Tính cấp thiết của đề tài Pháp luật Việt Nam hiện hành đã xây dựng được cơ bản các quy định về phát hành cổ phiếu của NHTMCP với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO THỊ THÚY
PH¸P LUËT VÒ PH¸T HµNH Cæ PHIÕU
CñA NG¢N HµNG TH¦¥NG M¹I Cæ PHÇN ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO THỊ THÚY
PH¸P LUËT VÒ PH¸T HµNH Cæ PHIÕU
CñA NG¢N HµNG TH¦¥NG M¹I Cæ PHÇN ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Đào Thị Thúy
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, hình thức phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 7
1.1.1 Khái niệm cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 7
1.1.2 Đặc điểm cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 10
1.1.3 Phân loại cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 13
1.1.4 Các hình thức phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 15
1.1.5 Đặc thù của phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 18
1.2 Khái niệm, nguyên tắc điều chỉnh, cấu trúc pháp luật phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 20
1.2.1 Khái niệm pháp luật phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 20
1.2.2 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 20
1.2.3 Cấu trúc pháp luật phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 27
Trang 52.1 Thẩm quyền quyết định phát hành cổ phiếu của ngân hàng
thương mại cổ phần ở Việt Nam 27
2.2 Mục đích, điều kiện, trình tự thủ tục phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 30
2.2.1 Mục đích phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 30
2.2.2 Điều kiện phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 30
2.2.3 Trình tự, thủ tục phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 38
2.3 Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng thương mại cổ phần trong phát hành cổ phiếu 55
2.3.1 Quyền của ngân hàng thương mại cổ phần 55
2.3.2 Nghĩa vụ của ngân hàng thương mại cổ phần 58
2.4 Nhà đầu tư trong hoạt động phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 61
2.4.1 Các giai đoạn tham gia của nhà đầu tư 61
2.4.2 Mối quan hệ giữa nhà đầu tư và ngân hàng thương mại cổ phần trong hoạt động phát hành cổ phiếu 62
2.4.3 Phân loại nhà đầu tư 63
2.4.4 Cơ cấu cổ đông 64
2.4.5 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư 69
2.5 Vi phạm và xử lý vi phạm trong phát hành cổ phiếu của NHTMCP ở Việt Nam 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 82
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển thị trường chứng khoán 82
Trang 63.1.1 Tăng thẩm quyền của Ủy ban chứng khoán nhà nước đối với
quản lý phát hành của ngân hàng thương mại cổ phần 83
3.1.2 Hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng thừa nhận và trao quyền tự chủ, tự quyết, độc lập cho chủ thể phát hành 84
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam 85
3.2.1 Đảm bảo chuẩn hoá quy định phát hành cổ phiếu ra công chúng, phù hợp với thông lệ quốc tế 85
3.2.2 Hoàn thiện cơ chế công bố thông tin, giám sát thông tin đảm bảo minh bạch hoạt động phát hành 87
3.2.3 Hoàn thiện quy định pháp luật về chuẩn mực kế toán, kiểm toán, đảm bảo tính trung thực của Bản cáo bạch 90
3.2.4 Giải pháp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư 92
3.2.5 Kiến nghị tăng mức xử phạt vi phạm hành chính 94
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTCK: Công ty chứng khoán CTCP: Công ty cổ phần ĐHĐCĐ: Đại hội đồng cổ đông NĐT: Nhà đầu tư
NĐTNN: Nhà đầu tư nước ngoài NHNN: Ngân hàng nhà nước NHTM: Ngân hàng thương mại NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần TCTD: Tổ chức tín dụng
TTCK: Thị trường chứng khoán UBCKNN: Uỷ ban chứng khoán nhà nước
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật Việt Nam hiện hành đã xây dựng được cơ bản các quy định
về phát hành cổ phiếu của NHTMCP với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, tạo được khung pháp lý để quản trị rủi ro, đảm bảo
an ninh tiền tệ quốc gia, trong đó phải kể đến như: Bộ luật Dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Ngân hàng Nhà nước 2010, Luật các TCTD 2010, Luật Chứng khoán 2006, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành Những quy định pháp luật
về phát hành cổ phiếu đã tạo hành lang pháp lý cho các NHTMCP có thể thông qua hình thức này để giải quyết được “bài toán” về vốn Điểm khác biệt trong hoạt động phát hành cổ phiếu của NHTMCP ở chỗ đối tượng kinh doanh của NHTMCP cũng chính là tiền tệ, không chỉ điều kiện để thực hiện hoạt động kinh doanh như các doanh nghiệp thông thường Bản chất phát hành cổ phiếu của ngân hàng cũng là huy động vốn Trong thực tiễn áp dụng pháp luật về phát hành cổ phiếu của NHTMCP còn bộc lộ hạn chế, tồn tại những vấn đề bất cập về yêu cầu cấp thiết về tăng trưởng quy mô hoạt động của NHTMCP gắn với điều kiện đảm bảo các chỉ số rủi ro trong giới hạn cho phép, trình tự thủ tục phát hành cổ phiếu, chất lượng thẩm định hồ sơ đăng ký phát hành cổ phiếu, vấn đề hạn chế quyền và lợi ích của NĐT là cá nhân, tổ chức có tiềm lực tài chính mạnh muốn tham gia đầu tư, các quy định về giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD từng thời kỳ, rủi ro và quản trị hệ thống
Xuất phát từ nhu cầu cấp bách cần có quy định và nghiên cứu tổng thể
về cơ sở lý luận và thực tiễn cho hoạt động phát hành cổ phiếu của NHTMCP
ở Việt Nam, từ đó có thể đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phát hành cổ phiếu của NHTMCP trong điều kiện phát triển hiện nay, tôi đã lựa
Trang 10chọn vấn đề “Pháp luật về phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại
cổ phần ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các đề tài tập trung nghiên cứu về “cổ phiếu”, “phát hành chứng khoán”, “chào bán chứng khoán, “niêm yết chứng khoán”, “bảo vệ quyền lợi của NĐT” được rất nhiều tác giả và các nhà khoa học quan tâm Yêu cầu có được hành lang pháp lý phù hợp, kịp thời điều chỉnh hoặc nắm bắt trước các
xu thế để điều chỉnh chính sách pháp luật cho phù hợp, phát huy quyền tự do thu hút vốn của NHTMCP, không để trở thành rào cản so với sự phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay thì những nghiên cứu từ góc độ pháp lý về
“cổ phiếu”, “chứng khoán” cần được quan tâm hơn nữa
Trước đây một số tác giả đã có nghiên cứu liên quan về cổ phiếu và phát hành cổ phiếu của NHTMCP như:
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Một số vấn đề về pháp luật chào bán cổ
phiếu của NHTMCP” của tác giả Đỗ Xuân Bách năm 2008, Đại học Luật Hà Nội;
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Pháp luật về chào bán cổ phiếu ra công
chúng của NHTMCP ở Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Thanh Tâm năm 2014,
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Pháp luật về niêm yết cổ phiếu của
NHTMCP ở Việt Nam và thực tiễn tại NHTMCP Quân đội (MB)” của tác giả
Đoàn Thị Nụ năm 2015, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Pháp luật về chào bán chứng khoán ra
công chúng ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Nam, năm 2016, Khoa Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội
Một số bài báo nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực này như:
- “Một số vấn đề cần quan tâm khi niêm yết cổ phiếu ngân hàng trên
thị trường chứng khoán” của tác giả Nguyễn Đức Lệnh, Ngân hàng nhà
Trang 11nước Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh đăng trên Tạp chí ngân hàng, số 18, tháng 9 năm 2006;
- “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phát hành cổ phiếu ngân
hàng” của tác giả ThS Nguyễn Thị Thu Hằng, Trường Cao đẳng Thương mại
Đà Nẵng đăng trên Tạp chí tài chính, tháng 8 năm 2016;
- “Lên sàn chứng khoán: cơ hội, thách thức và kì vọng” của tác giả
Quỳnh Vũ đăng trên trang www.thoibaonganhang.vn, tháng 3 năm 2018
Tuy nhiên, công trình luận văn nghiên cứu sâu và tập trung về vấn đề phát hành cổ phiếu của NHTMCP, một loại hình doanh nghiệp đặc biệt của nền kinh tế thì chưa được đề cập Vì vậy, việc tác giả lựa chọn đề tài nghiên
cứu “Pháp luật về phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
ở Việt Nam” là cần thiết
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động phát hành cổ phiếu của NHTMCP trên
cơ sở phân tích lý luận và thực trạng pháp luật về nội dung này ở Việt Nam,
từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện để khắc phục được những bất cập, hạn chế của pháp luật và nâng cao hiệu quả phát hành cổ phiếu của NHTMCP ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đặt ra bao gồm nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về phát hành
cổ phiếu của NHTMCP và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật phát hành
cổ phiếu của NHTMCP ở Việt Nam, từ đó thấy được những điểm hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật Việt Nam hiện hành
Từ việc nghiên cứu lý luận và phân tích đánh giá thực trạng trên, đưa ra
Trang 12phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phát hành cổ phiếu NHTMCP cho phù hợp nhu cầu tăng trưởng và phát triển của NHTMCP, phù hợp với tình hình thực tiễn, đòi hỏi của nền tài chính tiền tệ quốc gia và đáp ứng yêu cầu hội nhập thị trường tài chính tiền tệ quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về phát hành cổ phiếu của NHTMCP ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động phát hành cổ phiếu của NHTMCP cũng như hoạt động phát hành cổ phiếu của CTCP, chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán, song do hoạt động đặc thù của NHTMCP nên việc phát hành cổ phiếu của NHTMCP còn chịu sự điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính và hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản, đánh giá
và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật phát hành cổ phiếu của NHTMCP ở Việt Nam, trong đó ưu tiên tập trung vào hoạt động phát hành để chào bán ra công chúng của các ngân hàng lớn trong hệ thống NHTMCP ở Việt Nam; hoạt động phát hành riêng lẻ được xem xét trên khía cạnh đảm bảo tính toàn diện khi nghiên cứu về lý luận cơ bản, từ đó đưa ra được các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện phù hơp với thực tiễn, tránh dàn trải không đảm bảo chất lượng nghiên cứu
5 Tính mới và đóng góp của đề tài
Đề tài: “Pháp luật về phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại
cổ phần ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu một cách toàn diện có hệ
thống về cơ sở lý luận pháp luật và thực tiễn pháp luật về phát hành cổ phiếu của NHTMCP ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên
Trang 13thế giới Trên cơ sở nghiên cứu sẽ đưa ra kiến nghị và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này Những đóng góp mới của luận văn sẽ tập trung ở việc đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này, từ đó xác định những hạn chế, tồn tại của pháp luật hiện hành, đồng thời đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội và các phương pháp đặc thù của Luật học để nghiên cứu đề tài
Các phương pháp chủ yếu bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân loại, phương pháp
chuyên gia v.v… Phương pháp phân tích được sử dụng chủ yếu để làm sáng
tỏ những quy định của pháp luật liên quan đến phát hành cổ phiếu của
NHTMCP ở Việt Nam Phương pháp tổng hợp sử dụng để khái quát hóa nội
dung nghiên cứu một cách hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên hợp
lý, dễ hiểu, giúp tổng hợp các dữ liệu theo hệ thống để giúp nhận diện các vấn
đề về phát hành cổ phiếu của NHTMCP Phương pháp so sánh được sử dụng
để so sánh quy định của pháp luật hiện hành về phát hành cổ phiếu của NHTMCP theo pháp luật Việt Nam với các quy định của một số nước khác
Ngoài ra, luận văn sử dụng phương pháp chuyên gia và nghiên cứu
định tính trong thu thập và xử lý thông tin, dữ liệu để phân tích, so sánh, tổng hợp Cách thức tiếp cận nguồn dữ liệu là thông qua thực tiễn triển khai phát hành cổ phiếu của một số NHTMCP lớn của Việt Nam trong những năm gần đây, thu thập thông tin từ các nguồn khác như: các số liệu, báo cáo đánh giá hiệu quả công tác phát hành cổ phiếu của NHTMCP, các nghiên cứu, phân tích đánh giá thị trường tài chính có sự biến đổi ra sao và kết quả của quá trình phát hành cổ phiếu của một số NHTMCP, báo cáo thường niên của
Trang 14NHNN, các TCTD… được đăng tải trên các báo, tạp chí, thông tin từ các website, thông cáo báo chí của NHNN và các tổ chức có uy tín trong nước và trên thế giới v.v có liên quan đến lĩnh vực này
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về phát hành cổ phiếu của
ngân hàng thương mại cổ phần
Chương 2: Thực trạng pháp luật về phát hành cổ phiếu của ngân hàng
thương mại cổ phần ở Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phát hành
cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU
VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1 Khái niệm, đặc điểm, hình thức phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
1.1.1 Khái niệm cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
Lịch sử ra đời của cổ phiếu gắn liền với lịch sử hình thành CTCP
“Người đầu tư góp vốn theo chuyến đi biển và sau mỗi chuyến đi biển nhận
lại vốn cổ phần và tiền lãi”, đó chính là hình thức sơ khai đầu tiên của một
nhóm 218 cá nhân được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm
ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở châu Á, châu Phi và được đi lại
từ tất cả các hải cảng của các đảo, thị trấn và địa điểm ở châu Á, châu Phi và
Mỹ hay bất kỳ địa điểm nào như thế nằm ngoài Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) và Eo biển Magellan Đây chính là công ty cổ phần xuất hiện đầu tiên trên thế giới - công ty Đông Ấn (East India Company) của Anh (1600-1874) Ở Mỹ, CTCP phát triển rất mạnh Lúc đầu là vì phải xây dựng đường xe lửa, sau này là để thiết lập mạng lưới phân phối và bán lẻ trên toàn lãnh thổ rộng lớn của Mỹ Chính do yêu cầu tài trợ cho các công ty làm đường xe lửa mà TTCK ở NewYork phát triển Năm 1811, bang NewYork ban bố luật về tính trách nhiệm hữu hạn dành cho các công ty sản xuất Nhờ
có luật này, tiền ùn ùn đổ về NewYork và tính hữu hạn kia trở thành phổ biến vì bang nào không dùng đến nó là không thu hút được vốn [1, tr.25] Các Mác nhận định trong “Tư bản” (quyển 1, tập III) là “nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích luỹ làm cho số tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương được việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới
Trang 16vẫn chưa có đường sắt” Sự ra đời của CTCP đã giúp cho các nhà doanh nghiệp giải quyết được mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo
Sự hình thành và phát triển của CTCP gắn liền với sự hình thành của
thị trường vốn và thị trường tiền tệ “CTCP là một loại hình kinh doanh phổ
biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển” [1, tr.18]
Cổ phiếu chính là sản phẩm riêng của CTCP Vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Người mua cổ phần gọi là cổ đông Cổ đông được cấp một giấy xác nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu Cổ phiếu là bằng chứng
và là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với CTCP Quyền sở hữu của cổ đông trong CTCP tương ứng với số lượng cổ phần mà cổ đông nắm giữ Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn [57]
Trong lịch sử phát triển TTCK, cổ phiếu xuất hiện cùng với sự ra đời của CTCP, là công cụ quan trọng nhằm huy động vốn cho CTCP Nhờ có CTCP, TTCK có thêm hàng hoá để giao dịch và ngược lại, nhờ có TTCK mà CTCP có một kênh thu hút vốn thuận lợi và sâu rộng Như vậy, có thể hiểu
cổ phiếu là một loại chứng khoán do CTCP phát hành xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của cổ đông đối với tài sản và thu nhập của một CTCP [29, tr.32] Khi tiến hành gọi vốn, tổ chức phát hành đã chia sẻ quyền
sở hữu công ty cho người mua cổ phiếu và NĐT góp vốn vào công ty sẽ có những quyền và lợi ích tương ứng tuỳ thuộc vào mức vốn đã góp Đây là mối quan hệ song hành giữa chủ thể phát hành và NĐT
Theo Francis Lemenier trong cuốn “Nguyên lý thực hành luật thương
mại, luật kinh doanh” về luật pháp thì cổ phiếu là chứng thư xác nhận quyền
Trang 17sở hữu một tài sản nhất định nên được coi là tài sản thực sự Cổ phiếu tồn tại dưới dạng chứng thư, có mệnh giá, thời hạn hiệu lực ít ra bằng thời hạn tồn tại của doanh nghiệp ghi trong điều lệ Một định nghĩa khác trong “Banking Terminology” khi đưa ra khái niệm về chứng khoán cho rằng “cổ phiếu là văn bản xác nhận việc góp vốn vào công ty”, song khái niệm này chưa thể hiện đầy đủ về cổ phiếu
Cổ phiếu (stock, share) là loại chứng khoán xác nhận số cổ phần mà
cổ đông đó nắm giữ tại một CTCP và quyền được hưởng lợi nhuận dưới hình thức cổ tức cũng như quyền tham gia quản lý công ty Cổ phần là phần lợi ích sở hữu của cổ đông với tổ chức phát hành [31, tr.12]
Ở Việt Nam, NHTMCP là NHTM được thành lập, tổ chức dưới hình thức CTCP, là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có điều kiện theo mô hình
cổ phần và tuân theo các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật các TCTD, Nghị định, Thông tư và các quy chế, quy định riêng của NHNN cho loại hình NHTMCP trong suốt quá trình thành lập và hoạt động; phân biệt với các NHTM nhà nước, NHTM liên doanh và chi nhánh NHTM nước ngoài tại Việt
của CTCP với loại hình đặc biệt là NHTMCP trong phạm vi Luận văn này
Như vậy, cổ phiếu là một loại giấy tờ có giá chứng nhận tài sản, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc vốn của
tổ chức phát hành, có hình thức tồn tại nhất định dưới hình thức xác định được như chứng chỉ, bút toán ghi sổ, trường hợp cổ phiếu niêm yết còn được coi như chứng khoán vốn Cổ phiếu NHTMCP là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của ngân hàng phát hành, là chứng chỉ do ngân hàng phát hành xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của ngân hàng Cổ phiếu có thể ghi tên hay không ghi tên theo quy định của ngân hàng, được quy định trong Điều
lệ của các ngân hàng
Trang 181.1.2 Đặc điểm cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMCP về bản chất là CTCP, do đó cổ phiếu của NHTMCP cũng có đầy đủ các đặc điểm như cổ phiếu của CTCP, ngoài ra có đặc điểm riêng của
cổ phiếu của NHTMCP
1.1.2.1 Đặc điểm giống như cổ phiếu của công ty cổ phần
Giống như cổ phiếu của CTCP, cổ phiếu của NHTMCP có những đặc điểm sau:
Cổ phiếu không có kỳ hạn và không hoàn vốn: cổ phiếu là chứng chỉ
chứng nhận hoặc bút toán ghi sổ xác định phần vốn góp của các cổ đông vào
tổ chức phát hành, những cổ phần tạo nên tổng thể vốn của CTCP Cổ phiếu của NHTMCP cũng vậy, bất cứ NĐT nào dù là tổ chức hay cá nhân khi đã góp vốn mua cổ phần thì đều trở thành cổ đông sở hữu cổ phiếu của NHTMCP Đây là mối quan hệ một chiều, cổ đông chỉ góp vào mà tổ chức phát hành không có trách nhiệm hoàn vốn trong bất kỳ thời hạn nào, nói cách khác là cổ phiếu không có kỳ hạn Cổ phiếu sẽ không tồn tại khi tổ chức phát
hành bị phá sản hoặc giải thể
Cổ phiếu có khả năng sinh lợi, chính là lợi tức có được từ cổ phiếu, gọi
là cổ tức Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của CTCP sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính Các cổ đông khi góp vốn đều chung mục tiêu
kỳ vọng vào lợi nhuận thu được từ việc sở hữu cổ phiếu, đó chính là khoản cổ tức nhận được Cổ tức không ổn định và phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của tổ chức phát hành Khi kết quả kinh doanh tốt thì cổ tức cũng có xu hướng tăng theo và khi sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được, kinh doanh thua lỗ thì cổ tức theo đó cũng bị giảm sút, thậm chí không có cổ tức Cổ tức có thể được trả bằng tiền mặt, bằng chính cổ phần của tổ chức phát hành hoặc bằng tài sản của công ty
Trang 19Cổ phiếu có tính thanh khoản: Tương tự như cổ phiếu của CTCP, cổ
phiếu của NHTMCP là một loại giấy tờ có giá, là một loại tài sản nên có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt Tùy theo từng loại cổ phiếu hiện nắm giữ mà người sở hữu cổ phiếu có quyền chuyển nhượng, giao dịch mua bán, sử dụng làm vật trao đổi ngang giá hoặc hoán đổi nghĩa vụ trên thị trường Các NĐT
có thể mua bán giao dịch trao tay nhanh chóng thông qua các sàn giao dịch, các công ty môi giới hoặc trao đổi, giao dịch trực tiếp với các NĐT nhỏ lẻ trên thị trường Tính thanh khoản của cổ phiếu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình hình cung – cầu của thị trường, tình hình kinh doanh của NHTMCP,
dự báo thị trường, niềm tin của NĐT Qui luật cung cầu chi phối thị trường
cổ phiếu, khi nguồn cung lớn hơn cầu hoặc nhu cầu lớn hơn nguồn cung thực
tế sẽ có hiện tượng dư thừa hoặc thiếu hụt cổ phiếu, ảnh hưởng đến tính thanh khoản nhanh hay chậm của cổ phiếu Loại cổ phiếu mạnh, tốt nhưng dư cung trên thị trường thì cổ phiếu đó cũng gặp hạn chế khi có nhu cầu thanh khoản, ngược lại khi thị trường khan hiếm hàng hóa thì những cổ phiếu kém, thậm chí yếu hơn cũng có thể khớp lệnh dễ dàng Khi nhu cầu của NĐT tăng cao sẽ
dễ dẫn đến giá cổ phiếu tăng hơn giá trị thực tại thời điểm đó, thậm chí tăng
ảo do sự đầu cơ trong thị trưòng, một số NĐT đẩy giá lên cao hoặc đánh tụt xuống thấp thông qua việc sở hữu một phần lớn lượng cổ phiếu trong thị trường Nếu tổ chức phát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, duy trì tỷ lệ chi trả cổ tức cao thì cổ phiếu sẽ có sức hút đối với NĐT, nhờ đó sẽ thực sự
dễ mua bán chuyển nhượng trên thị trường và ngược lại
Cổ phiếu có tính lưu thông: Cổ phiếu của NHTMCP là một loại giấy
tờ có giá, là một loại tài sản nên có thể lưu thông trên thị trường NĐT, người
sở hữu cổ phiếu hoàn toàn có thể sử dụng cổ phiếu phục vụ các mục đích, các giao dịch như cầm cố, thế chấp, tặng cho hoặc để lại thừa kế để thực hiện các
nghĩa vụ tài sản của mình trong giao dịch dân sự cũng như trong kinh doanh
Trang 20Cổ phiếu có tính Tư bản giả: Cổ phiếu được xác định là chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ chứng nhận phần vốn góp của cổ đông tại tổ chức phát hành, chứ không phải là tiền Bản thân cổ phiếu có giá trị lưu thông tương tự như tiền nhưng không mang tính ổn định, mệnh giá của cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu, do đó không phải là tư bản thật Tính tư bản giả thể hiện ở chỗ cổ phiếu có giá trị như tiền Giá trị của cổ phiếu được thể hiện khi được đảm bảo bằng tiền
Cổ phiếu có tính rủi ro: Xuất phát điểm từ khả năng sinh lợi cao nên
tính rủi ro của cổ phiếu là đặc điểm khá rõ nét Thực tế thị trường đã cho thấy giá cổ phiếu có thể rớt thảm hại hoặc tăng tốc đạt đỉnh chỉ trong thời gian ngắn, thậm chí chỉ sau một đêm khi có những biến động tiêu cực hoặc tích cực từ thị trường Mối quan hệ giữa lợi nhuận – rủi ro có tỷ lệ thuận và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như sự phát triển của nền kinh tế, chính sách kinh tế của Chính phủ trong từng giai đoạn, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá ngoại tệ; các yếu tố chủ quan như những biến động về tình hình kinh doanh, nhân sự cấp cao, chỉ số xếp hạng của NHTMCP NĐT chấp thuận rủi ro tăng thêm khi và chỉ khi
kì vọng nguồn lợi tức có tăng thêm
1.1.2.2 Đặc điểm riêng của cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
Ngoài các đặc điểm giống như cổ phiếu thông thường, cổ phiếu NHTMCP còn có các điểm khác biệt là cổ phiếu NHTMCP không được cầm cố tại chính
tổ chức phát hành Cổ phiếu của NHTMCP là một loại giấy tờ có giá nhưng không thể thực hiện cầm cố ở chính tổ chức phát hành ra nó Cầm cố là một hình thức bắt buộc có sự chuyển giao tài sản của bên cầm cố cho bên nhận cầm cố, với bản chất là biện pháp bảm đảm để bên cầm cố thực hiện nghĩa vụ với bên nhận cầm cố khi có sự kiện pháp lý xảy ra liên quan đến thực hiện nghĩa vụ của bên cầm cố Do đó, ngân hàng không thể nhận chính tài sản của mình để đảm bảo cho bên cầm cố được
Trang 211.1.3 Phân loại cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
Cũng như cổ phiếu của CTCP, tuỳ theo tính chất, đặc điểm, hình thức tồn tại cổ phiếu của NHTMCP có nhiều cách phân loại cổ phiếu như sau:
1.1.3.1 Theo hình thức tồn tại của cổ phiếu
Theo hình thức tồn tại của cổ phiếu có thể chia thành cổ phiếu ghi danh
và cổ phiếu không ghi danh
Cổ phiếu ghi danh: là cổ phiếu có ghi tên người sở hữu trên tờ cổ phiếu,
khi chuyển nhượng phải đăng ký tại cơ quan phát hành và phải được sự cho phép của Hội đồng quản trị của công ty
Cổ phiếu không ghi danh: là cổ phiếu không ghi tên người sở hữu Cổ
phiếu này được tự do chuyển nhượng mà không cần thủ tục pháp lý
1.1.3.2 Theo mức độ và tính chất lưu hành
Theo mức độ và tính chất lưu hành có thể chia thành cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đã phát hành, cổ phiếu quỹ, cổ phiếu đang lưu hành
Cổ phiếu được phép phát hành là số lượng cổ phiếu tối đa của một
công ty có thể phát hành từ lúc bắt đầu thành lập cũng như trong suốt quá trình hoạt động Khi cần có sự thay đổi số lượng cổ phiếu được phép phát hành thì phải được đa số cổ đông bỏ phiếu tán thành và phải sửa đổi điều
lệ công ty
Cổ phiếu đã phát hành là cổ phiếu mà công ty được bán ra cho các
NĐT trên thị trường và công ty đã thu về được toàn bộ tiền bán số cổ phiếu
đó, nó nhỏ hơn hoặc tối đa là bằng với số cổ phiếu được phép phát hành
Cổ phiếu quỹ là cổ phiếu đã được giao dịch trên thị trường và được chính tổ
chức phát hành mua lại bằng nguồn vốn của mình Số cổ phiếu này có thể được công ty lưu giữ một thời gian sau đó lại được bán ra; luật pháp một số nước quy định số cổ phiếu này không được bán ra mà phải hủy bỏ Cổ phiếu quỹ không phải là cổ phiếu đang lưu hành, không có vốn đằng sau nó, do đó không được tham gia vào việc chia lợi tức cổ phần và không có quyền tham gia bỏ phiếu
Trang 22Cổ phiếu đang lưu hành là cổ phiếu đã phát hành, hiện đang lưu hành
trên thị trường và do các cổ đông đang nắm giữ Số cổ phiếu đang lưu hành được xác định bằng hiệu số của số cổ phiếu đã phát hành và số cổ phiếu quỹ Trong trường hợp công ty có cả hai loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, người ta sẽ xác định cụ thể cho từng loại một Số cổ phiếu thường đang lưu hành
là căn cứ quan trọng để phân chia lợi tức cổ phần trong công ty [57]
1.1.3.3 Theo quyền lợi người sở h u cổ phiếu
Theo quyền lợi người sở hữu cổ phiếu được hưởng có thể chia thành phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu phổ thông thể hiện đúng tên gọi của nó, là cổ phiếu phổ biến
điển hình nhất mà các NHTMCP thường phát hành Người nắm giữ cổ phiếu phổ thông đại diện cho quyền sở hữu một phần vốn của ngân hàng và được hưởng cổ tức của cổ phiếu tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Về quyền lợi, người nắm giữ cổ phiếu phổ thông được tham gia họp ĐHĐCĐ và được bỏ phiếu biểu quyết những vấn đề quan trọng của ngân hàng, được quyền bầu cử, ứng cử vào Hội đồng quản trị NĐT được hưởng cổ tức nhất định tùy thuộc vào hoạt động kinh doanh, chính sách của ngân hàng và do Hội đồng quản trị quyết định Vì vậy thu nhập mà cổ phiếu phổ thông mang lại là thu nhập không cố định
Cổ phiếu ưu đãi chứa đựng nhiều ưu đãi, lợi thế hơn cổ phiếu thường,
là dạng cổ phiếu có nhiều quyền lợi Tỷ lệ rủi ro của cổ phiếu ưu đãi do đó cũng thấp hơn so với cổ phiếu thường Theo tính chất, hình thức ưu đãi, cổ
phiếu ưu đãi có 3 loại gồm: (i) Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết là cổ phiếu có số
phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu thường Số phiếu biểu quyết của một cổ phiếu sẽ được quy định bởi điều lệ của NHTMCP Chỉ có NHTMCP được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập của ngân hàng mới được sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết; (ii) Cổ phiếu ưu đãi cổ tức thể hiện ở mức chi
Trang 23trả cổ tức sẽ cao hơn mức cổ tức của cổ phiếu thường Phần cổ tức bao gồm
cổ tức cố định và cổ tức thưởng, trong đó phần cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên, người sở hữu cổ phiếu này không được quyền biểu quyết hoặc đề cử người vào Hội đồng quản trị; (iii) Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại có đặc trưng là ưu đãi hoàn lại khi có yêu cầu của người nắm giữ cổ phiếu này trong bất kỳ thời điểm nào hoặc theo các điều kiện ấn định trước đã được công bố trên cổ phiếu Cổ đông có cổ phiếu
ưu đãi hoàn lại cũng có các quyền như cổ đông phổ thông nhưng sẽ không được biểu quyết, dự họp hay đề cử người vào Hội đồng quản trị
1.1.4 Các hình thức phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại
cổ phần
Có nhiều cách để phân loại phát hành cổ phiếu của NHTMCP, tuỳ theo tính chất, đặc điểm, hình thức của đợt phát hành để có thể phân loại theo các cách thức dưới đây:
1.1.4.1 Theo phạm vi phân phối cổ phiếu
Căn cứ theo phạm vi phân phối cổ phiếu có thể phân loại thành phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng (phát hành rộng rãi)
Phát hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán cổ phiếu của
mình trong phạm vi một số khách hàng đặc biệt, phần lớn thường là NĐT có
tổ chức như các công ty bảo hiểm nhân thọ, các quỹ hưu trí, các công ty đầu
tư chứng khoán, các quỹ tín thác đầu tư với những điều kiện hạn chế được tiến hành trong phạm vi hẹp và với số ít NĐT chuyên nghiệp chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng [31, tr.60]
Phát hành ra công chúng hay còn gọi là chào bán cổ phiếu ra công
chúng là việc phát hành trong đó cổ phiếu có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn NĐT nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các NĐT nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức
Trang 24nhất định Luật chứng khoán năm 1993 của Mỹ không có định nghĩa, tuy nhiên, theo Uỷ ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán Mỹ thì “chào bán chứng khoán ra công chúng được hiểu là hoạt động chào bán chứng khoán trong đó tất cả những người được chào bán (offerees) cần được bảo vệ thông qua việc đăng kí chào bán của chủ thể chào bán với cơ quan quản lý chứng khoán” [31, tr.52]
Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo
vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những NĐT nhỏ thiếu hiểu biết Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một TTCK an toàn, công khai và có hiệu quả
1.1.4.2 Theo đợt phát hành cổ phiếu
Căn cứ theo đợt phát hành có thể phân loại thành phát hành lần đầu và phát hành bổ sung
Phát hành lần đầu (initial public offering: IPO) là việc chào bán cổ
phiếu lần đầu tiên ra công chúng, lần đầu tiên huy động vốn rộng rãi từ công chúng bằng cách phát hành các cổ phiếu phổ thông hoặc chuyển nhượng cổ
nhằm tăng vốn chính được gọi là IPO sơ cấp và cổ phần được bán lần đầu từ
số cổ phần hiện hữu được gọi là IPO thứ cấp Việc chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng của ngân hàng thường được thực hiện bởi các ngân hàng thương mại nhà nước tiến hành cổ phần hoá, các TCTD muốn huy động vốn,
mở rộng quy mô kinh doanh hoặc chào bán cổ phiếu ra công chúng để thành lập mới TCTD cổ phần Sau khi phát hành lần đầu, tổ chức phát hành trở thành công ty đại chúng
Trang 25Phát hành bổ sung hay còn gọi là phát hành thêm (seasoned offering)
là hoạt động chào bán chứng khoán mới của công ty đại chúng, được tiến hành sau đợt chào bán lần đầu Khi các ngân hàng đại chúng muốn thực hiện chào bán thêm cổ phần hoặc phát hành quyền mua cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ thì có thể lựa chọn cách thức phát hành thêm để chào bán cổ phiếu để thực hiện nhu cầu của mình
Phát hành gián tiếp là đợt phát hành mà tổ chức phát hành thực hiện
chào bán cổ phiếu đến NĐT mà thông qua tổ chức trung gian để phát hành cổ phiếu đến công chúng Tính chất gián tiếp thể hiện ở chỗ tổ chức phát hành không trực tiếp thực hiện các thủ tục của đợt phát hành mà do tổ chức trung gian thực hiện Tổ chức trung gian thực hiện đợt phát hành là tổ chức thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, có thể là một số các tổ chức cùng thực hiện nếu thương vụ bảo lãnh có giá trị lớn Phát hành gián tiếp có nhược điểm là chi phí cao hơn phát hành trực tiếp, xong tính ưu việt thể hiện
ở chỗ độ rủi ro của đợt phát hành thấp, thời gian huy động và số lượng vốn đạt hiệu quả cao
Trang 261.1.5 Đặc thù của phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng là một chủ thể đặc biệt của nền kinh thế, có vai trò làm nhóm trung gian tài chính trên thị trường, thể hiện ở chức năng cấp vốn, điều tiết vốn cho thị trường và làm trung gian thanh toán, là cầu nối giữa các chủ thể trong nền kinh tế, tác động đến sự phát triển của nền kinh tế Hoạt động của ngân hàng được quản lý, kiểm soát chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước để đảm bảo chỉ số an toàn cho nền kinh tế và hệ thống tài chính tiền tệ của quốc gia
Trong hoạt động kinh doanh thông thường của mình, ngân hàng thương mại thực hiện các nghiệp vụ chính gồm huy động nguồn, cho vay, nghiệp vụ trung gian thanh toán Huy động vốn là một nghiệp vụ kinh doanh cơ bản của ngân hàng, thông qua các hình thức nhận tiền gửi của dân cư, tổ chức, từ thị trường liên ngân hàng, phát hành các giấy tờ có giá …), ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để thực hiện nghiệp vụ cho vay hưởng chênh lệch lãi suất Đây chính là hoạt động kinh doanh tiền tệ
Hoạt động phát hành cổ phiếu của NHTMCP cũng là một hình thức huy động vốn, nhằm làm tăng vốn điều lệ, về bản chất là chuyển giao quyền
sở hữu cổ phần từ ngân hàng sang NĐT, thay đổi cơ cấu cổ đông, thay đổi số lượng cổ đông, pha loãng giá trị cổ phiếu v.v…; những thay đổi này có khả năng dẫn đến những thay đổi về quyền quản trị ngân hàng, giá trị doanh nghiệp, giá trị cổ phiếu hiện cổ đông nắm giữ, giá cổ phiếu trên thị trường …
Sự khác biệt trong phát hành cổ phiếu của NHTMCP thể hiện ở những đặc thù sau:
Thứ nhất, mục đích phát hành cổ phiếu của CTCP và NHTMCP đều nhằm tăng quy mô vốn điều lệ của tổ chức phát hành, khác với CTCP thông thường là nguồn vốn huy động được chuyển vào lưu thông, đầu tư mua sắm hàng hoá, máy móc thiết bị …phục vụ sản xuất kinh doanh của công ty, ngân hàng là đơn vị kinh doanh tiền tệ nên nguồn vốn huy động được từ đợt
Trang 27phát hành sẽ được đưa vào phục vụ các mục tiêu kinh doanh tiền tệ của ngân hàng Tăng trưởng quy mô vốn của ngân hàng phải gắn với đảm bảo chỉ số rủi ro trong giới hạn nhất định để đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD Hệ số chi phối đến quy mô vốn mà ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt trong hoạt động của mình là hệ số an toàn vốn (CAR) Hiện nay, chuẩn Basel II đang được áp dụng đối với các ngân hàng tại Việt Nam có hệ số an toàn vốn CAR theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ
lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng hàng nước ngoài là 9%, con số này sẽ được giảm xuống còn 8% nhưng
bổ sung yêu cầu vốn cho rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động bên cạnh yêu cầu vốn đối với rủi ro tín dụng vào năm 2020 theo lộ trình Thông tư 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định
Thứ hai, hoạt động ngân hàng là hoạt động đặc thù chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước nên phải có sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này khi phát hành cổ phần Thay đổi về vốn điều lệ là một nội dung quan trọng bắt buộc phải báo cáo để cơ quan quản lý nhà nước nắm được và có sự chỉ đạo, điều hành phù hợp
Thứ ba, NĐT tham gia góp vốn mua cổ phần để trở thành cổ đông của
tổ chức phát hành với mục tiêu tìm kiếm lợi tức và giành quyền quản trị doanh nghiệp Đối với NHTMCP, cơ cấu cổ đông được quy định đặc thù để đảm bảo an toàn hoạt động của các ngân hàng, tùy theo mô hình quản trị để
ấn định cơ cấu cổ đông trong công ty Thông thường dễ dàng nhận ra cơ cấu
cổ đông ở giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông chiến lược, cổ đông lớn…như tỷ lệ sở hữu của nhà nước (trong trường hợp NHTMCP do nhà nước nắm quyền chi phối), tỷ lệ sở hữu của NĐT trong nước (gồm tổ chức, cá nhân), tỷ lệ sở hữu của NĐTNN (gồm tổ chức, cá nhân), của người lao động
Trang 28trong doanh nghiệp Việc quy định về cơ cấu cổ đông liên quan đến tỷ lệ phân phối cổ phiếu khi phát hành của NHTMCP và có giới hạn cụ thể khi ngân hàng thực hiện hoạt động chào bán
1.2 Khái niệm, nguyên tắc điều chỉnh, cấu trúc pháp luật phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
1.2.1 Khái niệm pháp luật phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
Pháp luật phát hành cổ phiếu của NHTMCP là tổng hợp các qui phạm pháp luật, điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình phát hành cổ phiếu của NHTMCP
Pháp luật phát hành cổ phiếu của NHTMCP bao gồm các qui phạm pháp luật được Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, về cơ bản chứa đựng các quy định về địa vị pháp lý của chủ thể phát hành, của NĐT và các chủ thể khác tham gia vào quá trình phát hành, quy định các điều kiện, hồ sơ cấp phép phát hành, trình tự thủ tục phát hành, công bố thông tin liên quan đến đợt phát hành và quản lý nhà nước đối với hoạt động phát hành cổ phiếu của NHTMCP
1.2.2 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
Pháp luật phát hành cổ phiếu ra đời và phát triển là một hiện tượng xã hội hiện thực, khách quan, theo thực tiễn phát triển kinh tế xã hội Sự ra đời của pháp luật phát hành cổ phiếu là tất yếu của giai đoạn phát triển loại hình CTCP cũng như pháp luật quy định về các loại hình doanh nghiệp, sự phát triển của chứng khoán và TTCK Để quản lý các hoạt động trong lĩnh vực phát hành cổ phiếu của NHTMCP nói riêng và phát hành chứng khoán nói chung, nhà nước cần ban hành các quy định để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh và liên quan đến toàn bộ hoạt động phát hành
Các quan hệ trong quá trình phát hành cổ phiếu của NHTMCP phát
Trang 29sinh, phát triển, biến đổi phụ thuộc vào các quy luật khách quan, quy luật cung cầu của thị trường; pháp luật không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ mà chỉ điều chỉnh, sắp xếp theo trật tự, bảo vệ quan hệ và hướng các quan hệ này vận động, phát triển phù hợp với ý chí của Nhà nước, theo những định hướng quản lý của Nhà nước Như vậy, điều chỉnh pháp luật phát hành cổ phiếu của NHTMCP là “quá trình tác động có định hướng, có mục đích của pháp luật (với tư cách là công cụ điều chỉnh)” [32, tr.233] lên các quan hệ phát sinh trong quá trình phát hành cổ phiếu của NHTMCP nhằm sắp xếp chúng cho có trật tự, bảo vệ chúng và hướng chúng phát triển theo định hướng đem lại lợi ích cho nhà nước và xã hội,
mà cụ thể là những lợi ích cho nền tài chính tiền tệ quốc gia, cho các chủ thể tham gia quan hệ và cho sự phát triển ổn định, an toàn và bền vững cho TTCK Xuất phát từ những điểm đặc thù của pháp luật phát hành cổ phiếu của NHTMCP, để đảm bảo hiệu quả điều chỉnh pháp luật, nguyên tắc điều chỉnh pháp luật phát hành cổ phiếu của NHTMCP bao gồm những nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của chủ thể phát
hành Ngân hàng phát hành có quyền tự do kinh doanh và phải được đảm bảo quyền tự do kinh doanh theo khuông khổ pháp luật NHTMCP được tự chủ trong quá trình huy động vốn bằng con đường phát hành cổ phần, tự quyết các nội dung cơ bản trong hoạt động phát hành cổ phần, quyết định lựa chọn hình thức phát hành, thời gian phát hành, phương thức phân phối cổ phiếu, quyết định phương án và kế hoạch sử dụng số tiền thu được từ đợt phát hành, trên
cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật về phát hành cổ phiếu và các quy định pháp luật khác có liên quan
Hai là, nguyên tắc đảm bảo vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động
Trang 30phát hành của NHTMCP Để đợt phát hành thành công, đem lại lợi ích cho chủ thể phát hành cũng như sự phát triển của nền kinh tế, sự an toàn và bền vững cho TTCK đòi hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó có vai trò quản lý Nhà nước Đối với hoạt động phát hành của NHTMCP, do NHTMCP là định chế tài chính đặc thù nên hoạt động phát hành của ngân hàng còn chịu sự quản lý của NHNN Các hoạt động phát hành từ khâu quản lý cấp giấy phép phát hành, quản lý thông tin phát hành, phân phối chứng khoán, đăng ký quyền sở hữu… được đảm bảo thông suốt, đúng quy định cho đến việc xử lý những hành vi vi phạm trong hoạt động phát hành một cách công minh thì vai trò quản lý, kiểm soát của Nhà nước là rất quan trọng
Ba là, nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư
Quan hệ phát sinh giữa NĐT và ngân hàng phát hành là một dạng quan hệ pháp
lý đặc biệt, được pháp luật quy định những quyền, lợi ích và tương ứng với nó
là những nghĩa vụ nhất định, pháp luật có cơ chế để đảm bảo cho các quyền và lợi ích của NĐT được thực hiện Nếu những quyền và lợi ích này không được pháp luật đảm bảo thì NĐT sẽ không lựa chọn kênh đầu tư này trong hoạt động đầu tư của mình Vị thế của NĐT là yếu thế trong quan hệ phát hành với NHTMCP và là đối tượng dễ chịu rủi ro trong hoạt động đầu tư nếu có những hành vi công bố thông tin sai sự thật, mua bán nội gián, làm giá…
Bốn là, nguyên tắc đảm bảo hoạt động phát hành cổ phiếu công khai,
công bằng và minh bạch Các tổ chức phát hành có nghĩa vụ công bố thông tin một cách trung thực, đầy đủ, thực hiện các chế độ báo cáo theo quy định Các thông tin mà NHTMCP có nghĩa vụ công bố phải phản ánh đầy đủ và toàn diện về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, các chỉ số quan trọng và các thông tin khác có liên quan phục vụ cho đợt phát hành; công khai trên các kênh thông tin đảm bảo mọi NĐT đều có khả năng tiếp cận
Trang 31NĐT quyết định đầu tư dựa trên những đánh giá, phân tích thông tin mà chủ thể phát hành đưa ra, hiệu quả đầu tư phụ thuộc vào nội dung thông tin mà NĐT tiếp cận Do đó, nếu thông tin thiếu minh bạch, không đầy đủ hoặc còn mập mờ thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư, có nguy cơ tạo ra những tổn thất cho NĐT và cho thị trường Địa vị pháp lý của các chủ thể, các NĐT được đảm bảo công bằng trong hoạt động phát hành, không có sự phân biệt đối xử…; khi có hành vi vi phạm, mọi chủ thể đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật
1.2.3 Cấu trúc pháp luật phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
Hiện nay, hoạt động phát hành cổ phiếu của NHTMCP được xem như một hoạt động đơn thuần của CTCP để huy động vốn, tăng vốn điều lệ phục
vụ mục tiêu kinh doanh, không có luật điều chỉnh riêng cho hoạt động này Các văn bản pháp luật quy định về lĩnh vực này nằm rải rác ở các Luật, văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư và hướng dẫn của các cơ quan quản lý nhà nước và đặc biệt có sự giao thoa của các quy định pháp luật ngân hàng với pháp luật chứng khoán và TTCK Hoạt động ngân hàng là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, hoạt động đặc thù, chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi các qui phạm pháp luật điều chỉnh đối với doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện, do đó, hoạt động phát hành cổ phiếu của NHTMCP cũng chịu sự điều chỉnh của các qui phạm này, từ quy định về phát hành cổ phiếu để thành lập mới TCTD cổ phần, vốn pháp định, tăng giảm vốn điều lệ, cơ chế phát hành, chế độ báo cáo, công bố thông tin cho đến những quy định liên quan đến NĐT, cơ cấu cổ đông, tỷ lệ sở hữu của cổ đông v.v…
Cũng như các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law như Pháp, Đức, Italy, cấu trúc pháp luật về phát hành cổ phiếu của NHTMCP ở Việt Nam bao gồm các bộ phận hợp thành như sau:
Trang 32Một là, nhóm các qui phạm pháp luật quy định trình tự thủ tục phát
hành cổ phiếu ra công chúng, phát hành cổ phiếu riêng lẻ của CTCP nói chung và NHTMCP nói riêng; quan hệ phát sinh trong quá trình phát hành, công bố thông tin, giám sát trên TTCK;
Hai là, nhóm các qui phạm pháp luật quy định địa vị pháp lý của chủ thể
phát hành, NĐT và các chủ thể khác liên quan đến hoạt động phát hành của NHTMCP;
Ba là, nhóm các qui phạm pháp luật quy định về quản lý phát hành,
công tác báo cáo, quản lý nhà nước, xử lý hành vi vi phạm trong quá trình phát hành cổ phiếu
Các qui phạm quy định về địa vị pháp lý của chủ thể phát hành, NĐT
và các chủ thể khác liên quan đến hoạt động phát hành của NHTMCP chủ yếu
là qui phạm mang tính trao quyền nhiều, thể hiện ý chí của các chủ thể khi tham gia phát hành chứng khoán, đầu tư chứng khoán, hoạt động bảo lãnh phát hành, hoạt động tư vấn nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh của NHTMCP cũng như NĐT, các công ty môi giới, công ty tư vấn; song vẫn có
sự can thiệp, điều chỉnh của Nhà nước thông qua các qui phạm mang tính mệnh lệnh, phục tùng để đảm bảo an toàn hoạt động phát hành và bảo vệ quyền và lợi ích cho NĐT
Các qui phạm quy định trình tự thủ tục phát hành cổ phiếu ra công chúng, phát hành cổ phiếu riêng lẻ, quan hệ phát sinh trong quá trình phát hành, công bố thông tin, giám sát trên TTCK rất quan trọng Các qui phạm này chính là cơ sở để các chủ thể tiến hành hoạt động phát hành và cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát, đảm bảo đưa vào lưu thông trên thị trường một lượng hàng hoá chất lượng và ổn định, đem cơ hội đầu tư cổ phiếu đến tay NĐT, đồng thời đem lại kết quả cho đợt gọi vốn của chủ thể phát hành
Ở nước ta hiện nay Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán có sự
Trang 33đan xen điều chỉnh về hoạt động phát hành cổ phiếu của NHTMCP Cùng là hoạt động phát hành cổ phiếu riêng lẻ, nhưng nếu tổ chức phát hành chưa là công ty đại chúng thì pháp luật về CTCP điều chỉnh, chủ yếu là Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đối với phát hành riêng lẻ của công ty đại chúng và phát hành ra công chúng thì đồng thời do pháp luật
về chứng khoán điều chỉnh, bao gồm Luật chứng khoán 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán 2012, Luật Doanh nghiệp (thủ tục đăng ký thay đổi vốn điều lệ tại cơ quan đăng ký kinh doanh) các văn bản hướng dẫn thi hành
Ngoài ra, với đặc thù là một định chế tài chính, toàn bộ hoạt động phát hành cổ phiếu của NHTMCP không phân biệt hình thức phát hành đề chịu sự điều chỉnh của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, cụ thể như Luật NHNN, Luật các TCTD, Luật thuế, các Nghị định, Thông tư quy định về tổ chức và hoạt động của NHTM, các quy định về chế độ thông tin, báo cáo và giám sát trong hoạt động tài chính tín dụng…
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Pháp luật về phát hành cổ phiếu của NHTMCP là một bộ phận pháp luật của chứng khoán và TTCK, qua đó Nhà nước quản lý điều hành hoạt động và điều chỉnh mọi quan hệ phát sinh trong quá trình phát hành cổ phiếu của NHTMCP Đây là hoạt động mang tính nhạy cảm, nhiều rủi ro và phức tạp Với nền kinh tế đang hội nhập sâu rộng như ở Việt Nam thì đòi hỏi pháp luật về phát hành cổ phiếu phải đảm bảo được khuôn khổ và duy trì môi trường đầu tư được an toàn, lành mạnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NĐT, phát triển thị trường bền vững và quản lý hiệu quả của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này Hoàn thiện pháp luật về phát hành cổ phiếu của NHTMCP ở Việt Nam là quan trọng và cần chú trọng đưa các giải pháp để kiểm soát hoạt động phát hành được minh bạch, hiệu quả Ở chương 1 Luận văn đã nghiên cứu, làm sáng tỏ được các vấn đề lý luận khái quát về cổ phiếu cũng như cơ sở lý luận pháp luật về phát hành cổ phiếu của NHTMCP Trên
cơ sở những vấn đề đã được nghiên cứu ở chương 1, chương 2 sẽ tiến hành xem xét một cách toàn diện và đánh giá thực trạng pháp luật hiện nay của nước ta, thông qua những tồn tại, bất cập và vướng mắc trong quá trình phát hành cổ phiếu của NHTMCP để đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật ở chương 3
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
2.1 Thẩm quyền quyết định phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh đặc thù nên hiện tại có nhiều cơ quan
có thẩm quyền quản lý đối với lĩnh vực này như cơ quan đăng ký kinh doanh, NHNN, UBCKNN, Bộ Tài chính mỗi cơ quan theo chức năng nhiệm vụ của mình đều thiết lập quy định điều chỉnh hoạt động của ngân hàng Việc quy định cơ quan nào có thẩm quyền quyết định phát hành cổ phiếu của NHMTCP có ý nghĩa hết sức quan trọng, yêu cầu đặt ra là việc quy định thẩm quyền quyết định phát hành đối với NHTMCP không bị chồng chéo “một cổ nhiều tròng” mà vẫn đảm bảo thông thoáng, hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với hoạt động phát hành của loại hình doanh nghiệp như NHTMCP
Theo quy định pháp luật hiện hành ở nước ta, thẩm quyền quyết định phát hành cổ phiếu của NHTMCP quy định như sau:
Đối với phát hành riêng lẻ của tổ chức chưa là công ty đại chúng: Trước
khi Nghị định 60/2015/NĐ-CP có hiệu lực, việc quản lý chào bán cổ phiếu riêng
lẻ của NHTMCP thuộc thẩm quyền của NHNN theo Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán Nghị định có quy định về chào bán riêng lẻ, theo đó, TCTD không phải là công ty đại chúng chào bán cổ phiếu riêng lẻ thuộc thẩm quyền quản lý của NHNN (Điểm b, Khoản 1 Điều 8) Khoản 2 Điều 8 Nghị định này quy định NHNN có trách nhiệm trong việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu riêng lẻ, thực hiện giám sát hoạt động chào bán cổ phiếu
Trang 36riêng lẻ và xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm quy định về chào bán
cổ phiếu riêng lẻ
Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 58/2012/NĐ-CP đã bãi
bỏ toàn bộ Điều 8 Nghị định 58/2012/NĐ-CP, song việc phát hành cổ phần riêng lẻ của ngân hàng sẽ làm thay đổi vốn điều lệ, do đó, NHTMCP chưa là công ty đại chúng vẫn phải thực hiện thủ tục xin chấp thuận bằng văn bản của NHNN Việt Nam trước khi thực hiện thông báo nội dung này cho cơ quan đăng ký kinh doanh (Điều 129 Luật các TCTD 2010)
Như vậy, việc phát hành riêng lẻ của ngân hàng chưa đại chúng chỉ thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp (thực hiện thông báo nội dung điều chỉnh về vốn điều lệ cho cơ quan đăng ký kinh doanh) và thủ tục xin chấp thuận tăng vốn điều lệ với NHNN theo quy định của Luật các TCTD
Việc bãi bỏ này là phù hợp với tính chất của đợt phát hành (là riêng lẻ, nhỏ gọn) và quy mô của tổ chức phát hành chưa là công ty đại chúng, loại bỏ những trình tự thủ tục mang tính hình thức không cần thiết đối với phạm vi phát hành có giới hạn hẹp như phát hành riêng lẻ
Đối với phát hành riêng lẻ của tổ chức là công ty đại chúng và phát hành ra công chúng: Thẩm quyền quyết định phát hành của NHTMCP thuộc
về UBCKNN
Điểm a, Khoản 1 Điều 8 Luật Chứng khoán 2006 quy định: UBCKNN
có nhiệm vụ, quyền hạn “cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; chấp nhận những thay đổi liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán” Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 6 Nghị định 58/2012/NĐ-CP quy định về thủ tục chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng là “Tổ chức phát hành gửi hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu riêng lẻ tới UBCKNN” Thông tư 162/2015/TT-BTC hướng dẫn việc chào bán chứng
Trang 37khoán ra công chúng quy định tại Điều 19, Điều 20 thẩm quyền tiếp nhận hồ
sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng là UBCKNN
Sau khi tiếp nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, trong thời gian 15 ngày đối với phát hành riêng lẻ và 30 ngày đối với phát hành ra công chúng, UBCKNN xem xét và cấp giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, trường hợp từ chối, UBCKNN có văn bản trả lời và nêu rõ lý do Chỉ sau khi được cấp giấy chứng nhận, NHTMCP mới được thực hiện các thủ tục công bố và phân phối cổ phiếu
Trước đây trong hồ sơ chào bán cổ phiếu ra công chúng của NHTMCP
là “hồ sơ phải có văn bản chấp thuận của Ngân hàng nhà nước Việt Nam” (Điều
14 Luật Chứng khoán 2006) Song theo Nghị quyết 60/NQ-CP năm 2010 về đơn giản hoá thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý đã bãi bỏ thủ tục số 35 về chấp thuận cho NHTMCP được đăng ký phát hành cổ phiếu ra công chúng (B-NHA-106329-TT), Thông tư 22/2012/TT-NHNN ngày 13/9/2012 của NHNN lúc này chỉ còn hướng dẫn thủ tục chấp thuận của NHNN Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên TTCK trong nước và nước ngoài của TCTD cổ phần Đây là khoản sửa đổi phù hợp, giảm được những giấy tờ thủ tục mành tính hành chính, về thực chất việc tăng vốn của ngân hàng đều phải nằm trong kế hoạch theo lộ trình phát triển kinh doanh của ngân hàng được NHNN chấp thuận
Qua nghiên cứu về thẩm quyền quyết định phát hành cổ phần của NHTMCP cho thấy, pháp luật nước ta đã có những điều chỉnh kịp thời và phù hợp hơn để giảm bớt những thủ tục mang tính hình thức và thẩm quyền tập trung tại UBCKNN giúp cho hoạt động quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK được tập trung, chuyên biệt Do tính chất đặc thù phát hành cổ phần của NHTMCP mà hiện việc quản lý nhà nước về vốn điều lệ của ngân hàng phát hành vẫn thực hiện báo cáo NHNN Thực tế cho thấy, quá trình hội nhập TTCK trong khu vực và thế giới của các NHTMCP đang diễn ra mạnh mẽ
Trang 38trong những năm gần đây, sự thay đổi về mặt thực tiễn đòi hỏi quản lý nhà nước về hoạt động phát hành của NHTMCP phải từng bước được nâng lên, trao quyền nhiều hơn cho cơ quan chuyên trách để đảm bảo độc lập trong quản lý phát hành
2.2 Mục đích, điều kiện, trình tự thủ tục phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
2.2.1 Mục đích phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
Phát hành cổ phiếu đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTMCP, thông qua hoạt động phát hành, ngân hàng không những giải quyết được nhu cầu về vốn mà còn đạt được các mục tiêu phát triển khác của ngân hàng
Các mục đích phát hành cổ phiếu của ngân hàng cơ bản gồm:
Một là, phát hành cổ phiếu nhằm mục đích tăng vốn điều lệ, tăng quy
mô vốn kinh doanh và đảm bảo các chỉ số an toàn theo đặc thù của ngành ngân hàng; trong một số trường hợp còn đảm bảo duy trì cơ cấu tài sản, cơ cấu vốn theo quy định và/hoặc theo chỉ đạo của NHNN
Hai là, huy động vốn bằng phát hành cổ phần nhằm tiết kiệm chi phí
khi tiếp cận vốn, thay vì phải phụ thuộc và phải chi trả những khoản lãi suất khi đi vay các tổ chức tín dụng, định chế tài chính khác
Ba là, khi phát hành ra công chúng, mục đích của ngân hàng còn nhằm
nâng cao uy tín, quảng bá hình ảnh của ngân hàng đến với công chúng, góp phần tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng,
Bốn là, phát hành ra công chúng là điều kiện, là cơ sở để ngân hàng trở
thành công ty đại chúng, tham gia niêm yết trên thị trường tập trung, thực hiện công khai, minh bạch hoá hoạt động để tạo đà cho sự phát triển lớn mạnh của tổ chức phát hành
2.2.2 Điều kiện phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMCP là loại hình CTCP cho nên hoạt động phát hành cổ phiếu của
Trang 39NHTMCP phải tuân thủ điều kiện của Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán
và các quy định của NHNN Việt Nam Nghị định 58/2012/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán về điều kiện phát hành cổ phiếu, thì trong các trường hợp phát hành cổ phiếu để thành lập TCTD là NHTMCP (phát hành lần đầu để tạo vốn) và phát hành bổ sung (phát hành để tăng vốn) thì không
có sự khác biệt
Theo quy định tại Điều 12 Luật Chứng khoán 2006, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán 2010, các điều kiện gồm: (i) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; (ii) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán; (iii) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được ĐHĐCĐ thông qua; (iv) Công ty đại chúng đăng ký chào bán chứng khoán
ra công chúng phải cam kết đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường
có tổ chức trong thời hạn một năm, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán được ĐHĐCĐ thông qua
Trên cơ sở các điều kiện cơ bản như đối với CTCP, NHTMCP khi phát hành cổ phiếu phải đảm bảo đủ các điều kiện sau:
Một là, có tổ chức phát hành uy tín đứng ra cam kết bảo lãnh
Hai là, có cơ cấu quản trị NHTMCP hợp lý và hiệu quả, bảo vệ quyền
lợi của NĐT
Ba là, báo cáo tài chính, bản cáo bạch và các tài liệu cung cấp thông tin
phải có độ tin cậy cao và có sự xác nhận của tổ chức kiểm toán có uy tín
Bốn là, các nhà quản lý công ty có kinh nghiệm, năng lực và tinh thần
trách nhiệm cao
Năm là, có phương án sử dụng vốn sau đợt phát hành một cách khả thi
Trang 40Sáu là, phải có tỉ lệ cổ phiếu nhất định bán cho số lượng NĐT nhất định Bảy là, các sáng lập viên của NHTMCP phải cam kết nắm giữ một tỉ lệ
vốn cổ phần của ngân hàng trong một thời gian được ấn định
Đối với hoạt động phát hành riêng lẻ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán 2010 (Điều 10a) và Nghị định 58/2012/NĐ-CP (Điều 4) quy định ít khắt khe hơn so với phát hành cổ phiếu ra công chúng, song có các quy định đặc thù, đặc biệt là với NHTMCP là công ty đại chúng
Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ của NHTMCP không phải là công
ty đại chúng được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật có liên quan, trong đó bắt buộc: (i) Có quyết định của ĐHĐCĐ thông qua phương án chào bán cổ phiếu riêng lẻ và phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán; (ii) Đáp ứng các điều kiện khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành trong trường hợp tổ chức phát hành là doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (Điều 4 Nghị định 58/2012/NĐ-CP)
Đối với NHTMCP là công ty đại chúng khi phát hành riêng lẻ phải đủ các điều kiện: (i) Có quyết định của ĐHĐCĐ hoặc Hội đồng quản trị thông qua phương án chào bán và sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán; xác định rõ đối tượng, số lượng NĐT; (ii) Việc chuyển nhượng cổ phần, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ bị hạn chế tối thiểu một năm, kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán, trừ trường hợp chào bán riêng lẻ theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty, chuyển nhượng chứng khoán đã chào bán của cá nhân cho NĐT chứng khoán chuyên nghiệp, chuyển nhượng chứng khoán giữa các NĐT chứng khoán chuyên nghiệp, theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật; (iii) Các đợt chào bán cổ phần hoặc trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ phải cách nhau ít nhất sáu tháng (Điều 4 Nghị định 58/2012/NĐ-CP, Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán 2010)