà Nguyễn và việc kế thừa, phát triển trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay 81
2.2.1 Nhận diện bài học lịch sử và phương hướng kế thừa trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước hiện nay 81
2.2.2 Thực trạng pháp luật về cán bộ công chức hiện nay 95
2.2.3 Quan điểm kế thừa các giá trị đương đại của quan chế trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam 97
2.2.4 Một số đề xuất nhằm kế thừa các giá trị đương đại của quan chế thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước hiện nay 100
KẾT LUẬN 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang triển khai công tác đổi mới toàn diện đất nước, trong đó
có đổi mới hệ thống chính trị, cải cách và hoàn thiện Nhà nước và pháp luật, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân vẫn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách nhất của sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta trong giai đoạn hiện nay Đó lại là một công việc hết sức hệ trọng nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải được tiến hành với một tinh thần trách nhiệm rất cao và phải được đặt trên những cơ sở khoa học Một trong những cơ sở đó là phải hiểu thấu đáo những đặc điểm truyền thống dân tộc, phải nắm chắc được những yếu
tố thuộc về sức mạnh nội sinh, phải thấy được những điểm mạnh cũng như những hạn chế mà lịch sử có thể để lại và tiếp tục gây ảnh hưởng trong hiện tại nhằm hình thành định hướng đúng để từ đó xây dựng một mô hình chính trị phù hợp, vừa chứa đựng trong nó bản sắc của lịch sử dân tộc, những di sản tốt đẹp của truyền thống, vừa mang những giá trị của thời đại
Lịch sử Việt Nam từng có những thời kỳ phát triển cực thịnh dưới triều Hậu
Lê và đặc biệt dưới thời vua Lê Thánh Tông trong một xã hội quân chủ tập quyền Song cũng dưới chính thể chuyên chế quân chủ tập quyền như vậy, dưới triều nhà Nguyễn đã bộc lộ những điểm hạn chế Trong nhiều yếu tố mang tới sự phát triển hay tụt hậu của các triều đại phải kể tới tầm nhìn của người cầm quyền và đội ngũ quan lại Mặc dù không tránh những nhận thức, hành động cục bộ hạn hẹp do bị hạn chế bởi lợi ích giai cấp và điều kiện lịch sử cụ thể, nhưng trong các quan điểm chính trị - pháp lý xuyên suốt qua các triều đại phong kiến, ta vẫn có thể thấy những nét tương đồng giữa lợi ích của giai cấp thống trị, với các giai cấp khác và của cả dân tộc, từ đó đúc rút ra các bài học kinh nghiệm, tiếp thu những gì tiến bộ, phản ánh đúng và phù hợp với lợi ích của đa số trong xã hội từ đó học hỏi, tiếp thu biến chúng trở thành động lực mới thúc đẩy tiến bộ - xã hội trong giai đoạn hiện nay
Trang 7Với cách tư duy như vậy thì mỗi giai đoạn, mỗi triều đại trong lịch sử Việt Nam đều
có phần đóng góp vào tiến trình phát triển của đất nước, để lại các bước thăng trầm trong dòng chảy lịch sử và các dấu ấn tạo nên sự mạch lạc xuyên suốt của truyền thống văn hóa chính trị - pháp lý Việt Nam
Trong quá trình đổi mới, Đảng và nhà nước đã nhận thức rõ ràng công chức
là yếu tố quyết định chất lượng của nền hành chính quốc gia, quyết định hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Khi đánh giá về vai trò cán bộ, trong đó có công
chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc",
"công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém" [34, tr.5] Đây cũng
là quan điểm của Đảng ta về tầm quan trọng của nhân tố con người xuyên suốt quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam Trong quá trình đổi mới, Đảng ta tiếp tục
khẳng định cán bộ, công chức là "nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng
gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ" [16, tr.3] Gần đây, điều
đó lại một lần nữa được thể hiện trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng trong yêu
cầu: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu
của tình hình mới" [20, tr.54]
Một trong những giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong sạch, đáp ứng nhu cầu hiện nay là việc đi sâu nghiên cứu quan chế trong thời kỳ phong kiến Việt Nam Đặc biệt cần tập trung nghiên cứu quan chế trong giai đoạn thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn Dưới góc nhìn khoa học nhìn nhận lại các giá trị đương đại cũng như các bài học kinh nghiệm từ lịch sử, chủ đề nghiên cứu này sẽ góp phần nhận diện đầy đủ hơn quá trình hình thành và phát triển quan chế dưới hai triều đại thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn, bổ sung cơ sở lý luận trong kế thừa và phát triển các yếu tố lịch sử, đồng thời chỉ ra những giá trị đương đại của quan chế phong kiến và kế thừa các giá trị đương đại đó trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước ta hiện nay
Nhận thức trên là xuất phát điểm để học viên lựa chọn và thực hiện nghiên
cứu đề tài “Quan chế thời Hậu Lê và nhà Nguyễn – những nội dung cơ bản và giá
trị kế thừa trong hoàn thiện bộ máy nhà nước hiện nay” trong phạm vi quy mô của
một luận văn Thạc sĩ Luật học
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về quan chế trong thời kì phong kiến ở Việt Nam trước hết phải đề cập tới các công trình nghiên cứu chung về chế độ phong kiến và mô hình nhà nước phong kiến Việt Nam Trong nhóm này có rất nhiều công trình nghiên cứu, có thể sơ
lược một số công trình tiêu biểu như: Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam – Từ nguồn
gốc đến cuối thế kỷ XIX (1956), Hà Nội; Đinh Gia Trinh Sơ thảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX)(1968), Nhà xuất bản (Nxb)
Khoa học Xã hội, Hà Nội; Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử, Quyển thứ
nhất (1973), Sài Gòn; Bùi Xuân Đính, nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam (2005), Nxb Tư pháp, Hà Nội; Giáo trình Lịch sử nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Minh Tuấn, Tổ chức chính quyền thời kỳ phong kiến ở Việt Nam (2006), Nxb Tư pháp, Hà Nội; Giáo trình Lịch sử nhà nước
và pháp luật Việt Nam (2017), Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội…
Các công trình nghiên cứu mang những giá trị khoa học và giá trị lịch sử to lớn Về giá trị lịch sử, các công trình nghiên cứu đã thể hiện rõ ràng và đầy đủ về lịch sử phát triển các triều đại phong kiến Việt Nam, mô tả rõ nét về mô hình nhà nước phong kiến, những quy định pháp luật trong các lĩnh vực, cách thức cai quản, trị vì của các triều đại phong kiến, các chế độ phong kiến đặc biệt là quan chế Đây là nguồn tư liệu quan trọng mang lại những kiến thức cần thiết cho đề tài của tác giả về quan chế nói chung và mô hình nhà nước phong kiến Việt Nam vì
từ đó mới làm sáng tỏ được quan chế trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam Về giá trị khoa học, các công trình đã có sự lý giải sâu sắc về nguồn gốc, bản chất, đặc trưng, hoàn cảnh, điều kiện của chế độ phong kiến, các giai đoạn phát triển, các
mô hình nhà nước phong kiến Việt Nam, từ đó đưa ra những đánh giá khoa học về chế độ phong kiến và mô hình nhà nước phong kiến Việt Nam Tiếp thu những kết quả nghiên cứu của các công trình trên tác giả sẽ có sự lý giải và đánh giá sát thực
về quan chế, những giá trị đương đại mà quan chế đóng góp cho sự phát triển của các triều đại phong kiến Việt Nam
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu trực diện về quan chế Việt Nam thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn Nghiên cứu về quan chế trong thời kỳ phong kiến ở
Trang 9Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, ở các mức độ khác nhau Có
thể liệt kê một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: Nguyễn Minh Tường, Cải
cách hành chính dưới thời Minh Mệnh (1996), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Ngô
Đức Thọ, Các nhà khoa bảng Việt Nam; Nguyễn Hoàng An, Cải cách hệ thống quan
lại địa phương dưới thời Lê Thánh Tông (1977), Trường Đại học KHXH&NV; TS
Lê Thị Thanh Hòa, Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ năm 1802
đến năm 1884 (1998); Lê Thị Sơn, Quốc triều hình luật - quá trình hình thành, nội dung và những giá trị đương đại; TS Bùi Huy Khiên, Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh; Trần Hồng
Nhung (Luận văn thạc sỹ) (2010), Tham nhũng và phòng chống tham nhũng thời
Nguyễn giai đoạn 1802 – 1884; Lương Đức Tự (Luận văn thạc sỹ) (1996), Chế độ công chức Việt Nam, những vấn đề lý luận cơ bản; Vũ Thị Hằng (Luận văn thạc sỹ) Quan chế thời Hậu Lê – Những nội dung cơ bản và giá trị kế thừa trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay (2014); Cùng với rất nhiều các bài
viết khoa học đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành có nội dung về chế độ khoa cử, đào tạo và sử dụng quan lại, quan chế… trong lịch sử Việt Nam Tất cả các công trình
đó đã góp phần làm sáng tỏ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ quan lại, các chính sách về đào tạo, sử dụng quan lại trong thời kỳ phong kiến Việt Nam nói chung, quan chế thời Hậu Lê – thời nhà Nguyễn nói riêng Các công trình khoa học
đó, ở các mức độ khác nhau cũng đã đưa ra những đánh giá khoa học về các giá trị của quan chế thời Hậu Lê – Nguyễn trong việc quản trị và phát triển đất nước
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nhận diện nội dung cơ bản và xác định những giá trị kế thừa của quan chế thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn ở Việt Nam Trên cơ sở đó, luận chứng về nhu cầu, giải pháp tiếp thu và kế thừa các giá trị
đó trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu khái lược về thời kỳ phong kiến Hậu Lê – Nguyễn về mô hình tổ
Trang 10 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng, các chính sách, pháp luật và thực tiễn xây dựng đội ngũ quan lại Việt Nam trong hai triều đại;
Nhận diện nội dung quan chế hai triều đại trên các phương diện đào tạo, tuyển dụng và sử dụng quan lại;
Chỉ ra những yếu tố tích cực, điểm đặc sắc của quan chế thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn Xác định những giá trị tiến bộ, phù hợp với mục tiêu hoàn thiện
bộ máy nhà nước hiện nay;
Luận giải về nhu cầu, khả năng, phương án và các giải pháp cụ thể trong việc kế thừa các giá trị của quan chế thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm, chính sách, pháp luật và các biện pháp thực tế của nhà nước phong kiến Việt Nam thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn nhằm xây dựng đội ngũ quan lại
Đối tượng nghiên cứu của luận văn cũng bao gồm những hoạt động cụ thể của quan lại phản ánh vai trò của đội ngũ này trong hai thời kỳ
những nội dung cơ bản của quan chế thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn bao gồm chế
độ đào tạo; chính sách tuyển chọn và sử dụng quan lại; chế độ trách nhiệm của quan lại; bổ nhiệm và điều chuyển quan lại; quyền lợi và chế tài xử phạt quan lại
đồng thời chỉ ra các bài học, giá trị đương đại trong quan chế của hai thời kỳ và phương hướng kế thừa các giá trị đó Ngoài ra tác giả cũng có nghiên cứu, phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay dưới góc độ quy đinh của pháp luật
Trang 11(Luật cán bộ công chức 2008) và các văn bản có liên quan từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, góp phần hoàn thiện bộ máy nhà nước ta hiện nay
Phạm vi thời gian của việc nghiên cứu đề tài là thời kỳ Hậu Lê (1428 -1788) trong đó chủ yếu tập trung trong giai đoạn Lê Sơ (1428-1527) và nhà Nguyễn giai đoạn độc lập (1802 – 1858)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể
đề pháp lý đáng quan tâm cần tập trung phân tích Những vấn đề liên quan đến quan chế trong luận văn được xem xét trong mối liên hệ với điều kiện lịch sử cụ thể của tiến trình thời kỳ phong kiến Việt Nam, trước hết là với mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước phong kiến thời Hậu Lê – thời nhà Nguyễn ở Việt Nam
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và nhà nước ta về kế thừa tinh hoa văn hoá của dân tộc, về vai trò và tính tất yếu của nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học pháp lý và khoa học lịch sử trong sự kết hợp giữa chúng với nhau
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để giải quyết các vấn đề đặt
ra trong cả hai chương của luận văn
Phương pháp thống kê tư liệu và phương pháp phán đoán khoa học được sử
Trang 12dụng chủ yếu trong chương 1 của luận văn nhằm khôi phục các dữ kiện lịch sử, làm
cơ sở để nhận diện đối tượng của luận văn
Phương pháp lịch đại và phương pháp luật học so sánh được sử dụng để làm sáng tỏ bản chất của các hiện tượng, sự kiện liên quan đến quan chế trong các thời
kỳ này, đồng thời nhằm phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt trong các giai đoạn của lịch sử, trực tiếp phục vụ cho việc xác định những giá trị kế thừa của quan chế trong thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn ở Việt Nam
6 Đóng góp mới về nghiên cứu của đề tài
Góp phần nhận diện đầy đủ hơn về quan chế thời Hậu Lê, thời nhà Nguyễn trên các phương diện: khái niệm, nội dung cơ bản, vai trò;
Góp phần làm sáng tỏ chính sách, pháp luật của các triều đại trong đào tạo, tuyển dụng và sử dụng đội ngũ quan lại;
Chỉ ra những yếu tố tích cực, tiến bộ đồng thời vạch ra các mặt còn hạn chế, các bài học lịch sử mang ý nghĩa đương đại đối với quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trước yêu cầu tăng cường năng lực và hoàn thiện hoạt động của
bộ máy nhà nước ta hiện nay;
Đề xuất các giải pháp tiếp thu, kế thừa các giá trị tiến bộ của quan chế các triều đại phong kiến trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay
7 Ý nghĩ khoa học và thực tiễn của đề tài
Nâng cao nhận thức lý luận về các giá trị của lịch sử, về tính tất yếu của mối liên hệ giữa lịch sử và hiện tại trong đời sống nhà nước và pháp luật;
Tăng cường hiểu biết về chế độ phong kiến Việt Nam nói chung, về quan chế hai triều đại Hậu Lê – nhà Nguyễn nói riêng Qua đó, góp phần tạo dựng nhận thức đầy đủ về diện mạo của đời sống nhà nước và pháp luật Việt Nam trong lịch sử;
Các luận điểm khoa học và kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo đối với những người làm công tác nghiên cứu, các học viên, sinh viên chuyên ngành luật và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong quá trình hoạch định chính sách, pháp luật và các biện pháp cụ thể nhằm xây dựng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức và hoàn thiện bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Trang 138 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 02 chương Cụ thể:
Chương 1: Nhận diện về lý luận và lịch sử quan chế thời Hậu Lê và thời
nhà Nguyễn
Chương 2: Những nội dung cơ bản của quan chế thời Hậu Lê – thời nhà
Nguyễn và các giá trị kế thừa trong hoàn thiện bộ máy nhà nước hiện nay
Trang 14Chương 1 NHẬN DIỆN VỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ QUAN CHẾ THỜI HẬU LÊ
để giúp sức trong quá trình cai trị đất nước Quan lại là cánh tay phải đắc lực của vua và cũng là chủ thể trực tiếp đưa các chính sách của vua vào thực tiễn cuộc sống Cũng vì lẽ đó việc quản lý đội ngũ quan lại phong kiến hay quan chế đã là một vấn
đề luôn được các triều đại phong kiến dành sự quan tâm đặc biệt và liên tục được kế thừa, phát triển Tuy nhiên các triều đại lại mang trong mình những bối cảnh riêng với những điều kiện kinh tế xã hội có nhiều khác biệt và điều đó đã tác động tới quan chế của mỗi triều đại Tựu chung, mỗi triều đại đều để lại những dấu ấn riêng biệt của mình về quan chế trong dòng chảy của lịch sử và việc nghiên cứu, phân tích quan chế thời kỳ phong kiến sẽ tìm ra những điểm đặc sắc mang giá trị đương đại
có thể học hỏi trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước hiện nay
1.1.1 Khái niệm quan chế
Quan chế là khái niệm có nội hàm được tạo thành bởi hai yếu tố đó là
“Quan” trong Quan chức và “Chế” trong thể chế, chế độ
“Quan theo từ điển Tiếng Việt là người giữ chức vụ trong bộ máy chính
quyền nhà nước phong kiến, chịu trách nhiệm về một lĩnh vực nào đó”[69, tr.799]
Quan đồng nghĩa là người có phẩm hàm, có tư và có thể có tước vị “Phẩm hàm là
cấp bậc cùng với hàm (danh tính) của quan” [69, tr.770], xác định vị trí cao thấp
của viên quan trong hệ thống quan lại, là cơ sở để nhận lương bổng
Trang 15Phẩm hàm trong hệ thống quan lại Việt Nam thời Hậu Lê được
mô phỏng theo hệ thống cấp bậc quan lại đời Đường, Tống ở Trung Quốc gồm 9 bậc cao thấp với 9 cấp bậc, mỗi bậc lại chia làm hai Chánh
và Tòng Thông thường chức vụ quan lại đi đôi với phẩm hàm tương xứng Tuy nhiên cũng vẫn có những trường hợp, phẩm hàm cao mà chức
vụ thấp hoặc không có chức vụ hoặc ngược lại Tư (tư cách đạo đức) là đức độ, các hành xử và phẩm chất của quan, là loại tước vị bổ trợ cho phẩm hàm, tương xứng với phẩm hàm Những người làm quan có phẩm, tước là đương nhiên có tư Tư có 24 bậc và được định sẵn cho từng phẩm, tước theo quy định hơn kém nhau một bậc Việc ban Tư xuất hiện
từ thời Lê Sơ Tước gồm 6 bậc theo thứ tự cao thấp là Vương, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam [7, tr.538]
Tước thường được vua ban cho họ hàng hay những người có quan hệ hôn nhân với nhà vua hoặc những người có công lao đặc biệt to lớn với vua với nước Người được phong tước vị không nhiều và dần bị thu hẹp, tước Vương thường chỉ được phong cho các hoàng tử
Trong xã hội Phong kiến, Quan có thể xuất phát từ tầng lớp quý tộc phong kiến hoặc tầng lớp bình dân Tuy nhiên, việc xác định loại quan lại không căn cứ vào nguồn gốc xuất thân mà chủ yếu dựa vào vị trí công việc đảm trách hay địa bàn quản lý Vì vậy, nếu căn cứ theo vị trí công việc đảm trách thì Quan được chia thành bốn ngạch: Quan văn; Quan võ; Tăng quan; Nội quan Nếu căn cứ theo địa bàn phụ trách thì được chia làm hai loại: Quan triều đình; Quan ở địa phương
“Lại là viên chức sơ cấp chuyên làm công việc bàn giấy trong bộ máy nhà nước phong kiến” [69, tr.537] Thuộc lại thường không có phẩm hàm nhưng phải
đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định khi tuyển chọn và được hưởng lương theo vị trí
công việc đảm trách Về cơ bản, Thuộc lại được phân làm 3 loại: Lại dịch là những
người làm những công việc phục vụ thông thường trong các cơ quan từ cấp Huyện
trở lên; Lại điển là những người làm công tác văn thư trong các cơ quan nhà nước quan trọng ở triều đình như các Bộ, Khoa, Cơ mật viện; Lại mục là người trực tiếp
Trang 16giúp quan tri huyện giải quyết công việc nhà nước và trong số các Thuộc lại thì bộ phận này thường được phong phẩm hàm
Về cơ bản có thể hiểu Quan lại là những người được tuyển lựa vào làm việc tại một vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước phong kiến, được giao trọng trách và đảm nhận một loại công việc nhất định, được phân loại theo phẩm hàm, vị trí công việc hoặc địa bàn làm việc và được nhận lương bổng Khái niệm này cũng gần giống với khái niệm Công chức trong Nhà nước ta hiện nay
Liên quan đến Khái niệm “Quan chế” cũng cần quan tâm tới nội hàm thể chế, chế độ Trong Tiếng Việt “thể chế” hay “thiết chế” được hiểu là “những quy định, luật
lệ của một xã hội, buộc mọi người phải tuân theo”[69, tr.933] Cũng có thể hiểu ở đây
là “Chế độ” trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này có thể hiểu là toàn bộ những quy
định cần tuân theo trong một việc nào đó [69, tr.149] Tóm lại thể chế hay chế độ đều liên quan tới hệ thống các quy định, quy tắc có tính bắt buộc phải tuân thủ
Tóm lại, với các tìm hiểu trên theo tác giả có thể hiểu khái niệm Quan chế
trong thời kỳ phong kiến là tổng hợp các luật lệ, quy tắc, quan điểm và đường lối chỉ
đạo được áp dụng trong toàn bộ quá trình từ đào tạo, sử dụng, kiểm tra, giám sát đội ngũ quan lại đến các chính sách, biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ quan lại của nhà nước phong kiến
1.1.2 Đặc trưng của quan chế thời Hậu Lê và quan chế thời nhà Nguyễn
1.1.2.1 Đặc điểm của quan chế thời Hậu Lê
Quan chế thời Hậu Lê đã được thể chế hóa và từng bước hoàn thiện và phát triển
Nhà nước phong kiến tập quyền được xây dựng với trung tâm là các vị vua phong kiến và đội ngũ quan lại chính là cánh tay đắc lực Vì vậy, ngay từ rất sớm, việc đặt ra các quy tắc về đào tạo, sử dụng, đãi ngộ quan lại và chế định hóa các quy tắc đó thành luật lệ đã là mối quan tâm thường trực của người cầm quyền
Các triều đại tiền nhiệm trước đó sớm đã có sự quan tâm nhất định tới vấn đề Quan chế, hai bộ luật tổng hợp của triều Lý (bộ Hình thư) và triều Trần (bộ Hình luật) mặc dù đã bị thất truyền nhưng các nguồn sử liệu khác nhau đều cho thấy quan
Trang 17chế là một nội dung quan trọng đã được đề cập đến trong hai văn bản này Ngoài ra, triều Trần đã quy chế hóa hầu hết các hành vi của quan lại trong quá trình thực thi công vụ và tập hợp trong một văn bản mang tính hội điển là Quốc triều quan chế
Một trong những nội dung quan trọng trong cuộc cải cách hành chính dưới thời Hậu Lê là cải cách quan chế Lê Thánh Tông là vị vua nổi bất nhất trong nỗ lực cải cách về một nhà nước quân chủ tập quyền quan liêu phong kiến, bởi vậy ông trăn trở về vai trò, trách nhiệm và tiêu chuẩn, biện pháp xây dựng đội ngũ quan lại – rường cột của nhà nước phong kiến Năm Hồng Đức thứ 2 (năm 1471), Lê Thánh Tông cho sửa định Hoàng triều quan chế, quy định rất cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm của quan lại, về các hành vi bị cấm, về các chế tài đối với sai phạm của quan lại trong hoạt động công vụ của mình Vua dụ các quan viên văn võ và trăm họ rằng
“Đất đai bờ cõi ngày nay so với trước kia khác nhau nhiều lắm, không thể không thân hành nắm quyền chế tác, làm trọn đạo biến thông” [13, tr.472]
Tính khuôn mẫu của quan chế thời Hậu Lê còn thể hiện rõ tinh thần tôn trọng luật lệ của các vua tiền nhiệm, coi các quy tắc, cách làm của các vua triều trước là các tiền lệ cần được tuân thủ Cũng vì lẽ đó, quan chế thời Hậu Lê thể hiện bước phát triển liên tục, nhất quán, ngày càng hoàn thiện
Quan chế thời Hậu Lê có nội hàm rộng, bao quát các khía cạnh liên quan đến quá trình đào tạo và sử dụng quan lại của nhà nước phong kiến
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của quan lại trong hoạt động đất nước và bảo vệ vương quyền, nhà Hậu Lê dành sự quan tâm đặc biệt tới tất cả các khâu của quá trình đào tạo và sử dụng quan lại Quan chế thời Hậu Lê điều chỉnh các hoạt động liên quan đến đào tạo quan lại (tổ chức trường lớp, tiến hành đào tạo, quản lý đào tạo về nội dung và chương trình, xây dựng quy chế thi cử và tổ chức thi cử, đào tạo lại…) sử dụng quan lại, xác định tiêu chuẩn và tiến hành tuyển chọn quan lại, bố trí sắp xếp các vị trí trong quan trường phong kiến, quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của quan lại, quy định lương bổng và các chế độ đãi ngộ khác đối với quan lại, kiểm tra giám sát quan lại, thăng thưởng, xử phạt quan lại…), đấu tranh phòng, chống tham nhũng nhằm duy trì sự trong sạch và hiệu quả
Trang 18hoạt động của đội ngũ quan lại (xây dựng các biện pháp phòng, chống tham nhũng, triển khai các hoạt động phòng, chống tham nhũng…) Có thể nói, quan chế là một chế độ toàn diện và đặc trưng nhất trong các bộ phận cấu thành thể chế nhà nước phong kiến thời Hậu Lê
Quan chế thời Hậu Lê tập trung xây dựng một đội ngũ quan lại có năng lực và nhân cách theo quan điểm Nho giáo
Nho giáo chính thức đã trở thành hệ tư tưởng thống trị ở Việt Nam vào thời
Lê Sơ thế kỷ XV nhưng trước đó Nho giáo đã có vị trí chủ đạo trong quá trình tổ chức bộ máy nhà nước và thiết kế phương châm cai trị của nhà nước phong kiến Việt Nam Điều này có thể được lý giải bởi Phật giáo và Đạo giáo vốn đều là những chủ thuyết lánh đời nhập thế, ít quan tâm tới chính trị, không phù hợp với đường lối cai trị nhằm mục tiêu bảo vệ vương quyền Trong khi đó, bằng nhiều con đường khác nhau, Nho giáo đã thâm nhập vào nước ta trong suốt khoảng 10 thế kỷ sau công nguyên và đã trở thành bệ đỡ tư tưởng cho việc tổ chức và hoạt động của nhà nước Việt Nam độc lập Nhà nước phong kiến Việt Nam ít nhiều chịu ảnh hưởng từ
mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế phong kiến Trung Quốc mang đậm bản sắc Nho giáo Vì vậy, vào thời kỳ đỉnh cao của Nho giáo, quan chế thời Hậu Lê đã lấy các chuẩn mực của Nho giáo làm căn cứ cho quá trình xây dựng và phát triển Mục đích chủ đạo hành động của quan lại là bảo vệ tư tưởng Tam cương của Nho giáo, thể hiện ở trách nhiệm đối với nhà vua và đối với dân chúng Năng lực và nhân cách của quan lại được xác định tùy thuộc vào việc quan lại có thực hiện tốt trách nhiệm với nhà vua và với dân chúng theo tinh thần của đạo Tam cương hay không Mọi chính sách của nhà nước phong kiến thời Hậu Lê đối với quan lại đều xoay quanh trục trung tâm này
Quan chế thời Hậu Lê vừa tiếp thu, mô phỏng quan chế của nhà nước phong kiến Trung Quốc, vừa thể hiện chính sách đào tạo và sử dụng quan lại phù hợp với nhu cầu cai trị, điều hành đất nước của nhà nước phong kiến Sự tiếp thu, mô phỏng quan chế Trung Quốc diễn ra chủ yếu trên phương diện tước vị, phần hàm, nội dung đào tạo theo hệ thống kinh sách Nho giáo, các quy định cấm đoán liên quan đến
Trang 19việc bảo vệ trật tự Nho giáo trong mối quan hệ Vua – Tôi, và một số thể lệ trong quá trình sử dụng quan lại như chế độ khảo khóa, chế độ Hồi tỵ
Bên cạnh đó, quan chế trong thời Hậu Lê còn hàm chứa nhiều quy định và biện pháp ứng xử phù hợp với nhu cầu cai trị, điều hành đất nước của các vị vua phong kiến Đáng chú ý nhất là việc xác định rõ trách nhiệm của quan lại đối với nhân dân, xem đó là một tiêu chí thể hiện đánh giá hiệu quả của hoạt động cai trị của quan lại
1.1.2.2 Đặc điểm quan chế thời nhà Nguyễn
Quan chế thời nhà Nguyễn tiếp thu, kế thừa các giá trị quan chế thời Hậu Lê
Ngay từ sớm, vua Gia Long đã phong vương, đặt quan lại cho những người theo phò tá mình Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và trở thành Hoàng đế, ông còn tiếp tục kiện toàn lại hệ thống hành chính và quan chế của chính quyền mới Nhà Nguyễn về cơ bản vẫn giữ nguyên hệ thống quan chế và cơ cấu chính quyền trung ương giống với các triều đại trước đây Đứng đầu nhà nước là vua, nắm mọi quyền hành trong tay Giúp vua giải quyết các giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư phòng Về việc quân quốc trọng sự thì có bốn vị Điện Đại học sĩ gọi là Tứ trụ Đại thần, sau đó cơ quan này trở thành viện Cơ mật Trong hệ thống quan lại còn có Tông nhân phủ phụ trách các công việc của hoàng gia
Quan lại trong triều được bố trí tương tự theo quan chế thời Hậu Lê, nhưng
bỏ chức Tham tụng và Bồi tụng, tức là chức tể tướng Mọi việc đều do Lục bộ chủ trương, mỗi bộ có quan Thượng thư làm đầu, quan Tả hữu Tham tri, Tả hữu Thị lang, cùng các thuộc viên như là Lang trung, viên ngoại lang, chủ sự và bát cửu phẩm thơ lại Lục bộ bao gồm Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình và Bộ Công Bộ Lại coi việc thuyên chuyển, bổ nhiệm quan văn, ban thưởng phẩm cấp, khảo xét công trạng, phong tặng tước ấm, thảo những tờ chiếu sắc cáo mệnh và làm những sổ các hàng quan lại Bộ Hộ coi việc đình điền thuế má, tiền bạc chuyển thông, kho tàng chứa chất, hóa vật đắt rẻ Bộ Lễ coi việc triều hội, khánh hạ, tế tự, tôn phong, cùng với cách thức học hành thi cử, tinh biểu cho người sống lâu, người
có tiết nghĩa, phong thụy cho các thần nhân Bộ Binh coi việc thuyên chuyển, bổ
Trang 20nhiệm võ chức, giảng duyệt quân linh, sai khiến quân đi tuần thú hoặc đi đánh dẹp, tuyển chọn binh đinh, xét người có công người có lỗi về việc binh Bộ Hình coi việc hình danh pháp luật, tra nghĩ dâng tấu, duyệt lại những tội nặng vụ án còn nghi ngờ, xét kỹ những tù giam ngục cấm Bộ Công coi việc làm cung điện, dinh thự, xây thành, đào hào, tu tạo tàu bè, đặt làm kiểu mẫu, thuê thợ thuyền, mua vật liệu
Ngoài lục bộ còn có Đô sát viện (tức Ngự sử đài) để giữ việc can gián vua,
và giám sát các quan lại Cấp sự trung các khoa và Giám sát ngự sử các đạo đều thuộc về viện này Trong viện có tả hữu đô ngự sử và tả hữu phó đô ngự sử đứng đầu Hàn Lâm viên phụ trách các sắc dụ, công văn Tự phụ trách một số sự vụ, phủ Nội vụ coi sóc các kho tàng, Quốc tử giám phụ trách giáo dục, Thái y viện chịu trách nhiệm về việc chữa bệnh thuốc thang… cùng với một số Ti và Cục khác Bấy giờ vua Gia Long còn đặt ra Tào chính để coi việc vận tải, cùng thuế má tàu bè Có quan Tào chánh sứ và Tào phó sứ làm đầu
Ngạch quan lại chia làm 2 ban văn võ Kể từ thời vua Minh Mạng được xác định rõ rệt giai chế phẩm trật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia ra Chánh và Tòng 2 bậc Trừ khi chiến tranh loạn lạc còn bình thường quan võ phải dưới quan văn cùng phẩm với mình Quan Tổng đốc (văn) vừa cai trị tỉnh vừa chỉ huy quân đội của tỉnh nhà.Lương bổng của các quan tương đối ít nhưng quan lại được hưởng nhiều quyền lợi, cha họ được khỏi đi lính, làm sưu và miễn thuế tùy theo quan văn hay võ, hàm cao hay thấp Ngoài ra con cái các quan còn được hưởng lệ tập ấm
1.1.3 Vai trò của quan chế
Quan lại giữ vai trò tư vấn, phụ tá, giúp việc cho nhà vua trong điều hành, cai trị đất nước nhằm bảo vệ vương quyền
Là yếu tố cấu thành thể chế chính trị quân chủ phong kiến Việt Nam, vị
trí, vai trò của Quan và Lại chịu sự quy định của hình thức chính thể nhà nước
Trong thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn được tổ chức điển hình dưới hình thức chính thể quân chủ chuyên chế, trong đó toàn bộ quyền lực nhà nước đều thuộc
về nhà vua Tuy nhiên nhà vua không thể tự mình triển khai các hoạt động thực
thi quyền lực nhà nước
Trang 21Với cương vị điều hành trong cơ quan nhà nước, Quan giữ vai trò tư vấn cho nhà vua trong việc xây dựng các chính sách và ban hành pháp luật Các phân tích ở trên về mô hình nhà nước phong kiến Việt Nam thời Hậu Lê cho thấy rằng tại triều định luôn luôn có một số vị trí quyền lực do một số viên quan có phẩm hàm cao (có thể được tổ chức thành cơ quan nhưng cũng có thể tồn tại với tư cách cá nhân) đóng vai trò tư vấn cho nhà vua khi nhà vua cần đưa ra những quyết định quan trọng Về nguyên tắc, nhà vua không có nghĩa vụ tuân thủ các ý kiến tư vấn này nhưng lịch sử Việt Nam cho thấy vua thường quyết định theo ý kiến tư vấn của triều thần
Giúp các vua Nguyễn giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư phòng
Về việc quân quốc trọng sự thì có 4 vị Điện Đại học sĩ gọi là Tứ trụ Đại thần
Năm Giáp Ngọ 1834 là năm Minh Mệnh thứ 15 nhân vì việc quân quốc cơ yếu là việc rất quan trọng, vua Thánh tổ mới theo như Xu mật viện nhà Tống và Quan cơ xứ nhà Thanh mà châm chước đặt ra Cơ mật viện cho có trách nhiệm riêng Các quan đại thần sung chức trong viện
ấy thì dùng 4 viên, văn võ từ tam phẩm trở lên, phụng chỉ kén dùng, Thuộc viên thì có viên ngoại lang, chủ sự, tư vụ, biên tu, đều kén ở trong các bộ viện ra sung bổ Các quan đại thần ở cơ mật việt có đặc chỉ cho đeo kim bài để phân biệt với các quan khác [27, tr.344]
Việc quốc gia đại sự cũng nhờ quan lại, Đình thần tham nghị mà đưa ra
quyết sách cho nhà vua, quan lại am hiểu có học thức nhạy bén với thời cuộc thì mới giúp sức được cho vua đưa vận nước đi lên Tuy nhiên các quan dưới thời Nguyễn lại chưa có được điều này
Đình thần là các quan ở trong triều giúp vua để lo việc nước Nhưng lúc bấy giờ tình thế đã nguy ngập lắm, vì từ đầu thập cửu thế kỷ trở đi, sự sinh hoạt và học thuật của thiên hạ đã tiến bộ nhiều mà sự cạnh tranh của các nước cũng kịch liệt hơn trước Thế mà những người giữ cái trách nhiệm chính trị nước mình, chỉ chăm việc văn chương, khéo nghề nghiên bút, bàn đến quốc sự thì phi Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu việc từ mấy nghìn năm trước cứ đem làm gương cho thời hiện tại rồi cứ nghễu nghện tự xưng mình hơn người, cho thiên hạ là dã man Ấy, các đình thần lúc bấy giờ phần nhiều là những người như thế cả [27, tr.377]
Trang 22Quan lại có vai trò tối quan trọng như vậy, vận nước thành hay bại cũng ảnh hưởng rất lớn bởi đội ngũ quan lại
Quan cũng là lực lượng chủ đạo giúp nhà vua triển khai thực hiện quyền lực nhà nước Với số lượng tương đối đông đảo, được bố trí trong các cơ quan ở cả triều định và các địa phương với sự phân công trách nhiệm tương đối rõ ràng, đội ngũ Quan giúp nhà vua quản lý hầu hết các lĩnh vực trong xã hội phong kiến
Lại là người thừa hành mệnh lệnh của quan, đóng vai trò trung gian giữa quan và dân Nhiệm vụ của Lại bao gồm giúp soạn thảo, giao nhận, lưu chuyển công văn sổ sách; triển khai các chính sách của nhà nước tới chức dịch lạng xã, đốc thúc chức dịch làng xã có nghĩa vụ với nhà nước Với các vai trò trên, Quan và Lại giữ vị trí bản lề trong bộ máy nhà nước, kết thành một khối thống nhất giúp nhà vua cai trị đất nước
Quan lại giữ vai trò cầu nối giữa chính quyền nhà nước phong kiến và nhân dân
Quan niệm Nho giáo cho rằng, vua là thiên tử có trách nhiệm thay trời hành đạo Đạo làm vua là phải giữ cho nước yên, người dân được no đủ, xã hội bình trị Đạo làm vua lấy dân làm đối tượng phục vụ để làm trọn nghĩa vụ với trời Dân không yên, không vui, không đủ là vua không sáng, có lỗi với trời Vì vậy, các vị vua phong kiến luôn phải dựa vào bề tôi của mình để thực thi trách nhiệm với trời Quan lại đóng vai trò là lực lượng truyền tải các mệnh lệnh của nhà vua đến với dân chúng, tổ chức thực hiện các mệnh lệnh đó, thu nhận các đóng góp của dân chúng (phu, lính, thuế) để nộp cho nhà vua, phản ánh đến nhà vua về những oan ức, kiện cáo của dân chúng Đội ngũ quan lại được bố trí ở các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương vừa là tai mắt của nhà vua, giúp nhà vua cai trị dân chúng lại vừa trở thành đầu mối liên hệ duy nhất giữa dân chúng với nhà vua Người dân chỉ nhìn thấy sự hiện diện của nhà nước thông qua hình ảnh của quan lại tại địa phương Tương tự như vậy, nhà vua chỉ biết đến dân thông qua các lời tấu trình của quan lại Vai trò này của quan lại thể hiện đặc biệt rõ ở các cấp chính quyền địa phương,
trước hết là cấp chính quyền cơ sở
Trang 23Quan lại đóng vai trò tạo dựng và duy trì thường xuyên nền công vụ hiệu quả trong thời kỳ phong kiến
Hiệu quả nền công vụ trong chế độ phong kiến tùy thuộc vào năng lực và trách nhiệm thực thi công vụ của đội ngũ quan lại Quan lại phong kiến được đào tạo trên nền tảng học vấn Nho giáo, vì vậy trong quan niệm cũng như cách hành xử
cụ thể đều thấm nhuần tinh thần trách nhiệm với vua (trung quân) với dân (yêu dân) Đó là căn nguyên khiến đội ngũ quan lại trở thành lực lượng nòng cốt trong tạo dựng và duy trì thường xuyên nền công vụ hiệu quả Dĩ nhiên, hiệu quả công vụ trong chế độ phong kiến không đồng nhất với cách hiểu về hiệu quả công vụ trong thực tiễn hiện nay nhưng điều đó không phủ nhận vai trò của đội ngũ quan lại Phần lớn quan lại trong thời kỳ Hậu Lê đều nêu cao trách nhiệm công vụ, giữ gìn đạo đức thanh liêm, ít màng đến tư lợi, cần mẫn với công việc, đảm bảo kỷ cương, kỷ luật công vụ Sự tồn tại lâu dài của chế độ và nhà nước phong kiến thời Hậu Lê có thể nói dựa vào kết quả vận hành nền công vụ với sự trợ giúp đắc lực của đội ngũ quan lại phong kiến Đến thời nhà Nguyễn giai đoạn độc lập đội ngũ quan lại hoạt động tương đối hiệu quả giúp nhanh chóng ổn định tình hình chính trị xã hội của đất nước Tuy nhiên trong giai đoạn tiếp sau đó quan chế thời nhà Nguyễn trong bối cảnh bấy giờ cũng lộ nhiều bất cập
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của quan chế thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn
1.2.1 Cơ sở kinh tế xã hội và hệ tư tưởng chính trị pháp lý tác động đến quan chế thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn
1.2.1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam thời Hậu Lê
Tiếp nối nhà Lê sơ (1428-1527) là nhà Mạc (1527-1593) và sự phục hưng của nhà Lê không lâu sau, gọi là Lê Trung Hưng (1533-1789) Nhà Lê sơ là giai đoạn đầu của nhà Hậu Lê (1428–1527), một triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, được thành lập sau khi vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân Minh
Thời Lê sơ kéo dài đúng 100 năm, có 10 vua thuộc 6 thế hệ, đây là thời kỳ
Trang 24các vua Lê nắm trọn được quyền hành, cũng là thời kỳ vĩ đại, hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam Đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông, đất nước phát triển về mọi mặt từ kinh tế, văn hóa, xã hội,giáo dục thi cử, quân sự Nước Đại Việt trước đến nay đây là thời kỳ cường thịnh nhất Nhà Hậu Lê thiết lập mô hình nhà nước chuyên chế tập quyền đạt đến độ hoàn thiện trong lịch sử phong kiến với bộ máy quan lại quy củ chặt chẽ từ trung ương tới địa phương
Cuối thế kỷ 14, nhà nước quan liêu của quý tộc nhà Trần nắm giữ ngôi vua Đại Việt bắt đầu suy thoái Cuộc chiến tranh kéo dài liên miên với Chiêm Thành, Ai Lao và Ngưu Hống cùng với những sách nhiễu của nhà Minh càng khiến đất nước thêm rối ren Năm 1400, Hồ Quý Ly giành ngôi nhà Trần lập ra nhà Hồ Là vị vua đầu tiên của triều đại mới, Hồ Quý Ly đã tiến hành nhiều cải cách về kinh tế, xã hội
và quốc phòng Trong khoảng sáu năm, các cải cách tiến hành dồn dập cộng thêm nhiều nguyên nhân dẫn đến đất nước khủng hoảng Bên cạnh việc loại bỏ những lực lượng trung thành với nhà Trần, nhà Hồ vẫn duy trì trong bộ máy nhà nước nhiều tôn thất quý tộc cũ Nhân cơ hội, vua Minh là Minh Thành Tổ ở Trung Quốc dùng chiêu bài "phù Trần diệt Hồ" đem quân sang xâm lược Đại Ngu năm 1407 Nhà Hồ nhanh chóng thất bại Thái thượng hoàng Hồ Quý Ly, vua Hồ Hán Thương, các Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng, Hồ Quý Tỳ cùng nhiều tướng lĩnh khác bị bắt hoặc
bị giết hại Minh Thành Tổ nhanh chóng chỉ thị cho các tướng lĩnh lùng bắt con cháu họ Trần để lấy cớ là nhà Trần đã tuyệt tự để đô hộ nước Đại Ngu Đến năm
1414 cuộc xâm lược kết thúc nhà Minh biến Đại Ngu thành quận Giao Chỉ nội thuộc Trung Quốc Đồng thời đặt ra một bộ máy cai trị hà khắc và các chính sách
vơ vét, hủy diệt nền văn hóa
Giai đoạn thuộc nhà Minh (1414 -1427) là giai đoạn đen tối trong lịch sử Việt Nam Nhà Minh đã thi hành một loạt các chính sách hà khắc, khủng bố, tàn sát
dã man các cuộc nổi dậy khởi nghĩa của nông dân, ra sức bóc lột, vơ vét của cải và thi hành các chính sách thuế nặng nề, hà khắc Ngoài ra nhà Minh còn bắt nhân dân
ta phải bỏ những phong tục, tập quán truyền thống và tuân theo các tập quán của Trung Quốc Nhân dân ta thời kỳ này đã kiên cường chống lại sự đàn áp dã man của
Trang 25nhà Minh tiêu biểu là một số cuộc khởi nghĩa của Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân… tuy nhiên các phong trào này đều thất bại dưới sự đàn áp của quân Minh
Đến mùa xuân năm Mậu Tuất (1418) đời vua Thành Tổ nhà Minh, niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 16, Lê Lợi cùng với tướng là Lê Thạch và Lê Liễu khởi binh ở núi Lam Sơn, tự xưng là Bình Định Vương, rồi truyền hịch đi gần xa kể tội nhà Minh
để rõ cái mục đích của mình khởi nghĩa đánh kẻ thủ của nước Sau mười năm đánh quân xâm lược cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã thắng lợi vào năm 1427 đập tan ách đô
hộ của nhà Minh trên đất Việt Năm Mậu Thân (1428) Bình Định Vương lên ngôi Thái Tổ nhà Lê, đặt quốc hiệu là Đại Việt mở đầu triều đại Hậu Lê
a) Tổ chức chính quyền thời Hậu Lê
Sau khi lên ngôi Lê Lợi đã xây dựng nhà nước theo mô hình quân chủ chuyên chế tập quyền, tất cả quyền lực tập trung trong tay vua và thiết lập một hệ thống chính quyền với bộ máy quan lại giúp vua thực hiện cai trị đất nước
Khi vua Thái Tổ mới ở Nghệ An ra Đông Đô, thì đã chia nước ra làm bốn đạo, nay đặt thêm một đạo nữa gọi là Hải Tây bao gồm cả Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa Cả nước như vậy được chia thành 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc và Hải Tây Trong các đạo, đạo nào cũng có quan hành khiển để giữ sở sách về việc quân dân Còn như các xã thôn thì cứ xã nào có hơn 100 người trở lên, gọi là đại xã, đặt ba người xã quan; xã nào có 50 người trở lên, gọi là trung xã, đặt hai xã quan; xã nào có 10 người trở lên gọi là tiểu xã, đặt một người xã quan để coi việc trong xã [27, tr 200]
Đến thời Lê Thánh Tông, bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương được thay đổi Năm 1466, Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên Năm 1471, ông lập thêm đạo thừa tuyên thứ 13 Sau đó triều đình định bản đồ cả nước, quy định các khu vực hành chính thống nhất vào năm 1490 Bộ máy nhà nước phong kiến thời Hậu Lê khá đồ sộ với hệ thống quan lại đông được sắp xếp theo thứ bậc cao thấp để hưởng các đặc quyền, bổng lộc của triều đình tương ứng với chức tước [27, tr.205]
Trang 26b) Tình hình kinh tế - xã hội – tư tưởng – pháp luật
Về nông nghiệp, ngay sau khi nắm chính quyền vua Lê Thái Tổ đã thi hành
phép Quân điền để lấy đất công điền, công thổ mà chia cho mọi người, từ quan đại thần đến những người già yếu cô quả, ai cũng có một phần ruộng, khiến cho sự giàu nghèo trong nước giảm bớt Thực hiện chế độ quân điền là một bước chuyển quan trọng trong sự phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, nó đã góp phần ổn định nền kinh tế nông nghiệp, phân bổ ruộng đất tận dụng sức lao động và hạn chế sự phân hóa xã hội
Bằng những biện pháp sáng suốt được thi hành qua các đời vua Lê đầu tiên như ổn định tình hình ruộng đất, giảm sưu thuế cho dân, cùng với đó nhà nước cũng đặc biệt quan tâm tới việc bảo vệ và khuyến khích khai hoang, mở rộng diện tích canh tác Nhà Hậu Lê cũng rất chú trọng tới công tác thủy lợi, hệ thống đê điều được xây mới và thường xuyên sửa chữa Nhìn chung đời sống nhân dân tương đối
ổn định, ấm no
Về thủ công nghiệp, sau khi giành được độc lập tự chủ, sự phục hồi và phát
triển của nông nghiệp cùng với đó quá trình xây dựng lại kinh thành, làng xóm, phố thị đã tác động và tạo đà cho sự phát triển của các ngành thủ công Các ngành nghề truyền thống như dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc đồng cũng phát triển Kinh đô Thăng Long 36 phố phường sầm uất, nhộn nhịp tồn tại và phát triển đến tận ngày nay Phường Yên Thái làm giấy, phường Nghi Tàm dệt vải lụa, phường Hà Tân nung vôi, phường Hàng Đào nhuộm điều, phường Ngũ Xá đúc đồng, phường gạch và gốm sứ Bát Tràng và nhiều phường khác
Các ngành nghề thủ công truyền thống như ở các làng xã như kéo tơ, dệt lụa, đan lát, làm nón, đúc đồng, rèn sắt, làm đồ gốm v.v ngày càng phát triển Nhiều làng thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công nhất Các công xưởng do nhà nước quản lí gọi là Cục Bách Tác sản xuất đồ dùng cho nhà vua, vũ khí, đóng thuyền, đúc tiền đồng các nghề khai mỏ đồng, sắt, vàng được đẩy mạnh
Trang 27Về thương mại, nhà vua khuyến khích lập chợ mới họp chợ ban hành những
điều luật cụ thể quy định việc thành lập chợ và họp chợ Việc buôn bán với nước ngoài được duy trì Thuyền bè các nước láng giềng qua lại buôn bán ở một số cửa khẩu như Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), Hội Thống (Hà Tĩnh) và một số địa điểm ở Lạng Sơn, Tuyên Quang được kiểm soát chặt chẽ Các sản phẩm sành sứ, vải lụa, lâm sảm quý là những thứ hàng được thương nhân nước ngoài ưa chuộng
Tuy nhiên, cùng với thủ công nghiệp, thương mại vẫn bị nhà nước hạn chế Thời nhà Lê chính quyền dùng chính sách bế quan tỏa cảng Nhà Lê hạn chế ngoại thương hơn cả nhà Lý, nhà Trần Các tàu ngoại quốc tới buôn bán đều phải đậu ở Vân Đồn Dân buôn muốn đi buôn bán thì phải có giấy phép, về cũng phải có giấy phép Quan lại vô cớ tới Vân Đồn, dân chúng tự tiện đón tàu vào buôn bán cũng đều
bị xử tội Nguyên nhân một phần do chính sách giao thiệp với nhà Minh và các nước láng giềng còn mang tâm lý phòng bị
Về xã hội, cùng với sự phát triển của kinh tế, chính trị sự phân hóa cơ cấu giai
cấp trong xã hội được có những chuyển biến rõ rệt Hai tầng lớp chính là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông ngày đông đảo, củng cố Giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại đa số dân cư sống chủ yếu ở nông thôn Họ có rất ít hoặc không có ruộng đất phải cày ruộng đất công nộp tô thuế đi phục dịch cho nhà nước (đi lính, đi phu ) hoặc phải cày cấy ruộng thuê của địa chủ quan lại và phải nộp một phần hoa lợi (gọi
là tô) cho chủ ruộng.Nông dân là tầng lớp chủ yếu và là lực lượng lao động chính trong xã hội Tầng lớp thương nhân thợ thủ công ngày càng đông hơn họ phải nộp thuế cho nhà nước và không được xã hội phong kiến coi trọng Nô tì là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội bao gồm cả người Việt người Hoa dân tộc ít người Pháp luật nhà Lê hạn chế nghiêm ngặt việc bán mình làm nô hoặc bức dân tự do làm nô tì Nhờ vậy số lượng nô tì giảm dần Nhờ chính sách khuyến nông, cuộc sống của nhân dân được ổn định dân số ngày càng tăng Nhiều làng mới được thành lập Trong giai đoạn này Đại Việt đã trở thành một quốc gia có uy thế trong khu vực Đông Nam Á
Về tư tưởng, từ cuối thời Trần, Nho giáo đã có phần lấn át Phật Giáo Nếu
như ở thời Lý Phật giáo có ảnh hưởng lớn, thấm nhuần trong cả tư tưởng trị quốc và
Trang 28phát luật thì nay ở thời Hậu Lê, Nho giáo đã chiếm địa vị độc tôn Do vậy, tư tưởng Nho giáo đã chi phối ở nhiều lĩnh vực, nhất là trong hệ thống giáo dục từ địa phương đến triều đình Vua Thái Tổ sửa sang việc học hành, đặt trường Quốc tử giám ở đất kinh đô để cho con cháu các quan viên và những người thương dân tuấn
tú vào học tập; mở nhà học và đặt thầy dạy nho học ở các phủ và các lộ
Ở thời Hậu Lê, sự lựa chọn Nho giáo là có ý thức của giai cấp phong kiến thống trị Tư tưởng của Nho giáo bảo vệ các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ, vua tôi và giữ gìn sự phân chia đẳng cấp xã hội phức tạp theo danh phận Nhưng nó biết dung hợp sự phân chia và liên kết này trên nền tảng đạo đức, luân lý và chính trị trên cơ sở quan niệm và hoạt động lễ và pháp hòa lẫn vào nhau được thần thánh hóa là trung hiếu, tam cương phục vụ cho yêu cầu của giai cấp thống trị phong kiến Chính ý thức hệ tư tưởng này đã góp phần tích cực củng cố nhà nước phong kiến tập quyền quan liêu, củng cố nền thống nhất của xã hội nông nghiệp tạo ra một kỷ cương xã hội theo lễ và pháp
Để củng cố và tăng cường bộ máy nhà nước, lặp lại trật tự, kỷ cương xã
hội, giai cấp phong kiến không thể không tìm đến đạo tu – tề - trị - bình cùng lý thuyết Chính danh định phận và Lễ trị của Nho giáo Chính vì lẽ đó, các triều đại
phong kiến Việt Nam giai đoạn tiếp sau nói chung và nhà Hậu Lê nói riêng đã đề cao Nho giáo và coi Nho giáo như một thứ vũ khí sắc bén trên mọi lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực chính trị tư tưởng Nho giáo đã trở thành nền tảng cho việc tổ chức
bộ máy nhà nước và các hoạt động khác của đất nước Với sự lựa chọn có ý thức, tiếp nối những cơ sở Nho giáo, Nho học được gây dựng từ thời Lý – Trần – Hồ, vua Lê Thánh Tông đã lấy những quan điểm của Nho giáo làm hệ tư tưởng chỉ đạo việc biên soạn, ban hành pháp luật, nhầm thể chế hóa nhà nước phong kiến Đại Việt với truyền thống nhân đạo và lấy dân làm gốc Hơn thế, Nho giáo luôn là khuôn mẫu, là phương tiện cơ bản nhất để đào tạo, tuyển chọn và sử dụng quan lại Bởi vượt hơn hẳn những hệ tư tưởng khác, Nho giáo yêu cầu đội ngũ quan lại phải có những tố chất như: khả năng tham chính, trung thành và thanh liêm Nội dung chính trị bao trùm lên học thuyết Nho giáo là hướng con người vào triết lý
Trang 29sống Tu thân – Tề gia – Trị quốc – Bình thiên hạ mà ở đó, giai cấp cầm quyền bộ
máy quan lại giữ vai trò tiên phong
Quan lại chính là đội ngũ giúp vua thực hiện cai trị đất nước, là rường cột chính thực hiện các chính sách của vua Chính vì lẽ đó các vua nhà Lê đã sớm đặc biệt quan tâm tới đội ngũ này, nhất là dưới thời vua Lê Thánh Tông Ông thường xuyên trăn trở về vai trò, trách nhiệm và tiêu chuẩn trong việc xây dựng đôi ngũ quan lại của nhà nước phong kiến Nhận thức rõ ràng về vai trò quan trọng của đội ngũ quan lại ông đã đề ra hàng loạt các chính sách để xây dựng và hoàn thiện hoạt động của hệ thống quan lại Ông hiểu rằng chỉ có quản lý tốt đội ngũ quan lại mới mang lại hiệu quả cho việc trị nước của mình và dưới những nỗ lực của ông Đại Việt đã phát triển cực thịnh bậc nhất trong thời kỳ phong kiến
Như vậy, Nho giáo đóng vai trò chủ đạo đối với công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước của các triều đại phong kiến Việt Nam nói chung và đặc biệt là nhà Hậu Lê Sự độc tôn của Nho giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự hình thành, phát triển và những vấn đề liên quan đến hệ thống quan lại triều Hậu
Lệ và các triều đại sau đó
Về pháp luật, thế kỷ XV là dấu mốc hết sức quan trọng trong lịch sử pháp
luật Việt Nam, Lê Thánh tông đã ban hành Bộ Luật Hồng Đức hay còn gọi là Quốc triều hình luật cùng với nhiều văn bản pháp lý khác Bộ Quốc triều hình luật gồm
722 Điều, chia thành 16 Chương là Bộ luật có giá trị rất quan trọng trong lịch sử pháp luật Việt Nam Hệ thống pháp luật nhà Hậu Lê đặc biệt trong Quốc triều hình luật đã thể hiện rõ nét ý thức giai cấp của nhà nước trong các mối quan hệ xã hội đồng thời cũng vẫn giữ gìn nét đặc trưng của dân tộc Thông qua hệ thống pháp luật quy củ, nhà nước tập trung vào bảo vệ quyền lợi của vua, hoàng tộc cùng với các quan lại, quý tộc và giai cấp địa chủ phong kiến về mặt chính trị lẫn kinh tế tuy nhiên có sự hài hòa về lợi ích với các tầng lớp khác trong xã hội Đặc biệt, pháp luật thời kỳ này đã quan tâm, bảo vệ tư liệu và sức lao động cho sản xuất nông nghiệp, khuyến khích phát triển kinh tế, hạn chế sự ức hiếp, sách nhiễu của các cường hào, địa chủ và đội ngũ quan lại đối với nhân dân, có nhiều biện pháp trừng trị các hành
Trang 30vi trên do đó mà kỷ cương được duy trì Giá trị của Bộ luật không chỉ dừng lại ở bảo vệ lợi ích của tầng lớp quý tộc mà còn quan tâm tới các đối tượng yếu thế trong
xã hội như người già, trẻ em và phụ nữ Đây là điều đặc biệt nhất thể hiện sự tiến bộ mang đậm tính nhân văn sâu sắc của Pháp luật thời Hâu Lê Tóm lại, Bộ Luật Hồng Đức đánh dấu một trình độ phát triển cao của tư tưởng pháp lý của dân tộc Đại Việt, khá hoàn chỉnh và tiến bộ Bộ luật đã được sử dụng trong một thời gian dài cũng như để lại những giá trị kế thừa quý báu cho các nhà lập pháp sau này
Tóm lại, sau hơn 10 năm dưới ách đô hộ của nhà Minh, dưới sự cai trị tàn bạo của chúng, đất nước ta chịu rất nhiều mất mát Giặc Minh đã tiêu hủy rất nhiều sách vở, tư liệu lịch sử quý, các phong tục truyền thống tốt đẹp cũng bị cấm cản và
ép buộc dân ta theo tập quán người Trung Quốc Kinh tế, xã hội đều không được chú trọng phát triển mà chỉ ra sức vơ vét, đàn áp nhân dân ta Có thể nói dưới ách
đô hộ của nhà Minh, đất nước ta bị tụt hậu và kém phát triển, dân chúng đa phần ít học, trình độ dân trí thấp Các yếu tố này là lực cản lớn đòi hỏi các vị vua thời Hậu
Lê phải ra sức giải quyết nếu muốn đưa đất nước phát triển trở lại
Về cơ bản sau khi giành lại được độc lập các vua thời Hậu Lê đã rất quan tâm tới công cuộc cải cách hành chính, tổ chức lại bộ máy nhà nước Bằng những cải cách kịp thời nhà Hậu Lê mà hệ thống các cơ quan đã được đình hình và hoàn thiện từ trung ương tới địa phương cùng với đó hình thành nên đội ngũ quan lại tương ứng có chức năng nhiệm vụ rõ ràng Đây là điều kiện tiên quyết để phát triển một nền quan chế đầy đủ và có tính hoàn thiện cao Việc tư tưởng Nho giáo được chọn là tư tưởng chủ đạo trong việc trong việc xây dựng nền quan chế phong kiến
với triết lý “trung quân, ái quốc” làm rường cột đã tạo ra hệ thống các chuẩn mực
về năng lực, đạo đức cũng như trách nhiệm của quan lại trong hệ thống quan chế Pháp luật thời Hậu Lê cũng đã rất phát triển với sự sự ra đời của Bộ luật Hồng Đức cho thấy trình độ pháp điển hóa cao của các nhà làm luật thời kỳ này Do vậy các quy định, nguyên tắc trong hệ thống quan chế được ghi nhận dưới hình thức là những quy định của pháp luật mang hiệu lực pháp lý cũng rõ ràng, cụ thể và chi tiết hơn so với các triều đại trước
Trang 311.2.1.2 Bối cảnh lịch sử Việt Nam triều nhà Nguyễn
Nhà Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng cai trị Việt Nam trong lịch sử từ năm 1802 đến năm 1945, đánh dấu bằng sự kiện năm 1802 vua Gia Long lên ngôi sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và sụp đổ hoàn toàn năm 1945 với sự kiện thoái vị của vua Bảo Đại Triều nhà Nguyễn tồn tại tổng cộng 143 năm, là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế kỷ thứ 19
Triều nhà Nguyễn có thể chia ra hai giai đoạn riêng biệt là “Giai đoạn Độc lập và Giai đoạn bị đế quốc Pháp xâm lăng, đô hộ”
Giai đoạn độc lập (1802 – 1858) là giai đoạn mà các vua Nguyễn đang
nắm toàn quyền quản lý đất nước, kéo dài 56 năm và trải qua 4 đời vua, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức Vua Gia Long và con trai Minh Mạng (1820 – 1841) lựa chọn xây dựng mô hình nhà nước theo tư tưởng Nho giáo Từ thập niên 1830, giới trí thức Việt Nam với các đại diện tiêu biểu là Nguyễn Trường
Tộ đã đặt ra yêu cầu học hỏi phương Tây để phát triển công nghiệp – thương mại, nhưng họ chỉ là thiểu số Đáp lại, vua Minh Mạng và những người kế tục là vua Thiệu Trị (1841-1847) và vua Tự Đức (1847-1883) lấy dĩ nông vi bản làm chính sách chủ đạo mặc dù các chính sách này đã lỗi thời, không phù hợp với tình hình lúc bấy giờ
Giai đoạn bị Pháp xâm lược và đô hộ bắt đầu từ năm 1858 và kết thúc năm
1945 là giai đoạn kể từ lúc quân Pháp đánh Đà Nẵng tới sự kiện vua Bảo Đại thoái
vị Tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó rút vào chiếm Sài Gòn Tháng 6 năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Nam Kỳ Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua nhưng cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ Giai đoạn này chỉ kết thúc khi vua Bảo Đại thoái vị năm 1945
Trang 32a) Tổ chức chính quyền thời nhà Nguyễn
Nhà Nguyễn sau khi nắm chính quyền cũng nhanh chóng thúc đẩy một loạt các điều chỉnh nhằm ổn định tình hình đất nước
Năm 1802, trong khi đã quyết định Phú Xuân là quốc đô, vua Gia Long vẫn tạm đặt 11 trấn phía Bắc thành một Tổng trấn với tên cũ Bắc Thành, do một Tổng trấn đứng đầu Trong Nam đặt một Tổng trấn ở Thành Gia Định gồm có Quảng Nghĩa, Bình Định, Hòa, Bình Thuận Hai đầu đất nước, Gia Long đặt ra hai kỳ Bắc và Nam, giao phó quyền hành cho hai quan Tổng trấn tại Bắc Thành và Gia Định thành được phép thay mặt vua định đoạn mọi việc [38, tr.190]
Đến thời vua Minh Mạng, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, năm 1831 – 1832 nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn thành tỉnh Đây là lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở Việt Nam Năm
1831, Minh Mạng đổi các trấn từ Quảng Trị trở ra thành 18 tỉnh, và vùng còn lại ở phía Nam được chia làm 12 tỉnh Thừa Thiên, nơi tọa lạc của kinh đô Phú Xuân, là phủ trực thuộc Trung ương Cả nước được chia thành 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên [59, tr.438] Từ thời điểm này tất cả đều trực thuộc chính quyền Trung ương
Việc cải cách được thực hiện không chỉ dừng lại ở triều đình mà diễn ra tại các địa phương, hệ thống quan lại được quy định phù hợp với chính sách cai trị của nhà Nguyễn
Đứng đầu tỉnh là Tổng Đốc, mỗi người phụ trách từ hai đến ba tỉnh và chuyên trách một tỉnh Dưới Tổng đốc là Tuần phủ phụ trách một tỉnh Giúp việc có Bố chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính
Án sát sứ có về an ninh, luật pháp Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm, thường là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn Hệ thống chính chính được phân biệt rõ rệt giữa Trung ương
Trang 33và địa phương và trong hệ thống đó vua nắm nhiều quyền lực hơn hẳn so với các thời kỳ trước
Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quan trị Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng Nhìn chung, cơ cấu hình chính của các tổng, xã được tổ chức khá chặt chẽ để triều đình dễ dàng quản lý và phản ứng mau lẹ khi có sự biến xảy ra [59, tr.440]
Đối với vùng thượng du và với các khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu
số, vua Minh Mạng thực hiện nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với các vùng miền xuôi Ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ ti mà cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương làm Thổ tri các châu huyện Sau đó, ông còn đặt thêm một chức lưu quan do người Kinh nắm giữ để khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hành thu thuế như ở miền xuôi Tuy nhiên, do phản ứng của người dân địa phương, vua Tự Đức sau đó đã phải bãi bỏ chế độ lưu quan
Dưới thời Gia Long nhà Nguyễn còn có một số quan lại cấp cao người Pháp
trong hệ thống chính quyền
Nhà Nguyễn sử dụng một số quan lại cao cấp người ngoại quốc như Sen hô (Chaigneau), Va ni ê (Vanier), Baridi (Barisy)… Đây không phải là chính sách cởi mở trong việc dùng người mà chỉ là sự đền đáp công lao cho những người Pháp theo Nguyễn Anh trong thời kỳ chiến tranh chống Tây Sơn [38, tr.191]
b) Tình hình kinh tế - xã hội – tư tưởng – pháp luật
Về nông nghiệp, vấn đề ruộng đất đã được vua Gia Long quan tâm ngay từ
khi mới lên ngôi Ông đã phải ra lệnh cấm bán ruộng đất công và quy định chặt chẽ việc cầm cố loại công điền, công thổ này để đảm bảo đất cày cho nông dân Trải qua nội chiến, nhân dân lại gặp mất mùa liên tiếp Triều đình thường phải giảm thuế, miễn thuế và phát chẩn Thời Minh Mạng định lại phép quân điền, cấp ruộng
Trang 34khẩu phần, quan lại, binh lính, công tượng cùng các hạng dân đinh không kể phẩm trật cao thấp đều được hưởng một phần khẩu phân, nhưng quan lại, cường hào cũng giành được những phần tốt hơn Người già, người tàn tật thì được nửa phần Cô nhi, quả phụ được một phần ba Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhằm giải quyết vấn đề ruộng đất, nhà Nguyễn vẫn không thoát được lối mòn của các triều đại phong kiến trước đó trong chính sách bảo vệ và duy trì chế độ quân điền
Vào giữa thế kỷ XIX, những biện pháp này rất lỗi thời, lạc hậu Chính sách ruộng đất của nhà Nguyễn không xuất phát từ yêu cầu phát triển của sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu nhằm gia cố bệ đỡ kinh tế cho một nhà nước chuyên chế lấy nông nghiệp làm nền tảng Vì vậy trên thực
tế, những chính sách này đã trở thành nhân tố cản trở sự phát triển của kinh tế nông nghiệp [38, tr.193]
Tại miền Nam, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục việc khai hoang và phục hóa, từ thời các chúa Nguyễn để lại như việc khẩn hoang, mở rộng, phát triển nông nghiệp Ở Nam Kỳ, người dân đã tự do đế khẩn hoang với tư cách cá nhân hoặc tập thể dưới
sự giúp đỡ của triều đình Trong đó đặc biệt nổi tiếng nhất là hai vị quan tổ chức khẩn hoang Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Tri Phương Ngoài ra, triều đình nhà
Nguyễn còn khuyến khích nhân dân tự do khai hoang kết hợp phục hóa Việc đình
điền cũng có chỉnh đốn và kiểm soát chặt chẽ hơn Triều đình nhà Nguyễn dành cho việc khai hoang, phục hóa rất nhiều sự quan tâm, họ đã cho tiến hành nhiều chính sách khẩn hoang khác nhau và đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp Dưới thời nhà Nguyễn, địa giới lãnh thổ của Việt Nam đã được mở rộng thêm so với các thời kỳ
trước… “trong thời gian 27 năm trị vì của Minh Mạng từ năm 1820 tới năm 1840
và Thiệu Trị từ năm 1841 tới năm 1847 diện tích canh tác đã tăng thêm 1.174.961 mẫu…” [38, tr.194] Số ruộng đất được mở rộng thêm là không nhỏ, tuy nhiên vẫn
không thể giải quyết dược những mâu thuẫn đang đặt ra cho Việt Nam lúc bấy giờ
Về thủ công nghiệp, thủ công nghiệp nhà nước thời Nguyễn chế tạo tất cả
những đồ dùng cho hoàng gia, tham gia đóng thuyền cho quân đội, đúc vũ khí, đúc tiền Nhà Nguyễn cũng tập trung xây dựng hệ thống các xưởng thủ công Nhà nước,
Trang 35nhất là ở kinh đô và các vùng phụ cận Năm 1803, vua Gia Long thành lập xưởng đúc tiền Bắc Thành tiền cục ở Thăng Long Nhà Nguyễn cũng lập các Ty trông coi các ngành thủ công, như ty Vũ khố chế tạo, quản lý nhiều ngành thủ công khác nhau làm đất, đúc, làm đồ vàng bạc, vẽ tranh, làm ngói, làm đồ pha lê, khắc chữ,
đúc súng… “Ty Thuyền chịu trách nhiệm về các loại thuyền công và thuyền chiến,
có đến 235 cơ sở trên khắp các địa phương, ngoài ra còn có ty Doanh thiện, ty Tu tạo, ty Thương bác hỏa được” [38, tr.194]
Phần lớn nhân lực trong các xưởng thủ công Nhà nước là do triều đình trưng dụng thợ khéo trong các ngành thủ công nghiệp để làm việc cung cấp đồ dùng cho triều đình Ngoài ra, họ đã sáng chế được nhiều máy móc tiên tiến và có chất lượng vào thời đó, ví dụ các máy của xẻ gỗ, máy tưới ruộng và cả máy hơi nước
Về thương mại, sau khi đất nước được thống nhất vẫn chưa thực sự phát
triển, tổ chức thương mại của người Việt vẫn còn đơn giản, trong phạm vi gia đình Nếu có những hội buôn lớn thì cũng dừng lại ở quy mô những phường họp vài thương gia góp vốn với nhau để kinh doanh rồi chia tiền ngay, không liên kết lại những hội buôn làm ăn lâu dài Nhiều người Việt Nam dùng tiền của để mua ruộng đất chứ không đầu tư kinh doanh, mở rộng quy mô thương mại hay cải tiến công nghệ.Việc buôn bán ở các chợ quy mô lớn do thương nhân Hoa kiều chi phối, dù những người này chỉ là thiểu số Các mặt hàng tiêu dùng họ kinh doanh gồm thổ sản, vải, đồ đồng, giấy Trong vùng nông thôn, hoạt động thương mại cũng chỉ nhằm trao đổi nông sản và hàng tiểu thủ công ở các chợ Ở đó, ngoài những cửa hàng tạp háo quy mô nhỏ hay các cửa tiệm bán thuốc Bắc, còn có những nông dân bán thổ sản và nông sản địa phương Một số thương nhân nhỏ bán vải vóc, hàng xén, cau thuốc, đi rong từ chợ này sang chợ khác Việc thương mại không được quan tâm đúng mức, tầng lớp thương nhân cũng chưa được tôn trọng và đánh giá
hết tầm quan trọng Cùng với chính sách “bế quan tỏa cảng” nhìn chung đã hạn chế
rất nhiều cơ hội giao thương buôn bán ra bên ngoài của thương nhân Việt Nam, đồng thời cũng khép lại cánh của cách tân cho đất nước thời bấy giờ
Trang 36Về giáo dục, tư tưởng Vua Gia Long rất đề cao Nho học, chi lập Văn Miếu
ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở Kinh thành Huế để dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan Cũng trong năm này, vua Gia Long cũng cho ban hành hai đạo dụ về việc mở các trường ở các tỉnh, ấn định nhân viên giáo giới và chương trình học chế đồng thời tái lập các khoa thị ở các trấn
Nhà Nguyễn rất chuộng Nho giáo điều này ít nhiều ảnh hưởng tới giáo dục Trong dân chúng việc học tập có tính chất tự do hơn Bất kỳ người nào có học lực khá cũng có thể tự mở trường tư thục để dạy học Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà thầy hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho các nhà lân cận đến học Hình ảnh thầy đồ, trò tiểu rất tiêu biểu trong thời kỳ này
Về pháp luật, buổi đầu dựng nước nhà Nguyễn chưa có một bộ luật rõ
ràng, chi tiết:
Vua Gia Long chỉ mới lệnh cho các quan tham khảo bộ luật Hồng Đức để rồi từ đó tạm đặt ra 15 điều luật quan trọng nhất Năm 1811, theo lệnh của vua Gia Long, tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành đã chủ trì biên soạn một bộ luật mới và đến năm 1815 đã được vua Gia Long ban hành với tên Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là luật Gia Long
Bộ Luật Gia Long gồm 398 điều, chia làm 7 chương và chép trong một
bộ sách gồm 22 cuốn, được in phát khắp mọi nơi Theo lời tựa, bộ luật ấy hình thành do tham khảo luật Hồng Đức và luật nhà Thanh nhưng kỳ thực là chép luật của nhà Thanh, chỉ thay đổi ít nhiều Chương “Hình luật: chiếm tỉ lệ lớn, đến 166 điều trong khi những chương khác như “Hộ Luật” chỉ có 66 điều còn “Công luật” chỉ có 10 điều Trong bộ luật có một số điều luật khá nghiêm khắc, nhất là về các tội phản nghịch, tội tuyên truyền “yêu ngôn, yêu thư”.Tuy nhiên, bộ luật cũng đề cao việc chống tham nhũng và đặt ra nhiều điều luật nghiêm khắc để trừng trị tham quan Đến các đời vua sau Gia Long, bộ luật này cũng được chỉnh sửa và cải tiến nhiều, nhiều nhất là dưới thời Minh Mạng [59, tr.442]
Trang 37Nhìn chung đến đầu thế kỷ XIX, đất nước thống nhất đã tạo tiền đề vô cùng thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế hàng hóa Nhưng thực tế, thương nghiệp lại
có chiều hướng suy thoái Nhà Nguyễn thi hành chính sách thuế khóa phức tạp và chế độ kiểm soát ngặt nghèo đối với hoạt động buôn bán Đối với ngoại thương thì nhà Nguyễn độc quyền, nhà Nguyễn hết sức dè dặt với các tàu buôn Phương Tây,
thương nhân chủ yếu là người Hoa, người Mã Lai
Cùng với sự suy thoái của kinh tế thương nghiệp, các đô thị ngày càng kém phần phồn thịnh Từ năm 1802, Thăng Long mất vị trí thủ đô, trở thành thủ phủ của Bắc Thành và đến năm 1831 bị đổi thành tỉnh Hà Nội Các đô thị khác như Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An sa sút không phục hồi được Cho đến giữa thế kỷ XIX, kinh tế đất nước trở nên hết sức trì trệ [38, tr.195]
1.2.2 Quá trình xây dựng và phát triển quan chế thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn
1.2.2.1 Quá trình xây dựng và phát triển quan chế thời Hậu Lê
Thứ nhất, nhà nước cho thành lập hệ thống trường công và trường tư rộng
rãi nhằm tạo điều kiện và khuyến khích con em các thành phần xã hội không phân biệt giàu nghèo, sang hèn có đủ điều kiện học và thi đều có thể tham gia
Thứ hai, việc tuyển chọn quan lại được xây dựng thành một chế độ có
tính khách quan nhằm quy tụ và sử dụng được nhiều nhân tài cho đất nước Được coi là rường cột của quốc gia nên đội ngũ quan lại được đào tạo, tuyển chọn rất khắt khe thông qua những tiêu chuẩn mang tính chuẩn mực nhất Lê Thánh Tông
đã từng có ý chỉ:
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp Vì vậy, các đấng Thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng [66, tr.35]
Chính vì vậy, tiêu chuẩn nhà nước đặt ra cho những người làm quan là phải
Trang 38có đủ Hiền và Tài Điều này đồng nghĩa với tư cách của người quân tử theo quan niệm của Nho giáo Hai tiêu chuẩn này được nhà Hậu Lê mà điển hình là Lê Thánh Tông cụ thể hóa thành những yêu cầu bắt buộc đối với người làm quan
Thứ ba, việc tuyển chọn quan lại được thực hiện chủ yếu qua hình thức khoa
cử nghiêm ngặt, bên cạnh đó còn có một số hình thức khác như nhiệm tử, bảo cử, tiến cử Tuy nhiên, những hình thức này không phải là chủ yếu
Thứ tư, nội dung giáo dục chủ yếu là Nho giáo qua các sách Tứ thư, Ngũ
Kinh, Bác sử, Thơ phú… Bênh cạnh đó, nhà nước cũng mở các trường đào tạo võ
và cũng tổ chức thi để tuyển các quan võ
Thứ năm, nhà nước có chính sách khuyến khích học tập, thi cử bằng cách đặt
lệ xướng danh, treo bảng, ban mũ áo, phẩm tước, dựng bia tiến sĩ và lệ vinh quy bái
tổ Những biện pháp nói trên đã góp phần quan trọng phát triển giáo dục trong nước
Thứ sáu, nhà nước có chính sách đãi ngộ hợp lý không chỉ về mặt vật chất
như tiền lương, bổng hàng năm, được cấp lộc điền, quân điên mà còn có những đãi ngộ về mặt tinh thần cho đội ngũ công thần, quan lại đương triều như được giảm sưu thuế… đặc biệt và cũng là chính sách đãi ngộ tinh thần cao nhất đó là được hưởng chế độ tập ấm
Thứ bảy, để đội ngũ quan lại hoạt động hiệu quả nhà nước đã đề ra những
chính sách sử dụng quan lại cụ thể, đồng thời có nhiều biện pháp kiểm tra giám sát quan lại như tổ chức khảo hạch để thang giáng quan lại, luân chuyển quan lại… đồng thời có những biện pháp xử lý nghiêm minh đối với những hành vi vi phạm pháp luật của quan lại
Nhận thức về vai trò đặt biệt quan trọng của quan lại là nhận thức bao trùm
và chỉ đạo mọi nỗ lực xây dựng đội ngũ quan lại trong suốt cuộc đời làm vua của Lê
Thánh Tông Ông hiểu rằng: “Trăm quan là nguồn gốc của trị, loạn”, đồng thời ông triển khai rộng hơn: “Một nước trị hay hay dở là do ở vua và quan giỏi hay
dở…” [28, tr.65] Tuy nhiên, điều quan trọng không phải ở chỗ ông phát biểu thế
nào về vai trò của quan lại mà là ở chính những cố gắng không mệt mỏi của ông trong quá trình cải cách hành chính để tạo dựng chính sách toàn diện về đội ngũ
Trang 39quan lại, tiến hành thể chế hóa chính sách đó và hình thành trên thực tế một đội ngũ quan lại thực sự trung thành và chuyên nghiệp
Năm 1471, khi sửa định Hoàng triều quan chế, Lê Thánh Tông đã định rõ chính sách của Nhà nước về quan lại:
… Ở trong quân vệ đông đúc thì năm phủ chia nhau để giữ; việc công bề bộn thì sáu bộ bàn nhau mà làm Ba ty cấm bình thủ ngự để làm nanh vuốt lòng dạ; sáu khoa để xét bác trăm ty; sáu tự để thừa hành mọi việc thông chính sử ty thì tuyên đức hóa của vua để đạt tình dân bên dưới; ngự sử hiến sát thì tâu hặc các quan làm bậy, tỏ rõ tình dân đau ngầm Ở ngoài thì mười ba thừa tuyên cùng tổng binh coi giữ địa phương Đô ty thủ ngự thì chống giữ các bảo, sở, quan thì để phòng giữ Công việc liên lạc, ràng buộc lẫn nhau… Chế độ trước đây, đặt quan phần nhiều lấy quan to tước cao, chế độ ngày nay đặt quan đều là lương
ít trật thấp Đặt quan so với trước nhiều hơn, chỉ lộc so với xưa vẫn thế
Ăn hại đã không có, trách nhiệm lại có nơi Để cho lớn nhỏ cùng ràng buộc lẫn nhau, khinh trọng cùng kìm chế nhau Uy quyền không lạm, lẽ nước khó lay Thành thói quen theo đạo giữ phép, không có lỗi trái nghĩa phạm hình [7, tr.332-333]
Để có một đội ngũ quan lại có đạo đức thể hiện ở lòng trung thành và trách nhiệm với vua, trách nhiệm trước dân, trách nhiệm trong thực thi công vụ, Lê Thánh Tông đã đặt ra chính sách cụ thể về quy chế lương bổng, ruộng lộc, phẩm tước rõ ràng và thống nhất theo thứ bậc cao thấp Cơ sở pháp lý để cải cách quan chế và triển khai các biện pháp xây dựng đội ngũ quan lại là bản Dụ Hiệu định quan chế (Hoàng triều quan chế), Lệ khảo khóa năm 1470, Sắc chỉ năm 1480, Điều lệnh
1485, Chiếu chỉ năm 1487… Đặc biệt Lê Thánh Tông đã tiến hành thể chế hóa chính sách đối với quan lại thông qua hàng loạt các quy định của Luật Hồng Đức về tiêu chuẩn, quyền hạn và nghĩa vụ của quan lại Có thể nêu ra một số dẫn chứng: Các quan đang tại chức mà trễ nhác công việc công thì bị phạt 70 trượng, biếm ba
tư và bãi chức (Điều 199); Quan lại không tuân lệnh vua mà lệnh đó không quan
Trang 40trọng thì xử biếm hay đồ, nếu là việc quân khẩn cấp thì xử tội lưu hay tội chết (Điều 222)… Ngoài ra, ngay từ khi mới lên ngôi và trong suốt cuộc đồ làm vua Lê Thánh Tông đã cho thi hành nhiều biện pháp để trong sạch hóa đội ngũ quan lại Ông là
người đầu tiên tiếp thu và vận dụng luật Hồi tỵ đưa vào các quy định của Bộ luật
Hồng Đức và áp dụng nghiêm ngặt trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thậm chí áp dụng cho cả đội ngũ chức viên ở cấp xã, nhằm tránh tình trạng móc ngoặc để tham
ô, nhũng nhiễu, nể nang né tránh… làm ảnh hưởng đến công vụ nhà nước Để chống tham nhũng, hối lộ, kết bè cánh trong quan trường, Lê Thánh Tông rất chú trọng sử dụng pháp luật Ngoài những quy định của Bộ luật Hồng Đức, nhà vua cho ban hành nhiều sắc chỉ để trừng trị tệ nạn này
Trên một phương diện khác, Lê Thánh Tông đặc biệt chú trọng tạo dựng một đội ngũ quan lại có thực tài Theo dụ Hiệu định quan chế thì những người được tuyển bổ làm quan phải là những người thi đỗ trong các kì thi Hương, thi Hội, thi Đình Không kể đến các cơ quan ở triều đình, ngay cả đến quan lại địa phương cũng
phải là những người đỗ đạt “Phàm các lại viên có chân thi Hội đỗ Tam trường thì
bổ là chánh quan châu huyện và các chức kinh dịch, thủ lĩnh, phó sứ Còn các lại viên không có chân thì Hội đỗ Tâm trường thì chỉ bổ chức thủ lĩnh hoặc châu huyện’ [31, tr.150], thậm chí đến Xã trưởng – tuy không phải là quan chức triều
đình nhưng cũng phải lựa chọn trên cơ sở có học “Phải xét những người biết chữ,
có tài cán mới nên lưu lại để tiện cho việc xét đoán váo trình các việc và tiện cho dân Nếu không biết chữ thì cho nghỉ” [15, tr.278] Phúc đáp nhu cầu đó, trong 38
năm trị vì, Lê Thánh Tông đã từng bước quy chế hóa các kì thi Hương, thi Hội, thi Đình, đi đôi với các biện pháp khuyến khích học hành và tăng cường chất lượng giáo dục Ngoài ra, Lê Thánh Tông hết sức coi trọng năng lực thực tế của quan lại Một trong những bằng chứng là ngoài hai hình thức tuyển dụng quan lại vốn được
sử dụng phổ biến từ trước (tiến cử và tập ấm và hình thức khoa cử đã được mở rộng dưới triều ông cầm quyền, Lê Thánh Tông còn đặt ra lệ bảo cử bằng một đạo sắc vào năm Giáp Thìn (1484), trong đó quy định, các nha môn trong ngoài, nếu có chức nào khuyết thì có thể tìm người tài cán, học thức, thanh liêm, học giỏi để đề