Cho đến ngày hôm nay, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật quốc tế về ứng phó với BĐKH với hàng loạt các điều ước quốc tế quan trọng như: Công ước Viên năm 1985 về bảo vệ tần
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HÀ
Pháp luật quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu
và vấn đề thực thi tại Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HÀ
Pháp luật quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu
và vấn đề thực thi tại Việt Nam
Chuyờn ngành : Luật quốc tế
Mó số : 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Lan Nguyờn
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét
để cho tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ỨNG PHÓ
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
6
khí hậu
6
đối với Việt Nam
25
Chương 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU
40
ứng phó với biến đổi khí hậu
2.2.1 Công ước Viên về bảo vệ tầng Ô zôn năm 1985 và Nghị định
thư Montreal 1987
50
2.2.2 Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm
1992 và Nghị định thư Kyoto năm 1997
61
Trang 52.2.3 Thỏa thuận Paris năm 2015 76
Chương 3: THỰC THI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ ỨNG PHÓ VỚI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỤ THỂ
3.1.2 Việt Nam với Công ước Khung về biến đổi khí hậu năm 1992
và Nghị định thư Kyoto năm 1997
93
pháp luật quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam
110
biến đổi khí hậu
112
3.2.2 Luật hóa các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu
113
3.2.3 Tiếp tục nghiên cứu để nội luật hóa các Điều ước quốc tế về
ứng phó với biến đổi khí hậu mà Việt Nam đã là thành viên
114
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Ý nghĩa
1997
Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu 1992
khí hậu 1992
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang hàng ngày, hàng giờ diễn ra, "là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất mà nền văn minh nhân loại từng đối mặt từ trước đến nay" Năm 2016 được ghi nhận là năm nóng nhất trong lịch sử Đó
là hệ quả nặng nề của hiện tượng BĐKH BĐKH không diễn ra đơn lẻ ở từng quốc gia, từng khu vực mà nó diễn ra trên toàn thế giới với những mức độ khác nhau Vì vậy, việc ứng phó với BĐKH không phải chỉ là trách nhiệm của một quốc gia, một nhóm quốc gia hay một khu vực nào mà là trách nhiệm của toàn nhân loại Trong những năm qua, cộng đồng quốc tế đã cùng nỗ lực chung tay trong cuộc chiến chống lại BĐKH Xây dựng một khung pháp lý cho việc ứng phó với BĐKH là một nhu cầu sớm được đặt ra Cho đến ngày hôm nay, chúng
ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật quốc tế về ứng phó với BĐKH với hàng loạt các điều ước quốc tế quan trọng như: Công ước Viên năm 1985 về bảo
vệ tầng Ô zôn, Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng Ô zôn năm 1987, Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 1992, Nghị định thư Kyoto về giảm phát thải khí nhà kính năm 1997, Và gần đây nhất là Thỏa thuận Paris năm 2015 - một thỏa thuận mang ý nghĩa lịch sử thể hiện sự thiện chí, tinh thần trách nhiệm, đoàn kết quốc tế trong cuộc chiến chống BĐKH
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, một khu vực hay xảy ra thiên tai, lũ lụt, hạn hán, bệnh dịch Hơn thế nữa, kinh tế nước ta đang có những bước phát triển vượt bậc Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đang dần thay đổi bộ mặt chung của nước
ta Mặt trái của các quá trình này là sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của nguồn không khí, nguồn đất, nguồn nước, sự cạn kiệt của tài nguyên thiên nhiên và biến đổi khí hậu là một hiện tượng đang diễn ra khá nặng nề
Trang 8ở nước ta Việt Nam đứng thứ 5 toàn cầu về thiệt hại do BĐKH Đối diện với thực tế này, trong những năm qua, nước ta cũng đã nỗ lực chung tay với cộng đồng quốc tế ứng phó lại với BĐKH.Việt Nam đã tích cực thực thi các Điều ước quốc tế về ứng phó với BĐKH mà chúng ta là thành viên và đã đạt những những thành quả đáng kể Bên cạnh đó, việc thực thi các cam kết của Việt Nam về ứng phó với BĐKH vẫn còn những hạn chế tồn tại cần được khắc phục
Chính vì vậy, bài Luận văn lựa chọn đề tài "Pháp luật quốc tế về ứng
phó với biến đổi khí hậu và vấn đề thực thi tại Việt Nam" làm vấn đề nghiên
cứu của mình để có thể cung cấp góc nhìn tổng quát nhất, cơ bản nhất của pháp luật quốc tế về đề tài nêu trên và vấn đề thực thi tại Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, vấn đề pháp luật quốc tế về ứng phó với BĐKH trở thành nội dung thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và quản lý ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Hiện nay ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu tìm hiểu về pháp luật quốc tế về ứng phó với BĐKH và vấn đề thực thi tại Việt Nam không phải là một vấn đề còn mới mẻ Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Nổi bật trong số đó phải kể đến một số công trình như:
cuốn Những kiến thức căn bản về biến đổi khí hậu, Nhà xuất bản Tài nguyên - môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội (năm 2012); Giáo trình Biến đổi khí
hậu, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội (năm 2016) Ngoài ra còn phải kể
đến một số Luận văn Thạc sĩ như: "Việt Nam với việc thực hiện Điều ước
quốc tế về biến đổi khí hậu, hướng tới hoàn thiện các quy định pháp luật về
cơ chế phát triển sạch và xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính",
Phạm Văn Hào, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012; "Pháp luật quốc
tế về chống biến đổi khí hậu và việc thực thi cam kết của Việt Nam", Nguyễn
Thị Hồng Yến, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012
Trang 9Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên chưa có đề tài nào nghiên cứu nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật quốc tế về ứng phó với BĐKH và vấn đề thực thi tại Việt Nam với sự ra đời của Thỏa thuận Paris năm 2015 về BĐKH Vì vậy, luận văn ra đời với tư cách là một đề tài khoa học sẽ tập trung nghiên cứu các nội dung nêu trên một cách toàn diện hơn, đầy đủ hơn
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu với mục đích sau:
Thứ nhất, thông qua đề tài giúp bạn đọc hiểu một các tổng quát nhất,
cơ bản nhất của các Điều ước quốc tế về ứng phó với BĐKH Cung cấp các thông tin cần thiết cho bạn đọc, đặc biệt là các đối tượng chịu hậu quả nặng
nề của BĐKH
Thứ hai, từ mục đích phổ biến kiến thức, luận văn mong muốn thay
đổi nhận thức, thói quen, lối sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của mỗi cá nhân hay của một tập thể từ đó kêu gọi sự tham gia của tất cả mọi người vào cuộc chiến ứng phó với BĐKH, từng bước khắc phục những hậu quả nặng nề mà BĐKH gây ra
Thứ ba, từ việc phân tích quá trình thực thi các Điều ước quốc tế về
ứng phó với BĐKH của Việt Nam, luận văn đưa ra những nhận xét, đánh giá nhằm thấy được những mặt đã làm được, những mặt còn hạn chế Đó là cơ sở
để đưa ra những phương hướng nhằm thực thi tốt hơn các cam kết của Việt Nam
Thứ tư, với các thông tin, các kiến thức mà luận văn cung cấp, tác giả
mong muốn đây sẽ là tài liệu, là nền tảng cho các nghiên cứu chuyên sâu sau này của các tác giả khác
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
Trang 10Thứ nhất, tìm hiểu và nghiên cứu tổng quát về BĐKH, khái niệm,
nguyên nhân, biểu hiện và hậu quả của BĐKH
Thứ hai, tìm hiểu các nội dung cơ bản của các điều ước quốc tế cơ bản
về ứng phó với BĐKH
Thứ ba, tìm hiểu quá trình thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam
về ứng phó với BĐKH, đánh giá những thành tựu cũng như những hạn chế của quá trình này, đồng thời đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng việc thực thi các quy định quốc tế về BĐKH tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên vận dụng phương pháp chính là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin khi nghiên cứu về tiến trình lịch sử hình thành các quy định của pháp luật quốc tế về ứng phó với BĐKH Nói cách khác là bối cảnh lịch sử ra đời các Điều ước quốc tế về ứng phó với BĐKH
Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá thông tin Nhằm mục đích tìm hiểu sâu sắc và kỹ lưỡng đề tài, khóa luận đã phân tích đối tượng nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau để xem xét Dựa trên những thông tin đã phân tích, tác giả tổng hợp và tạo dựng mối liên kết giữa chúng để tạo ra một hệ thống nhất định mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng, đồng thời đưa ra những bình luận và đánh giá xác đáng, có
Trang 11Về ý nghĩa khoa học, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo trong quá trình làm luật Đồng thời đề tài cũng là tài liệu bổ trợ cho những sinh viên theo học ngành luật đặc biệt là ngành luật quốc tế Đây là nền tảng hay sự tham khảo cho những nghiên cứu khoa học về sau trong những lĩnh vực có liên quan
Về ý nghĩa thực tiễn, việc nghiên cứu đề tài đem lại những hiểu hiết
về quy định pháp luật quốc tế về ứng phó với BĐKH cho người đọc Bên cạnh đó, đóng góp những nhận định về thành tựu, những hạn chế, những thuận lợi, thách thức trong việc thực thi các cam kết quốc tế về BĐKH của Việt Nam
7 Đóng góp của đề tài
Trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài, luận văn có những đóng góp quan trọng sau:
Thứ nhất, đối với hoạt động phổ biến thông tin, đề tài sẽ đóng góp
thêm một nguồn tài liệu để phổ biến kiến thức về pháp luật quốc tế về ứng phó với BĐKH và thực tiễn thi hành tại Việt Nam đến người đọc
Thứ hai, đối với các doanh nghiệp qua tìm hiểu đề tài chính là đang tự
trang bị những kiến thức cơ bản, đặc biệt nắm được những thông tin, những quy định cập nhận nhằm xây dựng định hướng, kế hoạch hoạt động của mình
Thứ ba, đối với sinh viên, đề tài đem lại cho sinh viên kiến thức, nền
tảng chung về pháp luật quốc tế về ứng phó với BĐKH cũng như quá trình tham gia, thực thi các cam kết của Việt Nam
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu Chương 2: Pháp luật quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu
Chương 3: Thực thi pháp luật quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu
tại Việt Nam và một số giải pháp cụ thể
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân và tác động của biến đổi khí hậu
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của biến đổi khí hậu
1.1.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu
Để tìm hiểu thế nào là BĐKH, trước tiên chúng ta cần hiểu định nghĩa
về "khí hậu" và "hệ thống khí hậu"
Từ điển thuật ngữ của Ban liên Chính phủ về BĐKH (The
Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) định nghĩa như sau: Khí
hậu là định nghĩa phổ biến về thời tiết trung bình trong khoảng thời gian dài Thời gian trung bình chuẩn để xét là 30 năm, nhưng có thể khác tùy theo mục đích sử dụng Khí hậu cũng bao gồm các số liệu thống kê theo ngày hoặc năm khác nhau Các yếu tố chính của khí hậu bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu
tố khí tượng khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định
Theo Điều 2 của Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH năm
1992 (viết tắt là UNFCCC): Hệ thống khí hậu là tổng thể của khí quyển, thủy
quyển, sinh quyển và địa quyển và những tương tác của chúng Theo IPCC,
hệ thống khí hậu là một hệ rất phức tạp bao gồm năm thành phần chính là khí quyển, thủy quyển, băng quyển, bề mặt đất và sinh quyển, và sự tương tác giữa chúng Mặc dù các thành phần này rất khác nhau về cấu trúc và thành phần cấu tạo, về các thuộc tính vật lý và các thuộc tính khác, chúng được liên kết với nhau thông qua các dòng khối lượng, dòng năng lượng và động lượng, tạo nên một thể thống nhất rộng lớn Hệ thống khí hậu tiến hóa theo thời gian dưới tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài
Trang 13Các nhân tố bên trong chi phối hệ thống khí hậu bao gồm các thuộc tính của khí quyển như thành phần cấu tạo, tính chất ổn định, hoàn lưu khí quyển, và các đặc tính địa phương, như khoảng cách xa biển hay độ lục địa,
độ cao địa hình, điều kiện tự nhiên của bề mặt đất, lớp phủ thực vật cũng như trạng thái gần các hồ ao, v.v Hoạt động sống của con người có thể làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển, làm biến đổi đất sử dụng gây nên sự biến đổi albedo, tính chất lớp phủ bề mặt, v.v cũng được xem là nhân tố bên ngoài tác động đến hệ thống khí hậu [36]
Theo Điều 2 UNFCCC thì: BĐKH nghĩa là biến đổi của khí hậu được
quy cho trưc tiếp hoặc gián tiến do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ
có thể so sánh được
Theo IPCC trong báo cáo lần thứ Tư (AR4) năm 2007 BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trng một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu
Nói một cách dễ hiểu, BĐKH là sự thay đổi của khí hậu diễn ra trong một khoảng thời gian dài, có thể ấm hơn hoặc lạnh hơn, lượng mưa và lượng tuyết trung bình hằng năm có thể tăng hoặc giảm Tuy nhiên, thuật ngữ "biến đổi khí hậu" được dùng phổ biến hiện nay chủ yếu muốn nói tới sự nóng lên của toàn cầu gây ra bởi các hoạt động của con người [4]
1.1.1.2 Đặc điểm của biến đổi khí hậu
BĐKH có các đặc điểm sau:
Trang 14+ BĐKH diễn ra chậm, từ từ, khó phát hiện, khó ngăn chặn và đảo
ngược BĐKH là hiện tượng và quá trình tự nhiên (trong vòng 100 năm, nhiệt
trắc rộng khắp; có nhận xét, phát hiện tinh tế; có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại mới có khả năng nhận biết được sự biến động này Mặt khác, sự BĐKH lại do nhiều nguyên nhân gây ra, biểu hiện ở mỗi khu vực trên Trái Đất cũng khác nhau nên khó ngăn chặn và đảo ngược tình thế
+ BĐKH diễn ra trên phạm vi toàn cầu, có ảnh hưởng tới tất cả các
lĩnh vực có liên quan đến đời sống và hoạt động của con người Có thể nói, không có nơi nào trên Trái Đất, không có người dân nào và không có hoạt động nào của con người ở bất kỳ một quốc gia nào hay vùng lãnh thổ nào mà lại không chịu ảnh hưởng của BĐKH Chỉ có điều mức độ ảnh hưởng của BĐKH diễn ra không đồng đều ở mỗi nơi và thực tế cho thấy ở các vùng đồng bằng thấp ven biển, người nghèo, người già, phụ nữ và trẻ em là các khu vực
và đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề và dễ bị tổn thương nhất do BĐKH gây
ra
+ BĐKH diễn ra với cường độ ngày một tăng và hậu quả khó lường
trước Các số liệu thống kê và các quan sát trong nhữn năm gần đây cho thấy mức độ BĐKH gây ra ngày một lớn, mạnh và bất thường, trái hẳn với quy luật vốn có; và vì thế cũng gây ra những hậu quả rất to lớn, khó lường
+ BĐKH là nguy cơ lớn nhất mà con người phải đối mặt với tự nhiên
trong suốt lịch sử phát triển của mình So với các tai biến thiên nhiên khác, thậm chí với các thảm họa gây ra đối với con người như động đất, sóng thần, núi lửa thường xảy ra cục bộ tại một địa phương nhất định, trong một thời gian ngắn thì những hậu quả do BĐKH gây ra với con người lớn hơn rất nhiều lần Những trận lũ lụt lớn, những trận hạn hán, những cơn siêu bão, những đợt nóng lạnh thất thường hay xảy ra trên một diện rộng và vào những
Trang 15thời điểm ít khi xuất hiện trong năm Đây thực sự là nguy cơ, là hiểm họa tự nhiên to lớn nhất mà con người phải gánh chịu [39]
1.1.2 Nguyên nhân và tác động của biến đổi khí hậu
1.1.2.1 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu, hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển hoặc sử dụng đất Hiểu rõ
và định lượng được mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân gây BĐKH hoàn toàn không đơn giản Trong báo cáo lần thứ nhất (FAR) của IPCC năm 1990 chỉ nêu được rất ít bằng chứng về ảnh hưởng của con người đến khí hậu Báo cáo lần thứ hai (SAR) năm 1995 đã đưa ra được những minh chứng cụ thể về vai trò của con người đối với khí hậu trong thế kỷ 20 Báo cáo lần thứ ba (TAR) năm 2001 đã kết luận rằng, sự ấm lên toàn cầu quan trắc được trong 50 năm cuối của thế kỷ 20 dường như chủ yếu do sự tăng nồng độ KNK trong khí quyển Những tiến bộ đạt được về quan trắc cũng như các mô hình gần đây càng cung cấp thêm những hiểu biết vững chắc, cho phép kết luận rằng BĐKH có nguồn gốc từ hai nguyên nhân: nguyên nhân tự nhiên và nguyên
nhân con người (báo cáo lần thứ tư - AR4) [36]
a) Nguyên nhân do quá trình tự nhiên
Các nguyên nhân tự nhiên được cho là những nguyên nhân nằm ngoài
hệ thống khí hậu Trái Đất cũng như do sự thay đổi bên trong và tương tác giữa các thành phần của nó, bao gồm:
+ Là sự biến đổi của các tham số quĩ đạo Trái Đất Trái Đất chuyển động xung quanh mặt trời theo quĩ đạo ellip phụ thuộc vào ba tham số chính
là độ lệch tâm, độ nghiêng của trục quay của Trái Đất và tiến động Những biến đổi của các tham số này sẽ làm biến đổi lượng bức xạ mặt trời cung cấp cho hệ thống khí hậu và hậu quả là làm khí hậu Trái Đất biến đổi
Trang 16Độ lệch tâm: là tham số phản ánh "độ méo" của quĩ đạo so với đường
tròn Sự biến đổi của tham số này chi phối biên độ biến trình năm của lượng bức xạ mặt trời đến cũng như sự khác biệt của lượng bức xạ mặt trời đến ở hai bán cầu do khoảng cách giữa mặt trời và Trái Đất biến thiên trong năm Giá trị của độ lệch tâm biến thiên trong khoảng từ 0 (không méo, tức đường tròn) đến 0,07 (méo 7% so với đường tròn), và giá trị hiện nay là 0,0174, tương ứng với Nam Bán cầu nhận được nhiều bức xạ mặt trời hơn Bắc Bán cầu khoảng 6,7% Tham số này có chu kỳ dao động khoảng 96.000 năm
Độ nghiêng của trục quay của Trái Đất: Trái Đất quay quanh trục
của nó một vòng trong một ngày Độ nghiêng của Trục Trái Đất so với pháp tuyến của mặt phẳng quĩ đạo biến thiên trong khoảng từ 21,5 độ đến 24,5 độ
và có chu kỳ dao động khoảng 41.000 năm Khi độ nghiêng này lớn sẽ làm tăng sự tương phản giữa các mùa, làm biến đổi độ dài các mùa trong năm do các cực hướng về phía mặt trời hoặc phía đối diện dài hơn
Tiến động: Ellip quĩ đạo Trái Đất, ngoài sự biến đổi của độ lệch tâm,
hướng của trục dài (hay bán trục lớn) của nó cũng quay một cách chậm chạp Hiện tượng đó được gọi là tiến động Tiến động có thể làm cho các mùa trở nên cực đoan hơn Chẳng hạn vào những thời kỳ nhất định điểm xa mặt trời nhất sẽ xuất hiện vào mùa đông Bắc Bán cầu (làm cho các mùa ở Bắc Bán cầu cực đoan hơn, vì mùa đông trùng với thời kỳ xa mặt trời nhất và mùa hè trùng với thời kỳ gần Mặt trời nhất), còn vào những thời kỳ khác điểm xa mặt trời nhất lại xuất hiện vào mùa hè Bắc Bán cầu (làm cho các mùa ở Bắc Bán cầu ít cực đoan hơn, vì mùa đông gần mặt trời nhất và mùa hè xa mặt trời nhất) Chu kỳ tiến động nằm trong khoảng từ 19.000 năm đến 21.000 năm
+ Là sự biến đổi trong phân bố lục địa - biển của bề mặt Trái Đất Bề mặt Trái Đất bao gồm các lục địa và các đại dương Bề mặt Trái Đất có thể bị biến dạng qua các thời kỳ địa chất do sự trôi dạt lục địa, các quá trình vận động tạo sơn, sự phun trào núi lửa, v.v Sự biến dạng này sẽ làm thay đổi
Trang 17phân bố lục địa - biển, hình thái bề mặt Trái Đất, dẫn đến sự biến đổi trong phân bố bức xạ Mặt trời nhận được, trong cân bằng bức xạ và cân bằng nhiệt của mặt đất và trong hoàn lưu chung khí quyển, đại dương
+ Là sự biến đổi trong tính chất phát xạ của mặt trời và hấp thụ bức xạ của Trái Đất Mặt trời là nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho Trái Đất Nguồn năng lượng này cũng biến thiên theo thời gian Từ khi Trái Đất hình thành cho đến nay (khoảng 5 tỷ năm) độ chói của Mặt trời tăng khoảng 30%
Sự phát xạ của mặt trời đã có những thời kỳ yếu đi gây ra băng hà và có những thời kỳ hoạt động mãnh liệt gây ra khí hậu khô, nóng trên bề mặt Trái Đất Thành phần khí quyển Trái Đất cũng đã thay đổi rất nhiều qua các thời
kỳ địa chất Nguyên nhân có thể do các đợt phun trào núi lửa, thải vào không khí nham thạch nóng nhiều khói, bụi giàu sunfua điôxit, sunfit hữu cơ, mêtan
và những loại khí khác Có những bằng chứng cho thấy nhiều đợt phun trào núi lửa trong quá khứ có qui mô lớn hơn so với những đợt phun trào chúng ta đã từng chứng kiến, gây biến đổi mạnh mẽ về cân bằng bức xạ trong khí quyển
BĐKH do tác động của các quá trình tự nhiên được gọi là biến đổi tự nhiên của khí hậu Quy mô thời gian của những biến đổi này cỡ hàng trăm nghìn [36]
b) Nguyên nhân do hoạt động của con người
Phần lớn các nhà khoa học đều khẳng định rằng hoạt động của con người đã và đang làm BĐKH toàn cầu Nguyên nhân chủ yếu của sự biến đổi
đó là sự tăng nồng độ KNK trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính Đặc biệt quan trọng là khí CO2 được tạo thành do sử dụng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (như dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên…), phá rừng và chuyển đổi sử dụng đất Các nhà khoa học phát hiện, các hoạt động gây biến đổi khí hậu của con người đang có xu hướng không ngừng gia tăng, nhanh gấp 170 lần so với tự nhiên Cụ thể, trong 45 năm qua, lượng khí thải KNK đã
C mỗi thế kỷ
Trang 18Những con số thay đổi tăng vọt này cho thấy con người đang tác động vào làm BĐKH nhanh gấp 170 lần so với các lực lượng tự nhiên [25]
Hiệu ứng nhà kính dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia sáng Mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt lượng cho bầu không gian bên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ không phải chỉ ở những chỗ được chiếu sáng Hiệu ứng nhà kính diễn ra khi khí quyển chứa khí đã hấp thụ tia cực quang Hơi nóng từ mặt trời xuống Trái Đất đã bị giữ lại ở tầng đối lưu, tạo ra hiệu ứng nhà kính ở bề mặt các hành tinh hoặc các vệ tinh [35]
Nguyên nhân chính của BĐKH là sự gia tăng nồng độ các KNK trong bầu khí quyển Bầu khí quyển của Trái Đất chứa một loại khí đặc biệt gọi là KNK Với mức độ hiểu biết hiện nay, những KNK có ảnh hưởng quan trọng đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu do hoạt động của con người gây ra là điôxit cacbon (CO2), mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) và Ô zôn (O3) tầng đối lưu Ngoài ra còn có các chất khí thuộc nhóm halo-cacbon (CFC, HCFC) và các xon khí [36]
Theo quy định tại UNFCCC năm 1992 thì các KNK là những thành phần của khí quyển, cả tự nhiên lẫn nhân tạo, mà hấp thụ và phát lại bức xạ hồng ngoại [4] Những khí này giống như một chiếc chăn ấm, có độ dày vừa
đủ giúp giữ ấm cho Trái Đất ở trong khoảng nhiệt độ thích hợp, khiến sự sống
có thể phát triển và sinh sôi, nảy nở Nếu không có những khí này, nhiệt của Mặt Trời sẽ không được giữ lại và bề mặt Trái Đất sẽ trở nên lạnh lẽo Vì nhu cầu mưu sinh, con người đã "can thiệp" vào các thành phần của hệ thống khí hậu, làm thay đổi thuộc tính tự nhiên của nó Từ chỗ đốt rừng làm nương rẫy, chặt cây lấy củi, khai thác tài nguyên, xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, con người ngày càng sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua
đó đã thải vào khí quyển càng nhiều các chất khí gây hiệu ứng nhà kính Nền
Trang 19công nghiệp càng phát triển, lượng chất phát thải đó ngày càng tăng, làm gia tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của Trái Đất
Lượng KNK toàn cầu từ các hoạt động của con người đã gia tăng từ thời kỳ công nghiệp hóa, đặc biệt là từ năm 1970 trở lại đây Theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2014), tổng lượng phát thải KNK
(năm 1980), 38 tỷ tấn (năm 1990), 40 tỷ tấn (năm 2000) và đạt mức 49 tỷ tấn năm 2010 Mặc dù ngày càng có nhiều chính sách giảm nhẹ được thực hiện nhưng lượng KNK hằng năm tăng bình quân 2,2% năm trong giai đoạn 2000-
2010 so với 1,3% năm trong giai đoạn 1970-2000 Tổng lượng khí nhà kính
năm 2000 lên 49 tỷ tấn năm 2010, trong đó sự gia tăng từ cung cấp năng lượng
là 47%, công nghiệp là 30%, giao thông là 11% và từ các tòa nhà là 3% Tính trên toàn cầu, tăng trưởng kinh tế và sự gia tăng dân số vẫn được coi là các yếu tố quan trọng nhất đóng góp vào sự gia tăng lượng KNK toàn cầu [18]
con người, phần còn lại phát thải từ các đầm lầy và các nguồn tự nhiên khác
các nhiên liệu hóa thạch Hiện Mỹ và Trung Quốc được coi là hai nền kinh tế hàng đầu thế giới "đóng góp" lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính lớn nhất từ hoạt động đốt than và sản xuất khí đốt [26]
Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng v.v đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%, các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là các hoạt động khác (chôn rác thải v.v ) [59]
Trang 20Hậu quả của hiệu ứng nhà kính rất nghiêm trọng Trước hết là làm cho
sinh thái biến đổi lớn Sa mạc càng mở rộng, đất đai càng bị xói mòn, rừng càng lùi thêm về vùng cực, hạn hán rất nặng, lượng mưa tăng thêm 7-11% Mùa đông càng ẩm, mùa hè càng khô Vùng nhiệt đới càng ẩm ướt, vùng khô
á nhiệt đới càng hạn, khiến cho các công trình thủy lợi phải điều chỉnh lại Khu vực ven biển sẽ bị thiên tai đe dọa khủng khiếp Vì nhiệt độ tăng lên, những tảng băng ở vùng cực sẽ tan chảy làm cho mặt biển tăng cao hơn 1m
Có nhà khoa học cho rằng, vì nhiệt độ tăng lên sẽ làm cho thể tích nước dãn
nở, mặt nước biển sẽ dâng cao 0,2-1,4m Hiện nay có 1/3 dân số thế giới sống
ở vùng ven biển, vùng này cũng là nơi phát triển công nông nghiệp, nếu mặt biển dâng cao sẽ tràn ngập nhiều thành phố và bến cảng [35]
1.1.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu
BĐKH hiện nay được xếp vào hàng "an ninh phi truyền thống", được dự báo là có thể trở thành thách thức lớn nhất với hòa bình và an ninh thế giới, hơn cả chủ nghĩa khủng bố Hậu quả của BĐKH (các thảm họa thiên nhiên, các vấn đề môi trường…) có thể làm thay đổi nguồn phân bổ tài nguyên, dẫn đến tình trạng mất an ninh lương thực, an ninh năng lượng và làm bùng nổ các làn sóng di cư, gây xung đột và làm bất ổn chính trị xã hội [58]
a) Nhiệt độ không khí tăng, khí hậu Trái Đất nóng lên
Ngày nay, trên thế giới, thuật ngữ "nóng lên toàn cầu" hay "ấm lên toàn cầu" được nhắc đến khá nhiều Trên thực tế, thuật ngữ này dùng để chỉ một trong các tác động của BĐKH Theo IPCC, 2007, nóng lên toàn cầu hay hâm nóng toàn cầu là hiện tượng nhiệt độ trung bình của không khí và các đại dương trên Trái Đất tăng lên theo các quan sát trong các thập kỷ gần đây.(Trong thế kỉ XX, nhiệt độ trung bình của không khí gần mặt đất đã tăng 0,6 ± 0,2 °C (1,1 ± 0,4 °F) [73]
Theo báo cáo của Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA), nhiệt độ trung bình của Trái Đất ở cuối thế kỉ XIX đã tăng 0,8 °C và thế kỉ XX tăng 0,6 ± 0,2 °C
Trang 21Các dự án mô hình khí hậu của IPCC chỉ ra rằng nhiệt độ bề mặt Trái Đất sẽ
có thể tăng 1,1 đến 6,4 °C trong suốt thế kỷ XXI IPCC nghiên cứu sự gia tăng
nồng độ KNK sinh ra từ các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng lên kể từ giữa thế kỷ XX IPCC cũng nghiên cứu sự biến đổi các hiện tượng tự nhiên như bức xạ mặt trời và núi lửa gây ra phần lớn hiện tượng ấm lên từ giai đoạn tiền công
nghiệp đến năm 1950 và có sự ảnh hưởng lạnh đi sau đó [72]
Theo các chuyên gia khí tượng thủy văn, trong 50 năm trở lại đây, tần suất xảy ra các đợt nắng nóng đã tăng từ 2-4 lần Nhiều khả năng trong 40 năm tới, số lượng các đợt nắng nóng sẽ tăng 100 lần Theo đó, nắng nóng sẽ làm tăng số vụ cháy rừng, các loại bệnh dịch, và mức nhiệt độ trung bình trên hành
C
so với mức nhiệt thời kỳ tiền công nghiệp, thế giới đã phải chứng kiến sự gia tăng một loạt các hiện tượng thời tiết cực đoan, bao gồm hạn hán, siêu bão, các bức sóng nhiệt và ngập lụt nghiêm trọng do mực nước biển tăng cao Theo tính toán, cứ theo xu hướng hiện nay, nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ
và Bắc của Trái Đất ấm lên với tốc độ nhanh hơn so với những khu vực còn lại Bắc Cực nóng lên với tốc độ nhanh nhất và xếp ngay sau đó là Nam Cực
cây cỏ sinh sôi trên khoảng 0,3% diện tích Nam Cực và nếu tình trạng Trái Đất ấm lên vẫn tiếp diễn với tốc độ như trong một nửa thế kỷ qua thì diện tích rêu bao phủ Nam Cực sẽ còn tăng nhanh trong tương lai [57]
Thế giới đã trải qua các đợt nắng nóng khủng khiếp Mùa hè năm
2003 là đợt nóng kỷ lục ở châu Âu kể từ năm 1540 Nắng nóng trên diện rộng cướp sinh mạng của 70.000 người, nhiều nhất là ở Pháp (14.802 người chết) Nhiệt độ ở miền bắc nước Pháp nóng kinh hoàng trong vòng 7 ngày, ở
Trang 22mới Một loạt quốc gia ôn đới cùng chịu cảnh này như Pháp, Anh, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Italya, Tây Ban Nha khi nhiệt độ đã có lúc lên tới hơn 40oC,
khiến gần 55.000 người chết Tháng 4 và tháng 5/2015, Ấn Độ chìm trong
tháng sau, thủ đô Karachi của nước láng giềng Pakistan hứng chịu hai ngày nóng đỉnh điểm khiến hơn 2.000 người chết [50]
Ngày 5/1/2017, Cơ quan BĐKH của Liên minh châu Âu (EU) cho biết năm 2016 đã vượt qua năm 2015 để thiết lập kỷ lục là năm nóng nhất kể từ khi nhân loại bắt đầu lưu giữ các hồ sơ đáng tin cậy về nền nhiệt trên Trái Đất Nhiệt độ trung bình trên bề mặt Trái Đất năm 2016 cao hơn năm 2015
cách mạng công nghiệp So với thỏa thuận chống BĐKH đạt được tại Paris
C so với giai
Bắc Cực là khu vực chứng kiến sự tăng nhiệt độ rõ nét nhất trong năm 2016, trong khi nhiều khu vực khác trên Trái Đất, như các vùng thuộc châu Phi và châu Á, cũng hứng chịu nền nhiệt cao bất thường Trong khi một số vùng thuộc Nam Mỹ và Nam Cực lại có nhiệt độ thấp hơn giai đoạn trước đó Chỉ
công nghiệp Nhiệt độ tăng cao trong năm qua được cho là nguyên nhân gây
ra cháy rừng, nắng nóng, hạn hán, lũ lụt và những hiện tượng thời tiết cực đoan khác [21]
Theo ghi nhận, chỉ với mức tăng 1oC so với mức nhiệt thời kỳ tiền công nghiệp, thế giới đã phải chứng kiến sự gia tăng một loạt các hiện tượng thời tiết cực đoan, bao gồm hạn hán, siêu bão, các bức sóng nhiệt và ngập lụt nghiêm trọng do mực nước biển tăng cao Theo tính toán, cứ theo xu hướng
các nhà khoa học, các khu vực cực Nam và Bắc của Trái Đất ấm lên với tốc
Trang 23độ nhanh hơn so với những khu vực còn lại Bắc Cực nóng lên với tốc độ
kỷ từ những năm 50 của thế kỷ trước Hiện cây cỏ sinh sôi trên khoảng 0,3% diện tích Nam Cực và nếu tình trạng Trái Đất ấm lên vẫn tiếp diễn với tốc độ như trong một nửa thế kỷ qua thì diện tích rêu bao phủ Nam Cực sẽ còn tăng nhanh trong tương lai [57]
b) Tác động của biến đổi khí hậu đến hệ tự nhiên và sinh thái
Khí hậu là một yếu tố rất quan trọng, nhiều khi có ý nghĩa quyết định đến hệ sinh thái Ảnh hưởng của BĐKH có thể là trực tiếp, có thể là gián tiếp nhưng đều có tác động sâu sắc đến các hệ sinh thái mà rõ nét nhất là sự suy giảm của đa dạng sinh học, sự xuất hiện của nhiều loại bệnh dịch vốn đã xảy
ra và mới xuất hiện cho con người và sinh vật nói chung trên thế giới Biến đổi của khí hậu toàn cầu đã gây nên biến đổi các hệ tự nhiên khá rõ rệt Cụ thể là: sự mở rộng của các vành đai nóng về phía hai cực và vành đai nhiệt đới lên cao hơn ở các khu vực núi cao; gia tăng phần đất trên các khu vực băng tan và tuyết lở ở các vùng núi; gia tăng dòng chảy và dòng chảy sớm đạt đỉnh trên các dòng sông băng vào mùa xuân; các sông, hồ nóng lên và do đó thay đổi cơ chế nhiệt và cả chất lượng nước; thay đổi cư trú và tiêu diệt một số loài sinh vật kém thích nghi
Khi môi trường sống thay đổi, sinh vật có 3 lựa chọn: di cư, thích nghi hoặc chết Nhiệt độ tăng, nhiều loài sẽ di cư tới gần các vùng cực và lên khu vực cao hơn Nếu không thể thích nghi hoặc di cư, các quần thể sống ở khu vực có nhiệt độ ấm dần lên sẽ bị chết Tuyệt chủng cục bộ có thể đe dọa đến các loài, hệ sinh thái và đa dạng sinh học trên toàn cầu [37]
Nhiệt độ Trái Đất tăng cao cũng đẩy nhiều loài sinh vật tới bờ vực suy giảm số lượng hoặc tuyệt chủng Nếu mức nhiệt độ trung bình tăng từ
năm 2050 Nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng là do môi trường sống của
Trang 24các loài động thực vật ngày càng bị thu hẹp, hiện tượng sa mạc hóa, phá rừng
và nước trên các đại dương ngày càng ấm lên khiến cho nhiều loài sinh vật không thể thích ứng kịp thời với những biến đổi trên Con người cũng không thể thoát khỏi những tác động của biến đổi khí hậu Sa mạc hóa và mực nước biển tăng đe dọa trực tiếp đến môi trường sống của con người Khi thực vật và động vật giảm dần số lượng, nguồn cung cấp thực phẩm, nhiên liệu và cả thu nhập của con người cũng sẽ chịu ảnh hưởng giảm theo
Những thay đổi về khí hậu cũng tác động trực tiếp đến hệ sinh thái, sẽ hủy diện hệ sinh thái Theo nghiên cứu của các chuyên gia, những thay đổi trong điều kiện khí hậu và lượng khí Cacbon dioxit tăng nhanh chóng đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái, nguồn cung cấp nước ngọt, không khí, nhiên liệu, năng lượng sạch, thực phẩm và sức khỏe Dưới tác động của nhiệt
độ, không khí và băng tan, số lượng các rạn san hô ngày càng có xu hướng giảm Điều đó cho thấy, cả hệ sinh thái trên cạn và dưới nước đều đang phải hứng chịu những tác động từ lũ lụt, hạn hán, cháy rừng cũng như hiện tượng
axít hóa đại dương [41]
c) Nước biển dâng
Nhiệt độ Trái Đất tăng cũng khiến chúng ta dễ dàng nhận thấy diện tích của các dòng sông băng trên toàn thế giới đang dần bị thu hẹp lại Nước biển dâng cao do nhiệt độ Trái Đất ngày càng tăng Nó khiến cho các tảng băng tăng nhanh hơn, làm mực nước biển và đại dương trên toàn thế giới tăng theo.Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng trước nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do mực nước biển dâng - hậu quả trực tiếp của
sự tan băng ở Bắc và Nam cực Trong số 33 thành phố có quy mô dân số 8 triệu người vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần và khoảng 332 triệu người sống ở vùng ven biển và đất trũng sẽ bị mất nhà cửa vì ngập lụt Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp
do nước biển dâng theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Bănglađet, Việt Nam,
Trang 25Inđônêxia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ, Thái Lan và Philippin Nước biển dâng còn kèm theo hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm, tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và tài nguyên nước ngọt Theo dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ người phải đối mặt với sự khan hiếm nước, khoảng 600 triệu người sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dưỡng do nguy cơ năng suất trong sản xuất nông nghiệp giảm [29]
BĐKH sẽ tác động mạnh mẽ tới 2 cực đầu tiên, mà băng tan chính là những dấu hiệu đấu tiên mở ra hàng loạt các hệ quả đáng sợ khó lường
Mực nước biển dâng do băng tan ở Nam Cực sẽ là mối đe dọa với
trường của các quốc gia, giờ đây người ta không thể phủ nhận các khối băng này đang dần biến mất Băng ở Nam Cực chiếm tới 4/5 tổng diện tích lượng băng bao phủ trên toàn cầu, không những thế nếu lượng băng ở hai cực tan hết sẽ làm nước biển dâng cao 60m [41]
d) Các hiện tượng thời tiết cực đoan
* Bão lụt
Đi kèm với hiện tương băng tan và nước biển dâng cao thì hiện tượng bão lụt cũng tăng Theo số liệu thống kê cho thấy, chỉ trong vòng 30 năm gần đây, những cơn bão mạnh cấp 4 và cấp 5 đã tăng lên gấp đôi Những vùng nước ấm đã làm tăng sức mạnh cho các cơn bão
Trong thời gian qua, thế giới đã đón nhận nhiều cơ bão dữ khiến hàng nghìn người phải sống trong hoàn cảnh chật vật, nhếch nhác trong những vùng
kinh tế tiêu điều Năm 2012, phát triển từ áp thấp nhiệt đới, Sandy được nâng
cấp thành siêu bão sau đó ít giờ Siêu bão Sandy đã tàn phá Haiti và Cuba trước khi tiến vào miền Đông nước Mỹ, làm 200 người thiệt mạng Năm 2013, cơn bão Haiyan với sức gió siêu cường 370 km/h đổ bộ vào Philippines đã khiến hơn 4.000 người chết, 12.500 người bị thương và gần 3 triệu người không còn nơi trú ẩn Theo ước tính, thiệt hại do cơn bão này lên đến 14,5 tỷ USD Siêu
Trang 26bão Harvey đổ bộ vào bang Texas và Louisiana của Mỹ vào cuối tháng
8/2017 là thảm họa thiên nhiên tồi tệ nhất trong lịch sử với thiệt hại lên đến
190 tỷ USD, chiếm 1% GDP Ngay sau đó, bão Irma đổ bộ vào bang Florida
Hầu hết khu vực trung tâm của Miami, nơi có 6 triệu người sinh sống, bị nhấn chìm trong nước biển Lực lượng chức năng cho biết, sẽ phải mất nhiều tuần nữa mới có thể khôi phục được hệ thống điện tại đây Và gần đây nhất,với sức
gió lên đến 252 km/h, sáng 14/9/2017, bão Talim hoàng hành trên quần đảo
Okinawa, miền Nam Nhật Bản, khiến hàng chục nghìn hộ dân rơi vào cảnh mất điện Bão cũng gây mưa lớn chưa từng có trong vòng 50 năm qua tại khu vực này Trước khi vào Nhật Bản, bão quét qua hai tỉnh Phúc Kiến và Chiết Giang, Trung Quốc khiến hơn 200.000 người phải sơ tán [71]
* Hạn hán
Chính mức nhiệt cao trên đại dương và trong khí quyển đã đẩy tốc độ cơn bão đạt mức kinh hoàng Khi một số nơi trên thế giới đang phải hứng chịu cảnh ngập lụt do mực nước biển dâng và bão lũ, thì ở nhiều nơi khác hạn hán lại đang hoành hành Các chuyên gia ước tính tình trạng hạn hán sẽ tăng ít nhất 66% do khí hậu ngày càng ấm hơn Hạn hán xảy ra thường xuyên sẽ thu hẹp nguồn cung cấp nước, làm giảm chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, khiến nguồn cung ứng lương thực trên toàn cầu trở nên bấp bênh Hiện nay
Ấn Độ, Pakistan và vùng cận Sahara thuộc Châu Phi đang phải hứng chịu các đợt hạn hán nghiêm trọng Giới khoa học dự báo lượng mưa tại các khu vực trên sẽ tiếp tục giảm trong những thập kỷ tới Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu tại Châu Phi cho rằng, tới năm 2020, sẽ có 75 - 250 triệu dân Châu Phi không có nước sử dụng, và sản lượng nông nghiệp của châu lục này cũng sẽ giảm 50% [41]
e) Dịch bệnh
Khí hậu diễn biến bất thường là những điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển Thậm chí, không ít bệnh truyền nhiễm đã được loại trừ nay
Trang 27lại có cơ hội quay trở lại, mở rộng phạm vi lây lan,Gia tăng bệnh nhân do
nhiệt độ thay đổi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) dự báo, đến năm 2080 sẽ có
khoảng 1,5 - 3,5 tỷ người trên thế giới phải đối mặt với nguy cơ mắc sốt xuất huyết mà nguyên nhân là do hiện tượng Trái Đất ấm lên và do khí hậu thay đổi WHO đưa ra cảnh báo, các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại bệnh thường chỉ có ở vùng nhiệt đới Ước tính hằng năm có tới 150 nghìn người ở các nước thu nhập thấp tử vong do tác động của biến đổi khí hậu, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn
đề hô hấp và tiêu chảy Khu vực Đông Nam Á chiếm 30% số người nghèo trên thế giới đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của tình trạng trên Trong số 14 triệu người chết hằng năm ở khu vực này có tới 40% chết do các bệnh lây nhiễm biến đổi khí hậu đã tạo điều kiện cho sự lây lan của bệnh lây nhiễm tại khu vực này [61]
Khoa học phát triển giúp con người ngăn chặn nhiều chứng bệnh nguy hiểm Nhưng, BĐKH lại đang sinh ra những căn bệnh chết người mới biến đổi khí hậu không chỉ gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản người dân mà còn tạo môi trường thuận lợi phát sinh, phát triển dịch bệnh và trung gian truyền bệnh Nhiệt độ Trái Đất nóng lên cùng mực nước biển dâng và thời tiết cực đoan có thể tác động đến các bệnh truyền từ nước làm gây bùng phát các bệnh tiêu chảy; tác động sinh thái tác nhân gây bệnh (ký sinh trùng sốt rét, virus dengue, virus zika) cũng như trung gian truyền bệnh (muỗi Anopheles, muỗi Aedes) làm gia tăng các bệnh do muỗi truyền như sốt rét, sốt xuất huyết, zika, sốt phát; Tình trạng mưa lụt kéo dài, tạo những ổ muỗi đẻ ở khắp mọi nơi, nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề là nguyên nhân chính gây dịch bệnh đường tiêu hóa kể cả dịch bệnh động vật và các ổ dịch thiên nhiên Tác động tiêu cực biến đổi khí hậu đến sức khỏe người già, người mắc các bệnh không lây nhiễm như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tim mạch, thần kinh, strees nhiệt làm
Trang 28tăng tỷ lệ bệnh và tử vong Không những vậy, tác động biến đổi khí hậu còn làm tăng dịch bệnh theo mùa như cúm mùa, cúm A/H5N1, cúm A/H1N1, SARS, chân tay miệng và nhiều dịch bệnh mới nổi khác.WHO dự báo từ năm
2030 đến 2050 tác động của biến đổi khí hậu sẽ gây ra thêm 250 000 người chết mỗi năm do stress nhiệt người cao tuổi (38.000), tiêu chảy (48.000), sốt rét (60.000) và suy dinh dưỡng trẻ em (95.000) Các chi phí thiệt hại trực tiếp đến sức khỏe không bao gồm chi phí trong các lĩnh vực y tế xác định như nông nghiệp, nước và vệ sinh môi trường được ước tính khoảng 2-4 tỷ USD/năm vào 2030
f) Thiệt hại kinh tế
Cho đến nay, mặc dù chất lượng tăng trưởng kinh tế đã được quan tâm nhiều hơn, nhưng tốc độ tăng GDP vẫn là chỉ số quan trọng để đánh giá sức khỏe, quy mô của nền kinh tế Cuộc chạy đua đạt tốc độ GDP cao đang tiến đến trần giới hạn chịu đựng của tự nhiên, khiến môi trường sống bị ô nhiễm, khí hậu biến đổi Đến lượt mình, BĐKH làm giảm mức tăng trưởng kinh tế, gây nên những bất ổn đối với an sinh xã hội và trở thành một trong những vấn
đề an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, đe dọa sự tồn vong của nhân loại
Bão lụt sẽ gây tổn thất trong ngành nông nghiệp đã gây thiệt hại hàng
tỷ USD Bên cạnh đó, các chính phủ cũng cần một lượng tiền lớn để xử lý và kiểm soát sự lây lan dịch bệnh Năm 2005, cơn bão lịch sử đã đổ bộ vào Louisiana, khiến mức thu nhập của người dân nơi đây giảm 15% trong những tháng sau cơn bão, và thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 135 tỷ USD Trong khi người dân phải đối phó với giá lương thực và nhiên liệu tăng cao, thì các chính phủ cũng đang phải chịu sụt giảm doanh thu từ ngành du lịch, giảm lợi
nhuận công nghiệp
Trên toàn thế giới, có hơn 1 tỷ người có mức sống dưới 1,25 USD mỗi ngày Nhưng con số này có thể tăng thêm 77 triệu người vào năm 2030, trừ
Trang 29khi các thành phố này có kế hoạch tốt đối phó với các thảm họa do biến đổi khí hậu gây ra [27]
Tăng trưởng kinh tế quá nóng, tăng trưởng dựa trên việc khai thác tài nguyên thiên nhiên; cạnh tranh, tranh giành nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu tăng trưởng khiến tài nguyên cạn kiệt, môi trường ô nhiễm, khí hậu biến đổi Những tổn thất kinh tế do tác động của biến đổi khí hậu cộng với các chi phí khắc phục thiệt hại làm giảm mức tăng trưởng kinh tế của nhiều
quốc gia và trên phạm vi toàn cầu Theo tài liệu "Kiểm soát sức tàn phá của
biến đổi khí hậu: Phép tính lạnh cho một hành tinh nóng" do Tổ chức Nhân
đạo quốc tế DARA và Diễn đàn Các nước dễ bị tổn thương vì BĐKH (CVF) thực hiện, hiện tượng Trái Đất nóng dần lên gây thiệt hại khoảng 1.200 tỷ USD, tương đương 1,6% GDP hằng năm của thế giới; đến năm 2030, thiệt hại kinh tế do BĐKH và ô nhiễm không khí gây ra sẽ tăng lên 3,2% GDP toàn cầu, trong đó mức thiệt hại của những nước kém phát triển nhất có thể lên đến 11% GDP Còn theo một kết quả nghiên cứu của Liên hợp quốc mới được công bố, đến năm 2030 nền kinh tế toàn cầu có thể mất hơn 2.000 tỷ USD do BĐKH và tình trạng nóng dần lên của Trái Đất Một kết quả nghiên cứu khác cho biết, nếu thế giới không có các chính sách hiệu quả nhằm ứng phó với BĐKH toàn cầu thì đến năm 2100, nền kinh tế thế giới có thể sẽ giảm 23% mức tăng trưởng Tổ chức phi chính phủ Oxfam (Anh) công bố số liệu cho thấy, các nền kinh tế đang phát triển có thể bị thiệt hại tới 1.700 tỷ USD/năm vào năm 2050 Báo cáo của tổ chức Health and Environment International Trust của Liên hợp quốc cho biết, có tới 43 quốc gia bị suy giảm về kinh tế do nắng nóng và BĐKH Tới năm 2030, tổng GDP của Trung Quốc sẽ giảm 1%, của Inđônêxia: 6%; tổng GDP của cả Ấn Độ và Trung Quốc sẽ bị mất khoảng
450 tỷ USD Một số nước ở vùng hàn đới, như Nga, Na Uy và Thụy Điển cũng chịu sự suy giảm về GDP do thời tiết mùa đông trở nên khắc nghiệt hơn [53]
Trang 30g) Tác động đến hòa bình và an ninh thế giới
Các nghiên cứu chứng tỏ những xung đột nguy hiểm đối với hòa bình
và an ninh giữa các quốc gia là một hậu quả gián tiếp của BĐKH
Từ trước tới nay, các cuộc thảo luận quốc tế về BĐKH thường tập trung vào vấn đề phát thải khí Cácbon, nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng, và cách thức đối mặt với những thách thức chung là thông qua các Điều ước khí hậu Tuy nhiên, mối nguy hiểm đối với hòa bình và an ninh giữa và trong các quốc gia như là một hậu quả gián tiếp của BĐKH mới chỉ bắt đầu được giải quyết Khi cuộc xung đột Darfur ở Sudan năm 2007 diễn ra, một trong những cuộc khủng hoảng nhân đạo tồi tệ nhất trên thế giới, được Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Kimoon đánh giá là cuộc xung đột đầu tiên có liên quan đến BĐKH Sự kiện này đã gây ra những cuộc tranh luận toàn cầu về mối liên hệ giữa BĐKH và chiến tranh
Theo một báo cáo về Darfur của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), tuy cuộc xung đột bắt đầu do lực lượng nổi dậy chống lại chính phủ, nhưng thay đổi trong hệ sinh thái của khu vực cũng là nguyên nhân chủ yếu gây ra xung đột [28]
h) Tác động đến di sản văn hóa
Bên cạnh tác động tiêu cực tới di sản thiên nhiên, sự thay đổi khí hậu cũng tác động rất tiêu cực đến các di sản văn hóa Các di sản văn hóa như các chứng tích khảo cổ học sẽ bị tác động bởi sự thay đổi của các quá trình biến đổi nước, hóa chất và sinh vật trong lòng đất Các vật liệu xây dựng trong lịch sử mủn nhanh hơn vật liệu xây dựng hiện đại, bất kỳ sự tăng
ẩm ướt nào của đất cũng có thể sẽ gây ra sự chuyển hóa muối mạnh hơn Hậu quả của sự khô hạn gây ra tình trạng kết tinh muối làm hại đến các bề mặt kiến trúc có trang trí Gỗ và các vật liệu xây dựng hữu cơ khác có thể phải chịu quá trình xâm nhập của sinh vật mạnh hơn trước đây nó chưa từng phải chịu Nước lụt có thể gây thiệt hại các vật liệu xây dựng, bão tố gây
Trang 31thiệt hại cho các cấu kiện kiến trúc Sự sa mạc hóa, muối phủ và ăn mòn luôn sẵn sàng đe dọa di sản văn hóa ở các vùng sa mạc Thay đổi khí hậu cũng có thể gây ra những tác động về văn hóa và xã hội Làm thay đổi lối sống, cách làm việc, thờ tự của các cộng đồng và xã hội tại các công trình xây dựng và cảnh quan, có khả năng làm cho con người phải di chuyển chỗ
ở và từ bỏ di sản của họ [32]
1.2 Ứng phó với biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam
1.2.1 Ứng phó với biến đổi khí hậu
1.2.1.1 Khái niệm ứng phó với biến đổi khí hậu
Như đã phân tích ở trên, BĐKH với các biểu hiện của nó mà chủ yếu
là hiện tượng nhiệt độ tăng và nước biển dâng đã và đang là một thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI vì BĐKH đang ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái, tài nguyên môi trường và cuộc sống của con người Việc ứng phó với các tác động do biến đổi khí hậu gây ra đang trở thành vấn đề mang tính sống - còn trên phạm vi toàn cầu Ứng phó với BĐKH là nghĩa vụ, trách nhiệm không của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia hay mỗi khu vực nào mà là nghĩa vụ, trách nhiệm chung của toàn thế giới
Ứng phó với BĐKH có thể hiểu một cách đơn giản là các hoạt động của con người nhằm giảm thiểu sự phát thải nhà kính và thích nghi với những
sự thay đổi của khí hậu đã và sẽ diễn ra [63]
1.2.1.2 Nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu
a) Thích ứng với biến đổi khí hậu
Thích ứng là khái niệm rất rộng, trong bối cảnh BĐKH, thích ứng được áp dụng cho nhiều lĩnh vực/đối tượng liên quan bị tác động của BĐKH
Về bản chất, sự thích ứng là quá trình dẫn tới tiến bộ hoặc tiến hóa Mọi thực thể của hệ thống tự nhiên - xã hội đều có khả năng thích ứng BĐKH
Trang 32Theo IPCC, 2001, thích ứng với BĐKH sự điều chỉnh của hệ thống tự nhiên hoặc con người để ứng phó những tác động thực tại hoặc tương lai của khí hậu do đó làm giảm tác hại hoặc tận dụng những lợi ích mang lại Trong
đó, tăng cường khả năng thích ứng là một phương thức giảm mức độ tổn thương và định hướng phát triển bền vững
Mỗi lĩnh vực đều phải thích ứng theo mức độ tác động khác nhau và phù hợp với các điều kiện mới của BĐKH Hơn nữa, thích ứng trong từng lĩnh vực đồng thời phải có sự thích ứng tổng hợp liên kết với các lĩnh vực khác trong hệ thống tự nhiên - xã hội hay phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh BĐKH
Thích ứng cần yêu cầu các đặc điểm sau:Thích ứng đòi hỏi sự tham gia của nhiều đối tượng, nhiều thành phần và được thực hiện ở các quy mô khác nhau theo một qui trình thống nhất và lâu dài Thích ứng cần được thực hiện có hiệu quả nhất và phù hợp nhất, không ảnh hưởng, thay đổi đến sinh kế người dân cũng như các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của khu vực; Thích ứng mang tính chủ động theo ý chí con người nhằm giảm thiểu mức độ tổn thương và hướng tới sự phát triển bền vững; Thích ứng là một quá trình mang tính liên ngành và tính liên vùng rất cao Không một ngành nào, một quốc gia nào hoặc một nhóm quốc gia nào có thể hành động đơn phương trong thích ứng Ngoài ra, thích ứng còn yêu cầu đánh giá về các công nghệ
và biện pháp khác nhau nhằm phòng tránh những hậu quả bất lợi của biến đổi khí hậu bằng cách ngăn chặn hoặc hạn chế; tạo ra sự thích ứng nhanh với BĐKH; phục hồi có hiệu quả sau những tác động, hay là bằng cách lợi dụng những tác động tích cực Thích ứng với BĐKH có thể được nâng cao bằng cách đầu tư vào thích ứng với khí hậu hiện tại cũng như thay đổi và biến đổi khí hậu trong tương lai
Các giải pháp thích ứng với BĐKH được đề cập và xây dựng rất đa dạng Theo Báo cáo đánh giá thứ 2 của IPCC (1995), có 228 giải pháp thích
Trang 33ứng BĐKH khác nhau đã được mô tả và được chia thành 8 nhóm khác nhau, gồm: Chấp nhận những tổn thất; Chia sẻ những tổn thất; Giảm nguy hiểm; Ngăn chặn các tác động; Thay đổi cách sử dụng; Thay đổi địa điểm; Nghiên
cứu, Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi
b) Giảm nhẹ biến đổi khí hậu
Theo IPCC, 2007, giảm nhẹ BĐKH là những thay đổi về kỹ thuật và các giải pháp thay thế nhằm giảm nguồn phát thải KNK Mặc dù một số chính sách về xã hội, kinh tế và kỹ thuật có thể giảm sự phát thải KNK, giảm nhẹ biến đổi khí hậu mang nghĩa thực thi các chính sách nhằm giảm nhẹ khí nhà kính và tăng bể chứa KNK
Qua khái niệm giảm nhẹ BĐKH được đưa ra cho thấy giảm nhẹ BĐKHcó hai mục tiêu chính là giảm nguồn phát thải KNK và tăng bể chứa KNK
Có rất nhiều giải pháp giảm nhẹ BĐKH được thực hiện thông qua các cam kết giữa các bên liên quan với UNFCCC và hiệu lực thực thi KP năm tháng 2 năm 2005, tuy nhiên điều này vẫn chưa đủ để đảo ngược lại xu thế
phát thải KNK (IPCC, 2007) Nhiều chính sách, chiến lược giảm nhẹ BĐKH
được đưa ra trong các lĩnh vực khác nhau (xây dựng công trình và dịch vụ, giao thông, công nghiệp, nông nghiệp và quản lý chất thải, năng lượng) (IPCC, 2007) Nhìn chung giải pháp giảm nhẹ BĐKH bao gồm các nội dung chính như sau:
+ Sử dụng tiết kiệm năng lượng: cùng với khả năng cung ứng năng lượng hạn chế và việc thất thoát, sử dụng lãng phí, giảm nhẹ BĐKH thông qua việc sử dụng tiết kiệm nguồn năng lượng hiện có trở thành vấn đề quan trọng và cấp bách Sử dụng tiết kiệm năng lượng còn bao hàm cả việc những ứng dụng công nghệ tiên tiến nhằm tăng hiệu suất năng lượng hóa thạch, hiệu suất sử dụng điện…
Trang 34+ Phát triển năng lượng mới: phát triển hợp lý nguồn năng lượng hạt nhân, năng lượng thủy điện và năng lượng tái tạo được là các phương án đóng góp tích cực nhất nhằm giảm nhẹ KNK
+ Quản lý chất thải: tăng cường hiệu quả của công tác quản lý chất thải cũng là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm giảm nhẹ phát thải KNK
+ Bảo vệ và phát triển rừng: làm tăng khả năng hấp thụ các KNK nhằm giảm nhẹ BĐKH
+ Giáo dục và truyền thông: nâng cao năng lực quản lý nhằm giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm giảm nhẹ BĐKH, tăng cường hợp tác quốc tế cùng chung tay giải quyết
các vấn đề BĐKH toàn cầu
c) Quan hệ giữa thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu
Giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH có một số điểm chung như có thể
bổ sung, thay thế, độc lập hoặc cạnh tranh nhau và có những đặc điểm, khung thời gian rất khác nhau Cả thích ứng và giảm nhẹ đều đòi hỏi năng lực của xã hội có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế - xã hội Sự thích ứng với BĐKH phụ thuộc vào sự hứng chịu những rủi ro về thời tiết, tài sản tự nhiên hay nhân sinh của xã hội, nguồn lực con người, các thể chế và thu nhập Tất
cả các yếu tố này sẽ quyết định khả năng giảm nhẹ và thích ứng của xã hội Những chính sách hỗ trợ sự phát triển và nâng cao khả năng thích ứng và giảm nhẹ có thể có một số điểm chung Các nhân tố chính quyết định khả năng thực thi kế hoạch giảm nhẹ và thích ứng BĐKH bao gồm: tài nguyên, thị trường, tài chính, thông tin và nhiều các vấn đề điều khiển khác
Thích ứng và giảm nhẹ BĐKH đều được thực hiện trên cùng một quy
mô địa phương hay khu vực và có thể được thúc đẩy bởi những ưu tiên và mối quan tâm của địa phương, khu vực cũng như quan tâm toàn cầu Giảm nhẹ BĐKH mang lại lợi ích toàn cầu, và do đó mang lại lợi ích cho địa phương cũng như khu vực Trong khi đó thích ứng với BĐKH chủ yếu trên
Trang 35quy mô của hệ thống bị ảnh hưởng bởi BĐKH, tốt nhất là quy mô khu vực
nhưng hầu hết là quy mô địa phương
Chiến lược giảm nhẹ BĐKH có nội dung chủ yếu là chiến lược giảm KNK, nghĩa là giảm nguồn phát thải và tăng bể chứa KNK trên phạm vi toàn cầu Trong khi đó, chiến lược thích ứng với BĐKH có mục tiêu là ngăn chặn các tác động của BĐKH, kể cả biến đổi tự nhiên và biến đổi do hoạt động của con người tới hệ thống tự nhiên và xã hội trên Trái Đất Giảm nhẹ BĐKH can thiệp vào chu trình từ phát triển kinh tế - xã hội dẫn đến phát thải KNK Trong khi đó, thích ứng BĐKH can thiệp vào hai quá trình: tác động của BĐKH đến hệ thống tự nhiên - xã hội và mối tương tác giữa phát triển kinh tế
- xã hội với hệ thống tự nhiên - xã hội
Nhìn chung, cả chiến lược giảm nhẹ BĐKH và thích ứng với BĐKH đều là những hành động can thiệp trực tiếp tới một chu trình gồm 4 yếu tố: BĐKH: nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng, chế độ mưa, hạn hán, lũ lụt…; Phát triển kinh tế - xã hội: tăng trưởng kinh tế, công nghệ, dân số và quản lý; Nồng độ KNK và phát thải KNK và Hệ thống tự nhiên - xã hội [51]
1.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương được đánh giá là một trong những khu vực dễ bị tổn thương, chịu tác động mạnh mẽ nhất của BĐKH Nhiều loại hình thiên tai, hiện tượng khí hậu và thời tiết cực đoan diễn ra với quy mô, tần suất và mức độ ngày càng lớn Số liệu 2015 cho thấy, trong tổng số 90 cơn bão toàn cầu, 344 thảm họa thiên tai thì có đến gần 50% số đó xuất hiện ở các quốc gia và vũng lãnh thổ trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Trong đó, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề của BĐKH do có bờ biển dài Việt Nam với hơn 3000 km
bờ biển, nằm trong khu vực châu Á gió mùa, hàng năm phải đối mặt với sự hoạt động của bão, xoáy thuận dương và biển Đông, chịu tác động của nhiều
Trang 36loại hình thế thời tiết phức tạp Các hiện tượng thiên tai khí tượng xảy ra hầu như quanh năm và trên khắp mọi miền lãnh thổ
Theo thống kế rủi ro lâu dài do BĐKH, Việt Nam đứng thứ 7 trên toàn cầu với trung bình hàng năm có 392 người chết và thiệt hại hơn 1% GDP do các thảm họa liên quan đến thiên tai Chỉ tính từ đầu năm 2015 đến nay, nắng nóng gay gắt với nền nhiệt độ cao kéo dài kỷ lục (60 năm) đã xảy ra trên diện rộng từ Bắc Bộ đến các tỉnh Nam Trung Bộ, khiến hơn 190.000ha bị hạn hán
và hơn 44.000 con gia súc, gia cầm bị chết Trong khi đó, tại một số địa phương như Quảng Ninh, lại xuất hiện đợt mưa lớn nhất trong lịch sử, gây thiệt hại khoảng 2.700 tỷ đồng Toàn tỉnh có tới 17 người thiệt mạng, hàng trăm căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, hàng ngàn hộ dân bị ngập nước, hàng ngàn hecta lúa, hoa màu, diện tích nuôi trồng thủy-hải sản và nhiều công trình hạ tầng cơ sở bị thiệt hại nặng [70]
Việt Nam là một quốc gia hằng năm thường xuyên đối mặt và chịu tác động của nhiều loại thiên tai Trong những năm vừa qua, trung bình mỗi năm, thiên tai làm chết và mất tích trên 300 người, thiệt hại về kinh tế từ 1 - 1,5% GDP Theo dự báo, Việt Nam là một trong những nước chịu tác động tồi tệ nhất của BĐKH như nước biển dâng, nhiệt độ tăng và những loại hình thiên tai diễn biến bất thường và cực đoan khác [19]
Là nước nông nghiệp (nông nghiệp đóng góp khoảng 20% GDP), có
bờ biển dài 3.260km, đạt mức thu nhập trung bình thấp của thế giới, phần đông người nghèo sống dựa vào nông nghiệp và đánh bắt thủy sản, nên Việt Nam, theo đánh giá của Tổ chức Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), là một trong 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất và tổn thương trực tiếp do quá trình BĐKH BĐKH tác động tới tất cả các vùng, miền, các lĩnh vực của nước ta, nhưng trong đó tài nguyên nước, sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, y tế - sức khỏe và vùng ven biển sẽ chịu tác động mạnh nhất
Trang 371.2.2.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước
Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia thiếu nước với tổng bình
/ người/năm (so với bình quân thế giới là 7.400 m3/người/năm) Hạn hán và xâm nhập mặn tập trung ở vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, ven biển miền Trung và vùng đồng bằng sông cửu Long Theo thống kê mới nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai cho thấy, do tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn, đến tháng 4-2016 gần 475.000 hộ dân đã bị thiếu nước sinh hoạt Trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, Việt Nam có nhiều yếu tố không bền vững Sự suy thoái tài nguyên nước ngày một tăng về cả số lượng và chất lượng do nhu cầu về nước ngày một lớn, khai thác, sử dụng bừa bãi, thiếu quy
hoạch và đặc biệt là sự suy giảm đến mức báo động của rừng đầu nguồn [52]
1.2.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu tới tài nguyên đất
Trong thời gian gần đây, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do sức
ép dân số, đô thị hóa, công nghiệp hóa và bị chuyển đổi mục đích sử dụng Hiện tượng xói mòn, rửa trôi, hoang mạc hóa và ô nhiễm do hóa chất nông nghiệp ngày càng gia tăng Dưới tác động của BĐKH, nhất là nước biển dâng làm mất đi nơi ở của cư dân và phần đất màu mỡ nhất cho sản xuất nông nghiệp sẽ là thách thức lớn cho ngành nông nghiệp Thiên tai, bão, lũ gia tăng
sẽ làm tăng hiện tượng xói mòn, rửa trôi, sạt lở bờ sông, bờ biển, bồi lắng lòng dẫn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất Hiện tượng thiếu nước
và hạn hán sẽ dẫn tới hoang mạc hóa, đặc biệt là các tỉnh miền Trung
1.2.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu tới tài nguyên đa dạng sinh học rừng
Việt Nam có đa dạng sinh học cao, có các hệ sinh thái đa dạng Tuy nhiên trong thời gian qua, do những nguyên nhân khác nhau, đa dạng sinh học, các hệ sinh thái, đặc biệt là các hệ sinh thái rừng - hệ sinh thái có đa dạng sinh học cao nhất bị suy thoái trầm trọng Diện tích rừng giảm rừng ngập mặn
Trang 38ven biển cũng bị suy thoái nghiêm trọng (giảm 80% diện tích) do bị chuyển đổi thành các ao đầm nuôi trồng thủy hải sản thiếu quy hoạch Trong những năm gần đây, rừng tuy có tăng lên về diện tích, nhưng tỷ lệ rừng nguyên sinh cũng vẫn chỉ khoảng 8% (so với 50% của các nước trong khu vực) Nhiệt độ trung bình tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần xã sinh vật của nhiều hệ sinh thái Các loài nhiệt đới sẽ giảm đi trong các hệ sinh thái ven biển và có xu hướng chuyển dịch lên các đới và vĩ độ cao hơn trong các hệ sinh thái trên cạn Nhiệt độ tăng, còn làm gia tăng khả năng cháy rừng, nhất là các khu rừng trên đất than bùn, vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng lượng phát thải KNK và làm gia tăng BĐKH
1.2.2.4 Tác động của biến đổi khí hậu tới vùng ven biển
Vùng ven biển cũng sẽ là nơi chịu tác động nặng nề nhất của thiên tai
mà trước hết là bão, sóng thần, lũ lụt gây những tổn thất năng nề về nguời và tài sản Chỉ tính riêng năm 2006, thiệt hại do bão gây ra ở Việt Nam lên tới 1,2 tỷ USD Nước biển dâng gây hiện tượng ngập lụt, mất nơi ở và diện tích sản xuất (nông nghiệp, thủy sản và làm muối), gây nhiễu loạn các hệ sinh thái truyền thống Hiện tượng xâm nhập mặn sẽ gia tăng, các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển, nhất là rừng ngập mặn, môi trường sống của các loài thủy hải sản, bức tường chắn sóng và giảm tác động của sóng, bão, nguồn sống hàng ngày của cộng đồng địa phương sẽ bị thu hẹp nhanh chóng Các cơ sở hạ tầng nhất là các cảng, khu công nghiệp, giao thông sẽ bị tác động mạnh, thậm chí phải cải tạo, nâng cấp hoặc di dời Nước biển dâng và nhiệt độ tăng sẽ làm ảnh hưởng lớn tới các rạn san hô, hệ sinh thái có tính đa dạng cao và có ý nghĩa quan trọng đối với tự nhiên và đời sống con người, lá chắn hiệu quả chống xói mòn bờ biển và rừng ngập mặn San hô là các động vật rất nhạy cảm với các yếu tố sinh thái, nhất là nhiệt độ và chất lượng nước Nhiệt độ nước biển chỉ cần tăng một vài độ, san hô có thể chết hàng loạt Hiện nay đã
có khoảng 30 quốc gia báo cáo có nguy cơ bị mất san hô Theo các kịch bản
Trang 39BĐKH của Việt Nam, vào cuối thế kỷ 21, sẽ có khoảng 40% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích vùng Đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các địa phương khác thuộc khu vực ven biển sẽ bị ngập nước Khi đó sẽ có khoảng 10-12% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp, với tổn thất khoảng 10% GDP Đặc biệt, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ bị ngập trên 20% diện tích thành phố [47]
1.2.2.5 Tác động của biến đổi khí hậu đến kinh tế đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp
Việt Nam là quốc gia có truyền thống về nông nghiệp Trong những năm qua, với sự quan tâm của nhà nước, vấn đề an ninh lương thực đã cơ bản được bảo đảm Tuy nhiên, với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi tình hình, điều kiện về thời tiết Do đó, dưới tình hình khí hậu đang có những biến đổi phức tạp, theo chiều hướng tiêu cực như ngày nay, chúng ta cũng như toàn thế giới phải đối mặt với một thách thức to lớn là
Trang 40thiệt hại cho các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ với 129.000 ha cây công nghiệp, 50.000 ha cây ăn quả, 19.000 ha hoa màu, 5.000 ha thủy sản
Ở Bắc Bộ, những diễn biến thất thường của thời tiết cũng tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp Mặc dù không phải đối mặt với xâm nhập mặn nhưng miền bắc lại phải đương đầu với hạn hán vào mùa hè và lạnh giá vào mùa đông Do tác động của rét đậm, rét hại trong mùa đông nên năm vừa qua, các tỉnh trung du, miền núi bắc bộ và dồng bằng sông Hồng phải chịu thiệt hại nặng nề Năm 2016, hơn 12.000 vật nuôi bị chết do băng giá, hàng trăm hecta rau màu vụ đông bị chết, tổng thiệt hại lên đến hàng trăm tỉ đồng.Bên cạnh
đó, còn nhiều nguy cơ khác mà chúng ta phải đối mặt Theo dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường mới cập nhật, khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung có nguy cơ bị ngập nếu nước biển dâng cao thêm 1m Diện tích đất sản xuất bị thu hẹp, tình hình thời tiết ngày càng khắc nghiệt sẽ là nhưng thách thức lớn đối với chúng ta trong bảo đản an ninh lương thực
BĐKH khiến cho nền kinh tế của ta phát triển không được ổn định, thậm chí là kéo tụt sự phát triển của kinh tế nước ta Cụ thể, đó là: biến đổi khí hậu gây ra những thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế đất nước Theo kết quả thống kê mới công bố của Tổng cục Thống kê, tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm 2016 ước tính gần 18.300 tỷ đồng, mức thiệt hại này chiếm đến 0,4% GDP của cả nước Tình hình rét đậm, rét hại trên diện rộng ở miền núi phía Bắc, mưa lũ, ngập lụt nghiêm trọng ở miền Trung, khô hạn ở Tây Nguyên và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long đã ảnh hưởng nặng nề tới sản xuất và đời sống của dân cư; chúng ta phải tốn một khoản chi phí rất lớn để ngăn chặn và khắc phục những hậu quả của biến đổi khí hậu gây ra Để kịp thời giúp người dân ổn định cuộc sống, giải quyết phần nào những khó khăn, Chính phủ đã phải chi một khoản tiền lớn từ ngân sách nhà