1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề cơ bản về sự hình thành và phát triển của pháp luật hình sự việt nam phần chung trong 40 năm sau cách mạng tháng tám 1945 1985

79 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Tìm hiểu tình hình nghiên cứu của khoa học luật hình sự Việt Nam trong hàng chục năm qua của nước ta, kể từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến khi cấm hoàn toà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ VĂN NĂM

MéT Sè VÊN §Ò C¥ B¶N VÒ Sù H×NH THµNH Vµ PH¸T TRIÓN CñA PH¸P LUËT H×NH Sù VIÖT NAM (PHÇN CHUNG)

TRONG 40 N¡M SAU C¸CH M¹NG TH¸NG T¸M (1945-1985)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ VĂN NĂM

MéT Sè VÊN §Ò C¥ B¶N VÒ Sù H×NH THµNH Vµ PH¸T TRIÓN CñA PH¸P LUËT H×NH Sù VIÖT NAM (PHÇN CHUNG)

TRONG 40 N¡M SAU C¸CH M¹NG TH¸NG T¸M (1945-1985)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÊ VĂN CẢM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn tận tình của Giáo sư, tiến sỹ khoa học Lê Văn Cảm Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác ngoài một số luận điểm cơ bản được thể hiện tại 02 bài báo của GS TSKH Lê Văn Cảm và tôi là đồng tác giả đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 19, 20/2016 và số 17/2017 Các nội dung trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

LÊ VĂN NĂM

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: SỰ HÌNH THÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (PHẦN CHUNG) GIAI ĐOẠN 1945-1955 7

1.1 Quá trình xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước công nông Việt Nam trong giai đoạn được nghiên cứu 7

1.2 Sự hình thành các quy định pháp luật hình sự Phần chung của Nhà nước công nông Việt Nam trong giai đoạn được nghiên cứu 17

Kết luận Chương 1 31

Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (PHẦN CHUNG) GIAI ĐOẠN 1955-1985 33

2.1 Sự phát triển của hệ thống các văn bản pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn 1955-1985 33

2.2 Sự tiếp tục phát triển của các quy định pháp luật hình sự Việt Nam (Phần chung) giai đoạn 1955-1985 40

Kết luận Chương 2 53

Chương 3: VỀ VẤN ĐỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA CÁC TÒA ÁN GIAI ĐOẠN 1955-1985 55

3.1 Một số vẫn đề về thực tiễn xét xử và vai trò của nó đối với sự hình thành, phát triển và hoàn thiện pháp luật hình sự trong giai đoạn này 55

3.2 Vai trò của thực tiễn xét xử đối với pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn được nghiên cứu 57

Kết luận chương 3 68

KẾT LUẬN CHUNG 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tìm hiểu tình hình nghiên cứu của khoa học luật hình sự Việt Nam trong hàng chục năm qua của nước ta, kể từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến khi cấm hoàn toàn việc áp dụng các văn bản pháp luật hình sự của chế độ thực dân - phong kiến (năm 1955), thậm chí cho đến tận khi thông qua Bộ luật hình sự thứ ba của Việt Nam (năm 2015), đã cho thấy, trong số các công trình nghiên cứu chuyên khảo và đồng bộ dưới dạng các luận văn thạc sĩ, luận

án tiến sĩ luật học thì chưa có công trình nào đề cập, phân tích khoa học riêng biệt về lịch sử của pháp luật hình sự nước ta với cùng một lúc 3 nhóm vấn đề

lý luận cơ bản sau đây:

1) Quá trình xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật hình sự từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước Việt Nam thống nhất (1945-1985);

2) Sự hình thành và phát triển của các quy định pháp luật hình sự Việt Nam (Phần chung) trong giai đoạn 40 năm đã nêu;

3) Vấn đề áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn xét xử của các Tòa

án giai đoạn 30 năm trước khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước Việt Nam thống nhất (1955-1985)

Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về sự hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam (Phần chung) trong 40 năm sau Cách mạng tháng Tám (1945-1985), trên cơ sở làm sáng tỏ về mặt lý luận, những bài học của lịch sử, sẽ cho phép nhìn nhận lại để lĩnh hội những kinh nghiệm lập pháp hình sự hữu ích trong quá khứ của các thế hệ tiền nhân và bằng cách đó, có

Trang 6

thể góp phần nhất định cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự đương đại của nước nhà trong tương lai Chính vì vậy, việc triển khai nghiên cứu vấn

đề nêu trên ở khía cạnh lịch sử là thực sự cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn và khoa học sâu sắc

Là một cán bộ công tác trong lực lượng Công an nhân dân, với mong muốn góp phần tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự đương đại của nước nhà,

tôi quyết định chọn đề tài: "Một số vấn đề cơ bản về sự hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam (Phần chung) trong 40 năm sau Cách mạng tháng Tám (1945-1985)", làm Luận văn thạc sĩ Luật học

Tuy nhiên, do tính chất đa dạng, phức tạp và phạm vi rộng lớn của lịch

sử pháp luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong suốt 40 năm trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất nên trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam (Phần chung) giai đoạn 40 năm đầu tiên, kể từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự thứ nhất của nước Việt Nam thống nhất (năm 1985)

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật hình sự là một vấn đề cơ bản của nhà nước pháp quyền, được tất cả các quốc gia coi trọng trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận, cũng như hoạt động thực tiễn

Việc phân tích các sách, báo, tạp chí, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ, giáo trình giảng dạy về Phần chung pháp luật hình sự như: Lịch sử Luật hình

sự Việt Nam – Trần Quang Tiệp, NXB Chính trị Quốc Gia, 2003; Kiều Đình Thụ - Tìm hiểu Luật hình sự Việt Nam, NXB thành phố Hồ Chí Minh, 1996; Nhưng trong đó chưa đề cập nhiều đến việc phân tích các quy định của pháp luật hình sự dưới khía cạnh lịch sử - lập pháp hình sự, có nghĩa là sự phân tích

Trang 7

khoa học về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật hình sự thực định Việt Nam hầu như rất ít được đề cập đến

Chính vì vậy, trong luận văn thạc sĩ của mình, tác giả sẽ cố gắng làm sáng tỏ về mặt khoa học những vấn đề nêu trên – tức là phân tích sự hình thành và phát triển của các quy định pháp luật hình sự (Phần chung) Việt Nam trong thời kỳ 40 năm nói trên (1945-1985)

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Thông qua trình bày, phân tích khoa học dưới góc độ lịch sử để làm sáng tỏ về mặt lý luận một số vấn đề cơ bản về sự hình thành và phát triển của pháp luật hình sự (Phần chung) nước ta trong giai đoạn 40 năm (1945 - 1985), tức là từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự thứ nhất của Nhà nước Việt Nam thống nhất (năm 1985)

3.2 Nhiệm vụ

3.2.1 Trình bày quá trình xây dựng, hình thành các quy định của pháp luật hình sự (Phần chung) Việt Nam trong giai đoạn 10 năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám (1945-1955);

3.2.2 Trình bày, phân tích sự phát triển các quy định của pháp luật hình sự (Phần chung) Việt Nam trong 30 năm trước khi ban hành Bộ luật hình

sự đầu tiên của Nhà nước Việt Nam thống nhất (1955-1985), qua đó để thấy được sự phát triển của hệ thống các văn bản pháp luật, các quy định của pháp luật hình sự (Phần chung) trong giai đoạn này;

3.2.3 Làm rõ một số vấn đề về áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn xét xử của các Tòa án nước ta giai đoạn 30 năm trước khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước Việt Nam thống nhất (1955-1985)

Trang 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu dưới góc độ lịch sử - lập pháp hình

sự, tức là đưa ra sự phân tích về sự hình thành và phát triển của các quy định của pháp luật hình sự (Phần chung) trong 40 năm sau Cách mạng tháng Tám đến khi thông qua Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Việt Nam

thống nhất (1945-1985)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Do tính chất đa dạng, phức tạp và phạm vi rộng lớn của những vấn đề khoa học xung quanh chủ đề lịch sử - lập pháp hình sự Việt Nam, nên trong khuôn khổ của luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về sự hình thành

và phát triển của pháp luật hình sự (Phần chung) Việt Nam giai đoạn 40 năm đầu tiên, kể từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến trước khi ban hành

Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất (năm 1985)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháp luật hình sự, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng như: Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phân tích và tổng hợp; phương pháp lịch sử cụ thể Đồng thời, Luận văn cũng sử dụng các phương pháp của các bộ môn khoa học khác như: Thống kê, phương pháp hệ thống, để làm sáng tỏ những vấn đề tương ứng được đề cập

Trang 9

6 Những đóng góp mới của luận văn

6.1 Trên cơ sở nghiên cứu sự hình thành và phát triển pháp luật hình

sự Việt Nam 40 năm đầu tiên sau Cách mạng tháng 8 (1945-1985), tiếp tục kế thừa các giá trị pháp luật truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn nêu trên (Đặc biệt là thông tư số 413-TTg ngày 9/11/1954 của Thủ tướng chính phủ về đại xá) đã đưa ra kiến giải lập pháp cụ thể dưới dạng một điều luật về đại xá

6.2 Luận văn đã đưa ra bức tranh toàn cảnh về lịch sử - lập pháp hình

sự đối với các quy định của Phần chung pháp luật hình sự thực định trong giai đoạn được nghiên cứu (1945-1985)

6.3 Luận văn đã đưa ra sự phân tích khoa học và chỉ rõ giá trị của thực tiễn xét xử hình sự tại Tòa án nhân dân tối cao trong việc sáng tạo pháp luật hình sự trong thời kỳ pháp luật hình sự đất nước chưa được pháp điển hóa (1955-1985)

7 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo tương đối đồng bộ, có

hệ thống và khá toàn diện về một số vấn đề lịch sử - lập pháp hình sự trong khoa học luật hình sự Việt Nam, góp phần làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận ở khía cạnh lịch sử một số vấn đề cơ bản về sự hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam (Phần chung) trong giai đoạn 40 năm kể từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 (1945-1985)

Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể góp phần nhất định cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự đương đại của nước ta trong thời gian tới Và có thể dùng làm tài liệu tham khảo, giảng dạy hoặc sử dụng nhằm nâng cao nhận thức về áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn xét xử của các cán bộ tòa án trước yêu cầu của sự phát triển nhà nước pháp quyền ở nước

ta hiện nay

Trang 10

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu 3 chương:

Chương 1 Sự hình thành các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam (Phần chung) trong giai đoạn 1945-1955

Chương 2 Sự phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam (Phần chung) trong giai đoạn 1955-1985

Chương 3 Về vấn đề áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn xét xử của các Tòa án giai đoạn 1955-1985

Trang 11

Chương 1

SỰ HÌNH THÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM (PHẦN CHUNG) GIAI ĐOẠN 1945-1955

1.1 Quá trình xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước công nông Việt Nam trong giai đoạn được nghiên cứu

Dưới khía cạnh lịch sử, Mục 1.1, Chương 1 này sẽ đề cập đến việc nghiên cứu quá trình xây dựng và hình thành các quy định của pháp luật hình

sự (Phần chung) nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thập kỷ đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám (1945-1955) Chính vì vậy, sẽ là hợp lý và có căn cứ khoa học khi những vấn đề trong Mục 1 này sẽ được phân tích tương ứng theo 2 nội dung của pháp luật hình sự, đó là: (1) việc xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật hình sự thực định và (2) sự hình thành các quy định của pháp luật hình sự (Phần chung)

Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, chế độ thực dân - nửa phong kiến ở Việt Nam đã bị lật đổ và Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á với tên gọi là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

đã được tuyên bố thành lập (ngày 02/9/1945) Trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước ta giai đoạn 1945-1955, nhân dân Việt Nam đã phải tiến hành cùng một lúc 2 nhiệm vụ chiến lược quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Nhà nước công nông đó là: Một mặt, vừa phải tiến hành công cuộc xây dựng những nền tảng của chế độ xã hội mới nhằm củng cố chính quyền Cách mạng còn non trẻ; Mặt khác, vừa phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Chính trong hoàn cảnh lịch sử - chính trị đầy khó khăn và phức tạp như vậy, việc xây dựng những nền tảng mới của hệ thống pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng

Trang 12

hòa trong thập niên đầu tiên từ sau lập quốc đến khi cấm hoàn toàn các văn bản pháp luật hình sự của chế độ cũ (1945-1955) đã được Nhà nước công nông triển khai theo 03 hướng chính, đồng thời cũng là 03 đặc điểm cơ bản của sự hình thành nên hệ thống pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn nêu trên, như sau:

1) Bãi bỏ một bộ phận lớn các đạo luật hình sự cũ (tức là các văn bản pháp luật hình sự của chế độ thực dân - nửa phong kiến) đã hiện hành trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

2) Tạm thời giữ nguyên hiệu lực thi hành một số đạo luật hình sự cũ trước Cách mạng với việc lồng vào đó nội dung chính trị - giai cấp mới của Nhà nước công nông Việt Nam để áp dụng trong những trường hợp rất hạn chế của thực tiễn đời sống xã hội

3) Soạn thảo và thi hành các văn bản pháp luật hình sự mới (bao gồm các đạo luật hình sự và các văn bản pháp luật có tính chất hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa để làm nền tảng pháp lý hình sự cho việc đấu tranh với tội phạm trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước)

Như vậy, 03 hướng chính đã được Nhà nước công nông Việt Nam triển khai trong 10 năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám (1945-1955) để xây dựng nên những nền tảng đầu tiên của hệ thống pháp luật hình sự của đất nước, thực chất là tương ứng với 05 đặc điểm cơ bản của quá trình xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước công nông Việt Nam trong giai đoạn được nghiên cứu Chính vì thế, tác giả luận văn sẽ cố gắng làm sáng tỏ về mặt khoa học quá trình xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật hình sự ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua sự phân tích dưới đây:

Trang 13

1.1.1 Bãi bỏ một bộ phận lớn các đạo luật hình sự cũ (tức là các văn bản pháp luật hình sự của chế độ thực dân - nửa phong kiến) đã hiện hành trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Việc phân tích các văn bản pháp luật hình sự những năm đầu tiên sau Cách mạng đã cho thấy, bản chất cốt lõi của đặc điểm cơ bản đang nghiên cứu trong quá trình xây dựng những nền tảng đầu tiên của hệ thống pháp luật hình sự của Nhà nước công nông Việt Nam giai đoạn này đã được thể hiện rõ qua nội dung Thông tư số 19-VHH/HS ngày 30/6/1955 của Bộ tư pháp về việc áp dụng luật lệ mà trong đó đã chỉ rõ: Chính sách trừng trị trong chế độ dân chủ nhân dân về cơ bản khác với chính sách trừng trị trong chế độ cũ Bởi vậy, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và giải phóng hoàn toàn Miền Bắc chúng ta không thể thừa nhận di sản của pháp luật cũ, vì vậy trong bất cứ trường hợp nào các đạo luật cũ không thể dùng làm căn cứ pháp lý cho các Tòa án nhân dân trong việc định tội và lượng hình [40, tr 5-6; 47, tr.190]

1.1.2 Tạm thời giữ nguyên hiệu lực thi hành một số đạo luật hình sự cũ trước Cách mạng để áp dụng trong những trường hợp rất hạn chế với việc lồng vào đó nội dung chính trị - giai cấp mới của Nhà nước công nông Việt Nam Việc phân tích đặc điểm cơ bản này của quá trình xây dựng những nền tảng đầu tiên của hệ thống pháp luật hình sự mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong giai đoạn này đã cho thấy, các đạo luật hình sự cũ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 được tạm thời giữ nguyên hiệu lực thi hành, luôn có vai trò là nguồn thứ yếu, mà không phải là nguồn chủ yếu Vì lúc bấy giờ, chỉ

có các văn bản pháp luật hình sự (bao gồm các đạo luật hình sự và các văn bản mang tính hình sự mới) do chính quyền Cách mạng soạn thảo ra mới được coi là nguồn chủ yếu của pháp luật hình sự nước Việt Nam mới Điều này có thể nhận thấy ngay qua nội dung các quy định của 2 văn bản có liên quan dưới đây đề cập vấn đề áp dụng luật của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chẳng hạn như:

Trang 14

Trên cơ sở nội dung các quy định tại các điều 8-10 Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về tạm thời áp dụng các đạo luật đã hiện hành đến trước khi ban hành các bộ luật thống nhất của cả nước [3, tr.35] thì: Ba Bộ luật hình sự đã được chế độ cũ áp dụng trước Cách mạng tháng 8/1945 ở Việt Nam vẫn được giữ nguyên hiệu lực pháp lý để thi hành trên lãnh thổ 3 kỳ (miền) là Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Ngoài ra, theo Điều 12 của Sắc lệnh này cũng còn bổ sung thêm một quy định mang tính nguyên tắc và bắt buộc đối với các cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khi áp dụng pháp luật hình sự là: các quy định trong các đạo luật cũ được tạm thời giữ lại theo Sắc lệnh này chỉ được áp dụng khi nào không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Cũng trên cơ sở các quy định trong Thông tư số 20 ngày 19/8/1947 của

Bộ tư pháp về vi phạm các quy tắc cảnh sát [47, tr.142-143] cho thấy, trong những năm đầu tiên sau Cách mạng tháng 8/1945 đối với các vi phạm hình sự nhỏ (mà văn bản này gọi là vi cảnh) thì các cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng đã được phép áp dụng các đạo luật hình sự cũ,

đó là các điều 86 và 323 Bộ luật hình sự Bắc kỳ, cũng như Điều 401 và Điều

408 Bộ luật hình sự Trung kỳ

1.1.3 Soạn thảo và thi hành các văn bản pháp luật hình sự mới (bao gồm các đạo luật hình sự và các văn bản pháp luật có tính chất hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa để làm nền tảng pháp lý hình sự cho việc đấu tranh với tội phạm trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước) Trong giai đoạn 10 năm được nghiên cứu (1945-1955) thì đặc điểm thứ ba này không chỉ là đặc điểm (hướng) cơ bản hơn cả mà có thể còn được coi là đặc điểm (hướng) chủ yếu nhất mà Chính quyền Cách mạng

đã triển khai nhằm xây dựng nên những cơ sở đầu tiên của hệ thống pháp luật

Trang 15

hình sự mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tuy nhiên, khi phân tích bản chất pháp lý của các văn bản pháp luật hình sự của Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được thi hành trong giai đoạn này thì chúng ta cần phân chia chúng thành 2 nhóm văn bản pháp luật (mà trong luận văn này tạm gọi chung

là các văn bản pháp luật hình sự) đã tạo nên hệ thống pháp luật hình sự nước nhà, mà cụ thể là:

1) Nhóm văn bản pháp luật đầu tiên thông thường là các Sắc lệnh đã được ban hành đề cập riêng đến trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm riêng biệt, vì trong nhóm này nhà làm luật thường quy định các cấu thành tội phạm riêng biệt và trực tiếp quy định cụ thể các chế tài hình sự đối với việc thực hiện các tội phạm riêng biệt (tức các tội phạm và các hình phạt), hay nói một cách khác thì nhóm văn bản pháp luật (các Sắc lệnh) đầu tiên này chính

là các đạo luật hình sự (đúng với nghĩa của chúng)

2) Nhóm văn bản pháp luật tiếp theo có thể tạm được gọi là các văn bản pháp luật có tính chất hình sự vì thông thường đây là các Sắc lệnh quy định về nhiều lĩnh vực khác nhau mà Nhà nước Việt Nam sau Cách mạng đã thi hành trong quá trình xây dựng những nền tảng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, v.v của đất nước Vì trong các Sắc lệnh thuộc nhóm văn bản pháp luật này của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tuy không trực tiếp quy định cụ thể về các tội phạm và các hình phạt (như trong nhóm văn bản pháp luật đầu tiên đã nêu ở trên) nhưng ở các mức độ khác nhau chúng có ghi nhận một số quy định của pháp luật hình sự (hay còn gọi là mang tính hình sự) vì trong các Sắc lệnh đó khi quy định các biện pháp xử lý đối với sự vi phạm các quy định đã được nêu trong từng văn bản pháp luật thuộc nhóm này, thì về cơ bản nhà làm luật thường ghi nhận cả các chế tài hình sự Nói một cách khác, nhóm Sắc lệnh này tuy không phải là các đạo luật hình sự (như nhóm Sắc lệnh đã nêu trên) nhưng chúng là các đạo luật mang tính hình sự

Trang 16

3) Mặt khác, khi nghiên cứu 02 nhóm văn bản pháp luật (văn bản pháp luật hình sự và văn bản pháp luật mang tính hình sự) đã được hình thành nên trong hệ thống pháp luật hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn này (1945-1955) chúng ta cũng đặc biệt phải chú ý rằng, theo Hiến pháp năm 1946 thì các Sắc lệnh là do Chủ tịch nước ban hành nhưng đôi khi trong

số các văn bản pháp luật thuộc cả 2 nhóm này cũng còn bao gồm cả một số văn bản pháp luật khác nữa (như Thông tư, Điều lệ, ) do Bộ Tư pháp ban hành Việc phân tích kỹ 02 nhóm văn bản pháp luật hình sự này cho thấy chúng chính là nguồn chủ yếu và quan trọng nhất của pháp luật hình sự nước nhà và chúng đã bảo vệ một cách hữu hiệu bằng pháp luật hình sự các thành quả của sự nghiệp kháng chiến kiến quốc ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

mà nhân dân ta đã giành được sau Cách mạng tháng 8 năm 1945

4) Dưới đây, để thấy rõ quá trình xây dựng hình thành nên hệ thống các văn bản pháp luật hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong giai đoạn 10 năm đang nghiên cứu (1945-1955) thì khi xem xét vấn đề này chúng

ta cần phân chia chúng (các văn bản ấy) tương ứng trong 03 lĩnh vực sinh hoạt lớn và cơ bản hơn cả nhà nước - xã hội (mà các văn bản pháp luật hình

sự đã được ban hành) nhằm bảo vệ là: Công cuộc kiến thiết - tổ chức bộ máy Nhà nước; Các giá trị thuộc về nhân thân (tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm), sở hữu cá nhân, các quyền và tự do cơ bản của công dân; Công cuộc xây dựng kinh tế - văn hóa - xã hội nước nhà

a) Trong công cuộc kiến thiết - tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn đang nghiên cứu (1945-1955) đã có rất nhiều văn bản pháp luật hình sự thuộc 02 nhóm đã nêu trên (các đạo luật hình sự và các đạo luật mang tính hình sự) được Nhà nước công nông ban hành để bảo vệ các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này như:

Trang 17

Nhóm thứ nhất là các đạo luật hình sự bao gồm: Sắc lệnh số 223 ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ [47, tr.104]; Sắc lệnh số 163 ngày 14/4/1948 về trừng trị các tội đánh bạc [17, tr.5]; Sắc lệnh số 106 ngày 15/6/1950 về trừng trị việc trốn tránh nghĩa vụ quân sự [22, tr.170]; Sắc lệnh số 128 ngày 17/7/1950 về trừng trị những hành vi bóc trộm, ăn cắp hay thủ tiêu công văn của Chính phủ và thư từ của

tư nhân [21, tr.194]; Sắc lệnh số 154 ngày 17/11/1950 về trừng trị việc tiết

lộ bí mật của cơ quan hoặc công tác của Chính phủ [23, tr.303]; Sắc lệnh số

133 ngày 20/1/1953 về trừng trị những tội xâm phạm đến an toàn Nhà nước đối nội và đối ngoại [24, tr.16]

Nhóm thứ hai là các đạo luật mang tính hình sự bao gồm: Sắc lệnh số 6 ngày 5/9/1945 về cấm phục vụ trong Quân đội bù nhìn, bán thực phẩm cho bọn đế quốc Pháp và hợp tác với chúng [2, tr.5]; Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945 về ấn định thể lệ trưng dụng, trưng thu và trưng tập [5, tr.107]; Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán [7, tr.64]; Sắc lệnh số 163 ngày 23/8/1946 (với các bổ sung bởi Sắc lệnh số 264 ngày 1/12/1948) về việc thành lập Tòa án binh lâm thời đặt tại Hà Nội[12, tr 471; 19, tr.11]; Sắc lệnh số 200 ngày 8/7/1948 về việc trưng tập công chức trong thời kỳ kháng chiến [17, tr.17]; Sắc lệnh số 93 ngày 22/5/1950 về nghĩa

Trang 18

tr.141]; Sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946 về đảm bảo tự do cá nhân (các điều 18-22) [10, tr.64]; Sắc lệnh số 128 ngày 17/7/1950 về trừng trị những hành vi bóc trộm, ăn cắp hay thủ tiêu công văn của Chính phủ và thư từ của tư nhân (đã nêu trên); Thông tư 442-TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng chính phủ về trừng trị một số tội xâm phạm nhân thân [29, tr.170]

c) Trong công cuộc xây dựng kinh tế - văn hóa - xã hội của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn đang nghiên cứu (1945-1955) đã có một loạt các văn bản pháp luật hình sự thuộc 02 nhóm đã nêu trên (các đạo luật hình sự

và các đạo luật mang tính hình sự) được Nhà nước công nông ban hành để bảo vệ các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực này là:

Nhóm thứ nhất là các đạo luật hình sự bao gồm: Sắc lệnh số 26 ngày 25/1/1946 (được bổ sung bởi Sắc lệnh số 92 ngày 4/6/1946) về trừng trị các hành vi cố ý hủy hoại hoặc trộm cắp công sản [9, tr.140]; Sắc lệnh số 12 ngày 12/3/1949 về trừng trị tội trộm cắp tài sản của Quân đội [18, tr.4]; Sắc lệnh số

180 ngày 20/12/1950 về trừng trị các hành vi xâm phạm hệ thống tiền tệ [21, tr.137]; Sắc lệnh số 151 ngày 12/4/1953 về trừng trị các hành vi chống đối pháp luật của bọn địa chủ [25, tr.51; 47, tr.98-100]; v.v

Nhóm thứ hai là các đạo luật mang tính hình sự bao gồm: Sắc lệnh số 7 ngày 5/9/1945 về việc cấm tích trữ thóc gạo nhằm mục đích đầu cơ [2, tr.6]; Sắc lệnh số 45 ngày 5/4/1946 về lạc quyên xổ số trái phép [11, tr.218]; Sắc lệnh số 202 ngày 15/10/1946 về thể lệ buôn bán vàng bạc [13, tr.559]; Sắc lệnh số 61 ngày 5/4/1947 về cấm xuất cảng tư bản [15, tr.2]; Sắc lệnh số 257 ngày 19/11/1948 về cấm tích trữ hàng hóa cần thiết cho đời sống của nhân dân nhằm mục đích đầu cơ [16, tr.6]; Sắc lệnh số 68 ngày 16/8/1949 về thể lệ bảo vệ các công trình thủy nông [19, tr.6]; Sắc lệnh số 124 ngày 27/10/1949

về việc mở hiệu bào chế theo lối Âu Mỹ và cửa hàng đại lý bán thuộc Âu Mỹ

Trang 19

[20, tr.2]; Sắc lệnh số 163 ngày 17/11/1950 về hạn chế giết thịt trâu bò [23, tr.309]; Điều lệ số 542-TTg ngày 26/5/1955 của Thủ tướng chính phủ về thuế kinh doanh nghệ thuật [28, tr.131]; v.v

1.1.4 Một số yếu tố của pháp luật hình sự Cộng hòa Pháp với tư cách

là kết quả tất yếu của tính thừa kế pháp luật vẫn còn được giữ lại trong hệ thống pháp luật hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn đang nghiên cứu (1945-1955) Đặc điểm cơ bản thứ 4 này trong quá trình xây dựng những cơ sở để hình thành nên hệ thống pháp luật hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong giai đoạn đang nghiên cứu có thể được lý giải bởi 02 nguyên nhân chủ yếu dưới đây:

1) Nguyên nhân thứ nhất: trong vòng vây thù trong giặc ngoài mưu toan phá hoại nền độc lập và những thành quả đầu tiên của Cách mạng tháng Tám mới giành được của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (như: bọn Việt gian phản động trong nước, bọn Tàu Tưởng ở Miền Bắc và bọn thực dân Pháp

ở Nam bộ) vì chúng ta vừa phải lo triển khai công cuộc xây dựng và củng cố những cơ sở chính trị - pháp lý đầu tiên của Nhà nước công nông còn non trẻ

và lại vừa phải tiến hành cuộc kháng chiến Thần thánh lần thứ nhất 1954) chống bọn thực dân Pháp (vì tuy đã bị thất bại sau Cách mạng tháng 8/1945 song chúng vẫn luôn gây hấn ở Nam bộ vì vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa) nên chính quyền Cách mạng ít có thời gian dành cho hoạt động lập pháp

(1946-2) Nguyên nhân thứ hai: do đội ngũ chuyên gia pháp lý đã được đào tạo

ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong giai đoạn này còn thiếu hụt nghiêm trọng vì lực lượng đông đảo quần chúng nước ta đi theo Cách mạng chủ yếu chỉ là 02 giai cấp (công nhân và nông dân, trong đó nông dân chiếm đa số với hơn 90 % dân số), trong khi đó tầng lớp trí thức pháp lý nếu sống ở Việt Nam

Trang 20

thì cũng chủ yếu được đào tạo theo chương trình luật của Pháp (nhưng đa số những người này chủ yếu sống và làm việc ở Pháp) Do đó, theo đường lối đoàn kết đại dân tộc của Hồ Chủ tịch đội ngũ trí thức pháp lý đi theo Cách mạng đã sử dụng và kế thừa các kiến thức của mình đã được đào tạo để góp phần đáng kể vào hoạt động lập pháp của Nhà nước công nông Việt Nam trẻ tuổi trong 10 năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám (1945-1955) Mà trong

số này đã có những luật gia kỳ cựu dày dạn kinh nghiệm đã làm việc tại Vụ nghiên cứu pháp luật thuộc Tòa án nhân dân tối cao cho đến tận những năm

80 của thế kỷ XX ( như: các cố luật gia Lê Kim Quế, Vũ Thiện Kim, Phan Huy Xương, v.v )

1.1.5 Vẫn chưa có sự phân chia rõ ràng giữa các quy định của Phần chung và Phần riêng trong hệ thống pháp luật hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn đang nghiên cứu (1945-1955) Đặc điểm cơ bản này

có thể được lý giải như sau:

1) Vì việc nghiên cứu các quy định được nhà làm luật Việt Nam ghi nhận trong 2 nhóm văn bản pháp luật đề cập đến việc đấu tranh chống tội phạm giai đoạn này cho thấy, thời điểm đó vì các điều kiện lịch sử - chính trị - kinh tế cụ thể của nước nhà nên pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa phân biệt giới hạn giữa các chế định pháp lý trong Phần chung

và các quy định về các tội phạm cụ thể trong Phần riêng pháp luật hình sự

2) Bởi lẽ, trong giai đoạn này Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ yếu là ban hành trực tiếp các Sắc lệnh đề cập đến trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm cụ thể trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước (vì trong các Sắc lệnh đó phần lớn ghi nhận các quy định liên quan đến các cấu thành tội phạm cụ thể của Phần riêng)

Chính vì vậy, liên quan đến các quy định của Phần chung pháp luật

Trang 21

hình sự thì ở một mức độ nào đó chỉ bao gồm một số ít quy định có liên quan trong một số văn bản pháp luật hình sự (thuộc cả 2 nhóm đã nêu trên) đã được Nhà nước công nông ban hành trong giai đoạn này (1945-1955) mà chúng ta

sẽ lần lượt xem xét dưới đây

1.2 Sự hình thành các quy định pháp luật hình sự Phần chung của Nhà nước công nông Việt Nam trong giai đoạn được nghiên cứu

1.2.1 Trước khi xem xét sự hình thành các quy định Phần chung pháp luật hình sự của Nhà nước công nông Việt Nam giai đoạn 10 năm đầu tiên từ sau Cách mạng tháng Tám đến khi cấm hoàn toàn việc áp dụng các đạo luật hình sự của chế độ cũ (1945-1955) thiết nghĩ cần phải lưu ý rằng, do những khó khăn của tình trạng thời chiến giai đoạn này nên lúc bấy giờ khoa học luật hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa thể phát triển như trong thời bình được và chính vì vậy, cũng hoàn toàn chưa có sự phân biệt gì đến 2 khái niệm Phần chung và Phần riêng luật hình sự Mặt khác, trong các văn bản pháp luật hình sự lúc bấy giờ cũng không hề có sự phân chia rõ ràng

và dứt khoát các quy định nào là thuộc Phần chung và các quy định nào là thuộc Phần riêng Chính vì vậy, khi phân tích khoa học các quy định của pháp luật hình sự trong Mục 1.2 này chúng ta cần lưu ý như sau:

1) Thực chất là khi nghiên cứu các quy định của Phần chung pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn 10 năm đầu tiên (1945-1955) từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đến khi cấm hoàn toàn việc

áp dụng các đạo luật hình sự cũ, về cơ bản chỉ là lựa chọn ra từ các sắc lệnh đầu tiên đề cập trực tiếp đến việc đấu tranh chống tội phạm (tức là Phần riêng pháp luật hình sự) và những gì có liên quan đến Phần chung pháp luật hình sự

mà phân tích

2) Có nhiều nguyên nhân (chủ quan và khách quan) khác nhau nên các

Trang 22

văn bản pháp luật được ban hành lúc bấy giờ chưa có sự phân biệt rõ ràng, rành mạch giữa các quy định của Phần chung và Phần riêng và do đó, không thể gọi ngay đó là Phần chung được mà trước 2 từ Phần chung ở đây đôi khi cần phải có các thuật ngữ là có liên quan đến Phần chung thì mới bảo đảm tính chính xác với không gian và thời gian lúc bấy giờ

3) Vì 2 lý do nêu trên, nên thực chất khi nghiên cứu các quy định nào

có liên quan (dù chỉ là ở mức độ rất ít) đến Phần chung pháp luật hình sự giai đoạn này để phân tích riêng (từ mục 1.2.2 đến 1.2.10) dưới đây, chúng ta gặp không ít khó khăn vì phải chịu khó đầu tư nhiều thời gian để tìm tòi, khảo cứu

tỉ mỉ và cụ thể để chắt lọc và tách bóc riêng ra từ các văn bản pháp luật hình

sự (thuộc 2 nhóm đã nêu trên) mà trong đó chủ yếu là quy định về các tội phạm và các hình phạt cụ thể (tức thuộc Phần riêng)

1.2.2 Khái niệm tội phạm mặc dù chưa được chính thức đề cập đến trong bất kỳ quy định của pháp luật hình sự nào của nước ta trong giai đoạn 1945-1955 Tuy nhiên, việc phân tích cả 2 nhóm các sắc lệnh đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn này chúng ta có thể nhận thấy rằng: Ở các mức độ khác nhau nhà làm luật đã cho thấy căn cứ lập pháp lý để hình thành nên quan niệm về hành vi (bằng hành động) hoặc bất tác vi (không hành động) như thế nào thì bị coi là tội phạm; vì gây thiệt hại cho các quan hệ

xã hội mới (các lợi ích của Nhà nước công-nông và của nhân dân lao động) nên người đã thực hiện hành vi đó phải bị xử phạt bằng chế tài pháp lý về hình sự, chẳng hạn như:

1) Hành vi (bằng hành động) Một trong các sắc lệnh đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ─ Sắc lệnh số 7 ngày 5/9/1945 về việc cấm tích trữ thóc gạo nhằm mục đích đầu cơ (đã nêu trên) quy định tại Điều 4 rằng: Kẻ nào tích trữ thóc gạo, mưu sự đầu cơ, xét ra có phương hại đến nền kinh tế sẽ

Trang 23

bị nghiêm phạt theo quân luật và gia sản sẽ bị tich thu [40, tr.448] Như vậy, theo văn bản pháp luật hình sự này thì bất kỳ hành vi tích trữ thóc gạo nào nhằm mục đích đầu cơ gây thiệt hại cho nền kinh tế của đất nước thì đều bị coi là nguy hiểm cho xã hội và vì thế, bị nhà làm luật coi là tội phạm Quy định tương tự như vậy cũng đã được ghi nhận bởi một loạt các sắc lệnh khác (đã nêu trên) của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn này như: Sắc lệnh số 6 ngày 5/9/1945 về việc cấm phục vụ trong Quân đội bù nhìn, bán thực phẩm cho bọn đế quốc Pháp và hợp tác với chúng; Sắc lệnh số 223 ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ; Sắc lệnh số

61 ngày 5/4/1947 về cấm xuất cảng tư bản; Sắc lệnh số 163 ngày 14/4/1948

về trừng trị các tội đánh bạc; Sắc lệnh số 180 ngày 20/12/1950 về trừng trị các hành vi xâm phạm hệ thống tiền tệ; v.v

2) Bất tác vi (không hành động) Bên cạnh những hành vi bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt, trong các sắc lệnh đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhà làm luật cũng đã quy định trách nhiệm hình sự đối với

cả bất tác vi, nó bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt Ví dụ:

a) Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945 về ấn định thể lệ trưng dụng, trưng thu và trưng tập (đã nêu trên) quy định tại khoản 1 Điều 12 rằng: Người nào nhận được lệnh trưng tập mà không tuân hành sẽ bị truy tố trước Tòa án thường và bị phạt tù từ 6 ngày đến 3 tháng, và phạt tiền từ 100 đồng đến 2000 đồng hoặc một trong hai hình phạt ấy Nếu tái phạm sẽ bị phạt tù từ 2 tháng đến 2 năm và phạt tiền từ 300 đồng đến 20.000 đồng [23, tr.107]

b) Tương tự như trên, việc trừng phạt bất tác vi phạm tội cũng đã được quy định trong một loạt các văn bản pháp luật hình sự khác của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn này như: Sắc lệnh số 162 ngày 23/8/1946 về trưng tập các y sỹ, dược sỹ, nha sỹ [6, tr.470]; Sắc lệnh số 200 ngày 8/7/1948

Trang 24

về việc trưng tập công chức trong thời kỳ kháng chiến (đã nêu trên); Sắc lệnh

số 93 ngày 22/5/1950 về nghĩa vụ kháng chiến (đã nêu trên); Sắc lệnh số 106 ngày 15/6/1950 về nghĩa vụ quân sự (đã nêu trên); Điều lệ tạm thời số 184/TTg ngày 14/4/1952 về nghĩa vụ dân công [47, tr.137];v.v

1.2.3 Vấn đề áp dụng nguyên tắc tương tự trong pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn 1945-1955 mặc dù không được nhà làm luật quy định chính thức bằng quy định chung nào, nhưng nó được ghi nhận bằng 3 điều luật riêng biệt trong các văn bản pháp luật hình sự đề cập đến trách nhiệm hình sự đối với một số loại tội phạm nhất định (đã nêu trên) mà về cơ bản có nội dung giống nhau ─ nếu có hành động phạm pháp chưa được quy định trong văn bản tương ứng thì sẽ theo tội (điều luật) tương

tự để xét xử, mà cụ thể là: Sắc lệnh 133 ngày 20/1/1953 về trừng trị những tội phạm đến an toàn Nhà nước đối nội và đối ngoại (Điều 19); Sắc lệnh số 151 ngày 12/4/1953 về việc trừng trị các hành vi chống đối pháp luật của bọn địa chủ (Điều 11); Thông tư 442-TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng chính phủ

về trừng trị một số tội xâm phạm nhân thân (đoạn 2 Tiểu mục 4)

1.2.4 Lỗi với tư cách là một chế định độc lập của luật hình sự vẫn chưa

hề được ghi nhận bởi quy định nào đó trong pháp luật hình sự Việt Nam, không chỉ giai đoạn đang nghiên cứu (1945-1955), mà còn cả giai đoạn 30 năm tiếp theo cho đến tận trước khi thông qua Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (1955-1985) Tuy nhiên, một số văn bản pháp luật hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong 10 năm đầu tiên sau Cách mạng (1945-1955) ở một mức độ nào đó đã biết đến việc phân loại tội phạm theo 2 hình thức lỗi ─ cố ý và vô ý, cũng như mục đích phạm tội với tư cách là các dấu hiệu bắt buộc của một số cấu thành tội phạm Chẳng hạn như:

1) Sắc lệnh số 69 ngày 10/12/1951 về bảo vệ bí mật Nhà nước đã đề cập đến cố ý tiết lộ (Điều 4) và vô ý tiết lộ (Điều 5) bí mật Nhà nước [47, tr.133]

Trang 25

2) Thông tư 442-TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng chính phủ về trừng trị một số tội xâm phạm nhân thân (đã nêu trên) ─ cố ý giết người (đoạn

2 Tiểu mục 3) vô ý làm chết người (đoạn 3 Tiểu mục 3)

3) Sắc lệnh 133 ngày 20/1/1953 về trừng trị những tội phạm xâm phạm đến an toàn Nhà nước đối nội và đối ngoại (đã nêu trên) coi mục đích phản quốc là dấu hiệu bắt buộc của một loạt các cấu thành tội phạm (tại các điều 8-12)

1.2.5 Đồng phạm với tư cách là một chế định độc lập của luật hình sự, hoàn toàn vẫn chưa được ghi nhận chính thức về mặt lập pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam trong suốt giai đoạn 40 năm (1945-1985) Tuy nhiên, ở một chừng mực nhất định một số văn bản pháp luật hình sự giai đoạn này (1945-1955) đã biết đến sự phân hóa trách nhiệm hình sự của các loại người đồng phạm khác nhau (kể cả người oa trữ, vì pháp luật hình sự giai đoạn này coi người oa trữ như là người giúp sức (mặc dù trong tất cả các văn bản pháp luật hình sự vẫn chưa đề cập gì đến việc có hứa hẹn trước hay không)

1) Tuy nhiên, vào những năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám trong kết quả của sự kế thừa từ pháp luật hình sự của Pháp nên pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định trách nhiệm hình sự ngang bằng nhau của tất cả những người đồng phạm như Bộ luật hình sự Pháp năm

1810 (Điều 59) (khi khác với những Bộ luật hình sự khác không biết đến sự bắt buộc giảm nhẹ hình phạt cho những người đồng phạm), chẳng hạn tại một

số văn bản pháp luật (đã nêu trên) như:

a) Sắc lệnh số 27 ngày 23/2/1946 về trừng trị các tội bắt cóc, tống tiền

và ám sát (Điều 2) đã quy định xử phạt những người tòng phạm (giúp sức) hoặc oa trữ (che giấu) như chính phạm (người thực hành)

b) Sắc lệnh số 168 ngày 14/4/1948 về trừng trị các tội đánh bạc (Điều

Trang 26

2) đã quy định xử phạt người giúp sức như người tổ chức đánh bạc, mà chưa

có sự phân hóa trách nhiệm hình sự

c) Sắc lệnh số 128 ngày 17/7/1950 về trừng trị các tội đánh bạc (đoạn 2 Điều 1) đã quy định xử phạt những người tòng phạm (giúp sức) như chính phạm (thực hành); v.v

2) Tuy nhiên về sau này, pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã có sự đánh giá khác nhau về mặt nguyên tắc vai trò và mức độ tham gia của từng loại người đồng phạm Ví dụ: Tại các điều 4-7, 11 và 13 Sắc lệnh 133 ngày 20/1/1953 về trừng trị những tội phạm đến an toàn Nhà nước đối nội và đối ngoại (đã nêu trên) bên cạnh việc quy định trách nhiệm hình sự nặng hơn của người tổ chức so với người thực hành và người giúp sức, cũng đã phân loại những hành vi của người xúi giục (Điều 8) và người che giấu như là những cấu thành tội phạm riêng biệt với các chế tài xử phạt được quy định như đối với những hành vi của người tổ chức

3) Đối với các hình thức đồng phạm, thì pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn này không ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm nào, mà chỉ quy định việc thực hiện tội phạm của từ 2 người trở lên hoặc của một nhóm người có tổ chức là những tình tiết tăng nặng đối với một số cấu thành tội phạm riêng biệt Chẳng hạn như:

a) Theo các văn bản pháp luật (đã nêu trên) như: Sắc lệnh số 163 ngày 23/8/1946 (với các bổ sung bởi Sắc lệnh số 264 ngày 1/12/1948) về việc thành lập Tòa án binh lâm thời đặt tại Hà Nội (các đoạn 2-4 điểm e Điều 7) quy định là đào ngũ mà do 2 người trở lên thực hiện, Thông tư 442-TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng Chính phủ về trừng trị một số tội xâm phạm nhân thân thì các hành vi cướp giật và trộm được thực hiện bởi nhóm người có tổ chức như là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Trang 27

b) Còn Sắc lệnh số 106 ngày 15/6/1950 về trừng trị việc trốn tránh nghĩa vụ quân sự (đã nêu trên) quy định việc cùng bàn bạc và cùng trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc việc phục vụ trong quân đội như là cấu thành tội phạm độc lập (điểm b Điều 4)

1.2.6 Tái phạm với tư cách là một chế định độc lập mặc dù chưa được chính thức ghi nhận bằng quy định nào đó của Phần chung pháp luật hình sự của nước ta giai đoạn này (1945-1955) nhưng ở một mức độ nhất định đã đề cập đến trong pháp luật hình sự, mà cụ thể là:

1) Khi định nghĩa khái niệm chung về tái phạm Điều 180 Luật về lao động ngày 12/3/1947 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa [14, tr.1] đã quy định rằng, vi phạm lại lần thứ 2 pháp luật lao động trong thời hạn 12 tháng sau lần vi phạm đầu tiên thì bị coi là tái phạm Như vậy, theo pháp luật hình

sự giai đoạn này thì đây chính là tái phạm đặc biệt vì chỉ có 1 dạng duy nhất

─ khi thực hiện lần thứ 2 chính tội ấy hoặc tội cùng 1 loại trong một thời gian nhất định sau khi phạm tội thứ nhất

2) Ngoài ra, tái phạm còn bị coi là tình tiết tăng nặng đối với một số các tội phạm riêng biệt tại một số các văn bản pháp luật hình sự (đã nêu trên) của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong giai đoạn này như: Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945 về ấn định thể lệ trưng dụng, trưng thu và trưng tập trong thời kỳ kháng chiến (khoản 2 mục 1 và khoản 2 Điều 12); Sắc lệnh số 45 ngày 5/4/1946 về lạc quyên xổ số trái phép (đoạn 2 Điều 6); Sắc lệnh số 61 ngày 5/7/1947 về cấm xuất cảng tư bản (khoản 2 mục 3 Điều 3); Sắc lệnh số

163 ngày 14/4/1948 về trừng trị các tội đánh bạc (khoản 2 Điều 4); Sắc lệnh

số 124 ngày 27/10/1949 về việc mở hiệu bào chế theo lối Âu Mỹ và cửa hàng đại lý bán thuộc Âu Mỹ (Điều 4); Sắc lệnh số 163 ngày 17/11/1950 về việc hạn chế giết thịt trâu bò (Điều 3);

Trang 28

1.2.7 Hệ thống và các loại hình phạt Trong pháp luật hình sự và trong thực tiễn xét xử của Việt Nam trong suốt giai đoạn 40 năm (1945-1985) chưa

hề tồn tại bất kỳ một văn bản nào đề cập riêng đến một danh mục đầy đủ và chi tiết các loại hình phạt bắt buộc dành cho các Tòa án Vấn đề này có thể được lý giải bởi một thực tế là hầu như tất cả các loại hình phạt đều đã bị phân bố rải rác trong rất nhiều các văn bản pháp luật hình sự khác nhau thuộc

2 nhóm (đã nêu trên) ─ các đạo luật hình sự và các đạo luật có tính chất hình

sự Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các chế tài khác nhau từ 2 nhóm văn bản của pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn này (1945-1955) cho thấy một số nét cơ bản của hệ thống hình phạt như sau:

1) Căn cứ các văn bản pháp luật hình sự khác nhau thuộc 2 nhóm (đã nêu trên) cho thấy, có tất cả tám loại hình phạt là: Tử hình; Tù chung thân; Tù

có thời hạn (từ 03 ngày đến 20 năm); Tịch thu tài sản (một phần hoặc toàn bộ); Buộc bồi thường thiệt hại đã gây ra; Tước quyền công dân; Quản chế (từ

1 đến 3 năm); Phạt tiền Trong đó: 3 loại đầu tiên là các hình phạt chính, 3 loại tiếp theo là các hình phạt bổ sung và 2 loại cuối cùng là các hình phạt vừa

là chính vừa là hình phạt bổ sung

2) Ngoài 2 loại hình phạt (quản chế và tước quyền công dân) ra, tất cả 6 loại hình phạt còn lại đều được ghi nhận rất đơn giản trong các chế tài quy định trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm riêng biệt (tức Phần riêng pháp luật hình sự)

3) Hình phạt quản chế được quy định trong Sắc lệnh số 175 ngày 18/8/1953 về quản chế [27, tr.100] (gồm 12 điều) đề cập đến bản chất pháp lý, căn cứ và những điều kiện áp dụng hình phạt này Các quy định trong văn bản lưỡng tính này (vì mang tính chất cưỡng chế hình sự-hành chính) đã ghi nhận

cụ thể bảy nội dung cơ bản sau đây: Mục đích quản chế (các điều 1-3); Những

Trang 29

hạng người cần quản chế (Điều 4); Kỷ luật quản chế (các điều 5-6); Thời hạn quản chế (Điều 7); Cơ quan có quyền quyết định quản chế (Điều 8); Cơ quan thi hành việc quản chế (Điều 9); Nhiệm vụ của nhân dân trong việc quản chế (các điều 10-12)

4) Để cụ thể hóa và giải thích Sắc lệnh số 175 trên đây, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa còn ban hành Nghị định số 298-TTg ngày 18/8/1953 của Thủ tướng Chính phủ [27, tr.103] (gồm 10 điều) quy định ba vấn đề chính: Kỷ luật quản chế (các điều 1-3); Quyết định quản chế (các điều 4-6); Thi hành lệnh quản chế (các điều 7-10)

5) Hình phạt tước quyền công dân được quy định tại Điều 5 Nghị định

số 264-TTg ngày 11/5/1953 của Thủ tướng chính phủ về quy định chi tiết việc thi hành các Sắc lệnh số 149, 150 và 151 ngày 12/4/1953 về chính sách ruộng đất [26, tr.67] (gồm 6 điều) với các thời hạn cụ thể bị tước quyền công dân như sau: Bị án quản chế, án tù ─ mất quyền công dân trong thời gian bị án; Bị án từ 10 năm tù trở lên ─ mất quyền công dân suốt đời; Bị án từ 10 năm tù trở xuống ─ mất quyền công dân ngang với thời gian ở tù

1.2.8 Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự với tư cách là một chế định độc lập vẫn chưa được ghi nhận chính thức về mặt lập pháp trong pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn này (1945-1955) Tuy nhiên, trong giai đoạn này đã có một loạt văn bản đề cập đến trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm nhất định ở một chừng mực nào

đó đã có sự phân biệt giữa các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng định khung, mà

cụ thể là:

1) Căn cứ vào một số văn bản (đã nêu trên) ─ Sắc lệnh số 223 ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm, bỉển thủ công quỹ (Điều 2); Sắc lệnh số 133 ngày 20/1/1953 về trừng trị những tội phạm đến an toàn Nhà

Trang 30

nước đối nội và đối ngoại (Điều 17); Sắc lệnh số 151 ngày 12/4/1953 về việc trừng trị các hành vi chống đối pháp luật của bọn địa chủ (đoạn 1 Điều 7); v.v ─ thì các tình tiết được coi là giảm nhẹ (thậm chí đến mức tha bổng, tức

là miễn trách nhiệm hình sự) là: Thành thực hối cải, lập công chuộc tội trước khi bị truy tố; Thành thực tự thú, khai rõ những âm mưu của mình và đồng bọn; Bị ép buộc, lừa dối mà chưa gây hại nhiều

2) Căn cứ vào một số văn bản (đã nêu trên) ─ Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945 về ấn định thể lệ trưng dụng, trưng thu và trưng tập trong thời kỳ kháng chiến; Sắc lệnh số 162 ngày 23/8/1946 về trưng tập các y sỹ, dược sỹ, nha sỹ; Sắc lệnh số 163 ngày 23/8/1946 (với các bổ sung bởi Sắc lệnh số 264 ngày 1/12/1948) về việc thành lập Tòa án binh lâm thời tại Hà Nội; Sắc lệnh

số 61 ngày 5/7/1947 về cấm xuất cảng tư bản; Sắc lệnh số 163 ngày 14/4/1948 về trừng trị các tội đánh bạc; Sắc lệnh số 151 ngày 12/4/1953 về việc trừng trị các hành vi chống đối pháp luật của bọn địa chủ; ─ thì phạm tội với các tình tiết sau đây sẽ bị tăng nặng hình phạt: Tái phạm; Cộng (đồng) phạm; Phạm tội có tổ chức; Phạm tội có dự mưu; Xúi giục người khác phạm tội; Đã được khoan hồng mà lại phạm tội mới; Phạm tội trong thời chiến (phía trước có kẻ thù)

1.2.9 Chế định án treo mặc dù chưa được chính thức ghi nhận bởi quy định nào đó của Phần chung pháp luật hình sự Việt Nam suốt 40 năm cho đến tận khi thông qua Bộ luật hình sự đầu tiên của đất nước (1945-1985), nhưng ở một mức độ nào đó đã được biết đến với tư cách là một trong những chế định

cơ bản và quan trọng của pháp luật hình sự nước ta giai đoạn 10 năm đang nghiên cứu (1945-1955) Phân tích nội dung Điều 10 Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 về việc tổ chức các Tòa án quân sự [8, tr.115] cho thấy, lần lượt các bước thứ tự trong quy trình quyết định cho người bị kết án hưởng án treo được nhà làm luật ghi nhận về mặt lập pháp hình sự (mà chúng ta có thể nhận

Trang 31

thấy lần lượt theo trình tự 4 bước) như sau: Khi xử phạt tù, Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng; Bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ việc thi hành; Nếu trong thời hạn 5 năm kể từ ngày tuyên

án, tội nhân không bị Tòa án quân sự làm tội xét xử một lần nữa về một tội mới, thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như không có; Nếu trong 5 năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước một Tòa án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành

1.2.10 Đại xá với tư cách là một chế định riêng biệt quan trọng thuộc Phần chung luật hình sự, nhưng hơn 70 năm đã trôi qua và cho đến tận hôm nay vẫn chưa chính thức được điều chỉnh đầy đủ về mặt lập pháp trong pháp luật hình sự nước ta Mặc dù trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992

và 2013 với tư cách là các Luật cơ bản của Việt Nam qua các thời kỳ đều có ghi nhận vấn đề đại xá là thuộc thẩm quyền của Quốc hội Bởi lẽ trong giai đoạn 10 năm đang nghiên cứu nói riêng (1945-1955), cũng như trong toàn bộ thời kỳ 70 năm trước khi hình thành Bộ luật hình sự thứ ba nói chung (1945-2015) dưới góc độ pháp lý hình sự vấn đề đại xá mới chỉ được đề cập đến có

2 lần qua 2 văn bản pháp luật hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhân dịp 2 sự kiện chính trị có ý nghĩa to lớn và quan trọng của dân tộc trong đời sống thực tiễn là:

1) Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám (19/8/1945) và Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1945)

2) Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) và giải phóng hoàn toàn Thủ đô Hà Nội (10/10/1954) Chính vì vậy, để có căn cứ đưa ra nhận xét về chế định đại xá trong pháp luật hình sự Việt Nam chúng ta sẽ lần lượt xem xét về mặt lập pháp hình sự của 2 văn bản pháp luật hình sự liên quan đến đại xá để từ đó có

Trang 32

các căn cứ pháp lý đưa ra sự phân tích khoa học, chế định nhân đạo này của luật hình sự sau Cách mạng tháng Tám của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong giai đoạn đang nghiên cứu (1945-1955)

Sắc lệnh số 52 ngày 20/10/1945 về xá miễn cho một số tội phạm trước ngày 19/8/1945 [4, tr.57] gồm 7 điều (tác giả xin được trung thành với việc sử dụng thuật ngữ xá miễn trong văn bản này của nhà làm luật) với nội dung như sau: Điều 1 quy định phạm vi 9 loại tội đã phạm trước ngày 19/8/1945 được

xá miễn hoàn toàn; Điều 2 ─ các đối tượng được xá miễn và quy trình xét xá miễn; Điều 3 ─ những khinh tội nào được xá miễn; Điều 4 ─ hậu quả pháp lý của những tội sau khi được xá miễn; Điều 5 ─ bồi thường thiệt hại của tội nhân cho người bị hại; Điều 6 ─ cấm tất cả công chức hành chính, tư pháp và thẩm phán không được nhắc đến, lưu lại trong hồ sơ một vết tích gì về những tội đã được xá miễn; Điều 7 ─ thể thức thi hành

Thông tư số 413-TTg ngày 9/11/1954 của Thủ tướng chính phủ về đại

xá [40, tr.185-187] gồm 5 Mục lớn là: I) Ýnghĩa của việc đại xá; II) Tội được đại xá và tội không được đại xá; III) Hiệu lực của việc đại xá; IV) Trường hợp

ân xá và ân giảm; V) Cách thức thi hành

3) Việc phân tích khoa học một cách kỹ càng và nội dung của các quy định trong 2 văn bản pháp luật hình sự nêu trên về đại xá cho phép đưa ra một

số nhận xét về chế định đại xá trong luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa như sau:

a) Bằng 2 văn bản nêu trên chế định đại xá đã được áp dụng đối với một loạt các tội phạm và một phạm vi rộng lớn những người bị kết án ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không chỉ trong giai đoạn 10 năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám (1945-1955), mà cả trong những năm tiếp theo sau đó

b) Đại xá với tư cách là một chế định nhân đạo đã khẳng định tính ưu

Trang 33

việt của luật hình sự Việt Nam sau cách mạng bằng chính hậu quả pháp lý hình sự có lợi cho những người bị kết án ở chỗ họ được: Miễn hoàn toàn 2 loại hình phạt (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung); Xóa hoàn toàn án tích; Phục hồi lại toàn bộ các quyền công dân

c) Việc quy định về loại tội phạm và các tiêu chuẩn cụ thể đối với người được hưởng chế định đại xá cho thấy, đại xá không chỉ là một văn bản quy định (chứ không phải là văn bản chính trị) mà còn là một chế định độc lập của pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn 10 năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám (1945-1955)

d) Chế định đại xá đã góp phần minh chứng bản chất nhân đạo vì các quyền con người của lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu mà điều này đã được thể hiện rõ trong chính sách hình sự (nói chung) và pháp luật hình sự (nói riêng) sau Cách mạng tháng Tám của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong những năm cầm quyền của Người

đ) Với những nội dung đã phân tích trên đây cho thấy, một trong những khiếm khuyết cần phải được khắc phục của pháp luật hình sự thực định nước

ta từ khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên (1985) cho đến nay là 2 từ đại xá chỉ được đề cập đến trong một số biện pháp tha miễn nhưng chưa hề được chính thức cụ thể hóa và ghi nhận đầy đủ với tư cách là một chế định độc lập của pháp luật hình sự Việt Nam Chính vì vậy, để thực hiện đúng quan điểm của Đảng đã chỉ đạo là lời nói phải đi đôi với việc làm trong cuộc vận động Học tập và làm theo tư tưởng phong cách đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay, thì nhà làm luật Việt Nam cần thể hiện trên thực tế (chứ không phải bằng lời nói)

sự kế thừa di sản nhân đạo cách đây hơn 70 năm của Bác Hồ bằng việc ghi nhận chế định đại xá (mà Người đã đưa ra từ năm 1945) vào pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành Vì vậy, thiết nghĩ cần bổ sung chế định này vào Bộ luật

Trang 34

hình sự Việt Nam tương lai tại chương về các biện pháp tha miễn với các kiến giải lập pháp về một điều luật cụ thể như sau:

Điều… Đại xá

“1 Đại xá là quyết định của Quốc hội đối với riêng một phạm vi không

nhất định người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và có thể được tuyên bố nhân dịp có sự kiện lịch sử đặc biệt quan trọng của đất nước

2 Bằng văn bản đại xá:

a) Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự;

b) Người bị kết án có thể được miễn hình phạt, giảm mức hình phạt đã được tuyên, miễn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn hoặc giảm thời hạn chấp hành hình phạt;

c) Người đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của Tòa

án có thể được xóa án tích”

Trang 35

Kết luận Chương 1

Trên cơ sở phân tích khoa học dưới khía cạnh lịch sử - lập pháp hình sự những vấn đề trong Mục 1.2 này về việc xây dựng hệ thống và sự hình thành các quy định của Phần chung pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám đến khi cấm hoàn toàn việc áp dụng các đạo luật hình sự cũ (1945-1955) cho phép đưa ra tiểu kết như sau:

Một là, trong giai đoạn này bằng các sắc lệnh của chính quyền Cách mạng đã bước đầu xây dựng và dần dần hình thành nên những nền tảng mới của pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Hai là, do hoàn cảnh lịch sử - chính trị cụ thể (vừa kháng chiến, vừa kiến quốc) của cuộc kháng chiến thần thánh lần thứ nhất nên trong hệ thống pháp luật hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn này (1945-1955) vẫn còn tạm thời giữ lại một bộ phận các đạo luật hình sự cũ trước Cách mạng

Ba là, tuy nhiên trong giai đoạn này các đạo luật hình sự cũ chỉ có tính chất là nguồn thứ yếu và mang tính bổ trợ, còn nguồn cơ bản và quan trọng hơn cả của pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ yếu là các sắc lệnh với tư cách là các đạo luật mới do chính quyền Cách mạng ban hành theo 2 nhóm văn bản pháp luật ─ các đạo luật hình sự và các đạo luật có tính chất hình sự

Bốn là, trong pháp luật hình sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn này (1945-1955) ở các mức độ khác nhau, đã hình thành nên một

số chế định (quy định) có tính ưu việt của Phần chung là: 1) Chế định đại xá; 2) Chế định án treo; 3) Chế định tái phạm; 4) Sự phân loại tính nguy hiểm cho xã hội của một số tội phạm riêng biệt theo mặt chủ quan (lỗi cố ý

và vô ý); 5) Sự phân loại (ở một mức độ nhất định) các tình tiết tăng nặng

và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Trang 36

Năm là, do điều kiện thời chiến (vừa phải kháng chiến chống thù trong giặc ngoài, vừa phải xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ) nên pháp luật hình sự nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn 10 năm đầu tiên sau Cách mạng (1945-1955), ở các mức độ khác nhau, vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế

Trang 37

Chương 2

SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM (PHẦN CHUNG) GIAI ĐOẠN 1955-1985

2.1 Sự phát triển của hệ thống các văn bản pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn 1955-1985

Bối cảnh lịch sử của đất nước trong 30 năm trước khi thông qua Bộ luật hình sự đầu tiên (1955-1985) đó là sau chiến thắng vĩ đại của chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử (7/5/1954) Hiệp định Giơnevơ đã được ký kết và kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954) Nhưng kẻ thù ngoan cố đã không thi hành Hiệp định Giơnevơ và nhân dân ta đã lại một lần nữa phải kháng chiến lần thứ 2 trong suốt 20 năm đánh bại kẻ thù xâm lược cướp nước và bán nước (1954-1975)

Từ bối cảnh lịch sử đã nêu trên, tác giả cho rằng sự phát triển của hệ thống các văn bản pháp luật hình sự của nước ta trong 30 năm (1955-1985) cần được nghiên cứu trên cơ sở phân chia thành 2 giai đoạn: Một là, trong 2 thập kỷ từ khi cấm việc áp dụng pháp luật hình sự cũ đến khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (1955-1975); hai là, trong 1 thập kỷ từ khi thống nhất 2 miền Nam-Bắc đến khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên (1975-1985)

Hệ thống pháp luật hình sự của nước Việt Nam trong giai đoạn

1955-1975 Sau khi Miền Bắc nước ta hoàn toàn được giải phóng khỏi ách chiếm đóng của thực dân Pháp (19/5/1955) thì nhân dân ta xây dựng cuộc sống mới trong hòa bình, nên việc nghiên cứu các quy định trong các văn bản pháp luật hình sự của nước ta giai đoạn này có ba điểm đặc trưng cơ bản (và đồng thời cũng là ba hướng chính được thực hiện để phát triển pháp luật hình sự nước

Trang 38

8/1945 được tạm thời áp dụng trong giai đoạn trước đây (1945-1955); Bắt đầu triển khai việc thông qua các văn bản pháp luật hình sự mới của Nhà nước công nông Việt Nam (ở đây có thể nhận thấy 2 nhóm chính là các đạo luật hình sự và các đạo luật có tính chất pháp luật hình sự mới); Thông qua các văn bản có tính chất chỉ đạo riêng của Tòa án nhân dân tối cao để giải thích việc áp dụng thống nhất pháp luật hình sự (hoặc có lúc là các văn bản liên ngành giữa Tòa án nhân dân tối cao với các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương như Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp)

Vì tính chất rộng lớn và phức tạp của hướng chính thứ ba sẽ được nghiên cứu trong chương 3 về vai trò của thực tiễn xét xử đối với hệ thống pháp luật hình sự của nước ta trong 3 thập kỷ trước khi thông qua Bộ luật hình sự đầu tiên (1955-1985) Do đó, tác giả chỉ đề cập đến 2 điểm đặc trưng

cơ bản và đây cũng chính là 2 hướng chủ yếu để tiếp tục phát triển của hệ thống các quy định của pháp luật hình sự nước ta trong giai đoạn 1955-1975 như sau:

1) Xóa bỏ các quy định pháp luật hình sự của chế độ cũ đã được các Tòa

án áp dụng trong giai đoạn 10 năm trước đây (1945-1955) không còn thích hợp, vì hòa bình đã được lặp lại trên Miền Bắc nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (theo như tinh thần Thông tư số 19/VHH-HS ngày 30/6/1955 của Bộ Tư pháp về việc áp dụng luật lệ) Từ giai đoạn này trong Chỉ thị số 772-TATC ngày 10/7/1959 của Tòa án nhân dân tối cao về vấn đề đình chỉ áp dụng pháp luật cũ của đế quốc và phong kiến thì các Tòa án trên toàn lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được Tòa án nhân dân tối cao lưu ý như sau:

( Những điều luật của đế quốc và phong kiến dù là hiểu và áp dụng với tinh thần mới chẳng những không còn thích hợp được nữa, mà trái lại không khỏi gây ra nhiều tai hại trong công tác

Trang 39

Trong tình hình xã hội Việt Nam hiện nay, hoàn toàn không thể sử dụng điều luật của đế quốc và phong kiến được nữa, dù là với tinh thần mới

Để xét xử các vụ án hình sự và dân sự, cần áp dụng luật pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành trước đến giờ (luật, sắc lệnh, nghị định, thông tư ), đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ, án lệ của các tòa, của Tòa án tối cao ) [40, tr.5-6]

2) Thông qua các quy định pháp luật hình sự mới để đấu tranh với tội phạm và bảo vệ các quan hệ xã hội khác nhau trong cuộc sống Nói chung, có thể phân chia các quy định này theo 2 loại (nhóm) văn bản là: Các văn bản pháp luật hình sự (gồm chủ yếu là các sắc lệnh, các pháp lệnh) mà đúng với nghĩa của chúng là các đạo luật hình sự, vì trong đó chỉ quy định các vấn đề

về đấu tranh trực tiếp chống các loại tội phạm khác nhau, cũng như các hình phạt được áp dụng đối với người bị kết án; Các văn bản mang tính chất pháp luật hình sự (gồm nhiều loại khác nhau như các luật, pháp lệnh, sắc lệnh) và loại văn bản này tuy đã đề cập đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhưng để xử lý vi phạm các quy định trong các văn bản đó còn có cả các chế tài pháp lý hình sự Chẳng hạn như:

a) Nhóm văn bản thứ nhất (các văn bản pháp luật hình sự) như: Sắc lệnh số 267 ngày 15/6/1956 về trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân và cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước [30, tr.165]; Sắc luật số 01 ngày 19/4/1957 nghiêm cấm mọi hành động đầu cơ về kinh tế [32, tr.227; 40, tr.268]; Thông tư số 3887/VHH/HS ngày 2/11/1957 do Bộ Tư pháp ban hành

để trừng trị những hành động chống thuế nông nghiệp [40, tr.302-303]; Pháp lệnh ngày 30/7/1967 do Ủy ban thường vụ quốc ban hành nhằm trừng trị các tội phản Cách mạng [36, tr.217; 40, tr.193]; Hai Pháp lệnh cùng ngày

Ngày đăng: 17/03/2021, 13:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w