Vì vậy, nhiệm vụ của luận văn này là thực hiện công việc nghiên cứu đó một cách sâu sắc hơn để mang lại cho người đọc một cái nhìn tổng quát về quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN LÊ TRÂM
PHÂN BIỆT GIỮA QUYỀN HƯỞNG DỤNG (QUYỀN DỤNG ÍCH) VỚI QUYỀN SỬ DỤNG, QUYỀN NGỤ CƯ VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐỐI VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN LÊ TRÂM
PHÂN BIỆT GIỮA QUYỀN HƯỞNG DỤNG (QUYỀN DỤNG ÍCH) VỚI QUYỀN SỬ DỤNG, QUYỀN NGỤ CƯ VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐỐI VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM
HÀ NỘI - 2018
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Sắc luật số 028 TT/SLU ngày 20 tháng chạp năm 1972 Dân Luật Sài Gòn
năm 1972
Bộ luật dân sự được Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 8, thông qua
ngày 28 tháng 10 năm 1995
BLDS 1995
Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 được Quốc hội nước
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ
họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005
BLDS 2005
Bộ luật dân sự số 91/2015/QH 13 được Quốc hội nước
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ
họp thứ 10 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015
BLDS 2015
Bộ luật dân sự Đức năm 2002 được sửa đổi năm 2007 BLDS Đức
Bộ luật dân sự Liên Bang Nga 1994 (được sửa đổi) BLDS Nga
Luật Đất đai số 45/2013/QH13 Luật Đất đai
Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 Luật Hôn nhân và
Gia đình
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬT QUYỀN VÀ QUYỀN HƯỞNG DỤNG TRONG TƯƠNG QUAN SO SÁNH VỚI QUYỀN SỬ DỤNG VÀ QUYỀN
NGỤ CƯ 7
1.1 Lý luận chung về vật quyền 7
1.1.1 Khái niệm vật quyền theo pháp luật một số nước trên thế giới 7
1.1.2 Khái niệm vật quyền trong pháp luật Việt Nam 12
1.2 Lý luận chung về quyền hưởng dụng 19
1.2.1 Khái niệm quyền hưởng dụng 19
1.2.2 Ý nghĩa của quyền hưởng dụng trong hệ thống vật quyền 21
1.2.3 Đặc điểm pháp lý của quyền hưởng dụng 22
1.2.4 Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng 26
1.2.5 Hiệu lực của quyền hưởng dụng 27
1.2.6 Chấm dứt quyền hưởng dụng 31
1.3 Lịch sử hình thành chế định quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam 34
1.3.1 Quyền hưởng dụng trong các bộ dân luật trước năm 1975 34
1.3.2 Quyền hưởng dụng trong BLDS 1995, BLDS 2005 và BLDS 2015 38 1.4 Phân biệt quyền hưởng dụng với quyền sử dụng và quyền ngụ cư theo pháp luật các nước và pháp luật Việt Nam trước năm 1975 39
1.4.1 Khái niệm quyền sử dụng, quyền ngụ cư theo pháp luật các nước 39
1.4.2 Đặc điểm chung của quyền hưởng dụng, quyền sử dụng và quyền ngụ cư (quyền cư dụng) theo pháp luật các nước trên thế giới 42
1.4.3 Điểm khác biệt giữa quyền hưởng dụng so với quyền sử dụng và quyền ngụ cư (quyền cư dụng) theo pháp luật các nước 44
1.4.4 Phân biệt quyền hưởng dụng với quyền sử dụng và quyền ngụ cư trong các bộ dân luật trước năm 1975 47
Chương 2: QUYỀN HƯỞNG DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH TRONG TƯƠNG QUAN SO SÁNH VỚI QUYỀN SỬ DỤNG VÀ QUYỀN NGỤ CƯ 52
Trang 62.1 Quyền hưởng dụng trong BLDS 2015 52
2.1.1 Khái niệm quyền hưởng dụng 52
2.1.2 Ý nghĩa quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam hiện hành 53
2.2 Phân biệt quyền hưởng dụng với quyền sử dụng và quyền ngụ cư theo pháp luật Việt Nam hiện hành 54
2.3 Đặc điểm pháp lý của quyền hưởng dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành 62
2.3.1 Quyền hưởng dụng là một vật quyền có tính tạm thời 62
2.3.2 Quyền hưởng dụng là một quyền phái sinh từ quyền sở hữu và vì vậy luôn mang tính không đầy đủ, không trọn vẹn 64
2.3.3 Quyền hưởng dụng mang tính bảo toàn với giá trị của vật là đối tượng của quyền 64
2.4 Xác lập quyền hưởng dụng theo quy định tại BLDS 2015 65
2.5 Hiệu lực của quyền hưởng dụng theo quy định của BLDS 2015 68
2.5.1.Vị trí của người hưởng dụng và chủ sở hữu tài sản trong thời gian hiệu lực của quyền hưởng dụng 68
2.5.2 Quyền và nghĩa vụ của người hưởng dụng 69
2.6 Chấm dứt quyền hưởng dụng theo quy định tại BLDS 2015 72
2.6.1 Thời hạn của quyền hưởng dụng đã hết 72
2.6.2 Theo thỏa thuận của các bên 72
2.6.3 Tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng không còn 73
2.6.4 Theo quyết định của tòa án và căn cứ khác theo quy định của luật 74 Chương 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI CHẾ ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN HƯỞNG DỤNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 76
3.1 Những ưu điểm của BLDS 2015 đối với chế định liên quan đến quyền hưởng dụng 76
3 2 Những hạn chế pháp lý của BLDS 2015 đối với chế định liên quan đến quyền hưởng dụng 78
3.3 Phương hướng hoàn thiện chế định liên quan đến quyền hưởng dụng của BLDS 2015 85
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 72015 là một bước tiến mới nhằm góp phần vào việc tạo lập ra một khung pháp
lý rõ ràng hơn phục vụ tích cực cho các giao lưu dân sự ngày càng phát triển của xã hội hiện đại Khái niệm quyền hưởng dụng tại BLDS 2015 là một khái niệm pháp lý hoàn toàn mới so với BLDS 2005 tuy nhiên, quyền hưởng dụng quy định tại BLDS 2015 vẫn chưa thực sự hoàn thiện dẫn đến nhiều khó khăn trong việc hiểu rõ khái niệm quyền hưởng dụng và sự khác biệt cơ bản giữa quyền hưởng dụng với các vật quyền khác như quyền sử dụng và quyền ngụ
cư (quyền cư dụng) và vì vậy dẫn đến những vướng mắc khi áp dụng pháp luật Chính vì lẽ đó, việc tìm hiểu kỹ lưỡng về quyền hưởng dụng trong hệ thống vật quyền của các nước Châu Âu lục địa và trong lịch sử phát triển pháp luật dân sự của Việt Nam từ trước đến nay, từ đó phân tích được sự khác biệt cơ bản cũng như những đặc điểm chung giữa quyền hưởng dụng với những vật quyền khác như quyền sử dụng và quyền ngụ cư là một việc làm cần thiết và hữu ích
Trong phạm vi luận văn này, em xin được trình bày những phân tích của mình nhằm phân biệt giữa quyền hưởng dụng (quyền dụng ích) với quyền sử dụng và quyền ngụ cư, là các vật quyền có một số tính chất tương đồng nhưng
Trang 82
cũng có rất nhiều điểm khác biệt để có thể đánh giá được bản chất, các đặc điểm, các căn cứ phát sinh cũng như những đặc điểm chung của các vật quyền này và từ đó đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện chế định liên quan đến quyền hưởng dụng của BLDS 2015
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói quyền hưởng dụng là một vấn đề vẫn còn mang tính mới tính đến thời điểm hiện nay và trên thực tế chưa có các công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này ở mức độ luận án tiến sĩ mặc dù ở mức độ luận văn thạc sĩ đã có tác giả duy nhất đó là Đào Thị Tú Uyên nghiên cứu đề tài
“Quyền hưởng dụng theo BLDS 2015” trong năm 2017 theo đó tác giả đã
mang đến một cái nhìn tổng quan về quyền hưởng dụng theo pháp luật một số nước và pháp luật Việt Nam cũng như ý nghĩa của quyền hưởng dụng Ngoài
ra vấn đề này đã được thảo luận rải rác trong luận văn thạc sĩ, những bài tham luận cũng như một số buổi tọa đàm để bàn bạc, thảo luận về quyền hưởng dụng như:
- Luận văn thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật Dân sự của Thạc sĩ Ngô Thùy Dương về Hệ thống Vật quyền trong BLDS 2015;
- Bài viết Tổng Luận về Chế Định Tài Sản trong Dự Thảo BLDS 2005 sửa đổi của PGS.TS Ngô Huy Cương, Khoa Luật, Đại Học Quốc Gia Hà Nội;
- Bài viết của PGS TS Phùng Trung Tập về Quyền Hưởng Dụng và Quyền Bề Mặt đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 15 (319) Kỳ 1, tháng 8 năm 2016;
- Tài liệu cho buổi Tọa Đàm Giới Thiệu BLDS 2015 do Bộ Tư Pháp và
Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Nhật Bản JICA tổ chức ngày 17 tháng 6 năm 2016;
- Bài viết Những Sai Lầm Khi Xây Dựng Chế Định Tài Sản trong Dự Thảo BLDS (sửa đổi) của PGS.TS Ngô Huy Cương, Khoa Luật – Đại Học
Trang 9- Bình Luận Khoa Học Những Điểm Mới của BLDS 2015 của PGS.TS
Đỗ Văn Đại;
- Bài viết Giới Thiệu Tổng Quan Quy Định về các Quyền Khác Đối với Tài Sản tại BLDS 2015 - Yêu Cầu Đặt Ra Đối Với Triển Khai Thi Hành và Hoàn Thiện Pháp Luật Liên Quan của ThS Lê Thị Hoàng Thanh, Trưởng Phòng Pháp Luật Dân Sự, Vụ Pháp Luật Dân Sự - Kinh Tế, Bộ Tư Pháp;
- Các công bố khác của PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện, TS Nguyễn Mạnh Bách, PGS TS Ngô Huy Cương và các nghiên cứu của các luật gia và các luật sư trước năm 1975 của cả hai miền Nam, Bắc
Điểm qua các bài viết và những tài liệu nêu trên có thể thấy hiện nay chưa có công trình nghiên cứu phân biệt chế định quyền hưởng dụng với các vật quyền khác như quyền sử dụng và quyền ngụ cư, là những vật quyền có những điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt nhất định Vì vậy, nhiệm vụ của luận văn này là thực hiện công việc nghiên cứu đó một cách sâu sắc hơn để mang lại cho người đọc một cái nhìn tổng quát về quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam và so sánh quyền hưởng dụng với các vật quyền thuộc người khác như quyền sử dụng và quyền ngụ cư để làm nổi bật các đặc điểm của quyền hưởng dụng trong hệ thống vật quyền cũng như nêu được vai trò của quyền hưởng dụng trong giao lưu dân sự của xã hội Việt Nam hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Trang 102015
3.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Khái niệm, đặc điểm, căn cứ phát sinh, hệ quả pháp lý của quyền hưởng dụng, quyền sử dụng và quyền ngụ cư
- Quy định của pháp luật về quyền hưởng dụng, quyền sử dụng và quyền ngụ cư
- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định quyền hưởng dụng trong BLDS 2015
4 Tính mới và đóng góp của đề tài
Do BLDS 2015 mới được Quốc hội thông qua trong thời gian gần đây chưa có công trình nghiên cứu riêng lẻ nào để phân biệt quyền hưởng dụng, một khái niệm hoàn toàn mới trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 với các vật quyền tương tự khác
Luận văn sẽ làm rõ về quyền hưởng dụng đồng thời so sánh sự khác biệt giữa quyền hưởng dụng với quyền sử dụng và quyền ngụ cư, là các vật quyền có một số đặc điểm tương đồng trong hệ thống vật quyền để hiểu rõ ràng hơn và làm nổi bật bản chất pháp lý của quyền hưởng dụng cũng như các quy tắc pháp lý cho loại vật quyền này Ngoài ra luận văn cũng đề xuất những kiến nghị về hoàn thiện chế định quyền hưởng dụng trong BLDS 2015 Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật có liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp dân sự liên quan đến tài sản và quyền tài sản Hơn nữa,
Trang 115
luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu ở Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác ở Việt
Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quyền hưởng dụng, quyền sử dụng và quyền ngụ cư theo pháp luật một số nước trên thế giới và theo pháp luật Việt Nam và nêu ra sự khác biệt cơ bản giữa quyền hưởng dụng với quyền sử dụng và quyền ngụ cư (quyền cư dụng)
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận về quyền hưởng dụng, phân biệt quyền hưởng dụng với quyền sử dụng và quyền ngụ cư và các quy định quyền hưởng dụng trong pháp luật dân sự Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về Nhà nước và Pháp luật Việc nghiên cứu được thực hiện từ góc độ lý luận chung từ các quy định của pháp luật về tài sản và quyền khác đối với tài sản
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê v.v
Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc của luận văn bao gồm những mục sau:
Chương 1: Lý luận chung về vật quyền và quyền hưởng dụng trong tương quan so sánh với quyền sử dụng và quyền ngụ cư
Chương 2: Quyền hưởng dụng theo pháp luật Việt Nam hiện hành trong tương quan so sánh với quyền sử dụng và quyền ngụ cư
Trang 126
Chương 3: Đánh giá chung và đề xuất hoàn thiện đối với chế định
quyền hưởng dụng trong BLDS Việt Nam
Trang 137
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬT QUYỀN VÀ QUYỀN HƯỞNG DỤNG TRONG TƯƠNG QUAN SO SÁNH VỚI QUYỀN SỬ DỤNG VÀ QUYỀN NGỤ CƯ
1.1 Lý luận chung về vật quyền
1.1.1 Khái niệm vật quyền theo pháp luật một số nước trên thế giới
Có thể nói khái niệm vật quyền vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ đối với hệ thống luật của Việt Nam hiện nay tuy nhiên đây là một khái niệm
có lịch sử phát triển từ rất lâu đời trong hệ thống pháp luật Châu Âu Lục Địa (hệ thống Civil Law) trên thế giới cũng như đã từng xuất hiện trong quy định pháp luật của Việt Nam trước năm 1975
Các luật gia La Mã không nêu ra định nghĩa về vật quyền nhưng khái niệm về vật quyền và trái quyền đã tồn tại từ thời kỳ La Mã (cách đây hơn 2.000 năm) Các luật gia La-Mã không phân biệt quyền tài sản thành vật quyền và trái quyền Việc phân định này do các luật gia sau này phân biệt Tuy nhiên, các luật gia La-Mã đã nhận xét về bản chất các quan hệ tài sản do tính xác định của các quan hệ đó Theo các luật gia La-Mã, một chủ thể có thể tạo ra một tài sản hoặc mua một tài sản trên cơ sở đó họ là chủ sở hữu đối với tài sản đã tạo ra, đã mua Khi đã trở thành chủ sở hữu của tài sản, họ có toàn quyền đối với tài sản đó, có quyền thực hiện tất cả các hành vi tác động trực tiếp lên tài sản để thỏa mãn yêu cầu của mình và cũng không phụ thuộc vào ý chí cũng như hành vi của bất kỳ người nào khác [9, tr 61]
Trong hệ thống vật quyền, quyền sở hữu là một vật quyền thống trị, vật quyền trung tâm Tuy nhiên, quyền sở hữu ở La Mã không phải là quyền tài sản (vật quyền) duy nhất Từ thời La Mã cổ đại người ta chia vật quyền thành hai loại là quyền trên tài sản của mình (tức là quyền sở hữu) và quyền trên tài sản của người khác (tức là vật quyền khác ngoài quyền sở hữu) Đương nhiên người có quyền đối với tài sản của người khác có những quyền hạn chế hơn
Trang 148
so với chủ sở hữu đích thực đối với tài sản Quyền trên tài sản của người khác
là một chế định khá đặc biệt vào thời bấy giờ Các vật quyền khác ngoài quyền sở hữu phát sinh là do ý chí của chủ sở hữu, cụ thể là chủ sở hữu cho một người khác hưởng lợi ích trên tài sản của mình (thông qua hợp đồng, di chúc) hoặc có thể phát sinh do những hành vi không phải thuộc ý chí của chủ
sở hữu như chiếm giữ, thủ đắc do thời hiệu, do quyết định của tòa án hoặc do luật định (quyền địa dịch trong trường hợp luật chủ động can thiệp để một địa dịch được thiết lập nhằm đảm bảo việc khai thác bình thường đối với một bất động sản Xét về bề ngoài, chế định này có vẻ như bất hợp lý khi mà một người không phải là chủ sở hữu của đồ vật nhưng lại có quyền hạn đối với đồ vật đó Thẩm quyền sử dụng đồ vật người khác hoàn toàn bị hạn chế Theo pháp luật La Mã thì trong khi chủ sở hữu đồ vật được phép làm tất cả trong quyền hạn đối với đồ vật mà luật pháp cho phép, thì người sử dụng tài sản của
kẻ khác chỉ giới hạn hành vi của mình đối với đồ vật đó trong những hình thức cho phép: quyền thuê dịch vụ (servitus) quyền sử dụng đất của người khác theo thừa kế hoặc xây dựng trên đất người khác và cuối cùng là quyền cầm cố [10, tr.65]
Quyền trên tài sản của người khác có hai nhánh lớn đó là địa dịch (dịch quyền thuộc vật – predial servitude hoặc real servitude) và dịch quyền thuộc người (personal servitude) [6, tr.17] theo đó quyền hưởng dụng/quyền dụng ích thuộc nhánh dịch quyền thuộc người hay còn gọi là dịch quyền đối nhân
Để xem xét vị trí của quyền hưởng dụng, quyền dụng ích như thế nào trong hệ thống vật quyền theo pháp luật La Mã, chúng ta sẽ xem xét từng nhánh của vật quyền:
Nhánh dịch quyền thuộc vật (predial servitude) hay còn gọi là địa
dịch là một quan hệ mà trong đó, một bất động sản gánh chịu dịch quyền hay dịch lụy vì lợi ích của một bất động sản khác Từ thời La Mã cổ đại, có lẽ người ta đã xét đến việc bất động sản có thể bị chuyển nhượng và quyền trên
Trang 159
bất động sản đối kháng hay loại trừ tất cả những người khác, do đó đã chia hai bất động sản liên hệ thành bất động sản gánh chịu dịch quyền và bất động sản được hưởng dịch quyền [5, tr 20] Địa dịch chỉ tồn tại khi hai bất động sản thuộc quyền sở hữu của hai chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng khác nhau và có thể
là quyền có lối đi lại, quyền chăn dắt gia súc đi qua, quyền dẫn nước, thoát nước, quyền được lấy ánh sáng, không khí
Nhánh dịch quyền thuộc người (Ususfruct/Servitus cá nhân/dịch quyền đối nhân) là quyền sử dụng tài sản của người khác cũng như quyền
thu hoạch mọi lợi tức do tài sản đó mang lại nhưng với điều kiện phải bảo toàn tài sản nguyên vẹn [10, tr 67] Usufrutus là quyền suốt đời nhưng không được thừa kế cho người khác và không được chuyển nhượng Người có quyền này phải sử dụng đồ vật nói trên như một người chủ tốt và sử dụng đúng chức năng đồ vật (ví dụ người có quyền ususfruct được sử dụng vườn nho, anh ta không được xây dựng nhà ở trên đó cho dù việc xây dựng đó có ích hơn là trồng nho) Mọi lợi tức thuộc người ususfruct kể từ ngày chiếm giữ Mọi thiệt hại mà người có ususfruct gây ra cho chủ sở hữu đều phải bồi thường (nếu thiệt hại đó xảy ra theo nguyên nhân chủ quan) [7, tr.67]
Servitus được bảo vệ thông qua các hình thức kiện – actio confessoria,
và chủ sở hữu của đối tượng Servitus (chính chủ) được bảo vệ bằng hình thức actio negatoria
Như vậy quyền trên tài sản của người khác cho dù là dưới hình thức dịch quyền thuộc người hay dịch quyền thuộc vật, thì pháp luật La Mã đều quy định rằng người có vật quyền được phép thực hiện trực tiếp trên vật là đối tượng quyền mà không gặp phải sự cản trở nào từ chủ sở hữu tài sản và các quyền này được bảo vệ bởi các tố quyền Hơn nữa, pháp luật La Mã cũng liệt
kê các loại quyền trên tài sản của người khác (bao gồm dịch quyền thuộc vật
và dịch quyền thuộc người) Nói một cách khác, các loại vật quyền này được
Trang 16của vật quyền được nêu trong Thiên II quy định về sở hữu theo đó “Quyền sở hữu là quyền được hưởng dụng và định đoạt tài sản một cách tuyệt đối nhất, miễn là không sử dụng tài sản vào những việc pháp luật cấm” (Điều 544),
quyền phụ thêm trên hoa lợi, lợi tức của tài sản (Điều 547, Điều 548, Điều
549, Điều 550), quyền phụ thêm đối với những thứ trộn lẫn và sáp nhập vào vật (Điều 551), quyền phụ thêm đối với bất động sản (Điều 552, Điều 553, Điều 554, Điều 555, Điều 556, Điều 557, Điều 558, Điều 559, Điều 560 , Điều 561, Điều 562, Điều 563, Điều 564), quyền phụ thêm đối với động sản (Điều 565, Điều 566, Điều 567, Điều 568, Điều 569, Điều 570, Điều 571, Điều 572, Điều 573, Điều 574, Điều 575, Điều 576, Điều 577), quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, quyền sử dụng và quyền ngụ cư (cư dụng) được nêu tại Thiên
III, theo đó “quyền hưởng hoa lợi, lợi tức là quyền hưởng dụng tài sản thuộc
sở hữu của người khác như chính chủ sở hữu, nhưng có trách nhiệm giữ nguyên tài sản đó” (Điều 578) và cuối cùng dịch quyền hay địa dịch được quy định tại Thiên IV, cụ thể theo Điều 637 thì “dịch quyền là một nghĩa vụ đối với một bất động sản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng một bất động sản thuộc sở hữu của người khác”
Như vậy, cũng giống như pháp luật La Mã, trong BLDS Pháp quyền sở hữu là vật quyền trung tâm Tất cả các vật quyền trong BLDS Pháp đều do pháp luật quy định và các bên không thể tự thỏa thuận để tạo ra các vật quyền này Chủ thể của vật quyền có quyền trực tiếp thực hiện các hành vi của mình trên vật là đối tượng của quyền và chủ thể vật quyền được bảo vệ tuyệt đối trước bất kỳ bên thứ ba nào
Trang 1711
Tiếp đến BLDS Nhật Bản, khái niệm vật quyền tiếp tục được đề cập trong Phần II của BLDS Nhật Bản theo đó quyền sở hữu, các vật quyền khác (vật quyền hạn chế) bao gồm quyền bề mặt, quyền thuê dài hạn, địa dịch quyền và các vật quyền bảo đảm được quy định rõ ràng và chi tiết và được quy định trong các chương, mục riêng biệt Chương 6, BLDS Nhật Bản đã quy định về địa dịch quyền và nêu ra các tính chất của dịch quyền như tính chất phụ thuộc, tính chất không chuyển nhượng, cụ thể Điều 280, BLDS Nhật
Bản viết “Một người được hưởng địa dịch quyền có quyền làm cho đất của người khác sẵn sàng cho lợi ích của khu đất của mình phù hợp với các mục đích đã được quy định khi xác lập địa dịch quyền; tuy nhiên với điều kiện rằng các quyền đó không được vi phạm các quy định (bị giới hạn bởi các quy định liên quan tới chính sách công) theo Phần 1 Chương 3 (Phạm vi của Quyền sở hữu) Điều 281, Khoản 2, BLDS Nhật Bản quy định “Địa dịch quyền không bị chuyển nhượng cũng không phải là đối tượng của các quyền khác trừ các quyền gắn liền với khu đất được hưởng địa dịch quyền”
Cuối cùng là BLDS Liên Bang Nga tại Phần II với tiêu đề là “Quyền
sở hữu và các quyền đối vật khác” (từ Điều 209 đến Điều 306) Cũng như
BLDS Nhật Bản, tại phần này đã quy định các loại quyền đối vật bao gồm quyền sở hữu, địa dịch quyền và quy định nội dung, cách thức xác lập, thực hiện cũng như bảo vệ quyền sở hữu, địa dịch quyền
Như vậy, từ những phân tích và dẫn chiếu về vật quyền trong hệ thống pháp luật các nước nêu trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng vật quyền nói chung và quyền hưởng dụng nói riêng là các khái niệm đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và sử dụng rộng rãi từ nhiều thế kỷ trước
để xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật dân sự của nước mình và tất cả các nước đều ghi nhận rằng vật quyền là một chế định cơ bản trong hệ thống pháp luật dân sự của nước mình Luật pháp của mỗi quốc gia khác nhau quy định những loại vật quyền khác nhau và mỗi quốc gia khác nhau có những
Trang 18(địa dịch) và nhánh dịch quyền thuộc người và chủ yếu bao gồm các vật quyền là: quyền sử dụng (usus), quyền ngụ cư (habitation), quyền hưởng hoa lợi, lợi tức (fructus) từ tài sản của người khác/quyền hưởng dụng, quyền bề mặt và các vật quyền bảo đảm
1.1.2 Khái niệm vật quyền trong pháp luật Việt Nam
Quyền của một chủ thể nhất định đối với tài sản của mình cần được pháp luật bảo vệ và phải được các chủ thể khác trong xã hội tôn trọng là một yếu tố khách quan trong đời sống xã hội dân sự Để ghi nhận các quyền này các bản Hiến pháp của nước ta được ban hành vào các năm 1946, 1959, 1980, 1992,
2013 đều có những quy định những quyền cơ bản nhất của công dân, trong đó
có quyền sở hữu tài sản Ngay từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã ghi nhận rất cụ thể tại Điều thứ 12: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” Đến Hiến pháp năm 2013, các quyền cơ bản này đã được ghi nhận cụ
thể hơn, ví dụ , Điều 32 quy định : “1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức knh tế; 2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”; Điều 34 quy định:
“Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Như vậy, pháp luật nước ta đã đảm bảo cho mọi công dân có
được những quyền cơ bản quan trọng nhất của con người, trong đó có quyền đối với tài sản hợp pháp của mình
Trang 19áp dụng Dân Luật Bắc Kì ban hành ngày 30 tháng 3 năm 1931 và thay thế cho
Bộ Luật Gia Long (Hoàng Việt Luật Lệ); tại Trung Kì áp dụng Hoàng Việt Trung Kì Hộ Luật ban hành ngày 28 tháng 9 năm 1939 Bộ Luật Dân Sự Giản Yếu và BLDS Pháp cũng được áp dụng ở Miền Nam cho đến khi ban hành BLDS Sài Gòn ngày 28 tháng 06 năm 1972 Tìm hiểu trong lịch sử phát triển của hệ thống vật quyền, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng các bộ luật dân sự được áp dụng trên lãnh thổ Việt Nam qua nhiều thời kỳ trước đây nêu trên cũng đều đã có những quy định về vật quyền và đã sử dụng lý thuyết về hệ thống vật quyền để xây dựng các quy định pháp luật của mình Cụ thể, bộ Dân Luật Bắc Kì năm 1931 đã có những quy định chung về quyền sở hữu, quyền ứng dụng thu lợi (Điều 556), quyền dùng và quyền ở (Điều 588), quyền địa dịch (Điều 602)… Hoàng Việt Trung Kì hộ luật năm 1936 cũng có quy định khá đầy đủ về các vật quyền như Điều thứ 629 về địa dịch; Điều thứ
1512 về cầm cố; Điều thứ 1527 về thế chấp…như vậy, ở một góc độ nào đó, chúng ta có thể nhận thấy ở thời kỳ Pháp thuộc, các vật quyền đã được ghi nhận trong pháp luật dân sự thông qua cac bộ luật nêu trên một cách khá hệ thống Các vật quyền đã được nêu và quy định khá cụ thể, rõ ràng trong pháp luật thời Pháp thuộc tạo thành những quyền tài sản để phục vụ cho một xã hội dân sự phát triển ở thời kỳ này Để minh chứng cho nhận định này, có thể viện dẫn một số điều luật quy định trong Hoàng Việt Trung Kì Hộ Luật năm
1936 Cụ thể, Điều thứ 464 quy định như sau: “Các thứ vì quyền sở dụng thuộc về bất động sản mà thành ra bất động sản là: A) những vật quyền thuộc
Trang 2014
về bất động sản như sau này: 1) quyền sở hữu; 2) quyền hưởng dụng thu lợi; 3)quyền dùng và quyền ở; 4) quyền cho thuê dài hạn; 5) quyền địa dịch; 6) quyền cầm cố bất động sản; 7) quyền để đương…” Điều thứ 469 quy định:
“các thứ vì pháp luật chỉ định mà là bất động sản là: 1) Những vật quyền thuộc về động sản và quyền đi kiện để đòi hay là truy về một động sản” Như
vậy, pháp luật dân sự giai đoạn này đã có hầu hết các quy định về vật quyền nói chung và quyền hưởng dụng nói riêng và nhờ vào các quy định về vật quyền này đã tạo ra cơ chế pháp lý đảm bảo cho đời sống giao lưu dân sự thời
kỳ này sôi động và phong phú hơn giai đoạn xã hội trước đó
Do điều kiện, hoàn cảnh đất nước xảy ra cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, để điều hành Nhà nước và điều chỉnh các giao lưu dân sự trong điều kiện mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký nhiều sắc lệnh, trong đó có sắc lệnh 97/SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 Theo đó, những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành sự nó đúng với quyền lợi của nhân dân Điều 14 Sắc lệnh số 97/SL quy định: tất cả các điều khoản trong dân pháp điển Bắc kì, dân pháp điển Trung Kì, Pháp Quy Giản Yếu năm 1883 (Sắc lệnh ngày 03 tháng 10 năm 1883) thi hành ở Nam Kì và những luật lệ theo sau, trái với những điều khoản trên này đều bị bãi bỏ Như vậy, kể từ sau khi ban hành Sắc lệnh số 97/SL thì vai trò của các bộ luật dân sự thời Pháp thuộc trước đây chỉ còn được áp dụng hạn chế ở phạm vi những điều luật phù hợp với quy định tại Sắc lệnh trên
Tuy nhiên, do điều kiện đất nước tiến hành kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1945-1954, cùng với điều kiện về kinh tế-xã hội nghèo nàn ở giai đoạn này, giao lưu dân sự trong xã hội chưa được đẩy mạnh nên việc xây dựng và ban hành các quy định về pháp luật dân sự là không nhiều Hiến pháp năm
1959 ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển của quá trình lập pháp Việt Nam Hiến pháp của Nhà nước dân chủ cộng hòa, Hiến pháp của thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước Vào thời
Trang 2115
kỳ này cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang trong thời kỳ quyết liệt nhất, tình trạng chiến tranh đòi hỏi phải điều hành bằng các biện pháp hành chính do đó luật dân sự không được chú trọng và không thể áp dụng [15, tr 74], do vậy các giao dịch dân sự cũng không phát triển Có thể nói, ngoài việc quyền sở hữu được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959, gần như các vật quyền khác đều không được ghi nhận trong các văn bản pháp luật
Trong giai đoạn chiến tranh kháng chiến chống Mỹ, đất nước ta bị chia tách thành hai miền Nam, Bắc Miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa
đã ban hành Bộ Dân Luật năm 1972 Bộ Dân Luật này cũng đã ghi nhận phân loại tài sản thành động sản và bất động sản, từ đó thiết lập nên hệ thống các vật quyền trên động sản và bất động sản khá rõ ràng Cụ thể, Điều thứ 369,
Bộ Dân Luật năm 1972 quy định “…Các vật quyền trên bất động sản: Quyền
sở hữu; quyền dụng ích; quyền cư ngụ và hành dụng; quyền thuê trường kỳ; quyền địa dịch; quyền thế chấp; quyền để đương…” Điều thứ 718, Bộ Dân Luật Sài Gòn năm 1972 quy định “Sự chuyển dịch quyền tư hữu bất động sản cũng như mọi vật quyền khác, chỉ đối kháng được với người đệ tam nếu đã được đăng ký vào sổ điền thổ hay vào địa bộ nếu có sổ sách.” Như vậy, có
thể nói chế định vật quyền đã từng được áp dụng trên phạm vi lãnh thổ đất nước ta trước năm 1975 để đảm bảo cơ chế pháp lý cho giao lưu dân sự trong từng thời kỳ lịch sử nhất định
Tuy nhiên, kể từ khi nước ta hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước (sau năm 1975) thì những quy định về vật quyền chưa được xây dựng thành hệ thống, chưa được đưa vào quy định pháp luật để áp dụng đầy đủ các quyền
BLDS 1995 và BLDS 2005 của Việt Nam đều không có quy định về vật quyền nhưng trong đó vẫn ghi nhận các quyền cơ bản trong hệ thống vật quyền như quyền sở hữu, quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề (quyền địa dịch) Trong một số bản dự thảo sửa đổi BLDS 2005 đã có ghi nhận về
Trang 22là các quyền sở hữu, quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng,
quyền bề mặt Việc không sử dụng thuật ngữ “vật quyền” trong BLDS 2015
để quy định cho các quyền đối vật sẽ hạn chế việc thể hiện rõ nét mọi đặc điểm pháp lý của các vật quyền này giống như pháp luật của một số nước trên thế giới đó là tính luật định, tính trực tiếp và tính đối kháng, và như vậy khiến cho các quy định về tài sản trong BLDS 2015 bị hạn chế
Có thể thấy rằng tác giả Ngô Huy Cương là một trong số những tác giả
đã dành nhiều thời gian để phân tích về những hạn chế của BLDS 2015 trong các quy định về tài sản do việc không sử dụng khái niệm vật quyền Theo Ngô Huy Cương, để thấy được các đặc điểm pháp lý của vật quyền, chúng ta cần nhìn nhận tổng quan chung nhất về mối quan hệ giữa các yếu tố: chủ thể, vật, hành vi trong luật dân sự Trong quan hệ tài sản mà luật dân sự điều chỉnh gồm quan hệ: (i) giữa người với người; (ii) giữa người với vật Theo cách
hiểu truyền thống, quan hệ giữa người với người là “quyền đối nhân”, quan hệ giữa người với vật là “quyền đối vật” hay vật quyền Trong vật quyền, người
có vật quyền có quyền được trực tiếp thi hành ngay lập tức, không vấp phải sự cản trở nào khác trên tài sản là đối tượng của quyền Quyền sở hữu là vật
Trang 2317
quyền quan trọng nhất và là trung tâm của hệ thống vật quyền Xét về cả mặt
ngôn ngữ và mặt pháp lý, câu nói “tôi có quyền sở hữu ngôi nhà” là một câu
nói có nghĩa hoàn chỉnh, thể hiện hoàn toàn được mối quan hệ giữa người chủ
sở hữu và vật (ngôi nhà) mà không phải thêm một ai khác vào câu nói đó
Nếu pháp luật không thừa nhận thuật ngữ “vật quyền” thì khó có thể làm nổi
bật được mối quan hệ giữa chủ sở hữu và vật trong ví dụ vừa nêu [6, tr 16]
Thực ra những quy định tại “Phần thứ 2 – Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” tại BLDS 2015 tồn tại nhiều điểm chưa hợp lý Cụ thể, ngay trong tiêu đề của “Phần thứ 2” đã không thể hiện được mối liên hệ có tính phái sinh giữa “quyền sở hữu” và “quyền khác đối với tài sản” khi hai khái niệm này được đặt ngang hàng nhau trong tiêu đề của “Phần thứ 2” Quy định tiêu đề “quyền khác đối với tài sản” mà nội hàm chỉ ghi nhận quyền sở hữu
và ba quyền khác (quyền bề mặt, quyền hưởng dụng, quyền đối với bất động sản liền kề) như trong BLDS 2015 hiện nay thì vẫn chưa thực sự đầy đủ và dễ
gây hiểu lầm Cụm từ “quyền khác đối với tài sản” còn có thể được hiểu ngoài
quyền sở hữu đã nêu trên còn có thể bao gồm rất nhiều quyền khác nữa như quyền cầm cố, thế chấp, quyền cầm giữ, quyền bảo lưu quyền sở hữu, quyền của bên thuê trong hợp đồng thuê tài sản, quyền của bên giữ tài sản trong hợp đồng gửi giữ tài sản, quyền của bên vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển tài sản… Sự thiếu vắng khái niệm vật quyền cũng như việc không phân loại vật quyền một cách triệt để ở phần này làm cho BLDS 2015 trở nên khó hiểu hơn Tuy nhiên, cũng cần phải công nhận rằng BLDS 2015 không trực tiếp ghi nhận khái niệm vật quyền nhưng về bản chất BLDS 2015 đã dựa vào lý thuyết vật quyền để xây dựng kết cấu của Phần thứ 2 trong BLDS 2015 và đã đưa một số vật quyền vào phần này trong đó quyền hưởng dụng là một vật quyền mới xuất hiện trong BLDS 2015 Việc các vật quyền bảo đảm đã không được BLDS 2015 đề cập đến trong phần này đã thể hiện sự dụt dè của ban
Trang 24sẽ không bị hạn chế bởi tên gọi mà pháp luật mỗi quốc gia đưa ra để xây dựng khái niệm về các quyền đối vật Ví dụ pháp luật dân sự của các nước Pháp,
Nga, Đức sử dụng tên gọi “vật quyền” trong khi pháp luật Việt Nam sử dụng
“Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” để nói về các vật quyền; pháp luật dân sự các nước Pháp, Nhật sử dụng “địa dịch”, pháp luật Việt Nam sử dụng “quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề” hoặc “quyền đối với bất động sản liền kề” để chỉ cùng một nội dung quyền địa dịch…Mặc dù có những tên gọi khác nhau cho cùng một khái niệm vật quyền như vậy, về bản chất vật quyền ở tất cả các quốc gia đều có những đặc điểm chung đó là tính tuyệt đối, trực tiếp và tính luật định, có nghĩa là các loại vật quyền chỉ có thể tồn tại khi được pháp luật quy định và người có vật quyền được thi hành trực tiếp, ngay lập tức không cần thông qua trung gian trên tài sản là đối tượng của vật quyền đó và có quyền đối kháng với bất kỳ bên thứ ba nào
Tóm lại, chế định vật quyền đã và đang là một chế định pháp lý quan trọng không chỉ ở các nước khác trên thế giới mà còn có một lịch sử phát triển lâu dài trong cổ luật Việt Nam và luật dân sự Việt Nam trước năm 1975 với nguồn gốc ban đầu là từ pháp luật La Mã nhưng chịu ảnh hưởng rất lớn từ BLDS Pháp Cũng giống như pháp luật của các nước khác, pháp luật Việt Nam trước năm 1975 cũng có những định nghĩa không thực sự giống nhau về vật quyền nhưng về bản chất khái niệm vật quyền trong tất cả các bộ luật cổ của Việt Nam cũng như trong Bộ Dân Luật Sài Gòn năm 1972 đều công nhận
rằng vật quyền có tính luật định và là quyền của chủ thể (người có quyền)
Trang 2519
thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không cần có vai trò trung gian của một người khác và bao gồm các loại vật quyền với những tên gọi khác nhau tùy quy định của pháp luật ở từng thời kỳ lịch sử nhưng cơ bản bao gồm quyền sở hữu, quyền dụng ích (quyền hưởng dụng), quyền cư ngụ và hành dụng, quyền thuê trường kỳ, quyền địa dịch, quyền thế chấp, quyền để đương
1.2 Lý luận chung về quyền hưởng dụng
1.2.1 Khái niệm quyền hưởng dụng
Như đã nêu tại mục 1.1 của luận văn này, quyền hưởng dụng là một vật quyền thuộc nhánh dịch quyền thuộc người (personal servitude) nằm trong hệ thống vật quyền bắt nguồn từ pháp luật La-Mã
Khái niệm quyền hưởng dụng là một khái niệm hoàn toàn mới quy định
trong BLDS 2015, theo đó quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định (Điều 257, BLDS 2015)
Theo pháp luật La Mã thì quyền hưởng dụng (usufrutus) là một dịch quyền thuộc người theo đó một người được quyền sử dụng tài sản của người khác cũng như quyền thu hoạch mọi lợi tức do tài sản đó mang lại nhưng với điều kiện phải bảo toàn tài sản đó nguyên vẹn [10, tr 67]
Theo pháp luật Pháp thì quyền hưởng hoa lợi, lợi tức là quyền hưởng dụng tài sản thuộc sở hữu của người khác như chính chủ sở hữu, nhưng có trách nhiệm giữ nguyên tài sản đó (Điều 578, tr.423, BLDS Pháp)
Theo pháp luật của Đức thì “Một vật có thể bị hạn chế quyền sở hữu của mình theo cách thức mà một người được hưởng quyền lợi từ sự hạn chế đó được quyền hưởng lợi ích từ vật đó (quyền hưởng dụng).” (Phần 1030, Luật
về Vật, BLDS Đức.) Tiếp tục Phần 1037, BLDS Đức quy định về Thay đổi
vật nói rằng “(1) Người hưởng dụng không được phép làm biến dạng vật hoặc làm thay đổi lớn đối với vật (2) Người hưởng dụng một mảnh đất có thể xây dựng các cơ sở vật chất mới để lấy đá quý, cát chứa vàng, cát, mùn,
Trang 2620
macnơ, than bùn và các thành phần khác của khu đất trừ trường hợp kết quả
là mục đích kinh tế của khu đất bị thay đổi lớn.”
Mặc dù các định nghĩa về quyền hưởng dụng của các nước trên thế giới nêu trên không hoàn toàn giống nhau nhưng chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng
khái niệm quyền hưởng dụng ở tất cả các nước đều được hiểu là quyền cho phép một người sử dụng, hưởng lợi và thu lợi tức trên tài sản của người khác
mà không làm ảnh hưởng đến tài sản Người có quyền hưởng dụng không có
quyền sở hữu đối với tài sản và không được tiêu hủy tài sản và có nghĩa vụ bảo quản tài sản Tài sản phải được sử dụng đúng với mục đích và cách thức
mà đã được dự định trong một khoảng thời hạn nhất định hoặc cho đến khi xảy ra một sự kiện trong tương lai Ví dụ một người có quyền hưởng dụng đối với một trang trại sẽ có quyền hưởng dụng đối với tất cả ngôi nhà xây dựng trên trang trại đó và đối với tất cả gia súc, dụng cụ, thiết bị của trang trại cũng như đối với toàn bộ đồ đạc của khu trang trại này Người có quyền hưởng dụng có quyền thụ hưởng tất cả các hoa lợi tự nhiên (natural fruits), hoa lợi công nghiệp (industrial fruits) và hoa lợi dân sự (civil fruits) Hoa lợi là tài sản (hay sản phẩm) được tạo ra hoặc thu được từ tài sản khác mà không làm mất đi bản chất của tài sản này Hoa lợi tự nhiên là sản phẩm của đất hoặc súc vật Hoa lợi công nghiệp là những sản phẩm của đất nhờ kết quả của việc trồng trọt và lao động Hoa lợi dân sự là thu nhập có được từ tài sản bởi hiệu lực của pháp luật hoặc bởi một hành vi pháp lý (hợp đồng hay hành vi pháp lý đơn phương) Người được hưởng dụng ích phải bồi thường thiệt hại cho chủ
sở hữu nếu không sử dụng tài sản đúng mục đích hoặc lạm quyền trong việc
sử dụng tài sản Trong trường hợp vật thay đổi mục đích sử dụng do điều kiện
tự nhiên mà không phải do lỗi của người được hưởng dụng ích thì họ không phải chịu trách nhiệm trong việc thay đổi bản chất của vật đó, tuy nhiên, do việc thay đổi này nên mục đích dụng ích cũng không còn tồn tại vì vậy, dụng ích cũng chấm dứt (một người được quyền sử dụng một cái ao để thả cá
Trang 2721
nhưng do khô, hạn mà ao hết nước không thể thả cá được thì quyền hưởng dụng của người đó cũng chấm dứt) [9, tr 80] Tuy nhiên, người hưởng dụng vẫn tiếp tục hưởng dụng vật/tài sản khi vật/tài sản đó được bán, tặng, cho, chuyển giao, chuyển nhượng cho một chủ sở hữu khác
1.2.2 Ý nghĩa của quyền hưởng dụng trong hệ thống vật quyền
- Quyền hưởng dụng với tư cách là một vật quyền hạn chế trong hệ thống vật quyền đã giúp tăng khả năng thực hiện các quyền dân sự của chủ sở hữu cũng như của người không phải là chủ sở hữu tài sản Chủ sở hữu với vai trò là người có quyền tuyệt đối với vật/tài sản của mình có thể thực hiện việc cấp quyền hưởng dụng cho một chủ thể xác định không phải là chủ sở hữu để
sử dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức trên tài sản của mình mà không phải chuyển quyền sở hữu của mình Từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng và khai thác tài sản
tr 25] Vì vậy, thúc đẩy các giao lưu dân sự ngày càng phát triển của các chủ thể không phải là chủ sở hữu
Trang 2822
1.2.3 Đặc điểm pháp lý của quyền hưởng dụng
(i) Quyền hưởng dụng là một vật quyền theo người
Quyền hưởng dụng là quyền trên tài sản của người khác, quyền trên
chính bản thân tài sản chứ không phải chỉ đơn thuần là một quyền liên quan đến các lợi ích của tài sản [26, tr 36]
Quyền hưởng dụng luôn luôn được xác lập trên một tài sản, có thể là bất động sản hoặc động sản, tài sản tiêu hao và tài sản không tiêu hao Quyền hưởng dụng xác lập trên một vật tiêu hao được gọi là quyền hưởng dụng không hoàn hảo (quasi usufruct) Trái lại, quyền hưởng dụng được thiết lập trên một vật không tiêu hao được gọi là quyền hưởng dụng hoàn hảo [26, tr.37]
Quyền hưởng dụng được gọi là vật quyền theo người (dịch quyền đối nhân) vì quyền hưởng dụng luôn gắn với một người cụ thể là người hưởng dụng Mục đích sử dụng và khai thác tài sản là đối tượng của quyền gắn liền với mục đích của chủ thể quyền hưởng dụng Điều này được hiểu là khi chủ thể có quyền hưởng dụng chấm dứt sự tồn tại thì quyền này cũng chấm dứt Khác với vật quyền theo vật (địa dịch quyền) là mối quan hệ giữa hai bất động sản thuộc quyền sở hữu của các chủ sở hữu khác nhau [16, tr.47] Cụ thể, đối với địa dịch quyền, khi bất động sản được chuyển dịch, thì người nhận chuyển nhượng mới mặc nhiên trở thành người thụ hưởng hoặc gánh chịu địa dịch mà không có sự lựa chọn nào khác Khác với dịch quyền thuộc người, địa dịch quyền không thể được tách rời khỏi bất động sản để trở thành một quyền gắn liền một chủ thể nào đó Hơn nữa, mục đích của địa dịch là mang lại một lợi ích nhất định cho bất động sản hưởng quyền hay chính là đem lại lợi ích cho chủ sở hữu bất động sản này
Cũng giống như các vật quyền khác, quyền hưởng dụng là một quyền tuyệt đối Người có quyền hưởng dụng có quyền thực hiện quyền của mình trực tiếp trên tài sản mà không gặp bất kỳ cản trở nào của bất kỳ một bên thứ
Trang 2923
ba nào Đặc tính tuyệt đối của quyền hưởng dụng còn được thể hiện thông qua việc người có quyền hưởng dụng có thể cho phép hoặc ngăn cấm các chủ thể khác tiếp cận, khai thác, sử dụng hay hưởng hoa lợi, lợi tức do đối tượng của quyền hưởng dụng mang lại mặc dù người hưởng dụng không có quyền sở hữu đối với vật/tài sản
Tuy vậy, quyền hưởng dụng lại không gắn kết với tài sản như địa dịch quyền Cụ thể quyền hưởng dụng có thể được tách rời khỏi vật để trở thành một quyền gắn liền với nhân thân của người hưởng dụng và lúc đó, người có quyền hưởng dụng có thể định đoạt đối với quyền hưởng dụng của mình Quyền hưởng dụng thuộc quyền sở hữu của người hưởng dụng trong thời gian hưởng dụng, do đó người hưởng dụng có quyền cho thuê hoặc dùng quyền đó làm tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Quyền hưởng dụng có thể được xác lập cho một thời hạn xác định tuy nhiên, quyền hưởng dụng sẽ chấm dứt khi người hưởng dụng chết bất kể thời hạn đã được thỏa thuận Quyền hưởng dụng không thể được xác lập vĩnh viễn hoặc không có giới hạn thời gian [26, tr 37] Như vậy, quyền hưởng dụng sẽ
chấm dứt khi (i) thời hạn của quyền hưởng dụng đã hết; (ii) mục đích hưởng dụng bị thay đổi; (iii) người hưởng dụng chết hoặc trở thành chủ sở hữu của vật là đối tượng của quyền hưởng dụng; (iv) vật là đối tượng hưởng dụng
không còn Thời hạn của quyền hưởng dụng có thể được xác định dựa trên thỏa thuận giữa chủ sở hữu giảm thiểu với chủ thể hưởng dụng nhưng không dài hơn cuộc đời của người hưởng dụng; hoặc được xác định theo quy định của pháp luật; hoặc khi đối tượng quyền hưởng dụng không còn Nói một cách khác, thời hạn tối đa của quyền hưởng dụng kéo dài hết cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên hoặc không vượt quá thời hạn đã thỏa thuận với chủ sở hữu giảm thiểu hoặc thời hạn do pháp luật quy định Quyền hưởng dụng không được coi là di sản thừa kế của chủ thể quyền hưởng dụng Cũng
Trang 30tô đó; trước quyền hưởng dụng của một ngôi nhà phải có một quyền sở hữu nhà ở của chủ sở hữu
Hơn nữa, quyền hưởng dụng sẽ không còn tồn tại khi chủ sở hữu và người có quyền hưởng dụng nhập làm một Điều này đã được minh chứng trong BLDS Đức quy định rằng khi tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng được trao trả lại cho chủ sở hữu giảm thiểu là lúc mà quyền hưởng dụng chấm dứt (Phần 1055, Nghĩa vụ Trả lại của Người hưởng dụng)
Đặc điểm phái sinh của quyền hưởng dụng còn được thể hiện ở việc người có quyền hưởng dụng không được quyền định đoạt đối với tài sản là đối tượng quyền Quyền định đoạt đối với đối tượng quyền thuộc về người có quyền sở hữu giảm thiểu Chính vì vậy mà quyền của người hưởng dụng luôn thấp hơn so với quyền của chủ sở hữu Người có quyền hưởng dụng chỉ có thể cải tạo tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng bằng chi phí của mình với điều kiện phải được sự đồng ý của chủ sở hữu giảm thiểu và về nguyên tắc người có quyền hưởng dụng có nghĩa vụ cơ bản đó là nghĩa vụ trao trả tài sản không hao mòn cho chủ sở hữu giảm thiểu khi chấm dứt quyền hưởng dụng [5, tr 21]
Trang 3125
(iii) Nội dung quyền hưởng dụng luôn mang tính không đầy đủ, không trọn vẹn chính vì vậy người ta gọi quyền hưởng dụng là vật quyền hạn chế
Theo Luật La Mã, người hưởng dụng có quyền sử dụng và quyền hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong khi vẫn đảm bảo gìn giữ tài sản của chủ sở hữu
và chủ sở hữu trở thành chủ sở hữu giảm thiểu [26, tr 36] Theo Điều 578,
BLDS Pháp thì “Quyền hưởng hoa lợi, lợi tức là quyền hưởng dụng tài sản thuộc sở hữu của người khác như chính chủ sở hữu, nhưng có trách nhiệm giữ nguyên tài sản đó” Như vậy, tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng
luôn thuộc sở hữu của chủ sở hữu giảm thiểu và vì thế chủ thể có quyền hưởng dụng chỉ có thể thực hiện quyền của mình trong một phạm vi giới hạn không trùng lặp với quyền lợi và khả năng của chủ sở hữu giảm thiểu phù hợp với quy định của pháp luật Người có quyền hưởng dụng không được phép làm biến đổi hay thay đổi lớn đối với tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng [26, tr.39] Như vậy, người hưởng dụng chỉ có một số quyền do chủ sở hữu cấp cho (hoặc là theo quy định của pháp luật hoặc là theo thỏa thuận) và
vì lẽ đó, quyền của người hưởng dụng luôn thấp hơn quyền của một chủ sở hữu đầy đủ Ngoài ra, do quyền hưởng dụng là một vật quyền thuộc người và mang tính tạm thời [26, tr 36] nên thời hạn của quyền hưởng dụng là hạn chế
và tối đa là bằng cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên
(iv) Quyền hưởng dụng là một vật quyền không thể phân chia
Khác với quyền sở hữu, quyền hưởng dụng không thể được chia nhỏ
như quyền sở hữu tài sản Trong trường hợp tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng thuộc sở hữu chung của nhiều người, người có quyền hưởng dụng sẽ sử dụng và khai thác tài sản là đối tượng quyền một cách trọn vẹn chứ không thể sử dụng và khai thác một phần tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng trong trường hợp này
Trang 3226
1.2.4 Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng
(i) Quyền hưởng dụng được xác lập theo ý chí của chủ sở hữu tài sản/vật
Trường hợp này gọi là quyền hưởng dụng ước định Quyền hưởng dụng được xác lập theo ý chí là việc chủ sở hữu tài sản thể hiện ý chí của mình thông qua hình thức văn bản và hình thức khác giao quyền hưởng dụng trên tài sản của mình cho một người khác Việc thể hiện ý chí này có thể là bằng hợp đồng, thỏa thuận giữa chủ sở hữu và chủ thể hưởng dụng đối tượng quyền hoặc có thể được thể hiện bằng một hành vi pháp lý đơn phương như di chúc
Xác lập quyền hưởng dụng theo ý chí có thể diễn ra theo hai trường hợp Trường hợp thứ nhất là trường hợp chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng và quyền hưởng hoa lợi, lợi tức cho người hưởng dụng và giữ lại quyền
sở hữu giảm thiểu Trường hợp thứ hai là trường hợp chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu giảm thiểu cho người khác và tự mình giữ lại quyền hưởng dụng tài sản Đây là trường hợp người bán tài sản giữ quyền hưởng dụng trên tài sản cho đến khi người đó chết, hoặc cha mẹ tặng cho con tài sản nhưng giữ lại quyền hưởng dụng tài sản đó cho đến khi qua đời
(ii) Xác lập quyền hưởng dụng theo luật định hay còn gọi là quyền hưởng dụng pháp định
Đây là trường hợp quyền hưởng dụng được xác lập dựa trên các quy định của pháp luật chứ không phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên Trong pháp luật của Pháp quyền hưởng dụng pháp định được thể hiện trong luật gia đình và thừa kế Theo Điều 757 của BLDS Pháp, người vợ hoặc người chồng còn sống có quyền lựa chọn giữa quyền hưởng dụng trên tổng số tài sản hiện
có của người đã chết hoặc quyền sở hữu ¼ tài sản này nếu các con là con
chung của hai người: “ Điều 757: Nếu vợ hoặc chồng chết trước có con hoặc cháu thì vợ hoặc chồng còn sống có quyền chọn giữa quyền hưởng hoa lợi,
Trang 3327
lợi tức từ tổng số tài sản hiện có hoặc quyền sở hữu một phần tư tài sản trong trường hợp tất cả các con đều là con chung của hai người Nếu vợ hoặc chồng chết trước có một hoặc nhiều người con không phải là con chung thì vợ hoặc chồng còn sống được quyền sở hữu một phần tư tài sản hiện có”
1.2.5 Hiệu lực của quyền hưởng dụng
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của quyền hưởng dụng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hiện trạng của tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng, xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của quyền hưởng dụng từ
đó xác định được thời hạn hưởng quyền, quyền và nghĩa vụ tương ứng của người hưởng dụng, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản trong thời gian hưởng quyền và xác định thời điểm chịu rủi ro về tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng
Cũng giống như quyền sở hữu và các vật quyền khác, hiệu lực của quyền hưởng dụng về nguyên tắc phát sinh từ thời điểm người hưởng dụng nhận chuyển giao tài sản Điều này được hiểu là kể từ thời điểm người hưởng dụng nhận chuyển giao tài sản thì người hưởng dụng mới có các quyền và nghĩa vụ của một người hưởng dụng cũng như có quyền đối kháng với người thứ ba Pháp luật của mỗi nước khác nhau quy định khác nhau về thời điểm
nhận chuyển giao tài sản Điều 600, BLDS Pháp quy định “người hưởng hoa lợi, lợi tức tiếp nhận tài sản theo hiện trạng của tài sản, nhưng chỉ được bắt đầu hưởng dụng sau khi đã lập biên bản kiểm kê các động sản và mô tả tình trạng các bất động sản là đối tượng của quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, trước
sự chứng kiến của chủ sở hữu hoặc sau khi đã mời chủ sở hữu đến chứng kiến theo đúng thủ tục quy định”
Tương tự, phần 1032, BLDS Đức quy định về phát sinh quyền hưởng
dụng đối với động sản thì: “Phần 1032: Việc xác lập quyền hưởng dụng trên tài sản là động sản thì chủ sở hữu cần phải giao tài sản cho bên nhận tài sản
và hai bên đồng ý rằng quyền hưởng dụng đã chuyển giao cho bên nhận tài
Trang 3428
sản.” Như vậy, theo BLDS Pháp thì thời điểm phát sinh quyền hưởng dụng
là thời điểm sau khi đã lập biên bản kiểm kê hoặc biên bản mô tả tài sản, tức
là thời điểm xác định tài sản được chuyển giao Theo BLDS Đức thì hiệu lực của quyền hưởng dụng phát sinh từ khi vật được giao từ người có tài sản là đối tượng quyền sang cho người được hưởng dụng Tóm lại, có thể nói rằng theo cả hai BLDS Pháp và BLDS Đức thì thời điểm chuyển giao tài sản được xác định để làm căn cứ phát sinh hiệu lực của quyền hưởng dụng
Kể từ thời điểm phát sinh quyền hưởng dụng, người hưởng dụng có các quyền, nghĩa vụ tương ứng và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba Cụ thể,
từ thời điểm phát sinh hiệu lực, người hưởng dụng có quyền sử dụng và khai thác tài sản theo tình trạng thực tế Điều này có nghĩa là người có quyền hưởng dụng có quyền chiếm hữu thực tế đối với tài sản là đối tượng quyền hưởng dụng
Người hưởng dụng có quyền hưởng hoa lợi và lợi tức của tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng Quyền này phát sinh từ thời điểm có hiệu lực của quyền hưởng dụng Như vậy, người hưởng dụng có quyền sở hữu đối với hoa lợi tự nhiên trong khoảng thời gian có quyền hưởng dụng (Hoa lợi là tài sản hay sản phẩm được tạo ra hoặc thu được từ tài sản khác mà không làm mất hoặc giảm đi bản chất của tài sản này Hoa lợi tự nhiên là sản phẩm của đất hoặc súc vật sinh ra theo định kỳ ví dụ như hoa, quả của cây) Sau khoảng thời gian này hoa lợi thuộc về chủ sở hữu giảm thiểu Cũng tương tự như vậy người hưởng dụng có quyền thủ đắc toàn bộ hoa lợi dân sự tích lũy trong thời gian tồn tại quyền hưởng dụng Hoa lợi dân sự là thu nhập có được từ tài sản bởi hiệu lực của pháp luật hoặc bởi một hành vi pháp lý (hợp đồng hay hành
vi pháp lý đơn phương) [5, tr 21]
Theo Ngô Huy Cương, người có quyền hưởng dụng được mở rộng tới tài sản phụ thêm của tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng Việc mở rộng này có hiệu lực tại thời điểm làm phát sinh quyền hưởng dụng Việc mở
Trang 3529
rộng có thể tới cả vùng đất bồi hay bị bỏ hoang hóa tùy thuộc vào quy định của pháp luật [5, tr 23 ] Người hưởng dụng có thể cải tạo tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng bằng chi phí của mình với điều kiện phải được sự đồng ý của chủ sở hữu giảm thiểu Trên thực tế thực hiện quyền hưởng dụng, việc cải tạo tài sản đôi khi rất cần thiết cho việc hưởng dụng có hiệu quả Tuy nhiên, người hưởng dụng có nghĩa vụ cơ bản là trao trả tài sản cho chủ sở hữu giảm thiểu với tình trạng như khi nhận tài sản Vì vậy, việc cải tạo tài sản này chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của chủ sở hữu
Người hưởng dụng có quyền thụ hưởng dịch quyền thuộc vật gắn với tài sản mà mình có quyền hưởng dụng Quyền này cho phép người hưởng dụng
có thể thụ hưởng quyền hưởng dụng của mình một cách đầy đủ Chẳng hạn khi bất động sản là đối tượng của quyền hưởng dụng bị vây bọc bởi các bất động sản khác của chủ sở hữu giảm thiểu hoặc của người cấp quyền hưởng dụng thì người hưởng dụng có quyền qua lại các bất động sản vây bọc đó một cách tự do và miễn phí
Người hưởng dụng có quyền định đoạt động sản hữu hình là đối tượng của quyền hưởng dụng khi nó bị hư hỏng thực sự và theo thời gian Tuy nhiên, người hưởng dụng không có quyền định đoạt tài sản không hao mòn là đối tượng của quyền hưởng dụng trừ khi người cấp quyền hưởng dụng đã quy định rõ ràng về quyền định đoạt đó Về nguyên tắc người hưởng dụng phải trao trả tài sản không hao mòn cho chủ sở hữu giảm thiểu khi chấm dứt quyền hưởng dụng Nhưng tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng đôi khi bị hư hỏng do sử dụng hoặc hư hỏng tự nhiên (như các thiết bị phụ tùng và phương tiện…) Việc trao trả tài sản như vậy là không cần thiết, gây tốn kém trên thực
tế và là một vấn đề cần phải được điều chỉnh khi thực hiện quyền hưởng dụng [5, tr.24]
Trong trường hợp tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng là tài sản không hao mòn và không bị hư hỏng nhiều theo thời gian, thì người hưởng
Trang 3630
dụng chỉ có quyền định đoạt khi được phép rõ ràng (thường là bằng văn bản) của chủ sở hữu giảm thiểu, như trong trường hợp chủ sở hữu ủy quyền bán tài sản cho người thuê tại thời điểm mãn hạn thuê trong thuê tài chính Nếu tài sản bị hư hỏng nhưng người hưởng dụng không có quyền định đoạt thì người hưởng dụng phải trao trả tài sản đúng với hiện trạng tại thời điểm kết thúc quyền hưởng dụng và không được làm cho tình trạng tài sản xấu thêm Theo Ngô Huy Cương, nhiều nền tài phán miễn cho người hưởng dụng nghĩa vụ trao trả là đối tượng của quyền hưởng dụng nếu như tài sản đó đã hoàn toàn suy kiệt [5, tr 21] Vì vậy, trong quá trình thực hiện quyền hưởng dụng người hưởng dụng có nghĩa vụ quản lý tài sản tận tâm
Người hưởng dụng có quyền định đoạt quyền hưởng dụng của mình trong thời hạn của quyền hưởng dụng Quyền hưởng dụng là tài sản thuộc quyền sở hữu của người hưởng dụng Do đó người hưởng dụng có quyền cho thuê, chuyển nhượng hoặc dùng quyền đó làm tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự [5, tr 23] Tuy nhiên, các quyền này cũng chấm dứt theo quyền hưởng dụng, bởi khi quyền hưởng dụng bị chấm dứt có nghĩa là tài sản này của người hưởng dụng không còn tồn tại nữa, nên không thể có một quyền nào có thể thiết lập trên đó Pháp luật thông thường thiết lập giải pháp đối với trường hợp người thuê, người được chuyển nhượng hoặc người nhận cầm cố, thế chấp quyền hưởng dụng mà lạm dụng hay gây thiệt hại cho tài sản
là đối tượng của quyền hưởng dụng Trong trường hợp này người hưởng dụng phải chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu giảm thiểu
Kể từ thời điểm phát sinh hiệu lực quyền hưởng dụng, người hưởng dụng có tất cả các tố quyền hay quyền khởi kiện chống lại chủ sở hữu giảm thiểu hoặc bất kỳ người thứ ba nào để bảo vệ quyền hưởng dụng của mình bao gồm cả quyền truy đòi tài sản bằng việc tự bảo vệ hoặc kiện ra tòa án Người hưởng dụng có quyền yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, truy đòi lại tài sản Quyền hưởng dụng của người hưởng dụng được thể
Trang 3731
hiện cụ thể ra bằng quyền chiếm hữu, quyền thụ hưởng và quyền duy trì các quyền đó Quyền hưởng dụng là một tài sản, nên chủ sở hữu của nó cần phải được bảo vệ bằng các tố quyền liên quan tới các quyền cụ thể như chiếm hữu, thụ hưởng và duy trì nói trên Nếu không có các tố quyền này thì quyền hưởng dụng trở nên vô nghĩa Chủ sở hữu giảm thiểu hoặc bất kỳ ai cũng có thể quấy nhiễu người hưởng dụng bằng các hành vi như chiếm hữu hay xâm phạm bất hợp pháp tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng hoặc ngăn cản không cho người hưởng dụng hưởng hoa lợi từ đó
1.2.6 Chấm dứt quyền hưởng dụng
Quyền hưởng dụng thể hiện mối quan hệ giữa một người đối với một tài sản thuộc sở hữu của người khác theo đó người có quyền hưởng dụng có quyền sử dụng, hưởng lợi và thu lợi tức trên tài sản đó mà không làm ảnh hưởng đến tài sản Như vậy, nếu chủ sở hữu tài sản và người có quyền hưởng dụng nhập làm một, hoặc tài sản là đối tượng của quyền bị mất đi, hoặc tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng không còn khả năng đáp ứng mục đích hưởng dụng, hoặc chủ sở hữu tài sản từ chối cấp quyền hưởng dụng, hoặc thời hạn hưởng dụng đã hết thì quyền hưởng dụng đều chấm dứt Về cơ bản, quyền hưởng dụng sẽ được chấm dứt dựa trên cơ sở xác lập quyền hưởng dụng Theo phân tích tại mục 1.2.4 nêu trên, dựa trên căn cứ xác lập, quyền hưởng dụng được phân loại thành quyền hưởng dụng ước định và quyền hưởng dụng pháp định Vì vậy, hai loại quyền hưởng dụng này sẽ chấm dứt với những căn cứ tương ứng với căn cứ xác lập của mình
(i) Theo ý chí của người hưởng dụng
Đây là căn cứ chấm dứt áp dụng cho quyền hưởng dụng ước định Quyền hưởng dụng ước định được xác lập do ý chí của người hưởng dụng vì vậy cũng chấm dứt dựa trên ý chí của người hưởng dụng Quyền hưởng dụng pháp định không chấm dứt theo căn cứ này do việc xác lập quyền hưởng dụng pháp định là theo quy định của pháp luật
Trang 3832
Trường hợp này gồm hai trường hợp (-) thỏa thuận giữa chủ sở hữu và
người có quyền hưởng dụng chấm dứt quyền hưởng dụng trước thời hạn; (-) dựa trên ý chí đơn phương của người hưởng dụng, người hưởng dụng từ bỏ hoặc không thực hiện quyền hưởng dụng trong thời hạn của quyền hưởng dụng
(ii) Khi thời hạn của quyền hưởng dụng đã hết cũng là lúc quyền
hưởng dụng chấm dứt Căn cứ này áp dụng cho chấm dứt cả quyền hưởng dụng pháp định và quyền hưởng dụng ước định
(iii) Khi người có quyền hưởng dụng chết hoặc khi tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng không còn: Căn cứ này áp dụng cho chấm
dứt cả quyền hưởng dụng pháp định và quyền hưởng dụng ước định
Quyền hưởng dụng là một vật quyền theo người vì vậy quyền này chỉ tồn tại khi có sự tồn tại của vật/tài sản và khi gắn chặt với một người nhất định
Vì vậy khi tài sản/vật là đối tượng của quyền hưởng dụng bị mất hoặc bị hủy hoại hoàn toàn và mục đích sử dụng tài sản hưởng dụng không được đáp ứng thì quyền hưởng không còn đủ hai yếu tố đó là có sự tồn tại của vật/tài sản cũng như gắn liền với một người cụ thể nữa, vì vậy quyền hưởng dụng sẽ chấm dứt khi không còn tồn tại hai yếu tố này Tuy nhiên nếu chỉ một phần của tài sản/vật là đối tượng của quyền hưởng dụng bị hủy hoại tức là yếu tố vật vẫn còn và vì vậy người hưởng dụng vẫn có quyền hưởng dụng đối với phần tài sản còn lại
Người hưởng dụng phải bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu nếu không
sử dụng tài sản/vật đúng mục đích hoặc lạm quyền trong việc sử dụng tài sản/vật Trong trường hợp vật thay đổi mục đích sử dụng do điều kiện tự nhiên mà không do lỗi của người được hưởng dụng ích thì người hưởng dụng không phải chịu trách nhiệm trong việc thay đổi bản chất của vật/tài sản đó, tuy nhiên, do việc thay đổi này nên mục đích dụng cũng không còn tồn tại vì vậy, quyền hưởng dụng cũng chấm dứt Ví dụ một người được quyền hưởng
Trang 39Theo quy định của pháp luật quyền hưởng dụng sẽ chấm dứt trong một
số trường hợp cụ thể Ví dụ theo quy định tại Điều 617 của BLDS Pháp thì
quyền hưởng hoa lợi, lợi tức sẽ chấm dứt trong các trường hợp sau: “Người hưởng hoa lợi, lợi tức chết hoặc bị tước đoạt vĩnh viễn các quyền dân sự; Thời hạn hưởng hoa lợi, lợi tức kết thúc; Người hưởng hoa lợi, lợi tức và chủ
sở hữu giảm thiểu hòa nhập làm một; Quyền hưởng hoa lợi, lợi tức không được thực hiện trong 30 năm; Tài sản để thu hoa lợi, lợi tức bị tiêu hủy hoàn toàn”
Trường hợp quyền hưởng dụng chấm dứt theo quyết định của tòa án là trường hợp Tòa án căn cứ vào yêu cầu truất quyền hưởng dụng của chủ sở hữu tài sản/vật do người hưởng dụng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong thời gian hưởng dụng (ví dụ hưởng dụng vật/tài sản sai mục đích hưởng dụng)
Ví dụ theo quy định tại Điều 618, BLDS Pháp thì “Quyền hưởng hoa lợi, lợi tức cũng có thể chấm dứt vì sự lạm dụng của người hưởng hoa lợi, lợi tức trong quá trình hưởng dụng, làm tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng vì thiếu bảo dưỡng
Chủ nợ của người hưởng hoa lợi, lợi tức có thể tham dự vào các tranh chấp để bảo toàn quyền của họ Họ có thể sửa chữa những hư hỏng và bảo đảm về tình trạng của tài sản trong tương lai
Tùy theo mức độ nghiêm trọng của tình hình, tòa án có thể quyết dịnh chấm dứt quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, hoặc giao trả tài sản cho chủ sở hữu với điều kiện chủ sở hữu hàng năm phải trả cho người hưởng hoa lợi, lợi tức
Trang 40Nghĩa vụ hoàn trả tài sản của người hưởng dụng được thực hiện ngay cả trong trường hợp thời hạn quyền hưởng dụng đã hết nhưng hoa lợi, lợi tức chưa đến thời kỳ thu hoạch Tuy nhiên, việc chấm dứt thời hạn hưởng quyền hưởng dụng không ảnh hưởng tới việc người hưởng dụng trở thành chủ sở hữu đối với phần hoa lợi, lợi tức tương ứng với khoảng thời gian hưởng quyền
1.3 Lịch sử hình thành chế định quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam
Khái niệm quyền hưởng dụng đã được nghiên cứu theo các quy định của pháp luật của một số nước trên thế giới tại mục 1.2 nêu trên, vậy theo pháp luật Việt Nam thì quyền hưởng dụng đã có lịch sử hình thành và phát triển như thế nào sẽ được phân tích trong từng giai đoạn dưới đây
1.3.1 Quyền hưởng dụng trong các bộ dân luật trước năm 1975
Trong các bộ dân luật trước năm 1975, quyền hưởng dụng chỉ xuất hiện khi quân Pháp xâm lược và kéo theo đó là ảnh hưởng của pháp luật La Mã (pháp luật Pháp thuộc họ pháp luật La Mã) lên pháp luật Việt Nam Pháp luật Pháp thuộc họ pháp luật La Mã – Đức bành trướng vào Việt Nam theo con đường thứ nhất mà có các dấu mốc lịch sử vào năm 1858 (quân Pháp và quân Tây Ban Nha bắt đầu sử dụng vũ lực xâm chiếm Việt Nam, năm 1867 (quân Pháp xâm chiếm xong toàn bộ sáu tỉnh phía Nam, biến nơi đây thành xứ thuộc địa của Pháp), và năm 1884 (Hòa ước ký kết giữa Việt Nam và Pháp đã