1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5

89 1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vật Liệu Kim Loại Thép Và Gang
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Khoa Học Vật Liệu
Thể loại Giáo Trình
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 6,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- quặng sắt có lẫn các hợp chất khoáng vật khác như ôxyt mangan, ôxyt silic, trong quá trình luyện gang chúng bị hoàn nguyên MnO → Mn, SiO2 → Si đi vào gang rồi vào thép, - khi luyện thé

Trang 1

Phần III vật liệu kim loại

Chương 5 thép và gang

Các hợp kim trên cơ sở của sắt chiếm tỷ lệ áp đảo trong vật liệu kim loại, có

tỷ lệ lớn trong vật liệu nói chung và được dùng rất phổ biến trong kỹ thuật cũng như trong đời sống, làm các chi tiết quan trọng với yêu cầu kỹ thuật cao Trong số các hợp kim của sắt trong chương này chỉ đề cập đến hợp kim Fe-C tức thép và gang, là loại rất thường gặp với nhiều chủng loại đa dạng thích ứng với rất nhiều mục đích sử dụng khác nhau Sẽ lần lượt trình bày các nhóm thép và gang

Thép là loại vật liệu kim loại có cơ tính tổng hợp cao, có thể chịu tải trọng rất nặng và phức tạp, đó là vật liệu chế tạo máy thông dụng, chủ yếu và quan trọng nhất Hầu như mọi thép đều có thể áp dụng nhiệt luyện và hóa - nhiệt luyện để thay đổi cơ tính theo hướng mong muốn Do có khả năng biến dạng dẻo tốt, trong công nghiệp thép được cung cấp dưới dạng các bán thành phẩm: dây, sợi, thanh, tấm, lá, băng, ống, góc, và các dạng hình khác nhau rất tiện cho sử dụng Ngoài khả năng biến dạng dẻo một số nhóm thép còn có tính hàn tốt, rất tiện sử dụng trong xây dựng Tính đúc của thép nói chung không cao song một số mác có thể tiến hành đúc thành các sản phẩm định hình tương đối phức tạp Do những ưu

điểm như vậy thép được coi là vật liệu xương sống của công nghiệp

Cần chú ý là thép là loại vật liệu kim loại với nhiều nhóm có tính chất, công dụng rất khác nhau, do đó phải nắm vững tính chất, tác dụng của cacbon và từng nguyên tố, cũng như từng nhóm, phân nhóm, mác điển hình

Theo thành phần hóa học có hai loại thép: cacbon và hợp kim Trước tiên

h∙y phân biệt, so sánh các đặc tính cơ bản của hai loại thép chính này

5.1 Khái niệm về thép cacbon và thép hợp kim

5.1.1. Thép cacbon

Thép cacbon hay thép thường, được dùng rất phổ biến trong đời sống cũng như trong kỹ thuật, nó chiếm tỷ trọng rất lớn (tới 80 ữ 90%) trong tổng sản lượng thép

Thép cacbon là thép thông thường (thép thường), ngoài cacbon ra còn chứa một số nguyên tố với hàm lượng giới hạn mà trong thép nào cũng có, chúng được

gọi là tạp chất thường có hay chất lẫn vì không phải do cố ý đưa vào Trong số các

tạp chất có một số có lợi và một số có hại H∙y xem xét các nguyên tố đó Tạp chất có lợi: mangan và silic

Bất kỳ thép nào dù đơn giản đến đâu cũng có mangan và silic với lượng không vượt quá 1%, chúng đi vào thành phần của thép là do:

Trang 2

- quặng sắt có lẫn các hợp chất (khoáng vật) khác như ôxyt mangan, ôxyt silic, trong quá trình luyện gang chúng bị hoàn nguyên (MnO → Mn, SiO2 → Si)

đi vào gang rồi vào thép,

- khi luyện thép phải dùng ferô mangan và ferô silic để khử ôxy, phần không tác dụng hết với ôxy sẽ đi vào thành phần của thép {ferô là loại hợp kim trung gian, dễ luyện vì có nhiệt độ chảy tương đối thấp, là nguyên liệu để pha chế, sử dụng trong quá trình luyện kim; nó chứa sắt, cacbon (> 1%) và lượng lớn nguyên

tố hợp kim tương ứng Ví dụ ferô mangan 80 là loại có khoảng 80%Mn}

Trong các điều kiện thông thường của quá trình luyện, các thép đều có chứa

≤ 0,80%Mn, ≤ 0,40%Si Chúng là các nguyên tố có ích, có tác dụng tốt đến cơ tính: nâng cao độ cứng, độ bền (cũng làm giảm độ dẻo, độ dai), song với lượng ít như vậy không có ảnh hưởng đáng kể đến cơ tính của thép cacbon

Tạp chất có hại: phôtpho và lưu huỳnh

Hai nguyên tố này đi vào thành phần của gang và thép qua con đường quặng sắt và nhiên liệu (than coke khi luyện gang) Chúng làm thép giòn do đó phải được khử bỏ đến giới hạn cho phép, song thông thường cao nhất cũng không được vượt quá 0,05% cho mỗi nguyên tố

Vậy thép nào ngoài sắt ra cũng đều có chứa:

Đặc trưng của công nghiệp luyện kim hiện đại là sử dụng lại (tái chế) ngày càng nhiều với tỷ lệ cao thép, gang và hợp kim phế liệu mà trong đó có một phần

là loại chứa các nguyên tố có lợi (nguyên tố hợp kim) Do vậy ngay trong thép cacbon luyện ra cũng có thể chứa hàm lượng thấp các nguyên tố sau:

- crôm, niken, đồng ≤ 0,30% cho mỗi nguyên tố song tổng lượng của chúng không được vượt quá 0,50%,

- vonfram, môlipđen, titan ≤ 0,05% cho mỗi nguyên tố

Đáng chú ý xu thế này ngày một mạnh nên hàm lượng cho phép của các nguyên tố trên trong thép thường cũng tăng lên

Song dù như vậy người ta vẫn chỉ coi chúng là tạp chất (chất lẫn vào) vì:

- không cố ý đưa vào,

- với lượng ít như vậy, chúng không có ảnh hưởng đáng kể đến tổ chức và cơ tính của hợp kim Fe - C, về cơ bản thép tạo thành có tổ chức phù hợp với giản đồ pha Fe - C

Sau đây xét ảnh hưởng của năm nguyên tố thường gặp nhất trong thép cacbon

b.ảnh hưởng của cacbon đến tổ chức, tính chất và công dụng của thép thường

Trang 3

Tuy là nguyên tố hóa học rất bình thường song có thể nói cacbon là nguyên

tố quan trọng nhất, quyết định chủ yếu đến tổ chức, tính chất (cơ tính), công dụng của thép (cả thép cacbon lẫn thép hợp kim thấp)

Tổ chức tế vi

Như thấy rõ từ giản đồ pha Fe-C, khi hàm lượng cacbon tăng lên tỷ lệ xêmentit là pha giòn trong tổ chức cũng tăng lên tương ứng (cứ thêm 0,10%C sẽ tăng thêm 1,50% xêmentit) do đó làm thay đổi tổ chức tế vi ở trạng thái cân bằng (ủ)

- C ≤ 0,05% - thép có tổ chức thuần ferit (hình 3.19a), coi như sắt nguyên chất

- C = 0,10 ữ 0,70% - thép có tổ chức ferit + peclit, khi %C tăng lên lượng peclit tăng lên (các hình 3.22a,b,c), đó là các thép trước cùng tích

aK giảm 300kJ/m2, còn trong phạm vi cacbon trung bình (0,30 ữ 0,50%) tương ứng

là 3% và 200kJ/m2 Như vậy hàm lượng cacbon càng cao thép càng cứng, càng kém dẻo dai và càng giòn Có thể dễ dàng giải thích điều này là do lượng pha xêmentit cứng và giòn tăng lên

ảnh hưởng của cacbon đến giới hạn bền σb không đơn giản như đối với độ cứng Thấy rằng cứ tăng 0,10%C trong khoảng 0,10 ữ 0,50%C σb tăng khoảng 70

Trang 4

ữ 90MPa, trong khoảng 0,60 ữ 0,80%C σb tăng rất chậm và đạt đến giá trị cực đại trong khoảng 0,80 ữ 1,00%C, khi vượt quá giá trị này σb lại giảm đi Có thể giải thích như sau: thoạt tiên tăng số phần tử xêmentit trong nền ferit sẽ làm tăng số chốt cản trượt cho pha này do vậy σb tăng lên cho đến khi có tổ chức hoàn toàn là peclit, khi vượt quá 0,80 ữ 1,00%C ngoài peclit (tấm) ra bắt đầu xuất hiện lưới xêmentit II (hình 3.23) giòn lại ở dạng liên tục (lưới) làm cho thép không những giòn mà còn làm giảm giới hạn bền

Vai trò của cacbon Công dụng của thép theo thành phần cacbon

Chính do cacbon có ảnh hưởng lớn đến cơ tính như vậy nên nó quyết định phần lớn công dụng của thép Muốn dùng thép vào việc gì điều cần xem xét trước tiên là hàm lượng cacbon sau đó mới tới các nguyên tố hợp kim Điều khá kỳ diệu

là chỉ cần thay đổi chút ít hàm lượng cacbon (chênh lệch nhau không quá 0,50%)

có thể tạo ra các nhóm thép có cơ tính đối lập nhau mà không nguyên tố nào có

được Theo hàm lượng cacbon có thể chia thép thành ba - bốn nhóm với cơ tính và công dụng rất khác nhau như sau

- Thép có cacbon thấp ( 0,25%) có độ dẻo, độ dai cao nhưng độ bền, độ

cứng lại thấp, hiệu quả nhiệt luyện tôi + ram không cao, được dùng làm kết cấu xây dựng, tấm lá để dập nguội Muốn nâng cao hiệu quả của nhiệt luyện tôi + ram

để nâng cao độ bền độ cứng phải qua thấm cacbon

- Thép có cacbon trung bình (0,30 0,50%) có độ bền, độ cứng, độ dẻo, độ

dai đều khá cao mặc dầu không phải là cao nhất, có hiệu quả tôi + ram tốt, tóm lại

có cơ tính tổng hợp cao nên được dùng chủ yếu làm các chi tiết máy chịu tải trọng tĩnh và va đập cao

- Thép có cacbon tương đối cao (0,55 0,65%) với ưu điểm là có độ cứng

tương đối cao, giới hạn đàn hồi cao nhất, được dùng làm các chi tiết đàn hồi

- Thép có cacbon cao ( 0,70%) với ưu điểm là có độ cứng và tính chống

mài mòn đều cao, được dùng làm công cụ như dao cắt, khuôn dập, dụng cụ đo.Trong một số kiểu phân loại, nhóm thép có cacbon trung bình có lượng cacbon thay đổi từ 0,30 đến 0,65% Thật ra các giới hạn về thành phần cacbon kể trên để định ranh giới giữa các nhóm cũng không hoàn toàn cứng nhắc, có thể xê

có cacbon thấp cũng có tính gia công cắt kém

Nói chung tính đúc của thép không cao

c.ảnh hưởng của các tạp chất thường có

Mangan

Mangan được cho vào mọi thép dưới dạng ferô mangan để khử ôxy thép ở trạng thái lỏng tức là để loại trừ FeO rất có hại:

Mn + FeO → Fe + MnO (MnO nổi lên đi vào xỉ và bị cào ra khỏi lò) Ngoài ra mangan cũng loại trừ được tác hại của lưu huỳnh

Mangan có ảnh hưởng tốt đến cơ tính, khi hòa tan vào ferit nó nâng cao độ

Trang 5

bền và độ cứng của pha này (hình 5.2a), do vậy làm tăng cơ tính của thép, song lượng mangan cao nhất trong thép cacbon cũng chỉ nằm trong giới hạn 0,50 ữ

0,80% nên ảnh hưởng này không quan trọng Mn còn có tác dụng làm giảm nhẹ tác hại của lưu huỳnh

Silic

Silic được cho vào nhiều loại thép dưới dạng ferô silic để khử ôxy triệt để thép ở trạng thái lỏng:

Si + FeO → Fe + SiO2(SiO2 nổi lên đi vào xỉ và bị cào ra khỏi lò) Giống như mangan, silic hòa tan vào ferit cũng nâng cao độ bền và độ cứng của pha này (hình 5.2a) nên làm tăng cơ tính của thép, song lượng silic cao nhất trong thép cacbon cũng chỉ trong giới hạn 0,20 ữ 0,40% nên tác dụng này cũng không rõ rệt

Phôtpho

Là nguyên tố có khả năng hòa tan vào ferit (tới 1,20% ở hợp kim thuần Fe

- C, còn trong thép giới hạn hòa tan này giảm đi mạnh) và làm xô lệch rất mạnh mạng tinh thể pha này làm tăng mạnh tính giòn; khi lượng phôtpho vượt quá giới hạn hòa tan nó sẽ tạo nên Fe3P cứng và giòn Do đó phôtpho là nguyên tố gây giòn nguội hay bở nguội (ở nhiệt độ thường) Chỉ cần có 0,10%P hòa tan, ferit đ∙ trở

nên giòn Song phôtpho là nguyên tố thiên tích (phân bố không đều) rất mạnh nên

để tránh giòn lượng phôtpho trong thép phải ít hơn 0,050% (để nơi tập trung cao nhất lượng phôpho cũng không thể vượt quá 0,10% là giới hạn gây ra giòn) Phôpho cũng có mặt lợi, được nói ở mục 5.3.6b

Lưu huỳnh

Khác với phôtpho, lưu huỳnh hoàn toàn không hòa tan trong Fe (cả Feα lẫn

Feγ) mà tạo nên hợp chất FeS Cùng tinh (Fe + FeS) tạo thành ở nhiệt độ thấp (988oC), kết tinh sau cùng do đó nằm ở biên giới hạt; khi nung thép lên để cán, kéo (thường ở 1100 ữ 1200oC) biên giới bị chảy ra làm thép dễ bị đứt, g∙y như là

thép rất giòn Người ta gọi hiện tượng này là giòn nóng hay bở nóng

Khi đưa mangan vào, do có ái lực với lưu huỳnh mạnh hơn sắt nên thay vì FeS sẽ tạo nên MnS Pha này kết tinh ở nhiệt độ cao, 1620oC, dưới dạng các hạt nhỏ rời rạc và ở nhiệt độ cao có tính dẻo nhất định nên không bị chảy hoặc đứt, g∙y Sunfua mangan cũng có lợi cho gia công cắt (mục 5.3.6b)

d.Phân loại thép cacbon

Có nhiều cách phân loại thép cacbon mà mỗi cách cho biết một đặc trưng riêng biệt cần để ý để sử dụng thép được tốt hơn

Theo độ sạch tạp chất có hại và phương pháp luyện

Rõ ràng là thép càng ít tạp chất có hại (P, S) và các khí (H, O, N) có độ dẻo,

độ dai càng cao tức có cơ tính tổng hợp cao, chất lượng càng cao Các phương pháp luyện thép khác nhau có khả năng loại trừ tạp chất có hại khác nhau này ở các mức cao thấp khác nhau do đó tạo cho thép chất lượng tốt, xấu khác nhau Có nhiều phương pháp luyện thép song cho đến hiện nay trên thế giới chỉ còn tồn tại

ba phương pháp chính là lò mactanh, lò điện hồ quang và lò thổi ôxy từ đỉnh (lò D) (nước ta chỉ bằng lò điện hồ quang), ngoài ra còn các phương pháp làm sạch tạp chất ngoài lò

L-Theo mức độ sạch tạp chất từ thấp đến cao có các mức chất lượng sau

- Chất lượng thường, lượng P, S chỉ được khử đến mức 0,050% (hay cao hơn

một chút) cho mỗi nguyên tố Phương pháp luyện thép L-D thường chỉ đạt được

Trang 6

cấp chất lượng này mặc dầu nó cho năng suất rất cao và giá thành thép rẻ Cấp chất lượng này thường chỉ áp dụng cho nhóm thép có yêu cầu không cao như một

số thép xây dựng thông dụng

- Chất lượng tốt, lượng P, S được khử đến mức 0,040% cho mỗi nguyên tố

Phương pháp luyện thép bằng lò mactanh và lò điện hồ quang dễ dàng đạt được cấp chất lượng này Cấp chất lượng này thường áp dụng cho các nhóm thép dùng trong chế tạo máy thông dụng, tức có yêu cầu cao hơn

- Chất lượng cao, lượng P, S được khử khá cẩn thận, đến mức 0,030% cho

mỗi nguyên tố Với các biện pháp kỹ thuật bổ sung (dùng chất khử mạnh, tuyển chọn nguyên liệu vào ) vẫn có thể đạt được cấp chất lượng này bằng phương pháp luyện thép trong lò điện hồ quang

- Chất lượng rất cao, lượng P, S được khử ở mức triệt để nhất: 0,020% cho

mỗi nguyên tố Chỉ với các lò điện hồ quang không thể đạt được giới hạn này Thép sau khi luyện ở lò này được tinh luyện tiếp tục: khử tạp chất ở ngoài lò bằng

xỉ tổng hợp, bằng điện xỉ Ngoài ra để giảm tối đa lượng khí chứa trong thép người

ta phải áp dụng đúc rót thép trong chân không

Các thép cacbon có thể được cung cấp ở ba cấp chất lượng: thường, tốt và cao (ít gặp) Các thép hợp kim không có cấp chất lượng thường, chỉ có các cấp: tốt, cao và rất cao Thép xây dựng thường chỉ yêu cầu chất lượng thường, trong khi đó thép chế tạo máy phải có chất lượng từ tốt trở lên Riêng thép làm ổ lăn phải đạt

Theo phương pháp khử ôxy

Theo mức độ khử ôxy có triệt để hay không người ta chia ra hai loại thép sôi

Thép sôi là loại không được khử ôxy triệt để, tức chỉ bằng chất khử không

mạnh là ferô mangan, nên trong thép lỏng vẫn còn FeO và do đó có phản ứng:

FeO + C → Fe + CO↑ Khí CO bay lên làm mặt thép lỏng chuyển động như thể bị "sôi" vậy (nên có tên là thép sôi) và tạo ra bọt (rỗ) khí trong thỏi đúc Khi cán nóng tiếp theo phần lớn bọt khí được hàn kín lại (chú ý là vỏ bọc khí nằm trong thỏi đúc, không tiếp xúc với không khí nếu không lưu kho quá lâu sẽ chưa bị ôxy hóa nên các nguyên tử sắt dễ khuếch tán, hàn kín lại khi cán nóng) nên nói chung không ảnh hưởng xấu đến cơ tính của thép đ∙ qua biến dạng nóng Các đặc điểm của thép sôi là:

- do không được khử bằng ferô silic nên chứa rất ít silic, thường là ≤ 0,05 ữ

0,07%, nên ferit của thép rất mềm và dẻo, rất dễ dập nguội,

- không cho phép dùng thép sôi để chế tạo các vật đúc định hình vì các rỗ khí làm giảm mật độ, tập trung ứng suất gây ảnh hưởng rất xấu đến cơ tính,

- không cho phép dùng thép sôi để làm các kết cấu hàn chảy, do trong thép vẫn còn ôxy (FeO) nên khi chảy lỏng phản ứng tạo CO lại xảy ra, mối hàn chứa nhiều bọt khí

- không cho phép dùng thép sôi để làm chi tiết thấm cacbon do không được khử ôxy triệt để nên thuộc loại thép hạt bản chất lớn

Thép lặng là loại được khử ôxy triệt để bằng cả ferô mangan lẫn ferô silic là

chất khử mạnh và nhôm, nên trong thép lỏng không xảy ra phản ứng trên, mặt thép lỏng luôn "phẳng lặng" (nên có tên là thép lặng) Các đặc điểm của thép lặng là:

- do được khử bằng ferô silic nên chứa một lượng nhất định silic, thường trong khoảng 0,15 ữ 0,35%, vì thế ferit của thép cứng và bền hơn, khó dập nguội hơn,

Trang 7

- trong tổ chức không có rỗ khí nên có cấu trúc xít chặt hơn, có cơ tính cao hơn thép sôi, các vật đúc bằng thép phải được chế tạo bằng thép lặng, tuy nhiên lõm co trong thép lặng khá lớn (phần này phải cắt bỏ đi làm giảm hiệu quả kinh tế),

- trong các kết cấu hàn chảy chỉ được phép dùng thép lặng,

- các chi tiết thấm cacbon chỉ được làm bằng thép lặng

Do các đặc tính trội hơn thép sôi, thép lặng được sử dụng rộng r∙i hơn

Nằm trung gian giữa hai thép trên là thép nửa lặng, nó chỉ được khử ôxy

bằng ferô mangan và nhôm Tính chất của nó nằm trung gian giữa thép sôi và thép lặng Tuy xuất hiện sau song thép nửa lặng có khuynh hướng thay thế cho thép sôi.Thép hợp kim chỉ có loại thép lặng, song thép cacbon có thể ở cả ba loại:

- Thép xây dựng là loại chủ yếu được dùng trong xây dựng để làm các kết

cấu thép dưới dạng các thanh dài, tấm rộng ghép lại, chúng đòi hỏi cơ tính tổng hợp song không cao Thép xây dựng tuy có cần bền song phải có độ dẻo cao để dễ uốn khi lắp ghép và độ dai cao để khó bị phá hủy giòn, có tính hàn tốt

- Thép chế tạo máy đòi hỏi cơ tính tổng hợp ở mức độ cao hơn nên nói

chung đòi hỏi chất lượng cao hơn, đặc biệt là độ bền phải cao trong khi vẫn phải bảo đảm tốt độ dẻo, độ dai

Thép dụng cụ là loại chỉ chuyên dùng làm công cụ nên có yêu cầu chủ yếu

là cứng và chống mài mòn

Trong thực tế người ta sử dụng tất cả các cách phân loại trên

e.Tiêu chuẩn thép cacbon

Tiêu chuẩn Việt Nam

Tiêu chuẩn Việt Nam đ∙ quy định những loại thép cacbon chính

TCVN 1765 - 75 quy định các mác thép kết cấu cacbon chất lượng thường

để làm các kết cấu xây dựng, được sử dụng ở trạng thái cung cấp, không qua nhiệt luyện Do yêu cầu chất lượng không cao lượng nên lượng P, S cho phép khá lớn: P

là 0,040 0,070%, S là 0,050 0,060% Thép được ký hiệu bằng CT (với ý nghĩa

là thép cacbon chất lượng thường) với các chữ ở sau cùng: s chỉ thép sôi, n chỉ thép

nửa lặng, nếu không có chữ gì là thép lặng

Trong nhóm thép này lại quy định có ba phân nhóm A, B và C, trong đó phân nhóm thứ nhất A là chủ yếu Phân nhóm A phân loại các mác theo giới hạn

bền kéo tối thiểu đạt được tính theo đơn vị kG/mm 2 - CTxx Cách ký hiệu theo σb

(min) như vậy khá tiện cho việc tính toán sơ bộ sức bền cũng như tiết diện thép Ví

dụ CT38, CT38n, CT38s là ba mác cùng có ơb ≥ 38kG/mm2 hay 380MPa song với

ba phương pháp khử ôxy khác nhau: lặng, nửa lặng và sôi nên các chỉ tiêu cơ tính khác có khác nhau đôi chút Tiêu chuẩn cũng quy định tỉ mỉ và chặt chẽ các chỉ tiêu khác như σ0,2, δ, ψ, aK (xem bảng 5.1 ở mục 5.2.2b) Các phân nhóm B và C

về cơ bản giữ nguyên ký hiệu như ở phân nhóm A song ở đầu ký hiệu tương ứng

Trang 8

có thêm chữ B và C là BCTxx và CCTxx Phân nhóm B không quy định cơ tính song lại quy định thành phần hóa học (phải tra bảng 5.2), còn phân nhóm C lại quy định cả hai: cơ tính lẫn thành phần hóa học, ví dụ: mác CCT38 có cơ tính của CT38 còn thành phần của BCT38

TCVN 1766-75 quy định các mác thép kết cấu cacbon chất lượng tốt để chế tạo máy qua nhiệt luyện, do vậy phải được bảo đảm (quy định) cả thành phần hóa học lẫn cơ tính (phải tra bảng), các mác được ký hiệu bằng chữ C và số phần vạn cacbon trung bình - Cxx Ví dụ: C40 là mác có khoảng 0,40%C (0,38 ữ 0,45%) và các tạp chất trong giới hạn đ∙ trình bày Do chất lượng tốt nên lượng P và S là ≤

0,040% cho mỗi nguyên tố, các mác có chất lượng cao (P, S ≤ 0,030% cho mỗi nguyên tố) ở cuối ký hiệu có chữ A, ví dụ C40A

TCVN 1822-76 quy định các mác thép dụng cụ cacbon bằng CD (C là cacbon, D là dụng cụ) với số tiếp theo chỉ lượng cacbon trung bình tính theo phần vạn - CDxx hoặc CDxxx Ví dụ, CD80 và CD80A là hai mác cùng có khoảng 0,80%C (0,75 ữ 0,84%) song với chất lượng tốt và cao

Tiêu chuẩn các nước

ΓΓΓΓOCT quy định các thép kết cacbon chất lượng thường bằng CT với các số từ

0, 1 đến 6 chỉ cấp độ bền (số càng to độ bền càng cao) Cũng có các phân nhóm theo thứ tự A, Б, B lần lượt tương ứng với các phân nhóm A, B, C của TCVN Về thép kết cấu cacbon chất lượng tốt ΓΓΓΓOCT quy định các mác ký hiệu theo số phần vạn cacbon trung bình, như mác 40 có khoảng 0,40%C như mác C40 của TCVN

Về thép cacbon dụng cụ ΓΓΓΓOCT quy định các mác bằng У với số tiếp theo chỉ lượng cacbon theo phần nghìn cacbon trung bình như У12 có khoảng 1,20%C Tuy

có một số khác biệt nhỏ về cơ bản TCVN về thép cacbon vẫn theo các nguyên tắc cơ bản của ΓΓΓΓOCT, nên có sự trùng hợp hoàn toàn giữa hai tiêu chuẩn này Hoa

Kỳ sử dụng nhiều tiêu chuẩn cho thép cacbon ASTM được dùng cho thép xây dựng AISI và SAE cho các thép chế tạo máy và dụng cụ

JIS quy định các thép kết cấu chất lượng thường bằng SS hay SM với số tiếp theo chỉ giới hạn bền kéo tối thiểu tính theo đơn vị MPa - SSxxx, SMxxx; các thép kết cấu cacbon chất lượng tốt bằng SxxC trong đó xx là số chỉ lượng cacbon trung bình theo phần vạn, các thép cacbon dụng cụ bằng SK với các số thứ tự từ 1 đến 7

Nhược điểm

Thép cacbon cũng có nhiều nhược điểm, trong đó đáng chú ý nhất là: 1) Độ thấm tôi thấp nên hiệu quả hóa bền bằng nhiệt luyện tôi + ram không cao, do đó ảnh hưởng xấu đến độ bền, đặc biệt đối với tiết diện lớn

2) Tính chịu nhiệt độ cao kém: khi nung nóng độ bền cao của trạng thái tôi giảm đi nhanh chóng do mactenxit bị phân hóa ở trên 200oC, ở trên 570oC bị ôxy hóa mạnh

Trang 9

3) Không có các tính chất vật lý hóa học đặc biệt như: cứng nóng, chống ăn mòn

Các thép hợp kim tránh được các nhược điểm này

Do vậy trong thực tế thép cacbon được dùng làm các chi tiết với mặt cắt ngang nhỏ, hình dạng đơn giản, chịu tải trọng nhẹ và vừa phải, làm việc ở nhiệt độ thường; trong khi đó các thép hợp kim được dùng cho các trường hợp ngược lại

Do một số yếu tố mà chủ yếu là do tính thấm tôi cao hơn nên thép hợp kim

có độ bền cao hơn hẳn so với thép cacbon, điều này thể hiện đặc biệt rõ ràng ở

thép sau khi tôi + ram Khi hết sức tận dụng ưu điểm này cần chú ý đến đến các hệ quả sau đây:

- ở trạng thái không tôi + ram (ví dụ ở trạng thái ủ), độ bền của thép hợp kim không cao hơn thép cacbon bao nhiêu Cho nên đ∙ dùng thép hợp kim thì phải qua nhiệt luyện tôi + ram Nếu dùng thép hợp kim ở trạng thái cung cấp (sau cán nóng, gần như thường hóa) hay ủ là sự l∙ng phí lớn về độ bền

- !u việt về độ bền cao của thép hợp kim càng rõ khi tiết diện của thép càng lớn và lượng hợp kim đủ để bảo đảm tôi thấu Khi tiết diện nhỏ (≤ 20mm) ưu việt

này của thép hợp kim không thể hiện được (vì với tiết diện nhỏ như vậy thép cacbon cũng được tôi thấu)

- Do tính thấm tôi tốt, dùng môi trường tôi chậm (dầu) nên khi tôi ít biến dạng và nứt hơn so với thép cacbon luôn phải tôi nước Do vậy các chi tiết có hình dạng phức tạp phải qua tôi (do đòi hỏi về độ bền) đều phải làm bằng thép hợp kim

- Khi tăng mức độ hợp kim hóa làm tăng được độ thấm tôi làm tăng độ cứng,

độ bền song thường làm giảm độ dẻo, độ dai nên lượng hợp kim cần thiết chỉ cần vừa đủ bảo đảm tôi thấu tiết diện đ∙ cho là đủ, không nên dùng thừa (dùng thép

Trang 10

hợp kim quá cao vừa đắt vừa khó gia công lại dễ bị phá hủy giòn hơn) Do vậy có nguyên tắc là chọn mác thép hợp kim cao hay thấp là phụ thuộc kích thước (tiết diện)

- Tuy đạt độ bền cao hơn nhưng thường có độ dẻo, độ dai thấp hơn Do vậy phải chú ý đến mối quan hệ ngược này để có xử lý thích hợp (bằng ram)

Mặc dầu có ưu điểm về độ bền, nói chung thép hợp kim có tính công nghệ kém hơn thép cacbon (trừ tính thấm tôi)

Tính chịu nhiệt độ cao

Các nguyên tố hợp kim cản trở sự khuếch tán của cacbon do đó làm mactenxit khó phân hóa và cacbit khó kết tụ ở nhiệt độ cao hơn 200oC, do vậy tại các nhiệt độ này thép hợp kim bền hơn Một số thép hợp kim với lớp vảy ôxyt tạo thành ở nhiệt độ cao khá xít chặt, có tính bảo vệ tốt

Tính chất vật lý, hóa học đặc biệt

Bằng cách đưa vào thép các nguyên tố khác nhau với lượng lớn quy định có thể tạo ra cho thép các tính chất đặc biệt:

- không gỉ, chống ăn mòn trong axit, badơ, muối,

- từ tính đặc biệt hoặc không có từ tính,

- gi∙n nở nhiệt đặc biệt

Qua đó thấy rằng thép hợp kim là vật liệu cần thiết, không thể thiếu cho những ngành kỹ thuật quan trọng đòi hỏi các tính chất cao hoặc khác với thông thường

c.Tác dụng của nguyên tố hợp kim đến tổ chức của thép

Một cách đơn giản có thể xem một thép hợp kim đơn giản (chỉ có một nguyên tố hợp kim) là đưa thêm nguyên tố hợp kim vào hợp kim Fe - C Vậy h∙y xem nguyên tố hợp kim ảnh hưởng như thế nào đến hợp kim Fe - C mà ta đ∙ nghiên cứu, cụ thể là đến các tổ chức chính: các dung dịch rắn ferit, austenit, hợp chất xêmentit (pha cacbit), tổ chức peclit (hỗn hợp ferit - cacbit) Các nguyên tố khi đưa vào thép cũng không ngoài hai tác dụng: hòa tan vào sắt thành dung dịch rắn và kết hợp với cacbon thành cacbit Cũng khó phân loại rạch ròi song có thể tạm chia thành hai dạng nguyên tố hợp kim để tiện khảo sát: dạng chủ yếu hòa tan vào sắt và dạng có ái lực mạnh với cabon tạo nên cacbit H∙y xét từng khả năng Hòa tan vào sắt thành dung dịch rắn

Đó là trường hợp của phần lớn nguyên tố mà điển hình và thường gặp là Mn,

Si, Cr, Ni

Với lượng ít nguyên tố hợp kim (khoảng vài %) chúng không làm thay đổi

đáng kể cấu hình của giản đồ pha Fe - C, chúng hòa tan vào sắt tức ferit ở nhiệt độ thấp và austenit ở nhiệt độ cao

Khi hòa tan (tất nhiên là ở dạng thay thế) vào ferit, các nguyên tố hợp kim làm xô lệch mạng do đó làm tăng độ cứng, độ bền và thường làm giảm độ dẻo, độ dai ảnh hưởng của bốn nguyên tố trên đến hai chỉ tiêu điển hình là độ cứng và độ dai được trình bày trên hình 5.2 Qua đó thấy rõ có hai nhóm khác nhau: Mn và Si,

Cr và Ni Hai nguyên tố Mn và Si làm tăng rất mạnh độ cứng (độ bền) song cũng làm giảm mạnh độ dai (độ dẻo), đặc biệt khi thép chứa 2%Si hoặc 3,5%Mn ferit

đ∙ có độ dai rất thấp (≤ 500kJ/m2) làm thép giòn không cho phép sử dụng Do vậy mặc dầu có lợi thế là rẻ hơn, khả năng hóa bền cao Mn và Si chỉ được dùng với hàm lượng hạn chế 1 ữ 2% Như thế không thể dùng thép Mn, Si với độ thấm tôi cao vì bị hạn chế bởi lượng đưa vào Còn Ni và Cr (cho tới hàm lượng 4%) trong khi làm tăng độ cứng chẳng những không làm giảm còn làm tăng chút ít độ dai

Trang 11

Do vậy hợp kim hóa thép bằng Cr, Ni hay đồng thời bằng cả hai là rất tốt vì ngoài làm tăng độ thấm tôi, bản thân chúng nâng cao độ cứng, độ bền mà vẫn duy trì tốt

độ dẻo, độ dai của ferit Vì thế thép có độ thấm tôi cao thuộc nhóm được hợp kim hóa bằng Cr - Ni Mặc dầu giá thành có cao hơn (do Cr và đặc biệt Ni ngày càng

đắt, hiếm) loại thép này vẫn được ưa chuộng trong chế tạo các chi tiết đòi hỏi độ tin cậy cao

Với lượng nhiều (>10%) Cr, Ni, Mn chúng làm thay đổi hẳn cấu hình của

giản đồ pha Fe - C, đặc biệt rõ là làm thay đổi các khu vực của ferit và austenit Trên hình 5.3 trình bày ảnh hưởng của hàm lượng Mn và Cr đến khu vực γ

(austenit) của giản đồ pha Fe - C Thấy rất rõ Mn (và cả Ni nữa) mở rộng (nhiệt độ tồn tại của) khu vực γ (tương ứng thu hẹp khu vực α) Với hàm lượng lớn trong khoảng 10 ữ 20% tổ chức austenit tồn tại cả ở nhiệt độ thường (không biểu thị ở hình 5.3a), tức là khi nung nóng hay làm nguội không có chuyển biến pha

như thường gặp, thép được gọi là thép austenit Còn Cr ngược lại thu hẹp khu vực γ

(tương ứng mở rộng khu vực α như ở hình 5.3b) Với hàm lượng Cr đủ lớn (khoảng gần 20%) khu vực γ không còn tồn tại, tổ chức ferit tồn tại cả ở nhiệt độ cao cho tới khi chảy lỏng Thép này cũng không có chuyển biến pha và được gọi là

thép ferit Những trường hợp như vậy chỉ gặp ở thép đặc biệt Rõ ràng là các thép

này không thể áp dụng hóa bền bằng tôi

Hình 5.2 ảnh hưởng của độ hòa tan của các nguyên tố hợp kim chủ

yếu trong dung dịch rắn ferit đến độ cứng (a) và độ dai va đập (b)

Người ta nhận thấy rằng số điện tử của phân lớp nd (3d, 4d, 5d) trong

nguyên tử của nguyên tố nào càng bị thiếu thì nguyên tố đó càng có ái lực mạnh với cacbon và tất nhiên là trong thép (chủ yếu là sắt) chỉ nguyên tố nào có số điện

tử của phân lớp nd ít hơn của Fe (là 6) thì mới có khả năng tạo thành được cacbit Phù hợp với số thiếu hụt của điện tử, các nguyên tố tạo thành cacbit trong thép theo thứ tự từ yếu đến mạnh như sau:

Trang 12

Fe (6), Mn (5), Cr (5), Mo (5), W (4), V (3), Ti (2), Zr (2), Nb (2) [số trong ngoặc là số điện tử trong phân lớp nd], trong đó:

- Mn và Cr là các nguyên tố tạo thành cacbit trung bình,

- Mo và W là các nguyên tố tạo thành khá mạnh,

- V là nguyên tố tạo thành cacbit mạnh, và

- Ti, Zr, Nb là các nguyên tố tạo thành cacbit rất mạnh

Hình 5.3 ảnh hưởng của Mn (a) và Cr (b) đến các vùng α và γ trên giản đồ Fe-C

Khi đưa vào thép các nguyên tố này, cacbon sẽ ưu tiên kết hợp với các

nguyên tố mạnh trước Tùy theo nguyên tố hợp kim (Me) đưa vào và hàm lượng

của nó, trong thép hợp kim có các pha cacbit sau

- Xêmentit hợp kim (Fe, Me) 3 C Khi thép chứa một lượng ít (1 ữ 2%) các

nguyên tố tạo cacbit trung bình và khá mạnh là Mn, Cr, Mo, W chúng hòa tan

thay thế vị trí các nguyên tử Fe trong xêmentit tạo nên xêmentit hợp kim (Fe, Me)3C Xêmentit hợp kim có tính ổn định cao (khó phân hủy, kết tụ khi nung)

hơn xêmentit chút ít Nhiệt độ tôi có tăng đôi chút

- Cacbit với kiểu mạng phức tạp Khi hợp kim hóa đơn giản (chỉ bằng một

nguyên tố hợp kim) song với lượng lớn (> 10%) Cr hoặc Mn (có dC / dMe > 0,59)

chúng tạo nên với C loại cacbit với kiểu mạng phức tạp (xem lại mục pha xen kẽ

3.1.3b) như: Cr7C3, C23C6, Mn3C Các đặc tính của cacbit này là:

+ có độ cứng cao (hơn xêmentit một chút),

+ có nhiệt độ chảy không cao lắm, trong khoảng 1550 ữ 1850oC (cao hơn

xêmentit), nên có tính ổn định cao hơn Nhiệt độ tôi của thép phải cao hơn 1000oC

- Cacbit kiểu Me 6 C Trong các thép chứa Cr với W hoặc Mo sẽ tạo nên

cacbit loại Me6C với kiểu mạng phức tạp, trong đó Me là các nguyên tố Cr, W, Mo

và cả Fe Loại cacbit này còn khó hòa tan vào austenit hơn và ổn định hơn loại

trên Nhiệt độ tôi của thép trong khoảng 1200 ữ 1300oC (xem mục thép gió

- Cacbit với kiểu mạng đơn giản MeC (Me 2 C) Các nguyên tố tạo thành

cacbit mạnh và rất mạnh là V, Ti, Zr, Nb khi đưa vào thép với lượng ít (0,1%)

cũng có khả năng liên kết hết với cacbon thành cacbit như VC, TiC, ZrC, NbC,

chúng chính là pha xen kẽ với kiểu mạng đơn giản (vì dC / dMe < 0,59) Các đặc

tính của loại cacbit này là:

+ có độ cứng cao nhưng ít giòn hơn xêmentit,

Trang 13

+ có nhiệt độ chảy rất cao (trên dưới 3000oC) nên rất khó phân hủy và hòa tan vào austenit khi nung Các nguyên tố này không có tác dụng tăng độ thấm tôi, cacbit của chúng thường đóng vai trò giữ cho hạt nhỏ và nâng cao tính chống mài mòn

Như vậy các cacbit hợp kim cứng hơn, ổn định hơn, khó hòa tan vào austenit hơn so với xêmentit làm thép hợp kim cứng, bền nóng hơn và có nhiệt độ tôi cao hơn thép cacbon

Do các nhóm thép sử dụng các loại nguyên tố hợp kim và lượng chứa khác nhau nên nói chung mỗi nhóm thép thường chỉ gặp 1 ữ 2 loại cacbit kể trên, cụ thể là:

+ xêmentit hợp kim trong thép kết cấu,

+ cacbit với kiểu mạng phức tạp trong thép không gỉ và bền nóng (thuộc nhóm thép đặc biệt),

+ cacbit kiểu Me6C trong thép gió (thuộc thép dụng cụ),

+ cacbit với kiểu mạng đơn giản MeC được tạo thành với lượng ít trong các

Vai trò của cacbit hợp kim

- Giống như xêmentit, cacbit hợp kim cũng có tác dụng làm tăng độ cứng, tính chống mài mòn của thép song có phần mạnh hơn Như sau này sẽ thấy thép làm dụng cụ tốt nhất phải là loại thép có cacbon cao và hợp kim cao

- Do khó hòa tan vào austenit khi nung nóng nên một mặt nâng cao nhiệt độ tôi mặt khác lại giữ được hạt nhỏ khi nung, điều này giúp nâng cao độ dai và cơ tính nói chung

- Khi ram, cacbit hợp kim tiết ra khỏi mactenxit và kết tụ lại ở nhiệt độ cao hơn so với xêmentit ở trong thép cacbon, do đó giữ được độ cứng cao của trạng thái tôi ở nhiệt độ cao hơn 200oC, đôi khi tới 500 ữ 600oC, tức có tính cứng hay bền nóng

d. ảnh hưởng của nguyên tố hợp kim đến quá trình nhiệt luyện

Các nguyên tố hợp kim có ảnh hưởng lớn đến quá trình nhiệt luyện, đặc biệt

là tôi + ram, do vậy sẽ ảnh hưởng lớn đến cơ tính, đây là đặc tính nổi bật của thép hợp kim H∙y xét tới từng mặt và từng quá trình của nhiệt luyện

Chuyển biến khi nung nóng để tôi

Trừ một số thép đặc biệt, các thép hợp kim thông thường còn lại vẫn có tổ chức peclit, nên khi nung nóng để tôi vẫn có các chuyển pha: peclit → austenit, cacbit hòa tan vào austenit, hạt austenit phát triển (như thép cacbon với pha cacbit

là xêmentit) song có các điểm đặc trưng sau:

- Sự hòa tan cacbit hợp kim khó hơn, đòi hỏi nhiệt độ tôi cao hơn và thời gian giữ nhiệt dài hơn so với xêmentit trong thép cacbon H∙y so sánh các thép cùng có 1,00%C nhưng với lượng hợp kim cao thấp khác nhau:

+ thép cacbon 1,00%C (mác CD100), Fe3C, nhiệt độ tôi khoảng 780oC, + thép hợp kim thấp 1,00%C + 1,50%Cr (thép ổ lăn), (Fe,Cr)3C, nhiệt độ tôi khoảng 830oC,

+ thép hợp kim cao 1,00%C + 12,0%Cr (thép khuôn dập), Cr23C6, nhiệt độ tôi > 1000oC

- Cacbit hợp kim do khó hòa tan vào austenit, nằm ở biên giới hạt, như hàng rào giữ cho hạt nhỏ Tác dụng này rất mạnh với Ti, Zr, Nb, mạnh với V, tương đối mạnh với W, Mo Riêng thép có Mn lại có khuynh hướng làm to hạt austenit Các

Trang 14

nguyên tố hợp kim còn lại Cr, Ni, Si, Al được coi là trung tính Chính vì vậy thép hợp kim thường giữ được hạt nhỏ hơn thép cacbon khi cả hai cùng bị nung nóng ở cùng nhiệt độ (ví dụ khi thấm cacbon)

Sự phân hóa đẳng nhiệt của austenit quá nguội và độ thấm tôi

Đây là tác dụng quan trọng nhất và điển hình nhất, cần nắm vững và tận dụng triệt để

Sự phân hóa đẳng nhiệt của austenit quá nguội Khi hòa tan vào austenit, tất cả các nguyên tố hợp kim (trừ Co) với các mức độ khác nhau đều làm chậm tốc độ phân hóa đẳng nhiệt của austenit quá nguội tức là làm đường cong chữ "C" dịch sang phải do đó làm giảm tốc độ tôi tới hạn V t.h (hình 5.4a) Trong đó đáng để ý:

các nguyên tố có tác dụng rất mạnh là Mo (khi riêng rẽ) và Cr - Ni (khi kết hợp), mạnh là Cr, Mn, B Với cùng tổng lượng hợp kim, khi hợp kim hóa phức tạp làm giảm Vth mạnh hơn khi hợp kim hóa đơn giản

Cần chú ý là khi nguyên tố hợp kim không hòa tan vào austenit mà ở dạng cacbit không những không làm tăng mà còn làm giảm tính ổn định của austenit quá nguội, dẫn tới tăng Vt.h

Độ thấm tôi Do làm giảm Vt.h, các nguyên tố hợp kim (trừ Co) khi hòa tan vào austenit đều làm tăng độ thấm tôi (hình 5.4b) Như thấy rõ từ hình vẽ, do

đường cong chữ "C" trong thép hợp kim dịch sang phải nên có Vt.h2 < Vt.h1 của thép cacbon, tương ứng δ2 là độ thấm tôi của thép hợp kim, δ1 - độ thấm tôi của thép cacbon, ta luôn có δ2 > δ1

Nhờ hiệu quả này trong thép hợp kim có thể xảy ra các trường hợp sau mà ta không thể gặp trong thép cacbon:

- Vt.h bé đến mức nhỏ hơn cả Vnguội của lõi, do đó sau khi tôi lõi cũng có tổ

chức mactenxit, đây là trường hợp tôi thấu

Hình 5.4 So sánh giản đồ T - T - T, Vth (a) và độ thấm tôi (b) giữa thép cacbon

và thép hợp kim

- Vnguội trong không khí cũng có thể lớn hơn Vt.h, do đó thường hóa cũng đạt

được tổ chức mactenxit, đó là hiện tượng tự tôi (trong khi đó thường hóa thép

cacbon chỉ đạt được xoocbit là cùng)

Do độ thấm tôi tăng lên sẽ có hai hiệu quả chính sau đây:

Trang 15

1 ) Hiệu quả hóa bền của tôi + ram tăng lên rõ rệt, đặc biệt khi tôi thấu sẽ

đạt tới cơ tính cao và đồng nhất trên toàn tiết diện, nâng cao mạnh sức chịu tải của chi tiết Vì thế:

- Để phát huy hết khả năng chịu tải của chi tiết bằng thép hợp kim, phải sử dụng nó ở trạng thái tôi + ram, có như vậy mới đạt hiệu quả kinh tế (vì thép hợp kim đắt hơn)

- Với tiết diện càng lớn càng phải dùng thép hợp kim và dùng nó càng hiệu quả Do vậy phải căn cứ vào tiết diện và cơ tính yêu cầu mà chọn mác thép: tiết diện càng lớn, độ bền đòi hỏi càng cao, lượng hợp kim trong thép càng phải cao để

2) Khi tôi có thể dùng các môi trường nguội chậm mà vẫn đạt được mactenxit như tôi trong dầu, trong muối nóng chảy (phân cấp hay đẳng nhiệt),

điều này dẫn đến các ưu việt sau:

- Chi tiết, dụng cụ với hình dạng phức tạp khi tôi không sợ g∙y, nứt Trong khi đó nếu làm bằng thép cacbon phải tôi trong nước dễ sinh vỡ

- ít biến dạng, trong nhiều trường hợp có độ cong vênh dưới mức cho phép,

đặc biệt khi tôi phân cấp hay đẳng nhiệt

Chuyển biến mactenxit

Khi hòa tan vào austenit, các nguyên tố hợp kim (trừ Co, Al, Si) đều hạ thấp nhiệt độ chuyển biến austenit thành mactenxit, do đó làm tăng lượng austenit dư sau khi tôi (xem lại phần giải thích ở hình 4.13)

Cứ 1% nguyên tố hợp kim làm giảm Ms như sau: Mn - 45oC, Cr - 35oC, Ni -

26oC, Mo - 25oC, còn Co làm tăng 12oC, Al làm tăng 18oC, Si không ảnh hưởng gì

Do austenit dư tăng mạnh ở các thép có cacbon cao - hợp kim cao, độ cứng sau khi tôi có thể bị sụt 1 ữ 10 đơn vị HRC so với mức cao nhất có thể đạt được Tuy đây là nhược điểm song hoàn toàn có thể khắc phục được bằng gia công lạnh hay ram nhiều lần ở nhiệt độ thích hợp để austenit dư → mactenxit, độ cứng lại

đạt được mức cao nhất

e.Chuyển biến khi ram

Nói chung các nguyên tố hợp kim hòa tan trong mactenxit đều cản trở sự phân hóa của pha này khi ram hay nói cụ thể hơn là làm tăng các nhiệt độ chuyển biến khi ram Sở dĩ như vậy là vì các nguyên tố hợp kim cản trở sự khuếch tán của

cacbon Đặc biệt W, Mo, Cr có ái lực khá mạnh với cacbon có xu hướng giữ cacbon lại trong mactenxit, do đó duy trì độ cứng cao ở nhiệt độ cao hơn Ví dụ,

sự tiết ra cacbit hợp kim ra khỏi mactenxit ở các nhiệt độ sau:

- xêmentit Fe3C ở 200oC,

- xêmentit hợp kim (Fe,Me)3C ở 250 ữ 300oC,

- cacbit crôm Cr7C3, Cr23C6 ở 400 ữ 450oC,

- cacbit Fe3W3C loại Me6C ở 550 ữ 600oC,

(VC, TiC, ZrC, NbC không hòa tan khi nung nóng nên không tiết ra)

Nhờ vậy dẫn đến các hiệu ứng sau

- Nâng cao tính chịu nhiệt độ cao, tính bền nóng, tính cứng nóng

- Do khuếch tán khó khăn cacbit tạo thành rất phân tán và nhỏ mịn, làm tăng

độ cứng và tính chống mài mòn, được gọi là hóa cứng phân tán Sự tăng độ cứng

khi ram thép hợp kim ở nhiệt độ thích hợp làm cho austenit dư → mactenxit và

cacbit tiết ra ở dạng phân tán, nhỏ mịn được gọi là độ cứng thứ hai

- Cùng ram hay cùng làm việc ở một nhiệt độ, thép hợp kim bao giờ cũng có

Trang 16

độ cứng, độ bền cao hơn Điều này cũng có nghĩa để cùng đạt độ cứng độ bền như nhau, phải ram thép hợp kim ở nhiệt độ cao hơn nên khử bỏ được ứng suất bên trong nhiều hơn vì thế thép có thể bảo đảm độ dai tốt

Tóm tắt các tác dụng tốt của nguyên tố hợp kim là:

+ khi hòa tan vào dung dịch rắn:

• ferit làm tăng xô lệch mạng gây hóa bền (cacbon cũng có tác dụng này song chỉ ở trạng thái tôi, sau khi ram bị giảm rất mạnh),

• austenit làm tăng tính ổn định của austenit quá nguội, giảm Vt.h, tăng độ thấm tôi, thép tôi ít biến dạng và g∙y vỡ hơn nhờ dùng dầu và các môi trường nguội chậm hơn

+ khi tạo thành cacbit hợp kim:

• bản thân pha này cứng và chống mài mòn hơn xêmentit, khó hòa tan khi nung giữ cho hạt nhỏ,

• khó tiết ra khỏi mactenxit hơn nên gây nên bền nóng và cứng nóng,

• khi ram được tiết ra dưới dạng phần tử nhỏ mịn, phân tán gây hóa bền

f.Các khuyết tật của thép hợp kim

Tuy có nhiều ưu việt, thép hợp kim đôi khi cũng thể hiện một số khuyết tật cần biết để phòng tránh

Thiên tích

Thép hợp kim, đặc biệt là loại được hợp kim hóa cao với nhiều thành phần hóa học phức tạp, sau khi kết tinh sẽ có tổ chức không đồng nhất, khi cán sẽ tạo nên tổ chức thớ làm cơ tính chênh lệch mạnh giữa các phương dọc và ngang (có khi chênh lệch tới 50 ữ 70% hay hơn nữa) Khắc phục bằng ủ khuếch tán rồi đem cán nóng, song nhiều khi ở các bán thành phẩm có tiết diện lớn vẫn còn thấy dạng khuyết tật này Rõ ràng tiết diện của sản phẩm cán càng nhỏ dạng khuyết tật này càng ít thể hiện Tuy các nhà máy luyện kim phải chịu trách nhiệm về loại khuyết tật này song nếu bị lọt lưới, các nhà máy cơ khí phải tiến hành biến dạng nóng lại với mức độ lớn

Đốm trắng

Đó là dạng khuyết tật: trên mặt của một số thép hợp kim có các vết nứt nhỏ

ở dạng đốm trắng Nguyên nhân là hyđrô hòa tan vào thép lỏng rồi nằm lại trong thép rắn ở trạng thái rắn do giảm đột ngột độ hòa tan ở dưới 200oC, hyđrô thoát ra mạnh, gây ra nứt Đốm trắng là phế phẩm không chữa được, nó chỉ thể hiện trong thép có độ thấm tôi cao như Cr - Ni, Cr - Ni - Mo, Cr - Ni - W khi cán nóng (khi

đúc không xuất hiện đốm trắng do các rỗ co phân tán là túi chứa hyđrô) ở nhà máy luyện kim người ta ngăn ngừa khuyết tật này bằng cách giảm hơi nước trong khí quyển, sấy khô mẻ luyện (cả mẻ liệu - sắt thép vụn lẫn trợ dung - vôi) và làm nguội thật chậm sau khi cán để hyđrô kịp thoát ra

Hai dạng khuyết tật trên phải được khử bỏ ngay ở nhà máy luyện kim, rất ít gặp ở nhà máy cơ khí, nơi chỉ gia công tiếp tục các bán thành phẩm cán thành sản phẩm cơ khí với hình dạng, kích thước, cơ tính theo quy định

Giòn ram

Đối với thép cacbon, khi tăng nhiệt độ ram độ dai tăng lên liên tục cho đến

650oC (vượt quá sẽ tạo ra peclit - hỗn hợp ferit - xêmentit thô, độ dai giảm đi), còn

đối với thép hợp kim thấy có hai cực tiểu về độ dai ở hai khoảng nhiệt độ ram

(hình 5.5) mà ta gọi là giòn ram, ứng với hai cực tiểu đó là hai loại giòn ram

Nguyên nhân của chúng chưa xác định được rõ ràng

Trang 17

Giòn ram loại I (không thuận nghịch, không chữa được) Loại giòn ram này thể hiện rất rõ ở trong thép hợp kim khi ram ở khoảng 280 ữ 350oC (mỗi mác có một khoảng hẹp hơn trong phạm vi này), khi đó thấy độ dai rất thấp, đối với một

số loại thép nó còn thấp hơn cả ở trạng thái mới tôi Các thép cacbon cũng bị giòn ram loại này và xảy ra ở nhiệt độ thấp hơn Nguyên nhân có thể là do trong khoảng nhiệt độ này cacbit ε được tiết ra khỏi mactenxit có dạng tấm hay γdư →

Giòn ram loại II (thuận nghịch hay có thể chữa được) Loại này chỉ xảy ra trong thép được hợp kim hóa bằng Cr, Mn, Cr - Ni, Cr - Mn khi ram ở khoảng 500

ữ 600oC với cách làm nguội thông thường sau đó (trong không khí) Cũng ram tại nhiệt độ đó song lại làm nguội nhanh sau đó (trong dầu hay nước chả hạn) thì cũng không có cực tiểu thứ hai này (đường chấm chấm trên hình vẽ) Nguyên nhân

có thể là nguội chậm sau khi ram cao thúc đẩy tiết ra các pha giòn ở biên giới hạt Giòn ram loại II là thuận nghịch tức là có thể bị lại nếu đem ram lần nữa cũng với chế độ nhiệt như trên (500 ữ 600oC, nguội chậm)

Đây là loại giòn ram có thể tránh được Biện pháp phòng tránh như sau:

- với các chi tiết nhỏ và trung bình: làm nguội nhanh trong dầu, trong nước sau khi ram cao,

- với các chi tiết lớn làm nguội như vậy vẫn không đủ nhanh để làm mất giòn ram, lúc này phải dùng thép có hợp kim hóa thêm bằng 0,20 ữ 0,50%Mo hay 0,50

Trang 18

- thép lêđêburit (cacbit): có lêđêburit

Riêng trường hợp thép được hợp kim hóa cao chủ yếu bằng một trong hai nguyên tố Cr, Mn hay Cr - Ni, sẽ có:

- thép ferit: loại có Cr rất cao (> 17%) và thường rất ít cacbon,

- thép austenit: loại có Mn cao (> 13%) và thường có cacbon cao, và

loại có Cr (> 18%) + Ni (> 8%)

Theo tổ chức thường hóa

Theo tổ chức thường hóa các mẫu nhỏ φ25, theo lượng nguyên tố hợp kim tăng lên sẽ có các thép sau đây (hình 5.6):

- thép họ peclit: loại hợp kim thấp, đường cong chữ "C" sát trục tung, nguội trong không khí được hỗn hợp ferit-xêmentit tức peclit, xoocbit, trôxtit; phần lớn thép thuộc loại này,

Hình 5.6 Tổ chức sau khi thường hóa của các thép với

lượng hợp kim tăng dần: a peclit, b mactenxit, c austenit

- thép họ mactenxit: loại hợp kim hóa trung bình (> 4 ữ 6%) và cao, đường cong chữ "C" dịch sang phải khá mạnh, nguội trong không khí cũng được mactenxit,

- thép họ austenit: loại có chứa Cr cao và Ni cao (> 8%) hoặc Mn (> 13%) cao, chúng mở rộng khu vực γ và hạ thấp điểm Ms (< 0oC) nên làm nguội trong không khí (chỉ đến nhiệt độ thường, cao hơn Ms) cũng không có chuyển biến gì, giữ nguyên tổ chức austenit

Cách phân loại này cho biết tổ chức của thép ở trạng thái cung cấp (sau cán nóng làm nguội trong không khí)

Theo nguyên tố hợp kim

Dựa vào tên nguyên tố hợp kim chính đưa vào để gọi, như:

- Thép chỉ có một nguyên tố hợp kim chính như Cr, Mn được lần lượt gọi là thép crôm, thép mangan, chúng là các thép hợp kim (hóa) đơn giản

- Thép có hai hay nhiều nguyên tố hợp kim như Cr - Ni, Cr - Ni - Mo được lần lượt gọi là thép crôm - niken, thép crôm - niken - môlipđen, chúng là các thép hợp kim (hóa) phức tạp

Trang 19

Theo tổng lượng nguyên tố hợp kim

Theo tổng (hàm) lượng của các nguyên tố hợp kim có trong thép từ thấp đến cao, người ta chia ra:

- Thép hợp kim thấp: loại có tổng lượng < 2,5% (thường là thép peclit)

- Thép hợp kim trung bình: loại có tổng lượng từ 2,5 đến 10% (thường là thép họ từ peclit đến mactenxit)

- Thép hợp kim cao: loại có tổng lượng >10% (thường là họ mactenxit hay austenit)

Trong sách này dùng theo cách phân loại trên đ∙ quen thuộc ở nước ta, theo

ΓΓΓΓOCT Tuy nhiên các nước trên thế giới quan niệm hợp kim hóa cao thấp không giống nhau Trung Quốc cũng có ba loại như trên song ranh giới giữa thấp và trung bình là 5% chứ không phải là 2,5% Các nước Tây Âu chỉ phân biệt hai loại thấp và cao, trong đó hợp kim thấp là loại không chứa nguyên tố hợp kim nào nhiều hơn 5%, còn hợp kim cao là loại có ít nhất một nguyên tố nhiều hơn 5%

trong đó hai nhóm đầu cũng có trong loại thép cacbon, còn nhóm thứ ba thì không

có Đây là nhóm với tính chất vật lý - hóa học đặc biệt, thường chứa tổng lượng hợp kim cao và rất cao (> 20%)

Các cách phân loại trên thường có quan hệ với nhau và cho biết một số đặc trưng của thép Thép austenit, ferit bao giờ cũng là loại thép đặc biệt, hợp kim cao hoặc rất cao, đắt và khó gia công cắt Thép mactenxit là loại thép rất dễ tôi song rất khó gia công cắt phôi ở trạng thái cung cấp Thép lêđêburit bao giờ cũng thuộc nhóm hợp kim cao - cacbon cao, rất cứng để làm dụng cụ Thép Cr - Ni bao giờ cũng là thép kết cấu quý vì có độ thấm tôi cao và độ dai tốt

h.Tiêu chuẩn thép hợp kim

Tiêu chuẩn Việt Nam

TCVN 1759 - 75 đ∙ quy định nguyên tắc ký hiệu thép hợp kim theo trật tự như sau:

- số chỉ hàm lượng cacbon trung bình theo phần vạn, nếu ≥ 1% có thể không cần biểu thị,

- các nguyên tố hợp kim theo ký hiệu hóa học và ngay sau đó là hàm lượng theo phần trăm trung bình (thường đ∙ được quy tròn thành số nguyên), khi lượng chứa của nguyên tố khoảng 1% thì không cần biểu thị (bằng số)

Ví dụ: - thép có 0,36 ữ 0,44%C, 0,80 ữ 1,00%Cr sẽ được ký hiệu là 40Cr,

- thép có 0,09 ữ 0,16%C, 0,60 ữ 0,90%Cr, 2,75 ữ 3,75%Ni sẽ được ký hiệu là 12CrNi3,

- thép có 1,25 ữ 1,50 %C, 0,40 ữ 0,70 %Cr, 4,5 ữ 5,5 %W sẽ được ký hiệu là 140CrW5 hay dơn giản chỉ là CrW5,

- thép có 0,85 ữ 0,95%C, 1,20 ữ 1,60 %Si 0,95 ữ 1,25 %Cr sẽ được ký

Như vậy trên nguyên tắc rất dễ hiểu này có thể ký hiệu mọi thép theo thành phần của chúng mà không có những trùng lặp quan trọng Nguyên tắc này được sử dụng để ký hiệu các thép khi cần thiết phải rút gọn cách biểu thị thành phần hóa học

Trang 20

TCVN chưa phủ hết các thép hợp kim thường dùng Tiêu chuẩn Nga

ΓΓΓΓOCT ký hiệu thép hợp kim theo trật tự sau đây:

- số chỉ hàm lượng cacbon trung bình theo phần vạn (nếu là thép kết cấu) và phần nghìn (nếu là thép dụng cụ, loại có cacbon cao), khi ≥ 1,00% không biểu thị,

- các nguyên tố hợp kim theo chữ cái Nga (thường là chữ đầu theo tên gọi, nếu trùng phải lấy chữ khác) như sau:

theo chữ cái đầu tiên có: X cho crôm, H cho niken, B cho vonfram,

M cho môlipđen, T cho titan, K cho côban;

theo chữ cái tiếp sau có: Γ cho mangan, C cho silic, Φ cho vanađi,

Д cho đồng, Ю cho nhôm, P cho bo,

- thành phần của từng nguyên tố được biểu thị theo phần trăm đặt ngay sau mỗi chữ cái tương ứng, khi lượng chứa < 1,5% không biểu thị

- các thép chuyên dùng như thép gió, ổ lăn, kỹ thuật điện có quy ước riêng

Theo đó bốn ký hiệu thép trên của TCVN sẽ tương ứng với ΓOCT như sau: 40Cr là 40X, 12CrNi3 là 12XH3, 140CrW5 hay CrW5 là XB5, nhưng 90CrSi là 9XC Qua đó thấy có những sai khác nhỏ, song cách ký hiệu thép của TCVN về cơ bản là của ΓΓΓΓOCT, rất dễ viết chuyển đổi cho nhau

Tiêu chuẩn Hoa Kỳ

Đối với thép hợp kim kết cấu, Hoa Kỳ thường sử dụng AISI và SAE, chúng

có cách biểu thị giống nhau bằng bốn số xxxx nên được viết là AISI/SAE xxxx, trong đó hai số cuối biểu thị lượng cacbon theo phần vạn trung bình Sau đây là một số quy ước:

Đối với thép dụng cụ, Hoa Kỳ thường sử dụng AISI với ký hiệu gồm một

chữ cái chỉ nhóm thép và số thứ tự Sau đây các chữ cái (thường lấy theo chữ cái

đầu tiên chỉ nhóm thép) đó:

W cho thép tôi nước (water),

O cho thép tôi dầu (oil),

Trang 21

S cho thép dụng cụ chịu va đập (shock),

T cho thép gió vonfram (tungsten),

M cho thép gió môlipđen - vonfram,

H cho thép làm dụng cụ biến dạng nóng (hot),

D cho thép làm dụng cụ biến dạng nguội (cold),

A cho thép làm dụng cụ biến dạng nguội, tự tôi, trong không khí (air),

Đối với thép không gỉ và bền nóng, Hoa Kỳ dùng AISI với ký hiệu là nhóm

SCrxxx - thép kết cấu crôm, SNCxxx - thép kết cấu niken - crôm,

SMnxxx - thép mangan, SCMxxx - thép kết cấu crôm - môlipđen,SACMxxx - thép nhôm - crôm - môlipđen,

SNCMxxx - thép kết cấu niken - crôm - môlipđen,

SUJx - thép ổ lăn, SUMx - thép dễ cắt,

SUPx - thép đàn hồi, SUSxxx - thép không gỉ (xxx lấy theo AISI), SUHx - thép bền nóng, SKx - thép dụng cụ cacbon,

SKHx - thép gió, SKSx, SKDx, SKTx - thép dụng cụ hợp kim

Về cơ tính, ngoài yêu cầu về độ bền mà bất cứ vật liệu kết cấu nào cũng đòi

hỏi ra, thép xây dựng phải có:

- độ dẻo tốt và cao (δ ~ 15 ữ 35%) để phù hợp với đòi hỏi trong quá trình chế tạo kết cấu các thanh, dầm thường phải chịu uốn (cong, gập),

- độ dai tốt (aK ~ 500 kJ/m2) để có thể chịu được các tải trọng va đập do phương tiện giao thông hay gió, b∙o gây ra một cách đột ngột, ở các xứ lạnh người

ta còn quan tâm đến độ dai va đập ở nhiệt độ âm do xu hướng biến giòn khi hạ thấp nhiệt độ

Trong mối quan hệ đó, thông thường độ bền của thép xây dựng không thể

đạt cao lắm

Về tính công nghệ, ngoài yêu cầu độ dẻo tốt và cao không những ở trạng thái

nóng mà cả ở trạng thái nguội như đ∙ trình bày thép phải có tính công nghệ nổi bật

là tính hàn cao và bảo đảm vì phần lớn các kết cấu kim loại được ghép lại bằng

cách hàn chảy

Về thành phần hóa học, để bảo đảm độ dẻo, độ dai và tính hàn cao thép bị

hạn chế hàm lượng cacbon ở trên đ∙ trình bày ảnh hưởng của cacbon đến cơ tính nên ở đây chỉ nói về ảnh hưởng của nó đến tính hàn Như đ∙ nói ở phần nhiệt

Trang 22

luyện, khi hàn một phần thép cơ sở bị chảy và nung nóng đến nhiệt độ cao (>

1000oC) hạt austenit bị lớn lên và khi nguội trong không khí sẽ chuyển pha thành hỗn hợp ferit + xêmentit nhỏ mịn dạng xoocbit hay trôxtit tuy bền song kém dẻo, dai Chính vì vậy bao giờ bản thân mối hàn hay chính xác hơn là vùng sát với vùng chảy (gọi là vùng ảnh hưởng nhiệt) cũng là vùng giòn nhất, dễ bị gẫy nhất khi làm việc Vì lý do như vậy phải hạn chế hàm lượng cacbon và nguyên tố hợp kim nên không thể đạt được độ bền rất cao nhờ tăng cacbon, hợp kim hóa và nhiệt luyện

Nói chung để bảo đảm tính hàn thép phải có C 0,22%, thép với lượng cacbon >

0,25% tính hàn đ∙ trở nên kém Nếu tính cả các nguyên tố khác để xác định tính hàn người ta thường dùng khái niệm cacbon đương lượng Cđ.l tính theo công thức:

15

CuNi5

VMoCr6

MnC

Trong quá trình chế tạo kết cấu đôi khi thép cũng phải qua cắt gọt (ví dụ, khoan lỗ để bắt bulông) nhưng không nhiều, song nói chung thép xây dựng không phải là loại khó cắt gọt Do tính chất chịu lực (cần dẻo dai tốt) và do đặc thù kích thước (rất dài) nên rất khó tiến hành nhiệt luyện trên thành phẩm, vì vậy khả năng nhiệt luyện không được đặt ra với thép này, vì thế thép thường được sử dụng trực tiếp ở trạng thái cung cấp từ nhà máy luyện kim Nếu thép dược nhiệt luyện tôi + ram để hóa bền thì nguyên công này được tiến hành trên bán thành phẩm ở nhà máy luyện kim (xưởng cán)

5.2.2. Thép thông dụng

a.Đặc điểm chung

Thép thông dụng là phân nhóm thép cacbon (hay còn gọi là thép thường) với chất lượng thường, được sản xuất nhiều nhất, thường gặp nhất với độ bền bình thường (σ0,2 < 300 ữ 320MPa), có giá bán rẻ nên có thể gặp chúng ở mọi nơi, mọi lúc ở dưới dạng các bán thành phẩm cán nóng khác nhau (ống, thanh, góc, hình, lá, tấm, băng cho đến dây, sợi ) rất dễ sử dụng và thường được dùng ở trạng thái cung cấp, không qua nhiệt luyện Do tính phổ biến và đa năng người ta thường gọi

nó là sắt Nói chung có thể dùng nó vào các mục đích thông thường, không quan

trọng trong đời sống cũng như trong xây dựng Để chọn được loại phù hợp ngoài phải có tiết diện quy định việc quyết định cuối cùng là độ bền ở trạng thái cung cấp, do vậy mọi việc trở nên đơn giản và nhanh chóng Chính vì vậy phân nhóm này thường được ký hiệu (gắn mác, đánh số) theo độ bền: giới hạn bền (hay giới hạn chảy) hoặc theo cấp thứ tự (1, 2, 3 hay A, B, C )

Ví dụ, để chọn dây thép chằng buộc hàng thép không những không bị đứt

mà phải không được gi∙n dài ra dưới ứng suất làm việc, trong trường hợp này phải chọn theo giới hạn chảy, từ đây sẽ tìm ra mác thép có σ0,2 phù hợp

b.Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 23

TCVN 1765 - 75 quy định các mác và yêu cầu kỹ thuật cho thép cacbon kết cấu thông thường chính là nhóm này Thép được chia thành ba phân nhóm A, B và

C, trong đó phân nhóm A được sử dụng rất phổ biến

dày mẫu,d- đường

kính gối uốn) cho

độ dày của mẫu

Ghi chú: 1 - δ5 là độ gi∙n dài của mẫu có l0 = 5d0

Phân nhóm A (thứ nhất)

Phân nhóm A quy định các mác bằng CTxx, trong đó xx là số chỉ giới hạn bền tối thiểu theo kG/mm2 gồm bảy mác chính từ CT31 đến CT61, nó chỉ được bảo đảm về mặt cơ tính mà không bảo đảm về thành phần hóa học (tức là về nguyên tắc nó có thành phần C và các nguyên tố bất kỳ miễn sao đạt được các chỉ tiêu cơ tính, tuy nhiên như đ∙ biết trong điều kiện thông thường cho thép cacbon vẫn có sự phụ thuộc của độ bền vào hàm lượng cacbon, theo kinh nghiệm thì từ CT33 trở đi các mác chênh lệch nhau 0,06 ữ 0,07%C, tức CT38 có khoảng 0,18 ữ

0,21%C, CT51 - 0,30 ữ 0,35%C) Ví dụ CT38 có σb≥ 38kG/mm2 hay 380MPa, các chỉ tiêu khác như σ0,2, δ, ψ, aK cũng như khả năng uốn gập ở trạng thái nguội (rất cần khi gia công các kết cấu) phải tra bảng Bảng 5.1 trình bày cơ tính của các mác thép này

Các mác CT31, CT33 đều không quy định σ0,2 song CT31 vừa kém bền lại vừa kém dẻo Các mác còn lại có độ bền tăng lên thì độ dẻo lại kém đi Cần chú ý

là với cùng một mác cơ tính lại thay đổi chút ít theo tiết diện (chiều dày, đường kính): tiết diện càng nhỏ độ bền và độ dẻo lại càng tốt (có thể giải thích là do càng

ít gặp khuyết tật và được nguội nhanh hơn sau khi cán nóng) Hai mác được dùng nhiều hơn cả là CT38 và CT51

Trang 24

CT38 được dùng rất phổ biến trong các kết cấu thông dụng, không đòi hỏi

độ bền cao, có tính hàn tốt Hầu như phần lớn các kết cấu thép thường gặp (cột, tháp, xà ngang, ống, dây, lá để lợp, tấm để che, đỡ ) đều được làm bằng mác thép này hay tương đương Trong khi đó CT51 được dùng cho các kết cấu chịu lực cao hơn song tính hàn lại không tốt bằng, được dùng nhiều trong máy nông nghiệp (lưỡi cày, bánh lồng ) và dụng cụ bằng tay để gia công gỗ

Bảng 5.2 Thành phần hóa học (%) của thép thông dụng phân nhóm B (TCVN 1765-75)

BCT33n 0,05-0,12 0,25-0,50 0,05-0,17 0,04 0,05 BCT33 0,06-0,12 0,25-0,50 0,12-0,30 0,04 0,05

BCT34n 0,09-0,15 0,25-0,50 0,05-0,17 0,04 0,05 BCT34 0,09-0,15 0,25-0,50 0,12-0,30 0,04 0,05

BCT38n 0,14-0,22 0,40-0,65 0,05-0,17 0,04 0,05 BCT38 0,14-0,22 0,40-0,65 0,12-0,30 0,04 0,05

BCT42n 0,18-0,27 0,40-0,70 0,05-0,17 0,04 0,05 BCT42 0,18-0,27 0,40-0,70 0,12-0,30 0,04 0,05 BCT51n 0,28-0,37 0,50-0,80 0,05-0,17 0,04 0,05 BCT51 0,28-0,37 0,50-0,80 0,15-0,35 0,04 0,05

BCT61n 0,38-0,49 0,50-0,80 0,05-0,17 0,04 0,05 BCT61 0,38-0,61 0,50-0,80 0,15-0,35 0,04 0,05 Ghi chú: mọi thép trừ BCT31 có thể chứa < 0,30Cr, < 0,30Ni, < 0,30Cu, song tổng lượng của chúng không vượt quá 0,50%

Phân nhóm B (thứ hai)

Phân nhóm này trái lại không quy định cơ tính mà chỉ quy định thành phần hóa học song cũng được ký hiệu như phân nhóm trên nhưng đằng trước có chữ B, tức BCTxx (như vậy xx không phải là số chỉ σb) Có các mác từ BCT31 đến BCT61 Muốn biết thành phần hóa học phải tra bảng 5.2

Phân nhóm C (thứ ba)

Phân nhóm này quy định cả cơ tính lẫn thành phần hóa học, cũng được ký hiệu như phân nhóm A nhưng đằng trước có chữ C, tức CCTxx Cơ tính và thành phần hóa học được tuân theo các mác tương ứng của các phân nhóm A và B Ví dụ: CCT38 có cơ tính như CT38, còn thành phần như BCT38 Nếu như phân nhóm A có chất lượng thường thì các phân nhóm B và C có chất lượng nâng cao tuy chưa đạt được chất lượng tốt Chúng tuy ít được dùng hơn song cần thiết trong những trường hợp quan trọng hơn đôi chút như khi phải bảo

đảm tính hàn hay qua biến dạng nóng bộ phận (do biết được thành phần)

Trang 25

c.Tiêu chuẩn các nước

ΓΓΓΓOCT 380 ký hiệu các thép thông dụng bằng CTx, trong đó x là số thứ tự từ

0 đến 6, có sự tương đương, trùng khớp hoàn toàn về các yêu cầu kỹ thuật giữa nhóm thép này của TCVN và ΓΓΓΓOCT (với các cặp số tương đương 31- 0, 33 - 1,

34 - 2, 38 - 3, 42 - 4, 51 - 5, 61 - 6, nói chính xác hơn TCVN chỉ đổi cách đánh số

từ thứ tự sang chỉ σb mà thôi) Các mác này hiện vẫn rất được quen dùng ở nước ta

ΓOCT cũng có các phân nhóm thứ hai (Б) với loạt mác БCTx (ví dụ, БCT3 là BCT38 của TCVN) và thứ ba (B) với loạt mác BCTx (ví dụ BCT5 là CCT51 của TCVN)

ở Hoa Kỳ thường dùng các thép thông dụng theo ASTM với nhiều tiêu chuẩn khác nhau (283, 284, 328, 529, 570 ) với đặc điểm chung là chúng đều là loại được quy định cả cơ tính và thành phần hóa học tuy không thật chặt chẽ Chúng được ký hiệu theo cấp (Grade) độ bền Ví dụ, ASTM 570 có các Grade 30,

33, 36, 40, 45, 50 và 55, trong đó số chỉ σ0,2 theo ksi, như Grade 30 có σ0,2≥ 30ksi hay 205MPa (tương đương CT34) Các tiêu chuẩn khác đánh số theo Grades A, B, C theo trật tự độ bền tăng dần

JIS G3101 có các mác chỉ được bảo đảm cơ tính như phân nhóm A của TCVN, bao gồm các mác SS 330, 400, 490 và 540, trong đó số chỉ σb tối thiểu theo MPa JIS 3106 quy định các thép thông dụng chuyên để hàn được bảo đảm cả cơ tính lẫn thành phần hóa học, có các mác SM 400, 490, 520, 570 (có thể có các

đuôi: A, B, C, YA, YB); trong đó số chỉ σb tối thiểu theo MPa

EN ký hiệu thép thông dụng bằng Fe với số tiếp theo chỉ σb tối thiểu theo MPa, ví dụ Fe 360B, Fe 430C, Fe 510D1

5.2.3. Thép hợp kim thấp độ bền cao HSLA

a.Đặc điểm chung

Nhóm thép hợp kim thấp độ bền cao (High Strength Low Alloy steel) được viết tắt là HSLA có nhiều tính năng cao hơn thép thông dụng mà trước hết là có độ bền cao hơn (ơ0,2 > 300 ữ 320MPa) trong khi các chỉ tiêu cơ tính khác vẫn bảo đảm yêu cầu của thép xây dựng

Để nâng cao độ bền mà không làm hại nhiều các chỉ tiêu khác, người ta hợp kim hóa thấp thép bằng nhiều nguyên tố hòa tan vào ferit nhưng ít làm hại tính hàn như Mn, Si, Cr, Cu và có thể cả Ni, B và N Để duy trì tốt độ dẻo và độ dai có thể còn hợp kim hóa bằng các nguyên tố tạo cacbit mạnh như V, Nb để giữ cho hạt nhỏ Ngoài làm tăng độ bền, hợp kim hóa thấp còn làm tăng (gấp 2 ữ 4 lần) tính chống ăn mòn trong khí quyển, đặc biệt khi thép chứa khoảng 0,20 ữ 0,30%Cu

Để không làm tăng mạnh giá thành, người ta thường tận dụng việc hợp kim hóa tự nhiên (dùng gang luyện từ vùng quặng giầu nguyên tố hợp kim) hay sử dụng lại phế liệu là thép hợp kim và dùng các nguyên tố rẻ như Mn, Si Do vậy tổng lượng hợp kim nhỏ hơn 2,0 ữ 2,5%, trong đó tổng lượng Cu + Ni + V + Mo chỉ khoảng 1,00%, mỗi nguyên tố thường chỉ dùng trong khoảng 0,50% (trừ Mn có thể tới 1,00% hay hơn một chút)

Chính do cách làm như vậy sự tăng giá thành là không đáng kể so với khi luyện thép cacbon thông thường, trong khi đó có giới hạn chảy cao hơn hẳn, do đó tăng khả năng chịu tải hoặc giảm nhẹ kết cấu, không những thế còn giảm được công bảo dưỡng: ít phải sơn do nâng cao được tính chống ăn mòn trong khí quyển

Điều này đặc biệt có lợi trong xây dựng, làm cầu, khung toa xe, ôtô tải, tàu biển,

Trang 26

kết cấu thép trên cao Một ưu điểm nữa của việc hợp kim hóa là nâng cao hiệu quả của tôi + ram để nâng cao độ bền, giới hạn chảy có thể đạt cao đến 400 ữ

600MPa (dĩ nhiên quá trình nhiệt luyện bán thành phẩm này chỉ được thực hiện ở nhà máy luyện kim)

Hiệu quả sử dụng thép HSLA rất tốt Chỉ nói riêng về mặt tiết kiệm kim loại, khi thay thế cho thép thông dụng khi dùng thép HSLA có σ0,2 = 350MPa tiết kiệm

được 15% kim loại, σ0,2 = 400MPa tiết kiệm được 25 ữ 30%, σ0,2 = 600MPa tiết kiệm được 50%

Tuy có những ưu điểm rất cơ bản, thép HSLA cũng có một số nhược điểm như tính hàn có phần hơi kém hay nâng cao nhiệt độ giòn lạnh, dễ bị phá hủy giòn

ở nhiệt độ âm sâu

b.Tiêu chuẩn Việt Nam

TCVN 3104-79 quy định các mác cũng như yêu cầu kỹ thuật cho thép kết cấu hợp kim thấp mà thực chất cũng là loại HSLA với hai nhóm:

- dùng làm kết cấu kim loại như:

+ loại ~ 1%Mn (14Mn, 15MnV, 19Mn),

+ loại ~ 2%Mn (09Mn2, 14Mn2, 18Mn2),

+ loại ~ 1%Mn + 0,6%Si (12MnSi, 16MnSi, 17MnSi),

+ loại ~ 1%Mn + 0,6%Si + 0,6%Cr (14CrMnSi),

+ loại ~ 1,50%Mn + 0,60 hay 1,00%Si (09Mn2Si, 10Mn2Si1),

+ loại ~ 0,80%Cr + 0,80%Si + 0,60%Ni + 0,40%Cu (10CrSiNiCu, 15CrSiNiCu)

- dùng làm cốt bêtông (sẽ trình bày ở mục tiếp theo)

c.Tiêu chuẩn các nước

ΓΓΓΓOCT có đầy đủ các mác tương ứng với các mác cùng loại của TCVN, như 14Mn là 14Γ, 15CrSiNiCu là 15XCHД Ngoài ra còn nhiều mác khác chứa nitơ (0,015 ữ 0,025%) như 14Γ2AΦ, 16Γ2CAΦ, 16Γ2AΦ; chứa bo (~ 0,003%) như

14ΓCMΦP

Việc chọn mác thép HSLA làm kết cấu nhà và thiết bị được quyết định một cách chặt chẽ căn cứ vào dạng chi tiết trong kết cấu, điều kiện làm việc, nhiệt độ tính toán, đặc tính và độ lớn của tải trọng

ở Nga đ∙ dùng nhiều thép HSLA làm đường ống, cầu

Thép HSLA được dùng rộng r∙i ở Hoa Kỳ theo tiêu chuẩn của SAE với các mác 9xx, trong đó xx là số chỉ σ0,2 tối thiểu theo đơn vị ksi với các loại mác 942,

945, 950, 955, 960, 965, 970 và 980 Ví dụ SAE 945 có σ0,2≥ 45ksi hay 310MPa

Ngoài ra ASTM cũng có nhiều tiêu chuẩn cho thép HSLA được phân thành các Grades xx (xx chỉ ơb hay ơ0,2 theo ksi) hay theo thứ tự A, B, C với độ bền tăng

đảo

JIS G3129 quy định loạt mác SH 590P (dạng tấm), SP 590S (góc) cho thép HSLA, trong đó σb ≥ 590MPa, chúng có độ bền cao chủ yếu là nhờ có tới 1,50 ữ

Trang 27

2,00%Mn JIS G3114 quy định hai mác SPA - H (tấm cán nóng) và SPA - C (tấm cán nguội) cho thép có tính chống ăn mòn tốt trong khí quyển, có σ0,2 ≥ 315 và 345MPa

5.2.4. Thép làm cốt bêtông

Thép làm cốt bêtông là loại chuyên dùng làm cốt cho bêtông làm tăng khả năng chịu kéo, uốn và tải trọng động cho cấu kiện, rất thường gặp hàng ngày TCVN 1651-85 chia các thép làm cốt bêtông ra làm bốn cấp: C I, C II, C III và

Thép làm cốt bêtông của Hoa Kỳ được dùng theo ASTM

Loại tròn trơn: σb≥ 485MPa, σ0,2≥ 385MPa

Loại có đốt : σb≥ 550MPa, σ0,2 ≥ 485MPa

tức là có độ bền cao hơn cấp C I và C II của TCVN Theo JIS 3112 có hai mác thép tròn trơn: SR235 và SR295, bốn mác thép có

đốt: SD295, SD345, SD390, SD490; trong đó số chỉ σ0,2 tối thiểu theo MPa

5.2.5 Các thép khác

Hình 5.7 Cơ tính của dây

thép phụ thuộc hàm lượng cacbon và độ biến dạng

Dây thép cũng là loại được dùng rất phổ biến vào các mục đích khác nhau

Để đạt được đường kính quy định thường phải qua rất nhiều lần kéo nguội, nguyên công này còn giúp hóa bền thép Trong thực tế có thể gặp rất nhiều loại dây không những khác nhau về đường kính mà cả về cơ tính (từ rất mềm, dẻo đến cứng, khó bẻ cong) Hầu như mọi dây thép thông dụng đều là thép cacbon, song với lượng cacbon và mức độ biến dạng khác nhau dây có cơ tính khác nhau như trình bày ở hình 5.7 Như thế không hẳn dây thép cứng, bền bắt buộc phải có lượng cacbon thật cao

Đường ray cho xe lửa tuy được coi như thép xây dựng nhưng lại là thép khá cứng, bền với chất lượng tốt

Trang 28

5.3 Thép chế tạo máy

5.3.1. Các yêu cầu chung

Một cỗ máy dù to đến đâu cũng do nhiều chi tiết, bộ phận nhỏ ghép lại với các đòi hỏi cơ tính khá khác nhau cho nên thép để làm chi tiết máy có yêu cầu cao hơn vì phải thỏa m∙n các yêu cầu khác nhau về cơ tính, chính xác về hình dạng, kích thước cũng như độ bóng bề mặt để lắp ráp Để thỏa m∙n được yêu cầu đó, các chi tiết máy với các điều kiện làm việc khác nhau thường được làm bằng nhiều mác thép khác nhau với chế độ nhiệt luyện tôi + ram không giống nhau

a.Cơ tính

Tính chất cơ bản của chi tiết máy là khả năng chịu tải trọng tĩnh và động, do vậy yêu cầu cơ bản là có độ bền cao và độ dai tốt phù hợp với điều kiện của tải trọng

Độ bền cao sẽ giúp tạo ra các máy khỏe (có công suất lớn) hơn, nhẹ và nhỏ

gọn hơn và giá thành hạ hơn Để đạt được yêu cầu này phải dùng thép phù hợp và nhiệt luyện bảo đảm Tuy nhiên trong chế tạo máy, về độ bền người ta ngày càng

coi trọng giới hạn chảy, vì lẽ các chi tiết máy ở dạng lắp ghép không cho phép có

biến dạng dẻo khi làm việc

Độ dai va đập rất quan trọng đối với chi tiết chịu tải trọng động do phải tăng

tải một cách đột ngột Chính chỉ tiêu này quyết định độ tin cậy khi làm việc, nó bảo đảm khó bị phá hủy giòn, yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với các phương tiện giao thông

Ngoài hai chỉ tiêu cơ bản trên nhiều chi tiết máy còn đòi hỏi độ cứng bề mặt cao để bảo đảm tính chống mài mòn khi làm việc bị ma sát hay cọ sát Rất nhiều

chi tiết máy làm việc dưới tải trọng thay đổi theo chu kỳ (trục, bánh răng ) nên

đòi hỏi giới hạn mỏi cao

b.Tính công nghệ

Để trở thành chi tiết thành phẩm thép bán thành phẩm phải qua nhiều khâu gia công

Trước tiên thường là biến dạng nóng (rèn) để tạo phôi, tạo ra hình dạng gần

đúng nhưng một số kích thước bao đều lớn hơn ở bản vẽ Hơn nữa các nhà máy cơ khí không bao giờ có đủ mọi chủng loại phôi phù hợp với chi tiết sản xuất cho dù

là loại chi tiết đơn giản như trục trơn, chốt Ngoài ra biến dạng nóng cũng giúp tạo

ra tổ chức tốt hơn (làm nhỏ mịn hạt, tạo thớ phù hợp )

Tiếp đó phôi thép tạo thành phải qua cắt gọt để tạo ra hình dạng, kích thước

chính xác và độ bóng yêu cầu như quy định Hầu như không một chi tiết máy nào lại không phải qua cắt gọt, nói chung đây là nguyên công tốn kém nhất trong gia công cơ khí, chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành

Tất cả các yêu cầu trên có thể đạt được nhờ chọn đúng mác thép và chế độ nhiệt luyện thích hợp

c.Tính kinh tế

Do sản lượng lớn, thép chế tạo máy nói chung phải rẻ, nên nói chung thường dùng thép cacbon và hợp kim thấp, trong trường hợp thật quan trọng mới dùng đến hợp kim hóa trung bình, không dùng hợp kim hóa cao

d.Thành phần hóa học

Do các yêu cầu về cơ tính, tính công nghệ, kinh tế như trên, thép phải có thành phần hóa học phù hợp

Trang 29

- Nhóm yêu cầu nặng về độ dẻo, độ dai: thành phần cacbon thấp 0,10 ữ

0,25% Muốn có độ bền cao phải tôi + ram thấp, độ cứng bề mặt cao phải qua thấm cacbon

- Nhóm yêu cầu nặng về giới hạn chảy và độ dai: thành phần cacbon trung bình 0,30 ữ 0,50%C và tôi + ram cao Muốn có độ cứng bề mặt cao phải qua tôi bề mặt

- Nhóm yêu cầu nặng về giới hạn đàn hồi: thành phần cacbon tương đối cao 0,55 ữ 0,65% và tôi + ram trung bình

Cách phân chia ba phân nhóm về thành phần cacbon như trên cũng chỉ có tính chất tương đối, có thể xê dịch đôi chút

Nói chung thép cacbon kết cấu chế tạo máy có tính công nghệ tốt và rẻ, chiếm tỷ lệ tới 80 ữ 90% trong cơ khí, được dùng phổ biến trong chế tạo máy

thông dụng để làm các chi tiết chịu tải trọng thấp hay trung bình, có tiết diện nhỏ (< 20mm), hình dạng đơn giản (để khi phải tôi trong nước không bị nứt) Trong

những điều kiện đó dùng thép cacbon không khác gì thép hợp kim, tức đạt hiệu quả kinh tế - kỹ thuật cao hơn

Tuy nhiên thép cabon cũng có nhược điểm quan trọng, đó là:

- khi có tiết diện lớn (> 30 ữ 40mm) không thể đạt được độ bền tốt như ở tiết

Ngược lại thép hợp kim lại thể hiện ưu việt ở ba mặt trên

Thành phần hợp kim và thép hợp kim

So với thép cacbon, thép hợp kim tuy có đắt hơn, tính công nghệ kém hơn, song bù lại có độ bền cao hơn, đó là ưu điểm quan trọng nhất Nguyên nhân của

nó như đ∙ nói trước hết là do nâng độ thấm tôi, ngoài ra còn do hóa bền ferit, tạo

ra cacbit phân tán, giữ cho hạt nhỏ

Trong thép kết cấu chế tạo máy, theo tác dụng và hàm lượng, các nguyên tố hợp kim được chia thành hai nhóm chính và phụ

Nhóm các nguyên tố hợp kim chính chiếm tỷ lệ chủ yếu trong các nguyên tố

đưa vào, có tác dụng làm tăng độ bền nhờ nâng cao độ thấm tôi, đó là các nguyên

tố Cr, Mn, Si và Ni (ngoài ra có B), với các đặc tính:

- rẻ, dễ kiếm (riêng Ni tuy đắt song vẫn phải dùng khi thật cần), song tổng lượng của chúng đưa vào thường chỉ khoảng 1,0 ữ 3,0%, rất ít khi gặp loại 5 ữ 6%,

- có tác dụng nâng cao độ thấm tôi

Để nâng cao độ thấm tôi, người ta thấy rằng với một tổng lượng hợp kim như nhau khi chia ra dùng nhiều nguyên tố (hợp kim hóa phức tạp) có tác dụng mạnh

Trang 30

hơn khi chỉ dùng một nguyên tố (hợp kim hóa đơn giản) Ví dụ không dùng thép với 3%Cr vì cho độ thấm tôi (bền) kém hơn 1%Cr + 2%Ni hay 1%Cr + 1%Mn +1%Si Thường gặp:

- khi tổng lượng hợp kim ~1% dùng một nguyên tố, ví dụ thép crôm;

- khi tổng lượng hợp kim ~2% hay dùng hai nguyên tố, ví dụ thép crôm - niken;

khi tổng lượng hợp kim ~3% dùng hai hoặc ba nguyên tố, ví dụ thép crôm mangan - silic;

khi tổng lượng hợp kim ≥4% dùng hai, ba hoặc bốn nguyên tố

Nhóm các nguyên tố hợp kim phụ được đưa vào thép với lượng rất ít, thường

< 0,1%, cao nhất thường không quá 0,2% với mục đích cải thiện một nhược điểm nào đó do nguyên tố chính đưa vào, đó là Ti, Zr, Nb, V và Mo

- Ti, Zr, Nb, V là các nguyên tố giữ cho thép có hạt nhỏ khi nung, đặc biệt trong thép Cr - Mn (Mn có khuynh hướng gây hạt lớn), để đạt mục đích này thường dùng khoảng 0,10%Ti

Mo (~ 0,20%) tránh được giòn ram loại II, thường được đưa vào thép Cr

-Ni với độ thấm tôi cao có lượng cacbon trong khoảng 0,20 ữ 0,40% (như sau này

sẽ biết là loại thép hóa tốt tôi thấu với tiết diện lớn phải qua tôi + ram cao, rất nhạy cảm với giòn ram loại II mà không tránh được bằng biện pháp đơn giản làm nguội nhanh trong nước hoặc dầu) W cũng có tác dụng này nhưng phải dùng nhiều hơn (~ 0,50%) nên ít dùng Ngoài tác dụng chống giòn ram loại II các nguyên tố này còn có tác dụng nâng cao độ thấm tôi, nên thép crôm - niken - môlipđen (hoặc vonfram) được coi như thép chế tạo máy tốt nhất

Như vậy thép hợp kim chế tạo máy có những đặc điểm sau:

- tuy có giá thành đắt hơn song về cơ tính nó có độ bền cao hơn, điều này thể hiện rất rõ khi tiết diện lớn nhờ tính thấm tôi cao, đặc biệt là khi tôi thấu sẽ đạt

được cơ tính cao và đồng nhất trên toàn tiết diện,

- do tôi dầu, thậm chí có thể áp dụng tôi phân cấp nên có thể làm được các chi tiết có hình dạng phức tạp mà không sợ nứt hoăc bị biến dạng lớn,

- tính chống ram tốt nên một mặt giữ được độ bền ở nhiệt độ cao hơn, mặt khác trong điều kiện như nhau thép hợp kim được ram ở nhiệt độ cao hơn do đó ứng suất bên trong thấp hơn

e. Quan hệ giữa tổng lượng hợp kim và đường kính tôi thấu

Để bảo đảm cơ tính cao và đồng nhất trên tiết diện thép phải được tôi thấu, muốn vậy phải được hợp kim hóa một cách hợp lý hay nói khác đi trong trường hợp này tiết diện thép được chọn theo độ thấm tôi hay tổng lượng nguyên tố hợp kim Cũng có thể nói rằng mỗi mác thép chỉ bảo đảm cơ tính cao và đồng nhất tới tiết diện nhất định Mác thép với tổng lượng hợp kim càng cao cho phép làm các chi tiết có tiết diện càng lớn Theo độ thấm tôi các thép kết cấu được chia thành bốn nhóm:

- thép có độ thấm tôi thấp, chỉ tôi thấu tới đường kính 15mm, là loại không

hợp kim hóa tức thép cacbon,

- thép có độ thấm tôi trung bình, tôi thấu tới đường kính 35mm, là loại được

hợp kim hóa thấp và đơn giản như có 1%Cr hoặc 2%Mn hoặc 1%Cr + 0,5%Si,

- thép có độ thấm tôi tương đối cao, tôi thấu tới đường kính 75mm, là loại

được hợp kim hóa thấp nhưng phức tạp như crôm - niken thường, crôm - môlipđen, crôm - mangan - silic,

Trang 31

- thép có độ thấm tôi cao, tôi thấu tới đường kính 100mm, là loại được hợp

kim hóa phức tạp tới 5 ữ 6% như thép crôm-niken cao hay crôm-niken-môlipđen

- thép đàn hồi có thành phần cacbon tương đối cao (kém dẻo, dai nhưng khá cứng, rất đàn hồi), để đạt giới hạn đàn hồi cao phải tôi + ram trung bình

Tiếp theo sẽ trình bày các nhóm thép này Cần chú ý là trong mỗi nhóm có nhiều mác khác nhau, chúng khác nhau chủ yếu về độ thấm tôi do đó được dùng cho các độ lớn tiết diện khác nhau; ngoài ra các nguyên tố hợp kim cũng đưa đến cho thép những tính chất đặc trưng như Cr - Ni vừa tăng mạnh độ thấm tôi vừa giữ

được độ dai cao, làm xấu tính gia công cắt, gây giòn ram, Mn - Si làm thép bền, cứng, nhưng lại gây giòn

5.3.2. Thép thấm cacbon

a. Đặc điểm về thành phần hóa học

Thép thấm cacbon là loại thép có thành phần cacbon thấp: 0,10 ữ 0,25%

(cá biệt có thể tới 0,30%) để chế tạo các chi tiết chịu tải trọng tĩnh và va đập cao nhưng bề mặt bị mài mòn mạnh như bánh răng, cam, chốt Để đạt được yêu cầu

đó thép phải qua thấm cacbon (bao gồm cả tôi + ram thấp sau khi thấm), nên được

đặt tên như trên

Cacbon

Lượng cacbon trong thép được quy định trong khoảng 0,10 ữ 0,25% để bảo

đảm độ dẻo, độ dai cao của lõi ở cả trạng thái tôi + ram thấp để đạt được độ bền cao nhất Dùng giới hạn dưới khi cần độ dai cao hơn, dùng giới hạn trên khi cần

độ bền cao hơn Trong một số trường hợp cần đạt độ bền cao hơn nữa có thể dùng tới 0,30%C Nếu dùng cao hơn nữa độ dai của lõi sẽ thấp khi tôi + ram thấp,

Các thép cacbon có độ thấm tôi thấp, chỉ dùng cho chi tiết nhỏ (φ < 10 ữ

20) và hình dạng đơn giản (vì phải tôi nước), chỉ chịu mài mòn bình thường Do phải chịu nung lâu ở nhiệt độ cao khi thấm cacbon, các thép thấm cacbon phải là loại được khử ôxy triệt để (thép lặng), tốt nhất là loại hạt nhỏ để hạt không bị to, làm thép giòn

crôm, có thể dùng nó riêng rẽ hay kết hợp với niken, mangan Cũng không dùng

thép chỉ hợp kim hóa bằng mangan do nguyên tố này thúc đẩy hạt austenit phát triển khi thấm cacbon

Trang 32

Bảng 5.3 Thành phần hóa học (trung bình, %) của một số mác thép thấm cacbon

S, max

khác Thép cacbon

TCVN C10

C15

C20

0,10 0,15 0,20

0,50 0,50 0,50

0,040 0,040 0,040

0,50 0,50

0,040 0,040

-

- AISI/

SAE

1015

1020

0,15 0,20

0,45 0,45

0,050 0,050

-

- JIS S15C

S20C

0,15 0,20

0,45 0,45

0,035 0,035

-

- Thép crôm

Γ OCT 15X

20X

15X Φ

0,15 0,20 0,15

0,60 0,70 0,60

0,90 0,90 1,00

0,035 0,035 0,035

-

- V0,10

AISI/

SAE 5015 5115

4118

0,15 0,15 0,18

0,40 0,80 0,80

0,40 0,80 0,50

0,035 0,030 0,030

0,040 0,030 0,035

-

-

- JIS SCr415

SCM415

0,15 0,15

0,75 0,75

1,10 1,10

-

-

- 0,25

0,030 0,030

0,030 0,030

-

- Thép crôm - niken và crôm - niken - môlipđen

0,60 0,50 0,50 0,60 0,45

0,65 0,80 1,50 0,50 1,50

1,30 3,00 3,50 1,90 4,30

-

-

- 0,25 0,35

0,035 0,025 0,025 0,035 0,025

0,035 0,025 0,025 0,035 0,025

0,60 0,65 0,80 0,80 0,90 0,55 0,90

0,50 0,50 0,45 0,55 0,50 1,30 0,45

1,90 1,10 0,35 0,60 0,60 3,40 0,55

0,25 0,20 0,12 0,20 0,35 0,12 0,12

0,035 0,035 0,035 0,035 0,035 0,025 0,035

0,040 0,040 0,040 0,040 0,040 0,025 0,040

SNC815

SNCM415

SNCM815

0,15 0,15 0,15 0,15

0,50 0,50 0,50 0,50

0,45 0,90 0,45 0,90

2,40 3,10 2,40 3,10

-

- 0,30 0,30

0,030 0,030 0,030 0,030

0,030 0,030 0,030 0,030

-

-

-

- Thép crôm – mangan - titan và crôm - mangan - môlipđen

Γ OCT 18X Γ T

25X Γ M

0,18 0,25 1,00 1,00 1,00 1,00 - - 0,25 - 0,035 0,035 0,035 0,035 Ti0,05 - Ghi chú: các thép đều có chứa 0,15 ữ 0,30Si

!u việt của thép hợp kim thấm cacbon so với thép cacbon là ở các mặt sau:

- độ bền cao do độ thấm tôi cao, ưu việt này càng rõ rệt khi tiết diện chi tiết

Trang 33

200oC,

- ít biến dạng, nứt khi tôi do được làm nguội trong dầu, nên làm được các

chi tiết có hình dạng phức tạp,

- có khả năng nâng cao nhiệt độ thấm, do đó rút ngắn được thời gian thấm

Bảng 5.3 trình bày thành phần hóa học của mác thép thấm cacbon theo một

Sau đây trình bày các thép và đặc điểm của từng loại

a Thép cacbon

Do các yêu cầu trên, thép cacbon để thấm cacbon phải là loại thép lặng,

không được dùng thép sôi hay nửa lặng vì chúng có khuynh hướng phát triển hạt

mạnh Phù hợp với các yêu cầu đề ra chỉ dùng các mác thép cacbon sau:

C10, C15, C20, C25 và đôi khi cả CCT38 (như đ∙ nói trong điều kiện

thông thường của sản xuất luyện kim mác thép này có khoảng 0,20%C) (tương ứng với ΓΓΓΓOCT là 10, 15, 20, 25, ВСтВСт3, SAE/AISI là 1010, 1015, 1020,

1025, JIS là S10C, S15C, S20C, S25C)

- sau khi thấm cacbon đạt được yêu cầu thấp kể trên ở tiết diện nhỏ: độ

cứng bề mặt HRC 60 ữ 62, chống mài mòn tương đối tốt, lõi HRC 30 ữ 40, độ dai

cao, độ bền tốt, σb trong khoảng 500 ữ600MPa,

- do bắt buộc phải tôi nước, độ thấm tôi thấp nên không thể làm được các

chi tiết có hình dạng phức tạp và lớn,

- khi thấm cacbon không thể nâng cao quá 900oC (trong thép không có các

yếu tố cản trở hạt phát triển), tốc độ thấm kéo dài, nói chung hạt vẫn bị to Do hạt

lớn sau khi thấm không thể tôi trực tiếp mà phải qua thường hóa rồi mới tôi (một

hoặc hai lần) nên thường bị biến dạng lớn

Như vậy thép cacbon với các mác trên chỉ áp dụng cho các chi tiết nhỏ (φ <

20mm), hình dạng đơn giản, tính chống mài mòn yêu cầu bình thường, tóm lại

thường là các chi tiết không quan trọng như một số phụ tùng xe đạp, xe cải tiến

(trục, côn và bi) Chi tiết dù nhỏ nhưng hình dạng phức tạp (nhiều góc cạnh) cũng

không thể làm bằng thép cacbon Khi dùng thép này phải chú ý tuân thủ đúng quy

trình thấm do tính phức tạp hơn của nó

c Thép crôm

Như đ∙ biết, crôm là nguyên tố tương đối rẻ, nó không những nâng cao độ

thấm tôi còn xúc tiến quá trình thấm cacbon (do có ái lực với cacbon mạnh hơn),

do vậy được dùng trong mọi thép hợp kim thấm cacbon

Thép crôm đơn giản là thép có khoảng 1%Cr, được dùng khá phổ biến

trong cơ khí để làm các chi tiết loại nhỏ, có hình dạng không quá phức tạp

Thường dùng các ký hiệu sau (như đ∙ nói TCVN chưa quy định cho thép kết cấu

hợp kim nên ở đây chỉ là ký hiệu theo TCVN 1659-75)

15Cr, 20Cr, 15CrV, 20CrV

(tương ứng với ΓOCT là các mác 15X, 20X, 15XΦ, 20XΦ, SAE/AISI là 5015,

5115, 5120, JIS là SCr415, SCr420)

So với thép thường, thép crôm có những đặc điểm sau:

- sau khi thấm cacbon cũng đạt độ cứng HRC 60 ữ 62 song có tính chống

- do nâng cao chút ít độ thấm tôi và dùng môi trường tôi dầu nên có thể

làm được chi tiết có hình dạng tương đối phức tạp,

- độ bền cao hơn đôi chút, σb trong khoảng 700 ữ 800MPa,

Trang 34

- nhiệt độ thấm cacbon trong khoảng 900 ữ 920oC, tốc độ thấm nhanh hơn,

độ hạt bình thường, sau thấm không cần thường hóa song vẫn phải áp dụng cách tôi như thép cacbon (một hoặc hai lần) Ngoài ra thép này còn có khuynh hướng quá b∙o hòa cacbon tạo nên lưới cacbit gây ra giòn (điều này dễ xảy ra khi thấm ở thể rắn),

Công dụng: làm các chi tiết nhỏ (φ 20 ữ 40) song hình dạng tương đối phức tạp như bánh răng, trục bậc, chốt với đòi hỏi tính chống mài mòn tương đối cao Để nâng cao độ thấm tôi và tránh quá b∙o hòa lớp thấm của thép crôm, người ta thường hợp kim hóa thêm bằng niken hay mangan là các nguyên tố không tạo thành cacbit (Ni) hay tạo cacbit yếu (Mn)

d Thép crôm - niken và crôm - niken - môlipđen

Như đ∙ nói sự kết hợp của crôm và niken không những làm tăng mạnh độ

thấm tôi nhờ đó tăng độ bền mà còn duy trì được độ dai Với đặc trưng bền và dai thép crôm - niken được dùng cho các chi tiết quan trọng, cần độ tin cậy cao như

Có hai loại: - crôm - niken thường ~ 1%Cr + 1%Ni, và

- crôm-niken cao ~ 1%Cr + 3%Ni

Ngoài ra nếu đưa thêm một lượng nhỏ môlipđen vào hai loại trên sẽ nâng

Thép crôm - niken thường

Là loại thép hợp kim thấp, trong đó crôm 0,50 ữ 1,00% còn niken > 1%, nhưng cũng đủ cải thiện đáng kể độ thấm tôi, tôi rất dễ trong dầu Tuy nhiên loại này không có hiệu quả kinh tế cao nên hầu như không được dùng ở các nước phương Tây (trước đây AISI / SAE có loạt mác 3115, 3120, 3215, 3220 3316 và

3415 thuộc loại crôm-niken nhưng đ∙ bỏ từ lâu, trước 1945) Mác thép điển hình

hiện còn được dùng ở Nga là 20XH, được dùng làm các chi tiết hình dạng phức

tạp với kích thước trung bình (50 ữ 75mm), chịu tải trọng va đập cao như các bánh

răng ôtô tải nhẹ và du lịch

Thép crôm - niken cao

Là loại thép trong đó niken cao hơn 2% và có thể tới 4% còn crôm cũng chỉ trên dưới 1%, tức có tỷ lệ Ni / Cr = 3 hay 4 Như đ∙ biết với lượng crôm -

niken như thế độ thấm tôi rất cao, tôi thấu được các tiết diện đến 100mm và cao

hơn, trong thực tế có thể coi có độ thấm tôi bất kỳ Với ngay tiết diện lớn như vậy cũng rất dễ dàng tôi trong dầu, còn với tiết diện nhỏ hơn có thể áp dụng tôi phân cấp, nhờ đó giảm mạnh độ biến dạng Thép được dùng làm các chi tiết thấm cacbon rất quan trọng: chịu tải trọng nặng và bị mài mòn mạnh, hình dạng lớn và phức tạp, yêu cầu độ tin cậy cao như các chi tiết trong máy bay, ôtô mà các hư hỏng có thể gây tai họa cho người

Mác thép điển hình của loại này là 12XH3A và 20X2H4A của ΓΓΓΓOCT

(SNC415 và SNC815 của JIS) có thể đạt được tổ hợp cơ tính cao tới σb = 1000 ữ

1200MPa, aK = 900 ữ 1000kJ/m2

Tuy nhiên khi sử dụng thép này phải tính đến các yếu tố sau:

- đắt (theo số liệu của Nga đắt gấp ba thép cacbon),

- tính gia công cắt kém do thép quá dẻo (do cacbon thấp, niken cao), phoi

- phải áp dụng quy trình nhiệt luyện sau khi thấm cacbon khá phức tạp

Để cải thiện phần nào tính gia công cắt thép phải qua thường hóa

Quy trình nhiệt luyện thép này khá phức tạp do sau khi thấm cacbon bề

Trang 35

mặt với hàm lượng cacbon cao và nguyên tố hợp kim khá cao làm hạ thấp điểm Msnên nếu tôi bình thường còn lại nhiều austenit dư (tới 50 ữ 60%) và độ cứng chỉ

đạt HRC 45 ữ 55, không đủ chống mài mòn Vì thế sau khi thấm tiến hành:

- thường hóa trực tiếp rồi ram cao ở 600 ữ 650oC trong thời gian dài từ 2

đến 6h làm cacbit phân tán tiết ra khỏi các dung dịch rắn làm cho chúng nghèo

- tôi: khi nung nóng có hai pha austenit đ∙ nghèo hợp kim (nâng cao điểm

Ms) và cacbit phân tán nên sau làm nguội được nhiều mactenxit, cacbit phân tán và

ít austenit dư nên vừa bảo đảm độ cứng cao (HRC > 60) vừa chống mài mòn cao,

- ram thấp (như thường lệ để giảm ứng suất)

Thép crôm - niken - môlipđen

Chủ yếu là nhóm thép crôm-niken cao (cũng có cả thép crôm - niken thường) kể trên nhưng có thêm 0,10 ữ 0,40%Mo với tác dụng chủ yếu là để nâng cao hơn nữa độ thấm tôi (ở đây không có tác dụng chống giòn ram do chỉ phải ram thấp), chúng được coi là thép thấm cacbon tốt nhất, được dùng vào các mục đích quan trọng nhất và cho tiết diện lớn nhất

Các mác thép điển hình của loại này là 20XH2M, 18X2H4MA của ΓOCT

(SNCM415, SNCM815 của JIS, 4320, 4720, 8115, 8615, 8822, 9310, 94B17 của

AISI / SAE) Đặc tính của các mác thép này cũng giống như các mác crôm - niken cùng loại song có tính thấm tôi cao hơn (ví dụ SNCM415 có tính thấm tôi cao hơn SNC415, còn cách nhiệt luyện giống như SNC415) Các mác tốt nhất (ví dụ như 18X2H4MA) là loại tự tôi, tức loại mactenxit, phải áp dụng triệt để cách nhiệt luyện kể trên

e Thép crôm - mangan - titan

Nhóm thép này có các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cao được dùng rất rộng r∙i

ở Nga cũng như ở nước ta trong chế tạo bánh răng ôtô tải nhẹ và trung bình

Về mặt kinh tế, nó là loại thép tương đối rẻ vì hợp kim hóa thấp chủ yếu bằng các nguyên tố rẻ (Mn) và không đắt (Cr) không phải dùng đến niken đắt

Về độ bền, đối với các chi tiết trung bình (< 50mm) nó có độ bền tương

đương như thép crôm - niken do có thể tôi thấu (σb = 1100 ữ 1150MPa), tuy độ dẻo, độ dai có kém hơn đôi chút (aK = 600 ữ 900kJ/m2)

! u điểm chính của nhóm thép này là ở tính công nghệ

Trước hết thép không quá dẻo, dai mà vẫn đủ mềm để có thể cắt gọt tốt Sau đó là công nghệ thấm cacbon của thép có khá nhiều ưu việt:

- do có mangan nên bề mặt thép không bị quá b∙o hòa cacbon,

- tuy có mangan là nguyên tố làm hạt lớn, song nhờ có titan (dù với lượng nhỏ) nên tạo ra được các phần tử cacbit titan TiC rất nhỏ nằm ở biên hạt austenit, ngăn trở hạt lớn lên, nên thép có hạt nhỏ Chính do điều này sẽ dẫn tới ba ưu điểm sau,

- cho phép thấm ở nhiệt độ cao hơn 900oC (ví dụ ở 930 ữ 950oC) nên rút

- có thể tôi trực tiếp ngay sau khi thấm vì không cần các nguyên công làm nhỏ hạt như thường hóa, tôi lần thứ nhất Nhiệt luyện sau thấm là đơn giản nhất: tôi trực tiếp với hạ nhiệt còn khoảng 850 ữ 880oC rồi ram thấp,

- do quy trình đơn giản như vậy nên biến dạng rất thấp

ΓΓΓΓOCT quy định hai mác thép làm bánh răng rất phổ biến là 18XΓΓΓΓT (ngoài

ra có 25XΓT, 30XΓT) và 25XΓΓΓΓM Trong đó mác đầu dùng trong trường hợp thấm

cacbon như đ∙ trình bày còn mác sau dùng cho trường hợp thấm cacbon - nitơ ở

Trang 36

thể khí với nhiệt độ thấm 850oC, thời gian thấm vẫn rút ngắn thêm, tôi trực tiếp + ram thấp, độ biến dạng đạt được giá trị nhỏ nhất Do thấm ở nhiệt độ thấp hơn, không gây ra hạt lớn nên không cần dùng titan mà thay vào đó là môlipđen để cải thiện thêm độ thấm tôi Trong hai, ba mươi năm trở lại đây, ở Nga phương án dùng thép mác 25XΓM làm bánh răng hộp số ôtô, qua thấm cacbon - nitơ thể khí, tôi trực tiếp phân cấp trong dầu nóng 180oC được coi là hoàn hảo hơn cả vì vừa cho độ cứng cao, tính chống mài mòn cao (hơn thấm cacbon), độ biến dạng dưới mức cho phép (chỉ 0,08 ữ 0,12mm, cho phép là 0,12mm) nhờ đó nâng cao gần gấp đôi tuổi

thọ

5.3.3. Thép hóa tốt

Thép hóa tốt là thép có thành phần cacbon trung bình, 0,30 ữ 0,50%C, để

chế tạo các chi tiết máy chịu tải trọng tĩnh và va đập tương đối cao mà bề mặt có thể bị mài mòn như trục, bánh răng, chốt , để đạt được cơ tính tổng hợp cao nhất

thép phải qua nhiệt luyện hóa tốt (tôi + ram cao) nên có tên như trên

a Đặc điểm về thành phần hóa học

Cacbon

Lượng cacbon trung bình trong giới hạn 0,30 ữ 0,50% sẽ bảo đảm sự kết hợp tốt nhất của các chỉ tiêu cơ tính: độ bền, độ dẻo, độ dai (cơ tính tổng hợp) sau khi tôi + ram cao và độ cứng, tính chống mài mòn tương đối cao sau khi tôi bề mặt, thỏa m∙n tốt các yêu cầu trên Nếu dùng lượng cacbon khác đi không thể đạt

được cơ tính tổng hợp tốt, tuy rằng dùng lượng cacbon cao hơn đạt được độ cứng

bề mặt và tính chống mài mòn cao hơn Thường dùng phổ biến lượng cacbon trong

Để bảo đảm có cơ tính tổng hợp cao và đồng nhất trên toàn tiết diện, thép phải được hợp kim hóa thích hợp để đạt tới độ thấm tôi mong muốn, do đó tiết diện càng lớn lượng hợp kim đưa vào càng phải cao

Nguyên tố hợp kim chính dùng trong thép hóa tốt là các nguyên tố Cr, Mn với lượng chứa 1 ữ 2%, Ni - 1 ữ 4% như nhóm thép thấm cacbon, ngoài ra còn cho phép dùng cả Si với lượng chứa không quá 1% (vì không qua thấm cacbon nên không phải hạn chế như trường hợp trên) Trong mấy chục năm gần đây người ta cũng chú ý dùng bo (B), với lượng rất nhỏ, khoảng 0,0005 ữ 0,003%, cũng có tác dụng như 1%Ni hay 0,5%Cr (khi dùng < 0,0005% không có tác dụng, > 0,003% tạo nên các borit sắt FeB, Fe2B lại làm giảm độ thấm tôi) Không dùng B một cách

đơn độc vì tác dụng của B được tăng cường khi dùng nó cùng với Cr, Ni, Mn

Nguyên tố hợp kim phụ thường dùng trong thép hóa tốt là Mo và W, chúng cũng có tác dụng tăng độ thấm tôi, song chủ yếu là để khắc phục giòn ram loại II khi ram cao ở những tiết diện lớn (không thể khắc phục bằng nguội nhanh sau khi ram)

Các thép cacbon và hợp kim hóa tốt cũng có những đặc điểm chung tương ứng như trong thép thấm cacbon trừ về thấm cacbon

b Đặc điểm về nhiệt luyện

Nếu như thép thấm cacbon thường qua hai bước nhiệt luyện: sơ bộ là thường hóa và kết thúc là thấm cacbon với thời gian khá dài thì việc nhiệt luyện thép hóa tốt được coi là đơn giản hơn

Để cải thiện tính cắt gọt, sau khi rèn, dập nóng để tạo phôi, thép được qua

ủ hoàn toàn (trừ thép crôm - niken) đạt độ cứng HB 180 ữ 220 dễ gia công cắt thô

Trang 37

Nhiệt luyện kết thúc thép hóa tốt được chia làm hai bước

Bước đầu tiên là tạo cho lõi có cơ tính tổng hợp cao để chịu được tải trọng

tĩnh và va đập bằng cách tôi + ram cao đạt tổ chức xoocbit ram với độ cứng HB

240 ữ 280 (HRC 25 ữ 30) Ngoài ra tổ chức này còn có hai tác dụng phụ nhưng

- giúp tạo ra độ bóng cao khi gia công tinh tiếp theo đúng như hình dạng,

- giúp chuyển biến nhanh và tạo mactenxit kim nhỏ khi tôi bề mặt tiếp theo

do với hỗn hợp ferit-xêmentit nhỏ mịn sẽ tạo ra rất nhiều mầm austenit khi nung nóng

Điều đáng chú ý là khi ram cao cho thép hợp kim (loại không chứa Mo hay W) phải chú ý tránh giòn ram (loại II)

Với các tiết diện nhỏ có thể thay tôi + ram cao bằng thường hóa cũng đạt hiệu quả tương tự mà công nghệ thực hiện đơn giản và rẻ hơn

Bước thứ hai là tạo cho bề mặt độ cứng và tính chống mài mòn mà không

phá hủy cơ tính tổng hợp vừa đạt được trên toàn tiết diện Muốn vậy sau khi gia công tinh, chi tiết thành phẩm được qua tôi bề mặt và ram thấp Với lượng cacbon của thép như trên sau tôi bề mặt dễ dàng đạt được độ cứng HRC 52 ữ 58, cùng với

độ cứng lõi HRC 25 ữ 30 đạt được yêu cầu đề ra Riêng các thép với lượng cacbon trong khoảng 0,30 ữ 0,35%, tôi bề mặt không đạt được độ cứng cao hơn HRC50 nên phải thay bằng thấm cacbon - nitơ nhiệt độ thấp (550 ữ 560oC) tức ở nhiệt độ không vượt quá nhiệt độ ram cao để không làm hỏng tổ chức xoocbit ram của lõi với cơ tính tổng hợp cao

Bảng 5.4 trình bày các mác thép hóa tốt thường dùng theo một số tiêu chuẩn

Sau đây trình bày các thép và đặc điểm của từng loại

Phù hợp với các yêu cầu đề ra là các mác thép C30, C35, C40, C45, C50

và C40Mn song dùng nhiều hơn cả là hai mác giữa (tương ứng với các mác 40, 45,

40ΓΓΓΓ, 58 của ΓΓΓΓOCT, 1040, 1045 của AISI/SAE, S45C của JIS) Các mác này

thường được dùng làm các chi tiết máy nhỏ (φ 20 ữ 30), hình dạng đơn giản như các trục, chốt phẳng, thanh truyền lực Chúng có đặc điểm là đạt được yêu cầu đề

ra nhưng ở mức thấp σb = 750 ữ850MPa

Trong mấy chục năm gần đây ở Nga (và gần đây ở Trung Quốc) dùng khá nhiều mác thép cacbon đặc biệt được gọi là thép với độ thấm tôi thấp (thấp hơn cả thép cacbon thường), nó chứa rất ít hai nguyên tố Mn (≤ 0,20% thay vì 0,50 ữ

0,80%) và Si (≤ 0,15% thay vì 0,30 ữ 0,35%) với mác 58 (hay 55ΠΠ) Đặc tính của thép này là dù tôi thể tích cũng đạt được hiệu ứng như tôi bề mặt vì lớp tôi chỉ

dày trên dưới 2mm nên lõi không bị tôi vẫn giữ được độ dai nhất định và với lượng

cacbon cao hơn 0,55% độ cứng bề mặt đạt được khoảng HRC 60 với tính chống mài mòn cao Nhiều h∙ng chế tạo ôtô của Nga dùng thép này để chế tạo bánh răng

bị động (thường có kích thước lớn hơn, quay chậm hơn và ít bị mòn hơn loại chủ

động) với công nghệ tôi thể tích hay tôi cảm ứng với nung nóng sâu (sâu hơn chiều sâu lớp tôi) mà vẫn đạt hiệu quả gần như dùng thép cacbon thấp đem thấm cacbon

d Thép crôm

Thường dùng với lượng chứa 0,50 hay 1,00% chủ yếu để cải thiện tính tôi (tôi được trong dầu) và nâng cao một phần độ thấm tôi Thép crôm được dùng làm các chi tiết máy nhỏ (φ 20 ữ 40) nhưng có hình dạng tương đối phức tạp như trục

bậc, bánh răng Thường dùng các mác 40X, 40XΦA của ΓΓΓΓOCT (tương đương với

Trang 38

50B40, 5140 của AISI / SAE, SCr440 của JIS), trong đó mác 40X được quen dùng

khác, max Thép cacbon

TCVN C40

C45

C40Mn

0,40 0,45 0,40

0,70 0,70 0,90

0,040 0,040 0,040

0,70 0,70

≤ 0,20 0,90

0,040 0,040 0,040 0,035

-

-

Si ≤ 0,15 AISI/

0,003 AISI/

SAE

5140 0,40 0,80 0,80 - - 0,035 0,040 - JIS SCr440 0,40 0,80 1,10 - - 0,030 0,030 -

Thép crôm - môlipđen

Γ OCT 38XMA 0,38 0,60 1,20 - 0,25 0,025 0,025 - AISI/

SAE

4140 0,40 0,90 1,00 - 0,20 0,035 0,040 - JIS SCM440 0,40 0,80 1,10 - 0,25 0,030 0,030 -

Thép crôm - mangan và crôm - mangan -silic

Γ OCT 40X Γ

30X Γ C

0,40 0,30

1,00 1,00

1,00 1,00

0,035 0,035

- Si1,00 Thép crôm - niken và crôm - niken - môlipđen

0,70 0,70 0,50 0,40 0,40

0,60 0,80 0,80 1,60 1,40

1,30 1,50 3,00 1,60 3,40

- 0,20

- 0,25 0,40

0,035 0,025 0,025 0,025 0,025

0,035 0,025 0,025 0,025 0,025

SAE 4340 8640

94B30

0,40 0,40 0,30

0,70 0,90 0,90

0,80 0,50 0,40

1,90 0,60 0,45

0,25 0,20 0,12

0,035 0,035 0,035

0,040 0,040 0,040

-

- B0,0005- 0,003 JIS SNC631

SNC836

SNCM439

0,31 0,36 0,39

0,60 0,60 0,80

1,00 1,00 1,00

3,00 3,50 2,00

-

- 0,25

0,030 0,030 0,030

0,030 0,030 0,030

-

-

- Thép thấm nitơ

Γ OCT 38X2MЮA 0,38 0,50 1,60 - 0,20 0,025 0,025 Al 1,00 SAE 7140 0,42 0,55 1,60 - 0,38 0,035 0,040 Al 1,00 JIS SACM645 0,45 0,55 1,60 - 0,25 0,030 0,030 Al 1,00 Ghi chú: các thép đều có chứa 0,15-0,35Si

Chúng đạt được các yêu cầu đề ra ở mức cao hơn, sau khi hóa tốt σb có thể

đạt đến 800 ữ 950MPa Nhược điểm của thép là giòn ram loại II khi ram cao nên

Trang 39

sau khi ram thường làm nguội trong dầu (thay vì trong không khí như vẫn thường làm) Với các chi tiết hình dạng đơn giản khi yêu cầu cơ tính đồng nhất và độ cứng cao người ta cho phép tôi nước Đôi khi cũng dùng mác 35X Điều khác duy nhất khi dùng mác này là thường áp dụng thấm cacbon - nitơ thể lỏng ở nhiệt độ thấp

để hóa bền bề mặt mà không dùng tôi bề mặt

e Thép crôm - môlipđen

Đưa thêm vào thép crôm kể trên khoảng 0,25%Mo sẽ cải thiện thêm độ thấm tôi và chống được giòn ram loại II Thép crôm - môlipđen được dùng làm các chi tiết máy trung bình (φ > 50mm) hình dạng tương đối phức tạp như bánh răng

Thường dùng các mác 38XMA của ΓOCT (tương đương với 4140 của AISI / SAE,

SCM440 của JIS)

f Thép crôm - mangan và crôm - mangan - silic

Thép có chứa 1%Cr + 1%Mn hay 1%Cr + 1%Mn + 1%Si là loại hợp kim hóa phức tạp nên có độ thấm tôi cao, dùng làm chi tiết khá lớn (φ 50 ữ 60mm)

Tuy nhiên thép này do hợp kim hóa bằng cả Mn lẫn Si nên cứng hơn và cũng giòn hơn các loại thép hợp kim khác vì vậy không được phổ biến ở tất cả các nước Nga

có dùng thép này với mác 40XΓΓΓΓ, 30XΓΓΓΓC, song không được dùng ở Hoa Kỳ, Nhật

g Thép crôm - niken và crôm - niken - môlipđen

Nhờ hợp kim hóa bằng cả crôm và niken, thép có độ thấm tôi cao mà vẫn giữ được độ dẻo, độ dai tốt, nhất là trong trường hợp niken cao tới ≥ 3% và có chứa Mo

Thép crôm - niken thường

Thép thường chứa khoảng 1%Cr + 1%Ni, do niken thấp nên chưa có độ thấm tôi cao, chỉ được làm các chi tiết với tiết diện 50 ữ 60mm với σb khoảng 700MPa và aK khoảng 700kJ/m2 Nhờ tính tôi tốt nên thép được làm các chi tiết có hình dạng khá phức tạp ΓΓΓΓOCT quy định mác thép điển hình là 40XH, thường

dùng làm các chi tiết truyền lực hay hệ thống lái trong ôtô (Hoa kỳ và Nhật không

có thép loại này) Nhược diểm quan trọng của thép này là bị giòn ram loại II và tính gia công cắt hơi kém Để tránh giòn ram loại II phải làm nguội nhanh sau khi

ram hay dùng thép 40XHM hay 8640 (cho tiết lớn hơn) Để cải thiện tính gia công

Thép crôm - niken cao

Thép thường chứa khoảng 1 ữ 2%Cr + 3 ữ 4%Ni (với tỷ lệ Ni / Cr vào khoảng 3 ữ 4) thuộc nhóm thép hợp kim trung bình với độ thấm tôi cao, tôi thấu

với tiết diện trên 100mm, thực tế được coi là tôi thấu với tiết diện bất kỳ (nó thuộc

loại mactenxit) Nhờ vậy thép có cơ tính tổng hợp rất cao: σb = 1100MPa, σ0,2 = 1000MPa, aK = 800kJ/m2 ΓΓΓΓOCT dùng thép này với mác điển hình là 30XH3A (tương đương với SNC631 và SNC836 của JIS, Hoa Kỳ không có thép này) Tuy

nhiên thép này cũng có hai nhược điểm là bị giòn ram và tính gia công cắt kém như trên

Thép crôm - niken cao với môlipđen

Đây là loại thép hóa tốt chế tạo máy tốt nhất vì so với loại trên đưa thêm

một lượng nhỏ (0,15 ữ 0,40%) môlipđen không những làm tăng độ thấm tôi, làm các chi tiết với hình dạng phức tạp, tiết diện lớn (≥ 100mm) mà còn loại trừ được

giòn ram loại II (đối với loại chi tiết lớn như thế này làm nguội nhanh trong dầu, nước sau khi ram không đủ nhanh để làm mất giòn ram) Thép thuộc nhóm mactenxit, được coi như tôi thấu với tiết diện bất kỳ Thép có cơ tính tổng hợp cao nhất: σb = 1200MPa, σ0,2 = 1100MPa, aK = 800kJ/m2 Hầu như mọi nước đều có

Trang 40

nhóm thép này ΓOCT dùng thép này với các mác 38X2H2MA, 38XH3MΦA

(cùng với 4340 của AISI/SAE, SNCM439 của JIS) Thép vẫn còn nhược điểm là

tính gia công cắt kém

h Thép dùng để thấm nitơ

Như đ∙ nói ở chương trước, thép thấm nitơ phải là thép hợp kim đặc biệt trong đó có các nguyên tố như crôm (~1,6%), môlipđen (~ 0,30%), nhôm (~1,00%) tạo nên nitrit cứng, phân tán và ổn định hơn nitrit sắt Lượng cacbon của thép này là trung bình, khoảng 0,40% nên được nhiệt luyện hóa tốt để tạo cơ tính tổng hợp cao cho lõi trước khi thấm nitơ nâng cao độ cứng bề mặt Điều cần chú ý

là nhiệt độ thấm nitơ bao giờ cũng phải thấp hơn nhiệt độ ram cao khi hóa tốt

ΓΓΓΓOCT dùng mác 38X2MЮЮA (tương đương với mác 7140 của SAE và SACM645 của JIS) Chế độ nhiệt luyện hóa tốt các mác thép này gồm tôi ở 930

950oC trong dầu, ram 640 ữ 680oC cơ tính đạt σb = 1030MPa, σ0,2 = 880MPa, aK = 600kJ/m2 Thấm nitơ ở 520 ữ 540oC đạt độ cứng HV850 ữ 1050 (~HRC 63 ữ 72)

5.3.4 Các chi tiết máy điển hình bằng thép

a Các loại trục

Tùy theo yêu cầu cơ tính, các loại trục quan trọng chịu tải trọng cao, chịu mài mòn mạnh có thể làm bằng thép thấm cacbon hoặc thép hóa tốt ở đây chỉ trình bày một số trục thường gặp

Trục khuỷu

Trục khuỷu các ôtô vận tải dưới 4 tấn và xe con ngoài làm bằng gang cầu

ra thường làm bằng thép mác C45 với lượng cacbon khống chế không cho phép vượt quá 0,45% Để hình thành thớ tốt nhất người ta phải tạo phôi bằng cách biến dạng (rèn, dập) nóng Sau khi biến dạng nóng chi tiết được đem thường hóa rồi gia công cắt gọt đến hình dạng và kích thước cuối cùng Do trục khuỷu là chi tiết rất

dễ biến dạng, chi tiết phải đặt trong giá đỡ khi nung nóng và làm nguội để thường hóa

Để bảo đảm trục khuỷu làm việc được lâu dài, người ta phải tiến hành tôi

bề mặt các cổ: cổ thanh truyền (cổ biên), cổ chính và cổ mặt bích Yêu cầu lớp tôi

sâu 2,5 ữ 4,5mm (lớp tôi này cho phép mài, sửa khi đại tu vẫn còn tính chống mài mòn tốt) với độ cứng phải đạt trên 52 đơn vị HRC, thường đạt HRC 56 ữ 58 Phù hợp với chiều sâu lớp tôi như vậy phải dùng nguồn điện trung tần với tần số trong khoảng 2500 ữ 8000Hz (ví dụ phát ra từ loại động cơ điện ΠB 50/2500 của Nga) Hình 5.8 trình bày các cách phân bố lớp tôi trên cổ trục

Cách phân bố lớp tôi đều trên khắp bề mặt cổ (hình 5.8a) tuy nâng cao

được tính chống mài mòn nhưng lại làm giảm mạnh độ bền mỏi của trục, vì lớp tôi tiếp giáp với góc lượn (là nơi chịu tải trọng lớn nhất) làm góc lượn này chịu ứng suất kéo dư gây nguy hiểm cho phá hủy mỏi (như trình bày ở mục 4.7.1 lớp tôi bề mặt chịu ứng suất nén nhưng vùng tiết giáp với nó lại chịu ứng suất kéo nên ở đây vùng ứng suất kéo rơi vào vùng góc lượn là vùng chịu ứng suất kéo lớn nhất) Cách phân bố có lợi và dễ thực hiện là để lớp tôi cách xa góc lượn khoảng 1 ữ 2mm (hình 5.8b), như vậy vừa không làm xấu độ bền mỏi vừa nâng cao được tính chống mài mòn Song cách phân bố lớp tôi tốt nhất là cách như trình bày ở hình 5.8c; ở

đó người ta tôi toàn bộ góc lượn và vùng kế cận, chỉ để chừa một dải ở giữa cổ có

lỗ dầu bôi trơn, Cách phân bố lớp tôi như vậy nâng cao mạnh nhất cả độ bền mỏi

Ngày đăng: 08/11/2013, 23:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5. 1 .  ả nh  h ư ởng  của  cacbon đến cơ tính của thép  th ­ ờng (ở trạng thái ủ) - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Hình 5. 1 . ả nh h ư ởng của cacbon đến cơ tính của thép th ­ ờng (ở trạng thái ủ) (Trang 3)
Hình 5.2.  ả nh h ư ởng của độ hòa tan của các nguyên tố hợp kim chủ              yếu trong dung dịch rắn ferit đến độ cứng (a) và độ dai va đập (b) - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Hình 5.2. ả nh h ư ởng của độ hòa tan của các nguyên tố hợp kim chủ yếu trong dung dịch rắn ferit đến độ cứng (a) và độ dai va đập (b) (Trang 11)
Hình 5.3.  ả nh h ư ởng của Mn (a) và Cr (b) đến các vùng α và γ trên giản đồ  Fe-C. - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Hình 5.3. ả nh h ư ởng của Mn (a) và Cr (b) đến các vùng α và γ trên giản đồ Fe-C (Trang 12)
Hình 5.4.  So sánh giản đồ T - T - T, V th  (a) và độ  thấm tôi (b) giữa thép cacbon  và thép hợp kim - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Hình 5.4. So sánh giản đồ T - T - T, V th (a) và độ thấm tôi (b) giữa thép cacbon và thép hợp kim (Trang 14)
Hình 5.5.  ả nh  h ư ởng  của nhiệt độ - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Hình 5.5. ả nh h ư ởng của nhiệt độ (Trang 17)
Hình 5.6.  Tổ chức sau khi th ư ờng hóa của các thép với  l ­ ợng hợp kim tăng dần: a - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Hình 5.6. Tổ chức sau khi th ư ờng hóa của các thép với l ­ ợng hợp kim tăng dần: a (Trang 18)
Bảng 5.2.  Thành phần hóa học (%) của thép thông dụng phân nhóm B (TCVN  1 765-75) - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Bảng 5.2. Thành phần hóa học (%) của thép thông dụng phân nhóm B (TCVN 1 765-75) (Trang 24)
Bảng 5.3.  Thành phần hóa học (trung bình, %) của một số mác thép thấm cacbon - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Bảng 5.3. Thành phần hóa học (trung bình, %) của một số mác thép thấm cacbon (Trang 32)
Bảng 5.4.  Thành phần hóa học (trung bình, %) của một số mác thép hóa tốt - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Bảng 5.4. Thành phần hóa học (trung bình, %) của một số mác thép hóa tốt (Trang 38)
Hình 5.9.  Sự phân bố dòng điện  cảm ứng ở cạnh lỗ dầu và ảnh  h ­ ởng của nó đến độ cứng: a - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Hình 5.9. Sự phân bố dòng điện cảm ứng ở cạnh lỗ dầu và ảnh h ­ ởng của nó đến độ cứng: a (Trang 41)
Hình 5. 1 0.  Sự phân bố lớp tôi và lớp chuyển tiếp khi nung toàn bộ bề mặt các  răng: a - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Hình 5. 1 0. Sự phân bố lớp tôi và lớp chuyển tiếp khi nung toàn bộ bề mặt các răng: a (Trang 43)
Hình 5. 11 .  Ph ư ơng pháp tôi từng răng: a. tôi răng; b. tôi rãnh răng - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Hình 5. 11 . Ph ư ơng pháp tôi từng răng: a. tôi răng; b. tôi rãnh răng (Trang 44)
Bảng 5.5.  Chọn chiều sâu lớp thấm cacbon theo môđun răng - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Bảng 5.5. Chọn chiều sâu lớp thấm cacbon theo môđun răng (Trang 44)
Bảng 5.6.  Hiệu quả của thấm cacbon - nitơ so với thấm cacbon cho bánh răng - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Bảng 5.6. Hiệu quả của thấm cacbon - nitơ so với thấm cacbon cho bánh răng (Trang 45)
Hình 5. 1 2.   Sơ  đồ  tiện (a)  và  sơ  đồ  mặt cắt khi tiện (b): - Giáo trình Khoa học vật liệu_ Chương 5
Hình 5. 1 2. Sơ đồ tiện (a) và sơ đồ mặt cắt khi tiện (b): (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w