Về mặt thực tiễn: Luận án góp phần vào việc xác định đúng đắn ranh giới khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự phải chịu trách nhiệm hìn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT - -
LÊ THỊ THU HIỀN
MỐI LIÊN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH
SỰ
Chuyên ngành: Luật Hình sự
Mã ngành : 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TSKH PGS Lê Văn Cảm
HÀ NỘI - 2009
Trang 21.3 Phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa hai chế định trách
nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 34
Chương 2: ý nghĩa, đặc điểm, nội dung cơ bản của mối liên hệ
giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 37 2.1 ý nghĩa của việc nghiên cứu mối liên hệ giữa trách nhiệm hình
2.2 Đặc điểm của mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn
Trang 32.3 Nội dung cơ bản của mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và
Chương 3: Một số kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chế định
trách nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự 71 3.1 Thực tiễn áp dụng, sự cần thiết phải hoàn thiện chế định trách
nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự 71
3.3 Hoàn thiện chế định miễn trách nhiệm hình sự 88
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, để công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả cao thì việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam là một trong những yêu cầu cần thiết và cấp bách Khi nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đặc biệt là hai chế định trách nhiệm hình sự
và miễn trách nhiệm hình sự chúng tôi nhận thấy, hai chế định này không chỉ
có ý nghĩa quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam mà còn chi phối hầu hết các chế định khác được quy định trong Bộ luật hình sự
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết về chế định trách nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, khi đề cập đến hai chế định này vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, hàng loạt vấn đề chưa được làm sáng
tỏ như: khái niệm trách nhiệm hình sự, cơ sở và những điều kiện áp dụng trách nhiệm hình sự, khái niệm, bản chất pháp lý và các hậu quả cụ thể của miễn trách nhiệm hình sự, việc quy định các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự chưa rõ ràng và thống nhất Đặc biệt, các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu từng chế định trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, khái quát về mối liên hệ giữa chúng mà chưa đi sâu vào khai thác nội dung của mối liên hệ này
Mặt khác, thực tiễn áp dụng hai chế định này cũng đã đặt ra nhiều vướng mắc đòi hỏi khoa học luật hình sự phải nghiên cứu, giải quyết như cơ
sở, điều kiện của trách nhiệm hình sự, căn cứ áp dụng miễn trách nhiệm hình
sự, ranh giới khi nào một người lẽ ra phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng lại được miễn trách nhiệm hình sự là rất mong manh, văn bản giải thích
Trang 5hướng dẫn áp dụng thiếu hệ thống, chồng chéo nhau, chưa có sự vận dụng thống nhất từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có hệ thống mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời đánh giá việc áp dụng hai chế định này trong thực tiễn để đưa ra những kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chúng trong giai đoạn hiện nay không những có ý nghĩa lý luận -
thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết Đây
cũng là lý do luận chứng cho việc chúng tôi quyết định chọn đề tài "Mối liên
hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự" làm luận văn
Ở Liên Xô trước đây đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, điển hình là các công
trình: "Trách nhiệm hình sự và cấu thành tội phạm" (1974) của Karpusin M P., Kurlianđxki V I; "Trách nhiệm hình sự và hình phạt" (1976) của Bagri- Sakhmatôv L V; "Miễn trách nhiệm hình sự" trong tuyển tập "Nghiên cứu
pháp luật" của tác giả Kevin (2003); "Chương 16 - Miễn trách nhiệm hình sự"
của Xaveliôva B.X (trong sách: Luật hình sự Liên bang Nga - Phần chung, Nxb
Luật gia Matxcơva, 2001); v.v Theo đó, những công trình này chủ yếu tập trung làm sáng tỏ nội dung, cơ sở của trách nhiệm hình sự; điều kiện miễn
Trang 6trách nhiệm hình sự và phân tích các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự cụ thể trong pháp luật hình sự thực định
Ở nước ta, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nội dung liên quan đến chế định trách nhiệm hình sự, chế định miễn trách nhiệm
hình sự Đáng chú ý là những công trình sau: Những vấn đề cơ bản trong
khoa học luật hình sự của TSKH PGS Lê Cảm (trong sách chuyên khảo sau
đại học - Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; Trách nhiệm
hình sự của PGS.TS Trần Văn Độ (trong sách Giáo trình luật hình sự Việt Nam Phần chung, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2001); Trách nhiệm hình sự và hình phạt của tập thể tác giả do
PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001;
Trách nhiệm hình sự và hình phạt của TS Trương Quang Vinh (trong sách Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, 2000); Chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình
sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học của Phạm Mạnh Hùng, Trường đại
học Luật Hà Nội, 2004; Về các dạng miễn trách nhiệm hình sự được quy
định tại Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp chí Toà án nhân dân, số
1/2001); Về sáu dạng miễn trách nhiệm hình sự khác (ngoài Điều 25) trong
Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/2001); Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam (Tạp chí Khoa
học, số 4/1997) của TS Nguyễn Ngọc Chí; Trách nhiệm hình sự và miễn
trách nhiệm hình sự (Tạp chí Luật học, số 5/1997) của PGS.TS Lê Thị Sơn;
Về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp
chí Dân chủ và pháp luật, số 12/2001) của PGS.TS Phạm Hồng Hải; Điều
48 - Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt Trong sách: Mô hình lý luận
về Bộ luật hình sự Việt Nam (Phần chung);
Trang 7Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đưa ra bàn luận và giải quyết nhiều vấn đề bức xúc mà lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đặt ra Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu từng chế định trách nhiệm hình sự, chế định miễn trách nhiệm hình sự một cách riêng lẻ, có một số công trình đề cập đến mối liên hệ giữa hai chế định này nhưng chỉ được xem xét mối liên hệ giữa hai chế định này như khối kiến thức cơ bản một phần, một mục trong các giáo trình giảng dạy, một chương của sách chuyên khảo hay một phần của luận văn, luận án mà chưa có công
trình nào đề cập đến việc nghiên cứu với đúng tên gọi "Mối liên hệ giữa trách
nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự" một cách có hệ thống, toàn diện,
đồng bộ và chuyên khảo ở cấp độ một luận văn thạc sỹ luật học
3 Mục đích, đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trước yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới, mục đích của đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự Đặc biệt chú trọng khai thác mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, đưa
ra những kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam về mối liên hệ này Qua đó góp phần tạo ra sự nhận thức đúng đắn, toàn diện khi áp dụng lý luận trên để giải quyết các vụ án hình sự trong thực tiễn
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự cụ thể là: khái niệm và các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự, cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình
sự, phân biệt trách nhiệm hình sự với các dạng trách nhiệm pháp lý khác; khái
Trang 8niệm và các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự trong tương quan với những chế định khác, ý nghĩa, đặc điểm, nội dung cơ bản của mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, qua đó đưa ra một số kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện hai chế định này
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ sau:
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề về chế định trách
nhiệm hình sự, chế định miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời so sánh hai chế định này với nhau và với một số chế định khác trong pháp luật hình sự Việt Nam, luận văn đi sâu vào khai thác ý nghĩa, đặc điểm, nội dung cơ bản của
mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự
Về mặt thực tiễn: nghiên cứu, đánh giá việc vận dụng lý luận về trách
nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, đánh giá mối liên hệ giữa chúng trong thực tiễn xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng Đồng thời, trên cơ sở những vướng mắc thiếu sót mà thực tiễn đặt ra để phân tích về mặt lý luận và đưa ra những kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện hai chế định này Qua đó, có thể hiểu được một cách sâu sắc về mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời nâng cao hiệu quả của việc vận dụng lý luận trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự
3.4 Phạm vi nghiên cứu
Trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự là hai chế định tương đối phức tạp và có nhiều nội dung liên quan đến các chế định khác trong Bộ luật hình sự như: hình phạt, miễn hình phạt, các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, Bởi vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu mối liên hệ giữa
Trang 9trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự cũng như việc đưa ra những kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện hai chế định này
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lý luận về Nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật
tố tụng hình sự và triết học, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự Việt Nam
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: so sánh, phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử, tổng hợp, Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào các văn bản pháp luật của Nhà nước và những giải thích thống nhất
có tính chất chỉ đạo của thực tiễn xét xử thuộc lĩnh vực pháp luật hình sự do Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn liên quan đến trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo cáo của ngành Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hơn 300 bản án hình sự, hơn 100 quyết định giám đốc thẩm và hàng trăm tài liệu vụ án hình
sự trong thực tiễn xét xử, cũng như những thông tin trên mạng internet để phân tích, tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn
đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
5 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn
Về mặt lý luận: đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu
tiên đề cập một cách sâu sắc về mối liên hệ giữa hai chế định trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự ở cấp độ một luận văn thạc sỹ luật học
Trang 10Về mặt thực tiễn: Luận án góp phần vào việc xác định đúng đắn ranh
giới khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự phải chịu trách nhiệm hình sự với những căn cứ, điều kiện để một người thực hiện hành vi phạm tội được (có thể) được miễn trách nhiệm hình sự trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời đưa ra các kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chế định trách nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự ở khía cạnh lập pháp, cũng như việc áp dụng chúng trong thực tiễn Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự
Điểm mới về khoa học của luận văn: ở một chừng mực nhất định có thể
khẳng định rằng, đây là nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên ở cấp độ một Luận văn thạc sĩ đề cập sâu sắc đến mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự
và miễn trách nhiệm hình sự Đồng thời tác giả luận văn còn chỉ ra những vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn áp dụng hai chế định này, trên cơ sở đó đưa
ra một số kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chế định trách nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm ba chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Vài nét chủ yếu về trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm
hình sự;
Chương 2: Ý nghĩa, đặc điểm, nội dung cơ bản của mối liên hệ giữa trách
nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự
Trang 11Chương 3: Một số kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chế định trách
nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự
Trang 12là tội phạm (bị xử lý bằng các chế tài pháp lý khác) Đây là một trong những
cơ sở quan trọng để bảo đảm việc xử lý các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, đồng thời khuyến khích động viên mọi người tích cực tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm Chế định trách nhiệm hình sự là
một chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam, là “sợi chỉ đỏ” xuyên
suốt quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội, là nền tảng, là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) xác định một chủ thể có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?
1.1.1 Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự
Trước hết, để hiểu trách nhiệm hình sự là gì thì cần phải hiểu khái
niệm "trách nhiệm" Thật vậy, thuật ngữ „trách nhiệm” thường được hiểu theo
hai nghĩa Một là, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận của một người trước người khác, trước xã hội hoặc trước Nhà nước Hai là, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một người phải gánh chịu trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó
Trang 13Trách nhiệm pháp lý, trong đó có trách nhiệm hình sự, được dùng theo nghĩa thứ hai Trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam bên cạnh ba chế định khác (đạo luật hình sự, tội phạm và hình phạt) Quan điểm và nhận thức về khái niệm trách nhiệm hình
sự là cơ sở lý luận cho việc xây dựng các khái niệm khác của luật hình sự Trong khoa học pháp lý hiện nay, có nhiều quan điểm về khái niệm trách nhiệm hình sự, được phân chia theo từng nhóm như sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất: nêu khái niệm trách nhiệm hình sự dưới góc
độ hậu quả pháp lý: "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định” [6,
tr 122]; “Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện
ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước
Nhà nước” [41, tr 41]
Nhóm quan điểm thứ hai: nhìn nhận trách nhiệm hình sự với tư cách
là một dạng của trách nhiệm pháp lý: “Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam bằng một hậu quả bất lợi do Toà án áp dụng tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó thực hiện” [29, tr 14]; “Trách nhiệm hình sự
là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích” [21, tr 126]
Như vây, từ sự tìm hiểu các quan điểm khác nhau về trách nhiệm hình
sự kết hợp với việc nhận thức một số vấn đề có liên quan đến trách nhiệm hình sự, theo chúng tôi, khái niệm trách nhiệm hình sự có thể được định nghĩa
Trang 14như sau: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự và được thể hiện bằng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định đối với người phạm tội Qua khái niệm này có thể nhận thấy: trách nhiệm
hình sự chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội và chấm dứt khi người bị kết án
đã được xoá án tích theo các căn cứ quy định của pháp luật hình sự; đồng thời, trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định – một bên là Nhà nước còn bên kia là người phạm tội
Căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, trên cơ sở khái niệm trách nhiệm hình sự và thực tiễn áp dụng có thể nhận thấy trách nhiệm hình sự có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm
khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác Bởi vì trong số các vi phạm pháp luật như vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật đất đai, vi phạm pháp luật dân sự,… thì vi phạm pháp luật hình sự là loại vi phạm nghiêm trọng nhất và nó chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội Mức độ nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự xuất phát từ vai trò quan trọng của các quan hệ pháp luật hình sự Tính nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự được
thể hiện ở chính hình phạt Theo TSKH PGS Lê Cảm thì “Hình phạt là biện
pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong bản
án kết tội có hiệu lực pháp luật của Toà án để tước đi hay hạn chế quyền tự
do của người bị kết án theo quy định của pháp luật hình sự” [9, tr 47] Hình
phạt có thể tước đi một số quyền và lợi ích của con người như quyền sống (nếu hình phạt được áp dụng là tử hình), quyền tự do (nếu hình phạt được áp dụng là hình phạt tù), quyền sở hữu, quyền chính trị
Trang 15Hai là, trách nhiệm hình sự được thực hiện trong phạm vi của quan hệ
pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định: một bên là Nhà nước còn bên kia là người phạm tội Trách nhiệm hình sự chính là trách nhiệm của người phạm tội đối với Nhà nước Bản thân khái niệm trách nhiệm hình sự đã phản ánh mối liên hệ đặc
nước và người phạm tội Trong mối liên hệ này, mỗi bên đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định Nhà nước (mà đại diện cho nó là cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền) có quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đồng thời cũng có nghĩa vụ phải thực hiện các quyền của mình trong giới hạn do pháp luật quy định, mặt khác còn phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội Ví dụ, một người phạm tội nhưng chưa bị Toà án kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì người đó chưa bị coi là có tội và chưa phải chịu hình phạt Do vậy, các cơ quan tư pháp hình sự trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ không được xâm phạm các quyền lợi ích hợp pháp khác của người đã thực hiện hành vi phạm tội đó Người phạm tội là một bên chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự Người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế một
số quyền tự do nhất định nhưng đồng thời cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ từ phía Nhà nước tất cả các quyền và lợi ích của con người và của công dân theo quy định của pháp luật Ví dụ quyền được mời luật sư bào chữa cho mình, quyền được trình bày ý kiến, quyền tranh luận tại phiên toà, quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, quyền kháng cáo, quyền khiếu nại đối với các bản án của Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật
Ba là, trách nhiệm hình sự được xác định bằng một trình tự đặc biệt bởi
cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền do luật hình sự quy định Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người phạm tội phải trải qua một quá trình đặc
Trang 16biệt được thực hiện bởi các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền cụ thể bao gồm các giai đoạn sau:
1) Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự: bắt đầu từ việc cơ quan có thẩm quyền nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kết thúc bằng việc ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Trong giai đoạn này các cơ quan
có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ
sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án
2) Giai đoạn điều tra, truy tố: theo quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra được tiến hành điều tra tất cả các loại tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để chứng minh sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm, lập hồ sơ đề nghị truy tố, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, kiến nghị các cơ quan, tổ chức hữu quan
áp dụng biện pháp khắc phục và phòng ngừa Sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra nếu thấy có đủ chứng cứ chứng minh tội phạm và hành vi phạm tội của bị can thì Viện kiểm sát truy tố bị can trước toà án bằng bản cáo trạng và quyết định truy tố
3) Giai đoạn xét xử: Toà án sau khi nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy đúng tội danh như cáo trạng thì quyết định đưa vụ án ra xét xử nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội hay không để
từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà Viện kiểm sát truy tố
Bốn là, trách nhiệm hình sự chỉ mang tính chất cá nhân, áp dụng riêng
đối với người phạm tội: tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Chỉ
người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Có nghĩa là trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với
riêng bản thân người phạm tội (điều này thể hiện rõ nguyên tắc trách nhiệm
Trang 17hình sự cá nhân) Cá nhân phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của
Bộ luật hình sự phải là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định do luật hình sự quy định
Năm là, trách nhiệm hình sự chỉ được thể hiện trong bản án kết tội của
Toà án đã có hiệu lực pháp luật bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định:
Chỉ có bản án kết tội của Toà án mới xác định một người có hành vi nguy hiểm cho xã hội có phải là có tội hay không sau khi tội phạm mà họ thực hiện được chứng minh Nếu không có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực hiện pháp luật thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người Điều 72 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định nguyên tắc quan trọng nhằm bảo
vệ các quyền của con người trong hoạt động tư pháp hình sự – nguyên tắc suy
đoán vô tội: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản
án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” Như vậy, bản án kết tội của
Toà án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý xác nhận một người phạm tội chính thức bị coi là có tội Trách nhiệm hình sự cũng chỉ được thể hiện trong bản án kết tội của Toà án bằng việc áp dụng một hay nhiều biện pháp cưỡng chế nào đó đối với người phạm tội Các biện pháp cưỡng chế hình sự mà Toà
án áp dụng có thể là hình phạt, có thể là các biện pháp tư pháp, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt
1.1.2 Cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý của một người thực hiện tội phạm mà phải chịu sự tác động của biện pháp cưỡng chế đặc biệt của Nhà nước do Bộ luật hình sự quy định Muốn truy cứu trách nhiệm hình sự một người thực hiện tội phạm phải dựa trên những cơ sở và những điều kiện nhất định
Trang 18Khái niệm “cơ sở” và “điều kiện” của trách nhiệm hình sự là hai khái niệm khác nhau Dưới góc độ ngôn ngữ “cơ sở” là cái nền tảng, trong quan hệ với những cái xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển [38, tr
215] Còn “điều kiện” là điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một
việc gì đó hoặc đó là cái cần có thể để cho một cái khác có thể có hoặc xảy ra [38, tr 321-322]
Cơ sở của trách nhiệm hình sự được coi là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá
trình truy cứu trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội, là nền tảng, là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) xác định một chủ thể có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Giải quyết tốt vấn đề cơ sở của trách nhiệm hình sự không chỉ có ý nghĩa quan trọng về pháp lý, về chính trị – xã hội mà còn là một trong những tiền đề quan trọng để đảm bảo các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam chưa có quan điểm thống nhất về cơ sở của trách nhiệm hình sự:
Có quan điểm cho rằng cơ sở của trách nhiệm hình sự là cấu thành tội phạm: “cấu thành tội phạm là cơ sở của trách nhiệm hình sự và đó là cơ sở duy nhất cần và đủ của trách nhiệm hình sự” [43, tr 5-6] Có quan điểm cho rằng “cơ sở của trách nhiệm hình sự là tội phạm - hành vi nguy hiểm cho xã hội chứa đựng các yếu tố cấu thành tội phạm” [17, tr 182]; quan điểm khác cho rằng “cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm” [6, tr 133]
Các quan điểm này, theo tôi mới chỉ khái quát được các dấu hiệu để nhận biết khi nào một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chưa nêu lên được bản chất, vấn đề cốt lõi của nội hàm “cơ sở của trách nhiệm hình sự” Qua nghiên cứu các quan điểm trên, đồng thời căn cứ vào các quy định của
Trang 19pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, theo chúng tôi cơ sở của trách nhiệm
hình sự có thể được định nghĩa là: cơ sở của trách nhiệm hình sự là căn cứ
chung, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự quy định, trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành tố tụng xác định trách nhiệm hình sự một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm cơ sở của trách nhiệm hình sự, có thể rút
ra một số đặc điểm của cơ sở của trách nhiệm hình sự như sau:
Một là, cơ sở của trách nhiệm hình sự là căn cứ chung, cần thiết và có
tính chất bắt buộc mà dựa vào đó các cơ quan pháp luật hình sự có thẩm quyền của Nhà nước mới có thể truy cứu trách nhiệm hình sự một người thực hiện hành vi phạm tội
Hai là, cơ sở của trách nhiệm hình sự phải được quy định rõ ràng trong
pháp luật hình sự thực định của một quốc gia Điều 2 Bộ luật hình sự năm
1999 khẳng định: “chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy
định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Theo luật hình sự Việt Nam, quy
định này bao hàm hai nội dung:
1) Chủ thể của hành vi phạm tội chỉ có thể là con người cụ thể chứ không phải bất cứ tập thể hay cộng đồng nào Trách nhiệm hình sự chỉ có thể
là trách nhiệm cá nhân Bộ luật hình sự Việt Nam không quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội
2) Trách nhiệm hình sự chỉ có thể được áp dụng đối với người phạm tội Nghĩa là, một người chỉ có thể phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình và hành vi này phải được quy định trong Bộ luật hình sự Điều luật đã ghi nhận một nguyên tắc được thừa nhận chung từ thời La Mã cổ
đại, đó là: “Nullum crimen nulla poen sine lege” (không có tội phạm, không
có hình phạt nếu không có luật quy định) Một người chỉ phải chịu trách
Trang 20nhiệm hình sự về hành vi do mình thực hiện khi hành vi đó được quy định trong Bộ luật hình sự là tội phạm Một hành vi chỉ bị coi là nguy hiểm cho xã hội khi nó không phù hợp, đi ngược lại với lợi ích của Nhà nước và xã hội Còn những hành vi phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội ngay cả khi chúng gây ra những thiệt hại nhất định nào đó, về khách quan, các quan hệ pháp luật mà luật hình sự bảo vệ thì cũng không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội (theo quan điểm của giai cấp thống trị) Chẳng hạn, những hành vi được thực hiện trong trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết chỉ
có thể nói đến tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi khi hành vi đó là có lỗi, nghĩa là được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà lỗi chủ yếu là yếu tố thuộc phương diện chủ quan của tội phạm Do đó, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bất cứ hành vi nào, nếu không xác định được yếu tố có lỗi
Theo luật hình sự Việt Nam, trách nhiệm hình sự tồn tại trong giới hạn của mối quan hệ giữa một bên là Toà án nhân danh Nhà nước và một bên là người phạm tội Người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự tức là họ bị kết tội và có thể phải chịu hình phạt nhất định Thời điểm bắt đầu thực hiện trách nhiệm hình sự là từ khi Toà án tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật mà trong đó khẳng định lỗi của người phạm tội và kết thúc khi người bị kết án được xoá án tích theo quy định của luật hình sự
Căn cứ pháp lý để buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự được
quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999: “chỉ người nào phạm một tội
đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Quy
định này thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đó là: tội phạm phải được quy định trong Bộ luật hình sự và trách nhiệm hình sự cũng chỉ có thể
áp dụng đối với người phạm tội đã được Bộ luật hình sự quy định Ngoài Bộ luật hình sự không có văn bản pháp luật nào khác quy định về tội phạm
Trang 21Việc quy định cơ sở của trách nhiệm hình sự là hành vi phạm một tội được quy định trong Bộ luật hình sự là nhằm loại trừ việc áp dụng nguyên tắc tương tự khi truy cứu trách nhiệm hình sự, thể hiện quan điểm tiến bộ đó là
“chỉ có tội khi có luật quy định” Nguyên tắc này còn phù hợp với Điều 11 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người: “Không ai bị kết tội về bất cứ
hành động hay không hành động nào xảy ra vào thời điểm mà theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế không cấu thành một tội hình sự”
Trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành, việc áp dụng nguyên tắc tương tự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm lúc bấy giờ Khi xây dựng Bộ luật hình sự năm 1985 cũng có
ý kiến cho rằng chưa nên bỏ việc áp dụng nguyên tắc tương tự trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cuối cùng Bộ luật hình sự năm 1985 được
thông qua và quy định “chỉ người nào phạm một tội đã được luật hình sự quy
định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” (Điều 2)
Trong thực tiễn xét xử hơn 15 năm qua cho thấy ngoài Bộ luật hình sự năm 1985, Quốc hội nước ta không ban hành văn bản pháp luật nào quy định
về tội phạm và hình phạt mà khẳng định chỉ người nào phạm một tội được quy định trong Bộ luật hình sự mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự Quy định này thể hiện nguyên tắc tương tự Nếu như Bộ luật hình sự năm 1985 quy
định “chỉ người nào phạm một tội đã được luật hình sự quy định” bao gồm cả
những văn bản luật hình sự không phải là Bộ luật hình sự như nghị định, thông tư… thì kể từ năm 1985 đến nay ngoài Bộ luật hình sự ra Quốc hội cũng không ban hành văn bản pháp luật hình sự nào có quy định về tội phạm
và hình phạt
Xuất phát từ thực tiễn đó, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “chỉ
người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định”, ngoài Bộ luật
Trang 22hình sự không thể có văn bản pháp luật nào quy định về tội phạm và hình phạt, giả thiết nếu có văn bản pháp luật hình sự nào đó quy định về tội phạm
và hình phạt thì người thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong văn bản đó mà không được quy định trong Bộ luật hình sự thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự
Nhận thấy, cách quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự về cơ sở của trách nhiệm hình sự còn thể hiện những hạn chế nhất định Mặc dù tên gọi của Điều
2 là “cơ sở của trách nhiệm hình sự” nhưng ta thấy rõ ràng điều luật này lại
không thể hiện đúng cụ thể và rõ ràng nội dung cho phù hợp với tên gọi của
điều luật này Cơ sở của trách nhiệm hình sự là cái gì? “lỗi”, “cấu thành tội
phạm” hay là “việc thực hiện tội phạm” mà điều luật lại ghi nhận điều kiện
của trách nhiệm hình sự “chỉ người nào mới phải chịu” Như vậy, có sự lẫn
lộn giữa hai khái niệm “cơ sở” và “điều kiện” của trách nhiệm hình sự tại đoạn 1 Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 cho thấy sự thiếu chính xác về mặt khoa học [5, tr 70-71]
Chính vì vậy, cần có sự hoàn thiện các quy định về chế định trách nhiệm hình sự nói chung và cơ sở của trách nhiệm hình sự nói riêng để đảm bảo tính chính xác về mặt khoa học, giúp cho việc áp dụng pháp luật hình sự được đúng đắn và thống nhất Việc xây dựng một điều luật quy định chính xác nội dung cơ sở của trách nhiệm hình sự có ý nghĩa rất quan trọng vì chỉ có
và phải dựa vào đó các cơ quan bảo vệ pháp luật mới đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự của người thực hiện tội phạm Hơn nữa, quy định này còn có tác dụng tích cực góp phần bảo vệ nhân thân, các quyền tự do của công dân tránh khỏi những hành động xâm phạm thô bạo pháp chế, tuỳ tiện và vô pháp luật của một số cán bộ trong việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự
Để truy cứu trách nhiệm hình sự một người thực hiện hành vi phạm tội
mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm không những phải căn cứ vào cơ sở
Trang 23của trách nhiệm hình sự mà còn phải đáp ứng những điều kiện nhất định Thuật ngữ “điều kiện” được hiểu là cái (căn cứ) cần và đủ cho một sự kiện nào đó khi ta mong muốn chúng xảy ra Trong Bộ luật hình sự năm 1999 chưa quy định “điều kiện của trách nhiệm hình sự” thành một điều luật riêng biệt Tuy nhiên, trên cơ sở quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự ta có thể nhận thấy: điều kiện của trách nhiệm hình sự là các căn cứ cần và đủ có thể áp dụng trách nhiệm hình sự đối với một người phạm tội Điều kiện của trách nhiệm hình sự bao gồm:
1) Có việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội;
2) Có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội;
3) Do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện;
4) Đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
5) Hành vi đó được quy định trong Bộ luật hình sự
Năm điều kiện trên là cần và đủ để một người phải chịu trách nhiệm hình sự Nếu thiếu dù chỉ là một trong số các điều kiện ấy thì nhất thiết người
đó không phải chịu trách nhiệm hình sự
1.1.3 Phân biệt trách nhiệm hình sự với các dạng trách nhiệm pháp lý khác
Để nhận thức một cách đầy đủ, toàn diện và thống nhất về trách nhiệm hình
sự thì cần thiết phải có sự phân biệt với các dạng trách nhiệm pháp lý khác
1) Giữa trách nhiệm hình sự và các dạng trách nhiệm pháp lý khác có nhiều điểm giống nhau đó là:
a) Trách nhiệm hình sự và các dạng trách nhiệm pháp lý khác đều là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi vi phạm một hoặc nhiều quy định của ngành luật tương ứng Hành vi vi phạm pháp luật có thể là hành vi phạm tội, vi phạm dân sự, vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật Trong mỗi hành
Trang 24vi vi phạm này thì mức độ gây nguy hiểm cho các quan hệ xã hội khác nhau,
vì vậy hậu quả pháp lý mà các chủ thể phải gánh chịu khác nhau
b) Trách nhiệm hình sự và các dạng trách nhiệm pháp lý khác đều được
xác định theo một trình tự nhất định do ngành luật tương ứng quy định và
được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
c) Cũng như trách nhiệm hình sự, các dạng trách nhiệm pháp lý khác chỉ do Nhà nước mà đại diện là cơ quan (người có chức vụ) tương ứng có thẩm quyền áp dụng đối với người bị coi là có lỗi và có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý (bao gồm cả độ tuổi) được quy định trong ngành luật tương ứng
d) Trách nhiệm hình sự và các dạng trách nhiệm pháp lý khác có mức
độ nặng nhẹ khác nhau tương ứng với tính chất và mức độ vi phạm, cũng như các tình tiết cụ thể của vụ việc và nhân thân người vi phạm
2) Trách nhiệm hình sự và các dạng trách nhiệm pháp lý khác có rất nhiều điểm khác nhau, cụ thể:
a) Về cơ sở phát sinh: nếu như trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi
có việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định
là tội phạm thì các dạng trách nhiệm pháp lý khác phát sinh chỉ khi nào có việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạm đến một hoặc nhiều quy định của ngành luật tương ứng như Luật hành chính, Luật dân sự, Luật lao động
b) Về hậu quả pháp lý của việc áp dụng: trong trách nhiệm hình sự, chủ thể của hành vi vi phạm bị xử lý bằng chế tài pháp lý hình sự khác nhau có thể là hình phạt (tước hoặc hạn chế) quyền tự do đối với người phạm tội, có thể là biện pháp áp dụng cưỡng chế hình sự khác như biện pháp tư pháp, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt Không những vậy, chủ thể vi phạm pháp luật hình sự còn phải mang án tích trong một thời gian nhất định (nếu chế tài
Trang 25bị áp dụng là hình phạt) Còn ở các dạng trách nhiệm pháp lý khác chủ thể của hành vi vi phạm được quy định tương ứng với từng ngành luật như: Luật dân sự thì có chế tài bồi thường thiệt hại; Luật hành chính có chế tài kỷ luật
hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc, Đồng thời, chủ thể của hành vi vi phạm các dạng trách nhiệm pháp lý khác còn bị hạn chế một số quyền nhất định Ví dụ hiệu lực của chế tài xử phạt hành chính thường là sau một năm mới hết
c) Về mức độ nghiêm khắc: trách nhiệm hình sự thể hiện tính nghiêm khắc cao hơn so với các dạng trách nhiệm pháp lý khác vì tính nguy hiểm cho
xã hội do người phạm tội thực hiện bao giờ cũng cao hơn cả Mức độ nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự xuất phát từ vai trò của quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ: chỉ một người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự Tính nghiêm khắc cao của trách nhiệm hình sự được thể hiện chính ở hình phạt hình phạt có thể tước đi những quyền và lợi ích thiết thân của con người như quyền sống (tử hình), quyền tự do (tù)
Đối với các dạng trách nhiệm pháp lý khác, thông thường mức độ nghiêm khắc ít hơn trách nhiệm hình sự vì tính nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật bao giờ cũng nhỏ hơn so với tội phạm Ví dụ, đối với vi phạm hành chính là những hành vi trái pháp luật, có lỗi, mức độ nguy hiểm cho xã hội ít hơn so với tội phạm, xâm phạm các quan hệ xã hội do có các văn bản pháp luật về quản lý Nhà nước quy định và các cơ quan quản lý Nhà nước áp dụng đối với chủ thể này Do vậy, chế tài trách nhiệm hành chính ít nghiêm khắc hơn so với chế tài hình sự
d) Về chủ thể có thẩm quyền áp dụng: ở trách nhiệm hình sự chỉ có Nhà nước mà đại diện là cơ quan tư pháp hình sự tương ứng có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án) căn cứ vào giai đoạn tố tụng
Trang 26hình sự cụ thể áp dụng các biện pháp trách nhiệm hình sự Còn ở các dạng trách nhiệm pháp lý khác, cũng Nhà nước nhưng đại diện là cơ quan (người có chức vụ) có thẩm quyền được quy định trong ngành luật tương ứng sẽ ra các quyết định áp dụng biện pháp của lĩnh vực mình quản lý đối với người có hành
vi vi phạm
e) Về đối tượng bị áp dụng: đối tượng bị áp dụng trách nhiệm hình sự
là con người cụ thể (thể nhân) có năng lực trách nhiệm hình sự và có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và đạt độ tuổi nhất định Còn đối tượng bị áp dụng trong các dạng trách nhiệm pháp lý khác ngoài thể nhân ra còn có thể là pháp nhân (nếu ngành luật tương ứng có quy định), có năng lực và có lỗi trong việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
g) Về trình tự xác định và văn bản thể hiện: trách nhiệm hình sự được xác định theo trình tự nhất định dựa trên các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và được thể hiện bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Toà án đối với người phạm tội Còn các dạng trách nhiệm pháp lý khác thì trình tự xác định tuỳ theo các quy định của từng ngành luật tương ứng và phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể căn cứ vào văn bản của cơ quan (người có chức vụ) có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm của từng ngành luật phi hình sự
Trang 27việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự có căn cứ, chính xác và đúng pháp luật sẽ có tác dụng rất lớn nhằm động viên, khuyến khích họ lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo, nhanh chóng hoà nhập với cộng đồng
và xã hội
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự
Miễn trách nhiệm hình sự là chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam, nó thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta áp dụng chế định này đối với người phạm tội khi có đủ các điều kiện luật định tạo cho họ khả năng
và điều kiện tự cải tạo, giáo dục đồng thời động viên, lôi kéo quần chúng nhân dân tham gia vào công việc giáo dục, quản lý người phạm tội
Hiện nay, cũng giống như khái niệm trách nhiệm hình sự, trong khoa học luật hình sự, xung quanh khái niệm miễn trách nhiệm hình sự vẫn tồn tại một số quan điểm khác nhau:
Có quan điểm ghi nhận nội dung và chỉ rõ bản chất pháp lý: “Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xoá bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [7, tr 7]
Có quan điểm ghi nhận nội dung, thẩm quyền áp dụng và hình thức pháp lý: “Miễn trách nhiệm hình sự là không truy cứu trách nhiệm hình sự một người về việc đã thực hiện một tội phạm được quy định trong luật hình sự, thể hiện trong một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" [36, tr 238]
Có quan điểm ghi nhận tương đối đầy đủ về nội dung, phân định các giai đoạn áp dụng, thẩm quyền áp dụng và hậu quả pháp lý: miễn trách nhiệm hình
sự là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo cả miễn phải
chịu các hậu quả tiếp theo do việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước đem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của trách
Trang 28nhiệm hình sự và miễn bị mang án tích Trên thực tế có thể có trường hợp người phạm tội được Toà án miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn xét xử Trong trường hợp này, miễn trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm miễn chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn mang án tích [73, tr 19]
Có quan điểm ghi nhận về nội dung, về bản chất pháp lý, điều kiện áp dụng, đối tượng bị áp dụng và hậu quả pháp lý hình sự: miễn trách nhiệm hình sự là không buộc một người đáp ứng những điều kiện nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội [51, tr 30]
Như vậy, về cơ bản, tất cả các quan điểm khoa học trên đều thống nhất khẳng định rõ nội dung và bản chất pháp lý của khái niệm miễn trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, theo chúng tôi khái niệm miễn trách nhiệm hình sự dưới góc
độ khoa học luật hình sự phải thể hiện những nội dung về bản chất pháp lý, điều
kiện áp dụng và hậu quả pháp lý hình sự: Miễn trách nhiệm hình sự là không
buộc một người phải gánh chịu hậu quả pháp do việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm mà vẫn đảm bảo được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội
Từ định nghĩa trên nhận thấy, việc miễn trách nhiệm hình sự là không buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội do bản thân gây ra mà lẽ ra phải chịu, nghĩa là miễn việc kết tội cũng như áp dụng hình phạt đối với người thực hiện tội phạm và do vậy họ không bị coi là có tội Tuy nhiên, họ vẫn có thể phải chịu một số biện pháp cưỡng chế về mặt pháp lý khác như: buộc phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự; phạt tiền, cảnh cáo hoặc buộc thôi việc theo quy định của pháp luật hành chính; các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự;
Trang 29Bản chất của chế định miễn trách nhiệm hình sự chỉ có thể được giải thích, làm sáng tỏ trên cơ sở nhận thức về bản chất và nội dung của chế định trách nhiệm hình sự Tức là, một người được miễn trách nhiệm hình sự chỉ khi có trách nhiệm hình sự, nếu họ không có trách nhiệm hình sự thì trường hợp người đó được coi là không có tội hoặc thuộc các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân hiện nay thì việc nghiên cứu chế định miễn trách nhiệm hình sự là một vấn đề quan trọng và cấp thiết, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta đối với những người phạm tội nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng, hoà nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 quy định chín trường hợp miễn trách nhiệm hình sự nằm rải rác ở cả Bộ luật hình sự bao gồm năm trường hợp trong Phần chung và bốn trường hợp trong Phần các tội phạm và được chia ra hai trường hợp: có tính chất bắt buộc và có tính chất tuỳ nghi (lựa chọn), cụ thể các trường hợp đó là:
Một là, khi tiến hành điều tra hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình
mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (khoản 1 Điều 25 Bộ luật hình sự);
Hai là, trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự
thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 25 Bộ luật hình sự);
Ba là, khi có quyết định đại xá (khoản 3 Điều 25 Bộ luật hình sự);
Trang 30Bốn là, người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19 Bộ luật
hình sự);
Năm là, người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội
nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục (khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự);
Sáu là, người phạm tội đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện
nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (khoản 3 Điều 80 Bộ luật hình sự);
Bảy là, người phạm tội đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ
động khai báo trước khi bị phát giác (đoạn 2 khoản 6 Điều 289 Bộ luật hình sự);
Tám là, người môi giới hối lộ đã chủ động khai báo trước khi bị phát
giác (khoản 6 Điều 290 Bộ luật hình sự);
Chín là, người phạm tội không tố giác tội phạm nhưng đã có các hành
động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm (khoản 3 Điều 314 Bộ luật hình sự)
Qua việc tìm hiểu một số quan điểm về miễn trách nhiệm hình sự đồng thời nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự hiện hành, nhận thấy miễn trách nhiệm hình sự có những đặc điểm cơ bản như sau:
1) Miễn trách nhiệm hình sự là xoá bỏ hoàn toàn hậu quả pháp lý của việc thực hiện một tội phạm, chỉ áp dụng đối với người mà trong hành vi của
họ thoả mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể Việc một hành vi
đã được thực hiện không có dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể loại trừ hoàn toàn khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự và do vậy loại trừ cả khả năng miễn trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi đó Đối với những người này lại có căn cứ và những điều kiện nhất định để được miễn
Trang 31trách nhiệm hình sự trong từng trường hợp mà pháp luật hình sự hiện hành quy định, cũng như tuỳ thuộc vào từng trường hợp miễn trách nhiệm hình sự
đó là tuỳ nghi (lựa chọn) hay bắt buộc
2) Là một chế định biểu hiện bản chất nhân đạo của luật hình sự Việt Nam chế định miễn trách nhiệm hình sự phản ánh rõ nét nhất chính sách hình
sự của Nhà nước ta “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, cải tạo” và chính sách “phân hoá đối tượng phạm tội” nhất là các vụ
án có đông người tham gia
3) Mặc dù trong pháp luật hình sự không quy định, nhưng thực tiễn cho thấy người được miễn trách nhiệm hình sự tuy không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự của hành vi phạm tội do mình thực hiện (như: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế
về hình sự khác và không bị coi là có án tích), nhưng căn cứ vào các tình tiết
cụ thể của vụ án vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tương ứng khác Cụ thể là: các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; buộc phải phục hồi lại tình trạng ban đầu, buộc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự; phạt tiền, cảnh cáo hoặc buộc thôi việc theo quy định của pháp luật hành chính; đình chỉ hợp đồng theo quy định của pháp luật lao động hoặc biện pháp kỷ luật
Để minh chứng cho điều này có thể dẫn ra văn bản hướng dẫn có tính chất chỉ đạo của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Nghị quyết
số 02/HĐTP ngày 05-01-1986 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Bộ luật hình sự: “Khi đã miễn trách nhiệm hình sự thì Toà án không được
quyết định bất kỳ loại hình phạt nào nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người bị hại và giải quyết tang vật” Tại Công văn số
24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Toà án nhân dân tối cao "Về việc giải
Trang 32đáp bổ sung một số vấn đề về áp dụng pháp luật" cũng quy định "tuỳ trường hợp cụ thể người được miễn trách nhiệm hình sự có thể bị xử lý hành chính"
4) Phụ thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể, miễn trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện bởi một cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền nhất định (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án) khi có
đủ các căn cứ do pháp luật hình sự quy định Miễn trách nhiệm hình sự do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định phải được thể hiện bằng văn bản cụ thể, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra (bằng văn bản) khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự (Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự), Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án (bằng văn bản) khi có một trong các căn cứ miễn trách nhiệm hình
sự quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự (Điều
169 Bộ luật tố tụng hình sự) hoặc rút quyết định truy tố và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án (Điều 181 Bộ luật tố tụng hình sự), Toà án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm trong trường hợp miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo (khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự)
1.2.2 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với một số khái niệm khác có liên quan:
* Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với truy cứu trách nhiệm hình sự:
Truy cứu trách nhiệm hình sự là một quá trình nhận thức lý luận có tính chất logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng việc xác định sự thật khách quan trong vấn đề trách nhiệm hình sự của người đã thực hiện hành vi mà tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi nào đó bị luật hình sự cấm tức là giải quyết một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội [10, tr 17]
Trang 331) Giữa khái niệm miễn trách nhiệm hình sự và khái niệm truy cứu trách nhiệm hình sự có một số điểm giống nhau dưới đây:
Một là, xét về bản chất, hành vi của người được miễn trách nhiệm hình
sự và hành vi của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự đều là hành vi thoả mãn dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong pháp luật hình sự hiện hành
Hai là, miễn trách nhiệm hình sự và truy cứu trách nhiệm hình sự là hai
khái niệm (nội dung) của cả hai ngành luật: Luật hình sự và Luật tố tụng hình
sự và chỉ được áp dụng đối với bản thân người phạm tội
2) Bên cạnh đó, giữa khái niệm miễn trách nhiệm hình sự và khái niệm truy cứu trách nhiệm hình sự cũng có một số đặc điểm khác nhau cơ bản như sau:
a) Tuỳ thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng, biện pháp miễn trách nhiệm hình sự chỉ do một cơ quan tư pháp hình sự tương ứng áp dụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án) Trong khi đó, truy cứu trách nhiệm hình sự là hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án) kế tiếp nhau áp dụng theo trình
tự tố tụng hình sự tương ứng để buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện [45, tr 14]
b) Người được miễn trách nhiệm hình sự khác với người bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở chỗ: mặc dù cũng là người phạm tội nhưng vì trong vụ
án nếu có căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định thì họ được miễn trách nhiệm hình sự Có nghĩa là người được miễn trách nhiệm hình sự họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không bị kết tội, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác và không bị coi là có án tích Còn người bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì họ bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và cưỡng chế thi hành biện pháp của trách nhiệm hình
sự bởi cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền
Trang 34* Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với không phải chịu trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự [10, tr 19]
Không phải chịu trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự là hai khái niệm của luật hình sự đều có cùng bản chất pháp lý giống nhau và có thể được định nghĩa như sau: “không phải chịu trách nhiệm hình sự (hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự) là khi việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội của người nào đó không đưa đến hậu quả pháp lý hình sự tuỳ theo từng trường hợp cụ thể” Có nghĩa là người thực hiện hành vi ấy “không phải chịu trách nhiệm hình sự” (hoặc cũng có thể nói là “chủ thể không có trách nhiệm hình sự” đối với việc thực hiện hành vi hay “trách nhiệm hình sự đối với việc thực hiện hành vi có thể loại trừ”) vì có một trong ba căn cứ chủ yếu mà dưới đây ta cần phải chỉ ra nội hàm của từng căn cứ để thấy sự khác nhau của chúng với khái niệm miễn trách nhiệm hình sự
Căn cứ thứ nhất: khi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi được thực hiện chưa đến mức bị coi là vi phạm pháp luật (vì nó chỉ có thể là hành vi trái đạo đức hoặc vi phạm kỷ luật) nên người thực hiện hành vi đó không thể bị
xử lý bằng bất kỳ chế tài pháp lý nào (trong đó có chế tài pháp lý hình sự) – không phải chịu trách nhiệm hình sự
Căn cứ thứ hai: khi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi được thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức vi phạm pháp luật hình sự (hành vi đó không bị pháp luật hình sự cấm) và có nghĩa rằng, đó không phải
là tội phạm nên tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, người thực hiện chỉ có thể bị
xử lý bằng chế tài pháp lý phi hình sự được quy định trong ngành luật tương ứng (hành chính, dân sự, lao động ) mà không bị xử lý bằng bất kỳ chế tài pháp lý hình sự nào khác - không phải chịu trách nhiệm hình sự
Căn cứ thứ ba: khi tính nguy hiểm cho xã hội được thực hiện tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật hình sự nào đó (hành vi bị luật hình sự cấm) nhưng lại thiếu một trong năm dấu hiệu (đặc
Trang 35điểm) được thừa nhận chung của tội phạm và do vậy tính chất tội phạm của hành vi đó được loại trừ theo quy định của pháp luật hình sự nên tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, người thực hiện hành vi chỉ có thể bị xử lý bằng chế tài pháp lý phi hình sự được quy định trong ngành luật tương ứng (hoặc thậm chí có trường hợp không bị) mà không thể bị xử lý bằng chế tài pháp lý hình
sự nào – không phải chịu trách nhiệm hình sự
Tóm lại, miễn trách nhiệm hình sự với không phải chịu trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự là hoàn toàn khác nhau Người được miễn trách nhiệm hình sự là người đã phạm một tội được quy định trong Bộ luật hình sự nhưng có những căn cứ và những điều kiện khác nhau để được miễn trách nhiệm hình sự Còn người không phải chịu trách nhiệm hình sự; loại trừ trách nhiệm hình sự là người mà hành vi của họ không có sự sai trái hoặc hành vi của họ tuy có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhưng mức độ nguy hại không lớn nên không coi là tội phạm mà chỉ đáng xử lý về hành chính
* Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt
Cũng như trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, hiện nay trong Bộ luật hình sự vẫn chưa có khái niệm pháp lý về miễn hình phạt Tuy
nhiên, có thể định nghĩa “miễn hình phạt là huỷ bỏ biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất cho người bị kết án mà lẽ ra Toà án phải tuyên trong bản
án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người này” [13, tr 20]
Chế định miễn hình phạt đã chỉ rõ một điều là không phải trong mọi trường hợp phạm tội, người phạm tội đều phải chịu hình phạt, mặc dù tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu đặc trưng của tội phạm Điều 54 Bộ luật hình
sự năm 1999 quy định “người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong
trường hợp người phạm tội có những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1
Trang 36Điều 46 của bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự”
Như vậy, bản chất pháp lý của chế định miễn hình phạt là ở chỗ Toà án không quyết định hình phạt trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, tức là không áp dụng đối với người này biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất khi có đầy
đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện được quy định trong pháp luật hình sự
Việc quy định chế định miễn hình phạt trong luật hình sự thể hiện rõ chính sách khoan hồng trong đường lối xử lý hình sự của Đảng và Nhà nước
ta Những trường hợp, nếu việc áp dụng hình phạt xét thấy không cần thiết, nghĩa là không đạt được mục đích của hình phạt thì Toà án quyết định miễn hình phạt cho người phạm tội Tuy nhiên, việc áp dụng chế định này trong từng trường hợp phải thoả mãn những điều kiện nhất định
1) Qua việc tìm hiểu những quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt, nhận thấy chúng có một số đặc điểm giống nhau dưới đây:
a) Cả hai chế định này đều thuộc hệ thống các biện pháp tha miễn trong luật hình sự nước ta, thể hiện rõ nét nhất chính sách khoan hồng trong đường lối hình sự của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện đồng thời qua đó nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hoà nhập với cộng đồng giúp họ trở thành người có ích cho xã hội
b) Miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người nào đó bị coi là có lỗi trong việc thực hiện chính tội phạm đó khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định tương ứng trong từng trường hợp cụ thể
Trang 37c) Cũng như người được miễn trách nhiệm hình sự, người được miễn hình phạt không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội và của việc quyết định hình phạt - án tích
d) Cũng như việc miễn trách nhiệm hình sự, bằng các quy phạm có tính chất nhân đạo của chế định miễn hình phạt, nhà làm luật không phải dùng các biện pháp mang tính chất trấn áp (trừng trị) về mặt hình sự và do đó, sẽ loại trừ được việc áp dụng hình phạt trong những trường hợp mặc dù hình phạt có được Toà án quyết định đi chăng nữa nhưng trên thực tế là bất hợp lý vì các mục đích của nó không thể đạt được, đồng thời Nhà nước không cách ly khỏi
xã hội những người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và như vậy
sẽ “tạo điều kiện thuận lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của trật tự pháp luật để trở lại cuộc sống bình thường trong cộng đồng xã hội, phấn đấu làm người lương thiện và có ích cho gia đình và xã hội” [13, tr 20]
2) Bên cạnh những điểm giống nhau như trên, miễn trách nhiệm hình
sự và miễn hình phạt có một số điểm khác nhau cơ bản dưới đây:
Một là, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt là hai khái niệm
khác nhau Hình phạt là một hình thức cụ thể hoá của trách nhiệm hình sự nhưng không phải là hình thức cụ thể hoá duy nhất, không phải là hậu quả duy nhất của trách nhiệm hình sự Do đó, không thể đồng nhất khái niệm miễn trách nhiệm hình sự với khái niệm miễn hình phạt Hai chế định này khác nhau về cơ sở, điều kiện áp dụng và giai đoạn áp dụng trong tố tụng hình
sự Theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự trong những trường hợp cụ thể, người phạm tội có thể được miễn hình phạt nhưng chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự Ngược lại, người được miễn trách nhiệm hình sự tất yếu người
đó được miễn hình phạt
Hai là, trong Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta, ngoài Phần chung,
việc miễn trách nhiệm hình sự còn được quy định ở một số điều của Phần các
Trang 38tội phạm Ví dụ như: khoản 3 Điều 80, đoạn 2 khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290 và khoản 3 Điều 314 được phân thành hai loại: một loại mang tính chất bắt buộc và một loại mang tính chất tuỳ nghi (lựa chọn) Miễn hình phạt được quy định tại Điều 54 và khoản 3 Điều 314)
Ba là, trách nhiệm hình sự có thể được thực hiện bằng hình phạt (nếu
người phạm tội không được miễn trách nhiệm hình sự mà bị Toà án áp dụng hình phạt), nhưng cũng có thể bằng biện pháp có tính chất cưỡng chế về hình
sự khác (nếu người phạm tội được miễn hình phạt) Còn miễn trách nhiệm hình sự thì đương nhiên là không áp dụng hình phạt với người phạm tội, tức
là không áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước đối với họ, nhưng miễn hình phạt thì không có nghĩa là không có trách nhiệm hình sự Nói một cách khác, người được miễn hình phạt khi họ chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự, còn người được miễn trách nhiệm hình sự lại đương nhiên được miễn hình phạt
Bốn là, khác với miễn trách nhiệm hình sự, điều kiện được miễn hình
phạt áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể không được quy định rõ ràng như miễn trách nhiệm hình sự Theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự năm 1999 thì các điều kiện để được miễn hình phạt không khắc khe bằng các điều kiện để được miễn trách nhiệm hình sự Do đó, dưới góc độ pháp luật hình sự thực định và thực tiễn áp dụng nó, chúng ta có thể đánh giá hành vi phạm tội của người được miễn trách nhiệm hình sự không nguy hiểm bằng hành vi phạm tội của người được miễn hình phạt và bản thân người được miễn trách nhiệm hình sự bao giờ cũng có dấu hiệu về nhân thân tốt hơn các dấu hiệu về nhân thân của người được miễn hình phạt
Năm là, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt mặc dù đều là các
biện pháp nhân đạo áp dụng đối với người phạm tội nhưng giữa chúng lại có những điểm khác nhau về nội dung cũng như căn cứ áp dụng Hình phạt và
Trang 39biện pháp miễn hình phạt chỉ do Toà án áp dụng Trong khi đó, biện pháp miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội, ngoài Toà án có thẩm quyền áp dụng thì có thể do Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát áp dụng trước khi xét
xử tuỳ thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng
Sáu là, người được miễn trách nhiệm hình sự đương nhiên không phải
chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện nhưng vẫn phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật khác tương ứng như: các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, buộc phải phục hồi lại tình trạng ban đầu, buộc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự; phạt tiền, cảnh cáo hoặc buộc thôi việc theo quy định của pháp luật hành chính; đình chỉ hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật hợp đồng lao động; hoặc biện pháp kỷ luật trong khi đó người được miễn hình phạt tuy đương nhiên được xoá án tích (khoản 1 Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999, nhưng họ vẫn có thể
bị áp dụng các biện pháp tư pháp chung) được quy định trong Bộ luật hình sự thực định đó là: biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; biện pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; biện pháp bắt buộc chữa bệnh (Điều 41- 43 Bộ luật hình sự năm 1999)
Tuy nhiên, giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt có sự tác động qua lại lẫn nhau do sự quan hệ, gắn bó giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt Trách nhiệm hình sự có thể là hình phạt, cũng có thể là những biện pháp
có tác dụng cưỡng chế về hình sự được áp dụng trong khi người phạm tội được miễn hình phạt Miễn trách nhiệm hình sự đồng thời có nghĩa là không
áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, là miễn hình phạt với họ, nhưng miễn hình phạt thì không có nghĩa là không có trách nhiệm hình sự
1.3 Phân biệt sự giống nhau và khác nhau của hai chế định trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự
Trang 40Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự là hai chế định quan trọng của Luật hình sự Việt Nam Viêc phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa hai chế định này rất quan trọng, giúp các cơ quan áp dụng pháp luật đưa
ra được những quyết định đúng đắn, thống nhất, tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, đấu tranh phòng, chống tội phạm
1) Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự có một số điểm giống nhau như sau:
a) Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự đều là hai chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, có chung cơ sở phát sinh là chỉ khi nào có việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm
b) Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự đều có chung một chủ thể có thẩm quyền áp dụng đó là cơ quan Nhà nước mà đại diện là cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền (Cơ quan điều tra với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát và Toà án) căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự
cụ thể để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
c) Chủ thể bị áp dụng chế định trách nhiệm hình sự và chủ thể được áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự đều là người phạm tội – đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự, có lỗi và đạt độ tuổi theo luật định
2) Trên cơ sở những điểm giống nhau, trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự cũng có sự khác nhau cơ bản:
a) Về hậu quả pháp lý của việc áp dụng: trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật và một số biện pháp cưỡng chế hình sự do luật hình sự quy định