ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHAN THỊ HẠNH MỐI LIÊN HỆ CỦA CHẾ ĐỘ TỰ QUẢN LÀNG XÃ VÀ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NÔNG THÔN BẮC BỘ VIỆT NAM Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ HẠNH
MỐI LIÊN HỆ CỦA CHẾ ĐỘ TỰ QUẢN LÀNG XÃ
VÀ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NÔNG THÔN BẮC
BỘ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ HẠNH
MỐI LIÊN HỆ CỦA CHẾ ĐỘ TỰ QUẢN LÀNG XÃ
VÀ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NÔNG THÔN BẮC
BỘ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 8380101.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS MAI VĂN THẮNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những gì viết trong Luận văn là do tự tìm tòi, học hỏi của bản thân và sự hướng dẫn tận tình của TS Mai Văn Thắng Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của tác giả khác đều được trích dẫn cụ thể Đề tài luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một Hội đồng bảo vệ luận văn nào và cũng chưa hề được công bố trên bất kỳ phương tiện nào Tôi đã hoàn thành đầy đủ các môn học và đã thực hiện tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội
Tôi xin chịu trách nhiệm về những lời cam đoạn trên./
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Người cam đoan
Phan Thị Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn và kết thúc khóa học, tôi gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi có môi trường học tập tốt trong thời gian tôi học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn của mình tới TS Mai Văn Thắng – người luôn luôn tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy cô trong bộ môn Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật – Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã thường xuyên, kịp thời gửi các thông tin cần thiết để những học viên như tôi dễ dàng hoàn thiện thủ tục bảo vệ Luận văn đúng hạn
Tôi chân thành cảm ơn người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này
Do khả năng nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự chỉ dẫn và đóng góp của các chuyên gia, các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài này hoàn thiện và phần nào giúp nâng cao việc THPL hiện nay
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên
Phan Thị Hạnh
Trang 5HỆ CỦA CHẾ ĐỘ TỰ QUẢN LÀNG XÃ VÀ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NÔNG THÔN BẮC BỘ VIỆT NAM 6 1.1 Những vấn đề lý luận và lịch sử về chế độ tự quản làng xã ở nông
thôn Bắc Bộ Việt Nam 6
1.1.1 Khái niệm tự quản và tự quản làng xã 6 1.1.2 Khái niệm và đặc điểm chế độ tự quản làng xã, nội dung của chế độ tự
quản làng xã 9 1.1.3 Đặc điểm của nông thôn Bắc Bộ 17 1.1.4 Sơ lược chế độ tự quản làng xã ở nông thôn Bắc Bộ qua các thời kỳ 23
1.2 Những vấn đề lý luận về mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và
thực hiện pháp luật ở nông thôn Bắc Bộ Việt Nam 27
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và
thực hiện pháp luật 27 1.2.2 Biểu hiện mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và thực hiện pháp luật 31 1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng lên mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và
thực hiện pháp luật 36
1.3 Sơ lược về mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và thực hiện pháp
luật trong tiến trình lịch sử Việt Nam 39 1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc thúc đẩy, phát huy mặt tích cực trong
mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và thực hiện pháp luật trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 44 Tiểu kết chương 1 49
Trang 6Chương 2: THỰC TIỄN MỐI LIÊN HỆ CỦA CHẾ ĐỘ TỰ QUẢN LÀNG
XÃ VÀ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NÔNG THÔN BẮC BỘ VIỆT NAM HIỆN NAY 50 2.1 Những tác động, ảnh hưởng của chế độ tự quản làng xã tới việc
thực hiện pháp luật ở nông thôn Bắc Bộ Việt Nam hiện nay 50
2.1.1 Những tác động, ảnh hưởng của các thiết chế xã hội trong chế độ tự
quản làng xã đối với việc thực hiện pháp luật 50 2.1.2 Những tác động, ảnh hưởng từ các quy phạm, tập tục văn hóa của chế
độ tự quản làng xã đối với việc thực hiện pháp luật 54 2.1.3 Những tác động, ảnh hưởng từ tài chính- kính tế của chế độ tự quản
tới việc thực hiện pháp luật 58 2.1.4 Những tác động, ảnh hưởng từ yếu tố con người của chế độ tự quản
làng xã tới việc thực hiện pháp luật 59
2.2 Những tác động, ảnh hưởng của hoạt động thực hiện pháp luật tới
chế độ tự quản làng xã ở nông thôn Bắc Bộ Việt Nam trong điều kiện hiện nay 63
2.2.1 Những tác động, ảnh hưởng của thực hiện pháp luật tới các thiết chế
trong chế độ tự quản làng xã 63 2.2.2 Những tác động, ảnh hưởng của thực hiện pháp luật tới quy phạm, tập
tục văn hóa của chế độ tự quản làng xã 66 2.2.3 Những tác động, ảnh hưởng của thực hiện pháp luật tới tài chính, kinh
tế của chế độ tự quản làng xã 69 2.2.4 Những tác động, ảnh hưởng của thực hiện pháp luật tới con người của
chế độ tự quản làng xã 71
Tiểu kết chương 2 75 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ MỐI
LIÊN HỆ CỦA CHẾ ĐỘ TỰ QUẢN LÀNG XÃ VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 76 3.1 Quan điểm về việc sử dụng hiệu quả mối liên hệ của chế độ tự
quản làng xã và việc thực hiện pháp luật trong bối cảnh hiện nay
ở Việt Nam 76
Trang 73.1.1 Quan điểm về tự quản làng xã 76
3.1.2 Quan điểm về việc sử dụng hiệu quả mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và việc thực hiện pháp luật trong bối cảnh hiện nay 78
3.2 Những giải pháp chung để sử dụng hiệu quả mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và việc thực hiện pháp luật 79
3.3 Những giải pháp cụ thể để sử dụng hiệu quả mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và việc thực hiện pháp luật 86
Tiểu kết chương 3 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hàng ngàn năm qua, thói quen, lối sống, truyền thống, thuần phong mỹ tục, hương ước lệ làng, sinh hoạt cộng đồng ở làng, xã Việt Nam… đã và luôn có những ảnh hưởng vô cùng to lớn trong đời sống văn hóa, xã hội và kinh tế, chính trị của người Việt Lịch sử đã chứng minh, khi nào nhà cầm quyền biết phát huy, nâng đỡ, ủng hộ, cộng tác và sử dụng hiệu quả các giá trị của làng xã thì không chỉ đem lại sự hưng thịnh mà còn góp phần giữ gìn văn hóa, bảo vệ nền tảng chính trị và thậm chí còn góp phần giữ gìn an ninh lãnh thổ quốc gia
TQLX là một trong những đặc trưng cơ bản của văn hóa làng xã Việt Nam TQLX cùng các thiết chế của nó đã góp phần không nhỏ hình thành văn hóa người Việt, giữ được văn hóa, truyền thống người Việt qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử Ngày nay, tính chất TQLX dù đã không còn được như trong lịch nhưng, gần đây, cùng với quyết tâm xây dựng NNPQ XHCN và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã
và đang từng bước tiếp nhận một cách có chọn lọc các yếu tố tiến bộ của các nguyên tắc, mô hình tổ chức quyền lực ở phương Tây Những giá trị pháp quyền, quyền con người, phân quyền, tự quản địa phương đã đâu đó được thể hiện nhiều hơn trong đời sống chính trị, pháp luật của đất nước
Cùng với sự tiếp nhận các giá trị tiến bộ đó, Việt Nam cũng đang nỗ lực tái phát triển các giá trị truyền thống của mình và phát triển trong bối cảnh mới Một trong những nỗ lực ấy là chính sách, đường lối phát huy dân chủ ở cơ sở, phát huy sức mạnh của làng xã, truyền thống và văn hóa làng xã cùng các thiết chế phi quan phương
Trong lịch sử, làng xã ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam có truyền thống
và đặc trưng hơn cả về yếu tố tổ chức, kết cấu, văn hóa và vị trí, vai trò trong đời sống văn hóa, chính trị xã hội người Việt Văn hóa làng, lũy tre xanh, giếng nước, sân đình, hội đình, cổng làng, đình làng, những hình thức xử lý của làng xã, cung cách ứng xử… trong văn hóa làng xã của người Việt gần như được lấy từ nguyên mẫu từ văn hóa làng ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ và từ đó lan tỏa ra nhiều khu vực
ở Việt Nam cùng làn sóng di dân cũng như tính chất hữu xạ tự nhiên hương của nền
Trang 10văn hóa làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ… Ngày nay, dù chính sách phát triển làng văn hóa, xây dựng hương ước, lệ làng… đã phát động trong cả nước, nhưng sự phát triển mạnh mẽ, ấn tượng trong phong trào ấy trước hết là ở khu vực đồng bằng Bắc
Bộ như ở Thái Bình, Hà Nam, Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Nội…
Từ những quan sát thực tiễn, phân tích lịch sử phát triển văn hóa làng xã, chính sách phát triển làng xã gần đây, tác giả cho rằng, việc xây dựng thành công một xã hội pháp quyền mà trước hết là tính tối thượng của pháp luật sẽ thật sự hiệu quả nếu biết vận dụng hiệu quả các yếu tố của tự quản, tự trị làng xã mà đặc biệt là làng xã ở khu vực NTBB Phân tích những tác động qua lại của tự quản, tự trị làng
xã ở khu vực tiêu biểu này với THPL xuyên suốt từ những kinh nghiệm lịch sử và hiện tại sẽ giúp có được những đề xuất, nhân rộng mô hình để qua đó đạt được mục tiêu vận dụng nét văn hóa truyền thống làng xã để pháp luật lan tỏa vào cuộc sống một cách tự nhiên và dễ dàng nhất qua đó tiệm cận xây dựng nền tảng pháp quyền Đồng thời, cũng qua đây có thể phát huy giá trị tích cực của TQLX để phát triển TQLX như là một nét truyền thống nhưng cũng phù hợp với xu hướng phân quyền,
tự quản, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức quyền lực trên thế giới
Từ những suy nghĩ đó, tác giả quyết định chọn đề tài “Mối liên hệ của chế
độ tự quản làng xã và việc thực hiện pháp luật ở nông thôn Bắc Bộ Việt Nam”
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
2.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm rõ mối liên hệ của CĐTQ làng xã với việc THPL ở NTBB Việt Nam để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những ảnh hưởng, tác động tiêu cực và phát huy những ảnh hưởng, tác động tích cực của mối liên hệ này trong việc THPL nói chung và việc THPL ở NTBB hiện nay Và trên hết, những đề xuất, giải pháp đó sẽ góp phần thúc đẩy những giá trị và văn hóa pháp quyền ở Việt Nam đồng thời phát triển nền tảng truyền thống là văn hóa làng xã trong bối cảnh mới, phù hợp với xu hướng, nguyên tắc phân quyền, tự quản, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức, vận hành quyền lực trên thế giới hiện đại
Trang 112.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về CĐTQ làng xã, THPL và mối
liên hệ của chúng Làm rõ lịch sử hình thành, đặc điểm của CĐTQ làng xã ở NTBB Việt Nam; đồng thời làm rõ đặc điểm, nội dung và các yếu tố tác động lên mối liên
hệ của CĐTQ làng xã và việc THPL ở NTBB Việt Nam để từ đó tìm ra những tác động, ảnh hưởng của hai yếu tố này trong lịch sử
Thứ hai, tìm hiểu những tác động, ảnh hưởng của mối liên hệ này trong bối
cảnh hiện nay từ đó phân tích rõ những tác động, ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của CĐTQ tới THPL cũng như ngược lại THPL tới CĐTQ ở NTBB Thông qua việc phân tích để có những đánh giá, nhận định về mối liên hệ này trước các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước hiện nay
Thứ ba, đưa ra quan điểm về việc nên hay không nên phát huy mối liên hệ
giữa CĐTQ làng xã và việc THPL Từ đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả THPL nói chung cũng như các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả THPL ở vùng NTBB Các đề xuất, giải pháp đó sẽ góp phần thúc đẩy những giá trị và văn hóa pháp quyền ở Việt Nam đồng thời phát triển nền tảng truyền thống là văn hóa làng xã trong bối cảnh mới, phù hợp với xu hướng, nguyên tắc phân quyền, tự quản,
tự chịu trách nhiệm trong tổ chức, vận hành quyền lực trên thế giới hiện đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Trang 12Nam Hiện nay, các chính sách phát triển làng văn hóa, xây dựng hương ước, lệ làng, … đã phát động trong cả nước nhưng sự phát triển mạnh mẽ, ấn tượng trong phong trào ấy trước hết là ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ
Phạm vi về thời gian: là quá trình thay đổi của CĐTQ làng xã từ trước tới nay
và mối liên hệ của chế độ này với THPL trong các thời kỳ phát triển của đất nước
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của Luận văn
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn bản hiện hành của Đảng Cộng sản Việt Nam
về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh theo yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam Một nhà nước đảm bảo yếu tố dân chủ và quyền con người
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, diễn dịch để phân tích làm sáng tỏ vấn
đề nghiên cứu Kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu của các tác giả khác có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu như: Luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu, bài viết đăng trên các tạp chí, báo…
5 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có hệ thống và tương đối toàn diện về mối liên hệ giữa CĐTQ làng xã và việc THPL ở NTBB nên có những đóng góp khoa học như sau:
Về lý luận: Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực
tiễn, đề xuất một số quan điểm, giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm mục đích phát huy những ảnh hưởng tích cực, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của mối liên
hệ này trong bối cảnh hiện nay
Về thực tiễn: Luận văn phân tích, đánh giá khá toàn diện về thực trạng mối
liên hệ giữa CĐTQ làng xã và việc THPL ở NTBB và đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm theo yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN trong giai đoạn hiện nay nên
Trang 13sẽ cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách nói chung và của vùng NTBB để nâng cao việc THPL
Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy; làm tài liệu tham khảo cho các cấp uỷ đảng, chính quyền, nhất là đối với khu vực NTBB trong việc xây dựng cấp quản lý cơ sở; làm tài liệu tham khảo cho các bài viết và các đề tài nghiên cứu khác có liên quan
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được tác giả chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử về mối liên hệ của chế độ tự
quản làng xã và việc thực hiện pháp luật ở nông thôn Bắc Bộ Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và việc thực
hiện pháp luật ở nông thôn Bắc Bộ Việt Nam hiện nay
Chương 3: Quan điểm và giải pháp sử dụng hiệu quả mối liên hệ của chế độ
tự quản làng xã và thực hiện pháp luật trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ VỀ MỐI LIÊN HỆ CỦA CHẾ ĐỘ TỰ QUẢN LÀNG XÃ VÀ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở
NÔNG THÔN BẮC BỘ VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề lý luận và lịch sử về chế độ tự quản làng xã ở nông thôn Bắc Bộ Việt Nam
1.1.1 Khái niệm tự quản và tự quản làng xã
Tự quản từ góc nhìn xã hội học là một hiện tượng xã hội tất yếu, khách quan vốn như nó nảy sinh trong quá trình tự tổ chức sống, hoạt động và sinh hoạt của các chủ thể hành động xã hội [27]
Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê (2003) có đưa ra định nghĩa
tự quản là “tự mình trông coi, quản lý công việc, không cần có ai điều khiển” hoặc
“là một phương thức quản lý mở rộng dân chủ trên những mức độ khác nhau”
Theo từ điển Petit Larousse, “tự quản” (gestion autonome) biểu hiện cho một hình thức quản lý độc lập của một nhóm người, một tổ chức, …; với những quy định riêng của họ
Đặc điểm của tự quản, trước hết là nhà nước trao quyền tự điều chỉnh cho
mỗi cá nhân của cộng đồng, đồng nghĩa với việc trao quyền cho cộng đồng tự tổ
chức điều chỉnh các hoạt động cần thiết của nó Thứ hai, tự quản là việc người dân
tự nguyện tham gia hay ủy nhiệm cho người khác tham gia vào chủ thể quản lý có
tính tập thể Thứ ba, tự quản chính là việc xác định những công việc sẽ thuộc sự quản lý bởi tập thể Thứ tư, là cùng thỏa thuận những biện pháp quản lý như xác
định những quy định hay những điều khoản thưởng, phạt, tự nguyện đóng góp các nguồn tài chính cần thiết cho tập thể thực hiện các công việc chung
Ngoài ra để hiểu rõ hơn về tự quản, ta cũng có thể đưa ra quan điểm về việc phân biệt giữa tự quản và tự trị
Quan điểm về tự trị được đưa ra như sau: “Tự trị là hiện tượng có ở nhiều nơi
trên thế giới Nó thường là sản phẩm của cuộc đấu tranh giữa một cộng đồng người
Trang 15dân trị, hay cộng đồng xã hội đang sống trong một khu vực đặc biệt nào đó biểu thị mối quan hệ chính trị giữa nhà nước trung ương với một cộng đồng dân cư nhất định”
Như vậy, khi nói đến khu tự trị hay nước cộng hòa tự trị trong một liên bang (Nga, Pháp, Mỹ), … thì có thể thấy nhà nước dành cho cộng đồng dân cư quyền tự cai trị nội bộ còn quyền ngoại giao và quyền bảo toàn lãnh thổ thuộc về nhà nước trung ương Với tư cách tự cai trị, tự trị cộng đồng thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp nhưng chỉ trong lãnh thổ của mình dưới khuôn khổ chung của nhà nước
Tự trị là khái niệm tự quản của một quốc gia chưa hoàn chỉnh trong đó có chính quyền và công dân, có người cai trị và người bị trị, có người quản lý và bị quản lý, có áp bức và có đấu tranh, … có đầy đủ các mối quan hệ giai cấp – xã hội
đa dạng và phong phú
Tổng hợp các luận điểm trên, chúng ta có thể thấy rằng tự quản là một thuật
ngữ được sử dụng khi nói về quyền của một tổ chức, một địa phương (ta có thể gọi chung là “đơn vị tự quản”) trong một lĩnh vực đời sống Theo đó, tổ chức sẽ tự mình quản lý, giải quyết công việc một cách chủ động và tự chịu trách nhiệm hoạt động của mình Đây là một hình thức giảm tải cho chính quyền Trung ương đồng
thời phát huy cao nhất tính sáng tạo và năng lực quản lý của cộng đồng địa phương
Tự quản có nghĩa là tự quản lý cộng đồng đó Nó bao hàm: (i) Sự thỏa thuận chung của các thành viên; (ii) Một số hệ thống chuẩn mực mà mọi thành viên đều nhất trí; (iii) Một hệ thống những vị trí xã hội, có vai trò thay mặt các thành viên điều khiển mọi hoạt động chung với cơ chế ủy quyền và sự tự nguyện đóng vai trò đó; (iv) Mọi sự hoạt động chung này dưới sự giám sát của cả cộng đồng mà trong
đó mỗi thành viên có quyền kiểm soát hoạt động điều hành của người được ủy quyền; (v) Kết quả của hoạt động chung do chính cả cộng đồng đánh giá; (vi) Phạm
vi hoạt động tuy có khác với luật định nhưng nằm trong khuôn khổ của luật định
Tóm lại, tự quản cộng đồng đa dạng và phong phú có thể kể đến các loại tự quản sau: tự quản của các nhóm xã hội, tự quả làng xã, tự quản gia đình, tự quản cộng đồng dân tộc, sắc tộc, …
Như vậy, TQLX là một dạng cụ thể của tự quản cộng đồng Để có một khái niệm đầy đủ về TQLX, ta xem xét nguồn gốc hình thành khái niệm “làng xã” Có
Trang 16thể nói, làng xã về mặt tổ chức xã hội là một trong hai đối tượng quan trọng nhất
đối với người Việt và được tổ chức chặt chẽ nhất Cụm từ “làng xã” bắt đầu được
sử dụng từ thời kỳ Phong kiến tự chủ khi nhà nước biến làng thành đơn vị hành
chính cấp cơ sở của nhà nước – gọi là “xã” Đây là thời kỳ khai sinh của khái niệm
“làng xã” như một đơn vị tự cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn
hóa cộng đồng, đơn vị hành chính cấp cơ sở (trong trường hợp mỗi xã chỉ có một
làng) Phó Giáo sư Bùi Xuân Đính định nghĩa về làng: “Làng là đơn vị tụ cư truyền
thống của người nông dân Việt, có địa vực riêng, có cơ sở hạ tầng cùng cơ cấu tổ chức riêng, tục lệ riêng… nhưng chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất” Xã là tên gọi chung
cho đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nông thôn, ngoại thành, ngoại thị Khái niệm làng và xã không phải là hai khái niệm đồng nhất với nhau Có thể mỗi xã có một làng nhưng cũng có thể mỗi xã do nhiều làng hợp lại Tuy nhiên, ngày nay khi nhắc đến “làng xã” thì thường sẽ hiểu theo nghĩa là làng
Qua các khái niệm, quan điểm về tự quản, tự trị và làng xã, ta có thể đưa ra
khái niệm TQLX là một hiện tượng xã hội trong đó mỗi làng xã là một chủ thể xã
hội dưới danh nghĩa tập thể, nhóm xã hội, mỗi cá nhân hay thành viên của nó là một
bộ phận, mỗi hoạt động của làng xã trở thành đối tượng quản lý của một chủ thể tập thể Khách thể quản lý là những hoạt động thuộc về đời sống cá nhân được coi là có liên quan đến lợi ích chung của làng xã và phải được làng xã điều chỉnh để có sự hài hòa về quyền lợi của mỗi cá nhân trong làng xã đó [40]
Đặc trưng của TQLX theo Nguyễn Đức Truyền khi nghiên cứu về làng xã NTBB đã nêu ra như sau: (i) Sự tự trị tương đối của làng xã với xã hội bao trùm lên
nó, thống trị nhưng nó lại bao dung với những đặc tính riêng của chúng (ii) Tầm quan trọng về cấu trúc của nhóm gia đình trong tổ chức đời sống kinh tế của đời sống xã hội và của làng xã (iii) Hệ thống kinh tế có tính tự cung tự cấp tương đối, không có sự phân biệt giữa sản xuất và tiêu thụ, luôn duy trì các mối quan hệ với kinh tế bao trùm lên nó (iv) Cộng đồng địa phương được đặc trưng bởi các mối quan hệ nội tại có sự biểu hiện lẫn nhau và các mối quan hệ lỏng lẻo cả nó với các cộng đồng bao quanh (v) Chức năng quyết định của các chức sắc với cộng đồng nông dân và xã hội bao trùm lên nó [17]
Trang 17Việc phân tích các khái niệm trên có thể thấy rằng, tự quản là cách thức tổ chức quản lý của cộng đồng xã hội không cần đến sự hỗ trợ, can thiệp của nhà nước, tự quản tồn tại tự nhiên ở những nơi không có nhà nước Về mặt lịch sử, tự quản có trước nhà nước và cuối cùng nó là cái đích của xã hội vươn đến Đó là, một
tự quản xã hội không có nhà nước Tuy nhiên, hiện nay khi nhà nước vẫn tồn tại, tự quản tồn tại dưới nhiều hình thức trong đó có TQLX Vì vậy, khi tồn tại ở xã hội có giai cấp thì TQLX với nội dung cụ thể của mình không phải chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người dân trong làng xã mà TQLX tồn tại trong khuôn khổ pháp luật được nhà nước thừa nhận và cho phép
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm chế độ tự quản làng xã, nội dung của chế độ
tự quản làng xã
Khái niệm CĐTQ làng xã
Theo từ điển Tiếng Việt của Giáo sư Hoàng Phê (2003), chế độ là một hệ thống tổ chức chính trị, kinh tế, của xã hội [10] Như vậy, khi nói đến CĐTQ ta
có thể hiểu giống như một “nhà nước con” độc lập có lãnh thổ, dân cư, chính quyền
và thể chế riêng, có phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo riêng, … được kết cấu chặt chẽ nhằm phục vụ lợi ích của đối tượng tạo nên chế độ đó
CĐTQ làng xã là một dạng thức của CĐTQ CĐTQ làng xã là việc người
dân thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình thông qua việc tự quyết định công việc tại chính làng xã đó
CĐTQ làng xã có các điểm khác với các khái niệm sau: “TQLX”, “thiết chế
tự quản”, “tự quản đô thị”,
TQLX được nói đến như một dạng thức quản lý cộng đồng ở làng xã, cũng
được hình thành bởi nhiều sự tự nguyện, bình đẳng nội bộ cao và thể hiện tính độc lập tương đối với nhà nước, có thể hiểu nhà nước có thể can thiệp được vào nội bộ của hình thức tự quản này, không hoàn toàn khép kín như chế độ tự trị Khi nói đến CĐTQ làng xã là khi muốn nhấn mạnh đến tính độc lập, tự trị của chế độ này; nói đến một hệ thống quản lý mà ở đó có đầy đủ các yếu tố để hình thành nên một “nhà nước” độc lập, không thuộc một bộ phận nào của nhà nước và không có yếu tố bị quản lý bởi nhà nước
Trang 18Thiết chế tự quản được bắt nguồn từ thiết chế xã hội Thiết chế xã hội là các
quan hệ xã hội được hình thành từ những tương tác thường xuyên, ổn định, lâu dài,
có định hướng Trong quá trình tương tác này các khuôn mẫu hành vi, vai trò được
thiết kế hóa, tức là biến thành các thiết chế Thiết chế là việc thiết lập các quy tắc xử
sự trong đời sống xã hội, như: thiết chế dân chủ, thiết chế chính trị, thiết chế gia
đình, … Do vậy, thiết chế tự quản là việc khuôn mẫu hóa các tương tác xã hội phục
vụ việc quản lý nội bộ giữa thành viên trong một nhóm người
“Tự quản đô thị” khác “CĐTQ” từ nguồn gốc hình thành bởi tự quản đô thị
hoàn toàn mang tính chất nhà nước tác động để hình thành nhằm duy trì trật tự, xã hội ở đô thị, phụ vụ lợi ích của nhà nước
Cùng là TQLX nhưng TQLX tại NTBB khác TQLX tại nông thôn miền Nam Bởi làng xã miền Nam không có sự hiện diện của các làng tan rã từ xã hội nguyên thủy mà làng chủ yếu hình thành theo hai hướng: (i) do dân tự khai phá; (ii)
do sự hỗ trợ của chính quyền Vì vậy, TQLX ở miền Nam có tính mở hơn và xét ở phương diện nào đó phụ thuộc nhiều vào nhà nước hơn CĐTQ làng xã ở NTBB
Đặc điểm của CĐTQ làng xã ở NTBB
CĐTQ làng xã đã thay đổi rất nhiều so với lúc sơ khai hình thành, có những đặc điểm đặc còn giữ lại được nhưng có những đặc điểm đặc trưng mất đi như hình ảnh về làng nấp sau lũy tre xanh, hình ảnh cây đa, giếng nước, … Vì vậy, để nhận dạng một CĐTQ làng xã chung nhất ở NTBB từ xưa tới nay có thể kể những đặc điểm sau:
Thứ nhất, CĐTQ làng xã không phải là một cấp hành chính trong bộ máy
chính quyền của nhà nước CĐTQ làng xã có bộ máy quản lý riêng, người dân tự nguyện tham gia hoặc ủy quyền cho người khác tham gia thông qua hình thức bầu
cử dân chủ Trước đây, bộ máy này được người dân tín nhiệm bầu ra theo 2 hình thức: thiên tước và vương tước, mọi vấn đề trong làng đều cần được thông qua bởi
bộ máy này Ngày nay, việc bầu cử vẫn được duy trì theo hình thức dân chủ, nhưng theo quy định của nhà nước đối với người đứng đầu quản lý thôn (trưởng thôn), ở một số nơi miền núi vẫn duy trì hình thức già làng/ trưởng bản là người đứng đầu làng và cùng tham gia quyết định các vấn đề thuộc phạm vi làng, tuy nhiên vai trò của các cá nhân này không thực sự lớn như trước đây
Trang 19Thứ hai, CĐTQ làng xã được hình thành từ những con người gắn kết với
nhau bởi địa bàn cư trú và huyết thống Về huyết thống, trước đây làng rất coi trọng gia đình và gia tộc, đặc biệt là gia tộc Vì vậy, tôn ti từng người trong gia tộc cũng rất được coi trọng Ngay nay, truyền thống gia tộc vẫn còn giữ được ảnh hưởng, các dòng họ vấn duy trì việc giỗ họ, xây dựng gia phả hay khuyến khích con cháu học hành … Về địa bàn cư trú, trước đây người dân trong làng gắn kết với nhau vì cùng nhau trồng lúa và chống trộm, cướp vào làng Ranh giới giữa các làng được phân biệt bởi cổng làng và điếm canh Trong đó cổng làng thường được làm bằng gỗ, cánh cổng là phên tre; ngày nay cổng làng được thay bằng bê tông, có nơi có cánh cổng bằng gỗ hoặc cổng không có cánh để xác định ranh giới làng
Thứ ba, người dân trong làng tự nguyện thỏa thuận những biện pháp quản lý,
đóng góp các nguồn vật chất, tài chính cần thiết cho tập thể để thực hiện các công việc chung Việc thỏa thuận những biện pháp quản lý làng được thể hiện thông qua
lệ làng, hương ước làng lập ra Trước đây, vật chất, tài chính phục vụ cho hoạt động chung của làng được lấy từ hoa màu trồng được từ đất chung của làng và từ đóng góp, ủng hộ từ người dân Ngày nay, hương ước vẫn được khuyến khích thiết lập tại các làng; vấn đề tài chính, vật chất phục vụ cho các công việc chung của làng không còn có từ nguồn hoa màu trồng được từ đất chung (do làng không còn sở hữu đất), thay vào đó là sự ủng hộ của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội
Thứ tư, con người của CĐTQ làng xã ở NTBB mang đậm tính cộng đồng và
tự trị Tính cộng đồng làm cho các thành viên trong làng đều hướng tới nhau, đoàn kết, tính tập thể cao, dân chủ, … Tính tự trị lại làm cho các làng trở nên biệt lập với nhau, dẫn đến óc bè phái, cục bộ, gia trưởng, tôn ti, … Ngày nay, mặc dù nền kinh
tế đa dạng nhiều thành phần, nhưng NTBB nông nghiệp vẫn là chủ yếu và người
dân vẫn có xu hướng “tự cung, tự cấp”, tính cộng đồng và tự trị mặc dù không
mạnh mẽ như trước kia nhưng vẫn còn tồn tại và ảnh hưởng tới con người làng xã
Thứ năm, CĐTQ làng xã chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên Từ
khi nhà nước hình thành, CĐTQ làng xã luôn có sự kiểm soát của cơ quan nhà nước, tuy nhiên mức độ kiểm soát ở mỗi thời kỳ là khác nhau Có giai đoạn, nhà
Trang 20nước chỉ có thể kiểm soát đến những người quản lý làng (các lý trưởng, già làng,
…) để thực hiện các công việc nhất định cho nhà nước như: thu thuế, dân đinh, … Ngày nay, NNPQ XHCN với nguyên tắc bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân Vì vậy, quyền và nghĩa vụ của mọi người dân được pháp luật và các chủ thể xã hội, đặc biệt là nhà nước, thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo thực hiện và thúc đẩy trong khuôn khổ pháp luật Nên, CĐTQ làng xã cũng chịu sự giám sát của nhà nước và mọi hoạt động của chế độ này đều phải trong khuôn khổ pháp luật
Nội dung của CĐTQ làng xã ở NTBB Việt Nam
Về lãnh thổ, lãnh thổ của làng là toàn bộ đất đai, điền thổ, ao đầm, gò đồi
được xác định phạm vi rất rõ ràng Trước đây, ranh giới giữa các làng được xác định bởi sông ngòi, bờ vùng bờ thửa, nhiều làng còn xây dựng cổng làng và điếm canh như một hình thức xác định biên giới chủ quyền của làng Ranh giới giữa các làng có ý nghĩa như đường biên giới quốc gia, cổng làng được xem như quan ải, bất
cứ ai ra vào làng, bộ phận có trách nhiệm của làng đều có thể kiểm soát được,
những khi cần thiết, làng có thể “bế quan tỏa cảng”, làm cho “nội bất xuất, ngoại
bất nhập” Trong trường hợp ranh giới chưa được xác định rõ ràng, tranh chấp rất
có thể xẩy ra, thậm chí trở thành xung đột gay gắt kéo dài tới nhiều thế hệ Đất thổ canh, ao đầm là những diện tích thuộc sở hữu tư nhân của các gia đình trong làng Bên cạnh ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân, trong các làng đều có ruộng đất, đình chùa, miếu mạo… thuộc sở hữu chung của làng Đối với đất đai thuộc sở hữu chung của làng, làng có toàn quyền khai thác sử dụng, quyết định việc phân chia đất đai theo thể chế của làng Làng cũng có phần ruộng đất phục vụ hoạt động tế lễ, quyền canh tác phần ruộng đất này hàng năm được làng chuyển giao luân phiên cho những người được làng phân công chuẩn bị vật phẩm phục vụ tế lễ thành hoàng làng
Ngày nay, sau những thay đổi về chính trị và xã hội, lãnh thổ của làng cũng khác trước Do sức ép về dân số, không gian cư trú được nới rộng ra rất nhiều vì vậy làng không còn là hình ảnh lũy tre làng, cây đa, bến nước, sân đình Làng ngày nay được bê tông hóa, xây tường gạch, ranh giới của làng có nơi người dân xây cổng để kiểm soát các con đường chính đi vào làng như ở Tả Thanh Oai, Đông Ngạc Đất đai
Trang 21cũng thuộc sở hữu của nhà nước và nhà nước trao quyền đến từng cá nhân để thực hiện việc phát triển kinh tế hộ gia đình Còn đối với làng, nhà nước không còn giao đất để canh tác làm quỹ riêng nữa Làng ngày nay không còn đồng nhất với xã như trước kia, có xã có một làng có khi có xã được hợp lại bởi nhiều làng với nhau
Về tài chính, cán bộ của làng có quyền tự quyết các vấn đề liên quan đến thu
chi chung của thôn làng Trước đây, mỗi làng đều có một khoản tài chính riêng, làng toàn quyền quyết định các khoản thu, chi Các khoản thu này chủ yếu là từ hoa lợi phần ruộng đất công của làng cùng những khoản thu khác, có trường hợp làng còn bán đất công của làng Các khoản chi thường niên là trả lương cho các chức dịch của làng, chi cho các kỳ tế lễ; các khoản chi không thường xuyên chủ yếu là xây dựng các công trình công ích của làng…
Hiện nay, ngân quỹ của làng chủ yếu dựa trên yếu tố tự nguyện đóng góp từ những cá nhân trong làng xã, các doanh nhân thành đạt ở xa quê hương, các doanh nghiệp trên địa bàn, tổ chức xã hội Số quỹ này nhằm phục vụ việc xây dựng đường làng, ngõ xóm; sửa chữa tôn tạo các công trình tâm linh, tín ngưỡng, các công trình thủy lợi nội đồng; giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn trong thôn, làng; tổ chức khao thượng thọ cho các cụ, … Tất cả những việc này đòi hỏi phải minh bạch, công khai, việc chi tiêu phải hợp lý tiết kiệm, phải có sổ sách ghi chép rõ ràng, đồng thời phải có sự kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo sự đồng thuận của dân làng trong sự phù hợp với pháp luật của nhà nước
Về kinh tế, kết cấu kinh tế của làng trước đây là một nền kinh tế trọng nông,
mặc dù có các hoạt động tiểu thương khác nhưng vẫn nằm trong hệ thống nền kinh
tế nông nghiệp Và nền kinh tế phụ thuộc vào sự điều phối của làng (do làng quản lý ruộng đất) Ngày nay, diện mạo kinh tế của làng cũng đã thay đổi theo định hướng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, với hình ảnh nông thôn mới đa dạng về thành phần kinh tế: công – nông – thương nghiệp Tất cả các ngành nghề đều được nhà nước khuyến khích cho người dân phát triển theo thế mạnh của từng hộ gia đình Đất đai thuộc sở hữu của nhà nước không còn thuộc sở hữu của làng Tuy vậy
ở NTBB nền kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ yếu
Trang 22Về hành chính, mỗi làng đều có bộ máy do người dân bầu ra riêng, với thể
chế luật lệ riêng để quản lý các hoạt động trong làng Cho đến thời nhà Nguyễn, ở mỗi làng Bắc Bộ đều có hai thiết chế quản lý là cơ quan quyết nghị và cơ quan chấp hành Cơ quan quyết nghị thường được gọi là hội đồng kỳ mục, do tiên chỉ đứng đầu, thành viên không giới hạn số lượng Tùy theo quy định của từng làng, tuy nhiên, thông thường, thành viên cơ quan này bao gồm những người được coi là có
“đức cao, vọng trọng” trong làng như các chức dịch đương chức hoặc đã nghỉ hưu,
các vị quan lại về hưu, những người có học, những người cao tuổi… Đây là cơ quan thuần túy tự quản của làng, nó có thẩm quyền quyết định các vấn đề chung của làng,
tự “nội trị” đến “ngoại giao” Cơ quan chấp hành là lý trưởng và các bộ phận khác,
tuy nhiên cơ quan này có hai tư cách, nó vừa là cơ quan tự quản của làng, vừa là cấp chính quyền cơ sở của nhà nước Như vậy, với bộ máy hành chính riêng do chính dân làng thiết lập, mọi công việc trong làng đều do làng tự giải quyết, các vấn đề nội bộ trong làng đều do Hội đồng kỳ mục quyết định, làng hầu như chỉ liên kết với
bộ máy hành chính nhà nước thông qua lý trưởng
Bắt đầu từ những năm 50 đến cuối những năm 80, nhà nước chi phối và điều hành mọi hoạt động của làng Không còn bộ máy mang tính tự trị, tự quản, tuy nhiên, vẫn còn nhiều khía cạnh của đời sống vẫn do dân làng tự quản trong sự phù hợp với pháp luật của nhà nước Đứng đầu cộng đồng tự quản thôn, làng hiện nay là trưởng thôn, có thể có từ 1 đến 2 phó thôn giúp việc Việc bầu cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng, phó thôn, tiêu chuẩn, nhiệm kỳ trưởng, phó thôn… đều đã được pháp luật quy định cụ thể [2] Đảng ủy chi phối toàn bộ hoạt động ở nông thôn HĐND
và UBND đóng vai trò phụ tá và là người thực hiện các quyết định của Ban Chủ nhiệm hợp tác xã và Đảng ủy xã Các thiết chế xã hội khác trong làng xã như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ … cũng thực hiện các nghị quyết từ Đảng ủy và Ban chủ nhiệm hợp tác xã Tuy nhiên các tổ chức mới này quy mô quốc gia, có điều lệ hoạt động chung trên toàn quốc vì vậy, ở cấp độ làng, những bộ phận của tổ chức này không có thể chế riêng
Để quản lý công việc của làng, hương ước đã từng bước được hình thành
Trang 23Hương ước là những những giao kèo, thỏa thuận, quy ước của cộng đồng làng, nói cách khác, hương ước là tổng thể các quy tắc xử sự điều chỉnh các quan hệ xã hội trong phạm vi một làng Hương ước có nguồn gốc từ phong tục tập quán, được hình thành trên cơ sở phong tục tập quán của mỗi làng, là hình thức thành văn của phong tục tập quán nhưng không hoàn toàn đồng nhất với phong tục tập quán Bên cạnh những quy định được chép lại từ phong tục tập quán, trong bản hương ước của mỗi làng còn có những quy định do dân làng đặt ra trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của thôn, làng Có thể coi hương ước như một bộ luật của làng [7], đồng thời
cũng được xem như “cánh tay nối dài” của pháp luật, nó điều chỉnh quan hệ xã hội
trong các làng, nơi mà chính quyền trung ương chưa vươn tới được Hương ước như
là một sự dung hoà giữa pháp luật của nhà nước với phong tục tập quán của thôn, làng Có thể nói, trong mỗi bản hương ước đều hàm chứa cả hai yếu tố là luật nước
và lệ làng Trước đây, để thực thi hương ước, làng thiết lập một bộ máy chuyên nghiệp, đó là các thiết chế hội đồng kỳ mục, các chức dịch như lý trưởng, xã tuần, tuần đinh… Đình làng là trụ sở hành chính, nơi giải quyết mọi công việc về hành
chính của làng, nơi họp bàn "việc làng" Đình làng cũng là pháp đình để xử các vụ
tranh chấp, kiện cáo, phạt vạ, nơi tiến hành thu thuế, bắt lính… Ngày nay, dưới chế
độ mới, an ninh trong làng do chính quyền nhà nước đảm nhiệm Ở mỗi thôn đều có lực lượng công an viên và dân quân tự vệ Lực lượng này đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Uỷ ban nhân dân, đồng thời đặt dưới sự quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ của Công an huyện Các vấn đề về an ninh trật tự trong làng do lực lượng này phụ trách và giải quyết, vượt quá phạm vi, công an xã phải cáo lên công an cấp trên để công an cấp trên thụ lý giải quyết Trụ sở hành chính, nơi giải quyết mọi công việc
về hành chính của làng xã hiện nay là UBND
Về việc lập hương ước, trước đây do bộ máy TQLX thực hiện, còn ngay nay nhà nước kiểm tra, giám sát và theo dõi việc thực hiện hương ước ở các làng Hương ước chỉ được thực hiện khi có trên 50% tổng số cử tri tán thành và phải có chữ ký xác nhận của Trưởng ban công tác mặt trận, Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng Tổ dân phố và phải có sự phê chuẩn, đóng dấu giáp lai của UBND huyện, quận, thị xã [16]
Trang 24Về văn hoá, mỗi làng có những phong tục tập quán khác nhau, có các nghi
thức hội hè, các thủ tục cưới xin, ma chay khác nhau…, vì vậy mà cách nghĩ, lối sống của người dân các làng cũng có sự khác nhau Nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng
Chi cho rằng “làng là một cơ thể trọn vẹn, gần như một con người, nhưng lại là một
con người phi giai cấp Trong cơ thể người trọn vẹn đó, không những có ẩn giấu một linh hồn, một tâm lý ý thức cộng đồng, mà còn có một cá tính riêng, nghĩa là một đặc sắc riêng về tính cách” Mỗi làng có tín ngưỡng, tôn giáo riêng, điều này đã
được tổng kết trong câu thành ngữ dân gian: “trống làng nào làng ấy đánh, thánh
làng nào làng ấy thờ” Mỗi làng thường có đình thờ thành hoàng làng, bên cạnh đó,
còn có thể có chùa thờ phật, phủ, miếu thờ mẫu, một số làng còn có văn chỉ thờ Khổng Tử, thậm chí có làng còn lập cả võ chỉ là nơi thờ các võ quan Đình làng ngoài thờ các vị thánh thần, còn có thể thờ những người có công khai phá đất mới, lập làng, những “tiên hiền” (người đến trước) … Một số làng còn có tục thờ cúng
những người có đóng góp lớn cho làng (gọi là “hậu thần”), hàng năm đến kỳ giỗ
của họ, làng tổ chức cúng giỗ ở đình làng Ở nhiều làng nghề, dân làng còn thờ những vị có công truyền nghề cho dân làng Trước đây đình làng có nhiều chức năng, nó là ngôi nhà chung của làng (công đường), nơi hội họp giải quyết những vấn đề chung của làng, đồng thời đình làng còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa của làng, là nơi tổ chức các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng cũng như các hoạt động văn hóa, thể thao như đấu vật, đánh cờ, hát chèo…
Ngày nay, đình làng thuần túy là nơi phục vụ tín ngưỡng của người dân còn việc xử lý các vấn đề chung của làng được giải quyết tại UBND và nơi sinh hoạt văn hóa đã có Nhà văn hóa của thôn làng
Tóm lại, CĐTQ làng xã là khái niệm rộng bao hàm toàn bộ các thiết chế làng
xã, các hình thức tự quản của làng Khi nói đến CĐTQ làng xã là nói đến một thực thể gần như độc lập, hình thành tự nhiên không phải do cơ quan nhà nước tạo thành CĐTQ làng xã bao gồm: địa vực riêng; có cách thức tổ chức, quản lý, phương thức hoạt động riêng; có quy phạm (hương ước, lệ làng), tập tục riêng để đểu điều chỉnh;
có nền kinh tế - tài chính riêng; và có con người với những văn hóa mang những
Trang 25đặc trưng riêng biệt ở NTBB Tùy từng giai đoạn, CĐTQ làng xã thể hiện yếu tố độc lập tương đối của mình với nhà nước thông qua các biểu hiện về những đặc điểm riêng biệt của các yếu tố cấu thành nên CĐTQ trên
1.1.3 Đặc điểm của nông thôn Bắc Bộ
Kết cấu kinh tế ở NTBB
Trước tiên, trong kết cấu kinh tế ở NTBB có kinh tế nông nghiệp và chế độ
sở hữu ruộng Trước đây, gia đình tiểu nông là đơn vị của làng xã Với một nền sản xuất tiểu nông, nông dân cũng như các triều đại phong kiến trước đây luôn chú trọng công cuộc khai hoang lập làng Nông dân có ý thức rất cao vài trò con người trong việc chinh phục môi trường sống: đắp đê ngăn lũ, lấn biển mở rộng diện tích canh tác, thường rút kinh nghiệm về vấn đề trị thủy và thủy lợi, chọn giống, làm đất gieo trồng, thâm canh nông nghiệp Do nền kinh tế tiểu nông với những công cụ thô
sơ, diện tích canh tác cố định nên người dân phải bỏ nhiều công sức và dùng nhiều nhân lực với các khâu để làm ra sản phẩm thu hoạch NTBB trước năm 1945 và cải cách ruộng đất có hai hình thức sở hữu chính: đất công làng xã và ruộng đất tư nhân Ngoài ra còn có bộ phận ruộng đất của các cơ sở tín ngưỡng- tôn giáo, các tổ chức xã hội
Ngày nay, nhà nước quốc hữu hóa ruộng đất, đồng thời, trước nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhà nước cũng thừa nhận mọi hình thức sở hữu, khẳng định sản xuất hàng hóa, kể cả sức lao động Ở NTBB là quá trình chuyển đổi hợp tác
xã kiểu cũ sang dịch vụ sản xuất – kinh doanh hàng hóa, tuy kinh tế hộ gia đình vẫn
là kinh tế cơ bản ở nông thôn Họ toàn quyền sử dụng đất đai được giao khoán và tự chủ trong việc lựa chọn phương thức sản xuất – kinh doanh, bố trí lao động, đầu tư
vốn Báo cáo của Ngân hàng Thế giới đã đánh giá rằng “Nông nghiệp là nghề chính
yếu của 84% lao động nông thôn từ 6 tuổi trở lên Hơn ¾ dân số nông thôn (78%) là các hộ gia đình mà nghề chủ yếu là nông, lâm và ngư nghiệp Tỷ lệ cao nhất tiếp theo sau chỉ có 4,7% rất nhỏ dạng hoạt động ở ngành sản xuất hàng hóa” [9] Tiếp thu
những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật hệ thống tưới tiêu đã giúp người nông dân đỡ vất
vả hơn Hệ thống kênh, mương, đường, trạm cũng được nhựa hóa, bê tông hóa Người nông dân sử dụng máy móc nhiều hơn tay chân để thực hiện các công việc đồng áng
Trang 26Thứ hai, thương nghiệp ở NTBB bao gồm: chợ, làng buôn (i) Chợ làng là
điểm kinh tế cơ bản để làng tồn tại Chợ là nơi người dân bán những sản phẩm chưa dùng đến, mua những sản phẩm thiếu, vai trò tiền tệ trước đây không lớn Chợ góp phần củng cố cấu trúc kinh tế truyền thống lấy nông nghiệp làm cơ sở (ii) Làng buôn xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVIII, XIX khi người dân lấy việc buôn bán làm nghiệp chính Mặc dù có thời điểm phát triển tuy nhiên, cấu trúc làng buôn vẫn nằm trong cấu trúc truyền thống của làng nông thôn
Ngày nay, chợ vẫn tồn tại ở nông thôn, vẫn là nơi tập trung trao đổi mua bán Nếu trước đây, người dân dùng sản vật của mình để đổi cho nhau, thì ngày nay, tiền
tệ là phương tiện để giao dịch vơi nhau Mặt hàng bày bán ở chợ, không chỉ có nông sản mà đa dạng các loại hàng hóa: quần áo, hải sản, các thiết bị điện tử, điện lạnh, Các hình thức họp chợ cũng đa dạng và phong phú Về làng buôn hiện nay phát triển đa dạng hơn rất nhiều Người dân không còn gói gọn trong làng mà thực hiện việc buôn bán ở phạm vi rộng hơn liên làng hoặc thậm chí mang tính quốc tế Như làng buôn bán thịt lợn ở thôn Miêng Thương, huyện Ứng Hòa (Hà Nội) chủ yếu người dân trong làng lên thành phố buôn bán thịt [30] Hay như làng buôn bán sắt vụn ở Quan Độ, huyện Yên Phong (Bắc Ninh) Toàn thôn Quan Độ có tới 100 hộ làm đầu mối thu mua phế liệu và khoảng hơn 30-40 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này [37]
Thư ba, thủ công nghiệp ở NTBB bao gồm: làng nghề và phường hội (i)
Làng nghề là biểu hiện của trình độ phân công lao động xã hội, thủ công nghiệp từng bước tách rời nông nghiệp Tuy nhiên, ngay trong làng lại xuất hiện lớp người buôn bán những sản phẩm do gia đình hay phường hội của họ sản xuất nên cũng là một hình thức tự sản tự tiêu (ii) Phường hội của thợ thủ công nghiệp nằm gọn trong một làng cũng có một ít phường rải ra vài ba làng như phường mộc, nề, may mặc Phường tồn tại có thời hạn: theo mùa, theo năm Phường là hình thức hợp tác của những người sản xuất nhỏ, tư hữu nhỏ, là đơn vị kinh tế- xã hội dựa trên lợi ích nghề nghiệp có tính chất tự nguyện và bình đẳng Phường hội có cơ cấu tổ chức khá lỏng lẻo, các thành viên vẫn còn gắn liền với nông nghiệp
Trang 27Ngày nay, cùng với xu thế phát triển kinh tế chung của đất nước, các làng nghề cũng phát triển mạnh mẽ Nhiều làng nghề không còn gắn liền với nông nghiệp mà trở thành ngành nghề chính tại làng xã đó, như: làng Vũ Hội (Thái Bình), Văn Môn (Bắc Ninh), Vạn Phúc (Hà Nội) … Từ chỗ người dân buôn bán với số lượng ít đến mua bán với số lượng lớn; từ chỗ buôn bán cùng mặt hàng giống nhau đến chỗ chuyên sâu, thậm chí có lúc độc quyền về mặt hàng, lô hàng; hay người dân phân công địa bàn, phân công công đoạn, kết hợp giữa thương mại
và gia công, sản xuất… Người dân cùng dựa vào nhau, liên kết với nhau để cùng tồn tại và phát triển Như ở Ninh Hiệp, từ dệt vải, bán vải người dân chuyển sang buôn vải và quần áo may sẵn,
Như vậy, kết cấu kinh tế ở NTBB ngay nay thay đổi rất nhiều so với trước kia, tuy nhiên kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm đa số ở các làng NTBB
Kết cấu xã hội ở NTBB
Thứ nhất, về thành phần dân cư của làng ở NTBB trước đây bao gồm ba tầng
lớp xã hội: địa chủ, nông dân tá điền và trung nông Ngày nay do nhà nước ở hữu đất đai nên thành phần dân cư tại làng xã thay đổi rất nhiều Không còn địa chủ như trước kia, ngoài những người nông dân thuần túy công việc đồng áng vẫn còn có các tiểu thương và các thành phần học sinh, công chức, viên chức…
Thứ hai, về các tổ chức trong làng khá đa dạng, phong phú (i) Người dân
trong làng gắn kết với nhau theo địa vực ngõ, xóm Những người cư trú cùng địa vực liên kết với nhau thành xóm, ngõ, họ cùng thờ chung thổ thần của xóm, của ngõ Các tổ chức này là nguồn gốc của tính dân chủ, bởi lẽ trong cộng đồng ngõ xóm muốn có quan hệ tốt đẹp lâu dài, muốn giúp đỡ nhau phải tôn trọng, bình đẳng
Đó là loại hình dân chủ sơ khai, dân chủ làng mạc (ii) Người dân gắn kết với nhau theo tổ chức dòng họ Đây là mối liên kết bền vững nhất trong tổ chức cộng đồng làng xã Việt Nam Sự liên kết dòng họ được thể hiện qua việc đặt ruộng họ, ruộng hậu họ, xây nhà thời họ, lập gia phả, tộc phả, tộc ước, diễn ca tộc phả (iii) Tập hợp người theo tổ chức phường, hội Tổ chức này là tổ chức nghề nghiệp của những người làm nghề thủ công và buôn bán Tổ chức này có phường lệ để hoạt động và
Trang 28gắn kết với nhau Làng còn có các hội tổ chức theo giới tính, theo chức nghiệp và theo lứa tuổi như hội Tư văn, hội mục đồng, hội lão, … Sự ràng buộc của những hội này không chặt chẽ bằng tổ chức phường nhưng cũng góp phần ràng buộc người dân theo một định hướng tương thân, tương ái về luân lý và đạo đức (iv) Tập hợp người theo giáp Trong làng xã cổ truyền, ngõ xóm và tổ chức họ là biểu thị quan hệ láng giềng và huyết thống, tổ chức giáp mới có chức năng quản lý con người Giáp là tổ chức của đàn ông, được phân biệt theo ba lớp tuổi: ty ấu, đinh, lão Thành viên của giáp có nghĩa vụ đóng sưu thuế, đi lính, đi phu cho nhà nước, đồng thời tham gia vào những hoạt động lao động công ích hay phục vụ các lễ hội, đình đám của làng Những người ở tuổi đinh cũng được hưởng những quyền lợi về vật chất và tinh thần
Ngày nay, tại các làng xã ở NTBB tập hợp những người theo giáp, đinh, tráng không còn nữa do không còn phù hợp với làng xã hiện tại Còn các hình thức
tổ chức khác trong làng xã đến nay vẫn được duy trì Trong làng tính dòng tộc vẫn cao, người dân trong làng vẫn duy trì việc giỗ họ, xây dựng gia phả dòng họ, quy định của dòng họ đối với con cháu của mình, … Ngoài các phường hội truyền thống, trong làng xã hiện nay, còn xuất hiện các câu lạc bộ: dân số kế hoạch hóa gia đình; khuyến nông; văn hóa, thể thao; phụ nữ giúp nhau vượt nghèo; … Bên cạnh
đó là chị bộ Đảng, chi hội Phụ nữ, chi đoàn Thanh niên, chi hội Cựu chiến binh, … phục vụ các đối tượng trong làng xã Tất cả các tổ chức này hoạt động đều giúp người dân thực hiện đúng quy định của pháp luật và giúp người dân hướng về cội nguồn, giữ gìn những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của làng xã ở NTBB
Thứ ba, bộ máy tổ chức làng ở NTTB Trước năm 1945, bộ máy tổ chức làng
gọi là quan viên xã Quan viên xã được tuyển theo tập quán: vương tước và thiên tước Quan viên làng gồm có hai bộ phận: nhóm kỳ dịch và nhóm kỳ mục Nhóm kỳ dịch là bộ phận hành chính của làng, đứng đầu là lý trưởng hay xã trưởng Lý trưởng là người có quyền thế cao nhất, có con dấu tượng trưng cho thế lực nhà nước đến tận làng Nhóm kỳ mục do tiên chỉ đứng đầu, đây là tổ chức tự quản của làng
Trang 29xã Một số làng còn có nhóm kỳ lão, gồm những người cao tuổi nhất, đóng vai trò
tư vấn cho hai nhóm trên Do làng cổ truyền cùng tồn tại hai nhóm trên nên chính
quyền làng là kiểu dạng “chính quyền kép” Một hệ thống chính quyền điều khiển
làng bởi hai tổ chức cùng quản lý
Ngày nay, các chức sắc, chức dịch cũ (quan viên, kỳ mục, kỳ dịch, …) đã bị xóa bỏ, thay vào đó đứng đầu là các trưởng làng (thôn) hay trưởng bản (ở miền núi) Trưởng thôn được người dân bầu cử theo quy định của nhà nước và vai trò quyết định các công việc làng của trưởng thôn cũng không cao như trước
Văn hóa ở NTBB
Thứ nhất, đình làng và tín ngưỡng thành hoàng Đình làng có từ rất sớm,
nhưng từ cuối thế kỷ XV đình làng mới dần dần có vai trò chi phối làng Đình là một biểu hiện của văn hóa làng chứa đựng những yếu tố văn hóa làng quê, văn hóa dân tộc đặc sắc Tùy vào đối tượng thờ mà có các lễ hội khác nhau Thành hoàng làng là thần nông có hội diễn cầu mưa Thành hoàng làng là anh hùng cứu nước có diễn xướng đánh giặc Trước đây, đình làng có ba chức năng Chức năng tín ngưỡng: là nơi tiến hành lễ tế tôn vinh thần thành hoàng Chức năng hành chính: là trụ sở của chính quyền cấp cơ sở, nơi giải quyết mọi việc liên quan đến đời sống của cư dân trong làng như họp Hội đồng kỳ mục, nơi thu thuế, phạt và xử kiện Chức năng văn hóa: là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa của làng
Ngày nay, đình làng chủ yếu là thực hiện chức năng tín ngưỡng và văn hóa phục vụ thời cúng các vị thành hoàng và các ngày lễ hội ở làng, đối với chức năng hành chính đã được chuyển sang cho UBND xã, phục vụ văn hóa làng nhà nước cũng đã quan tâm xây dựng nhà văn hóa
Thứ hai, tục thờ cúng tổ tiên ở NTBB Tục lệ này từ trước tới ngày nay vẫn
được duy trì mang tính thế tục Trong nhà, gian to đẹp nhất dành để đặt bàn thờ, ở
đó là thời cúng ông bà, cha mẹ những người đã khuất Nhiều gia đình cùng huyết thống xây nhà thời họ, lập gia phả Tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên có tác động bảo vệ danh dự cho những người cùng cộng đồng, khích lệ con cháu làm điều lành Đến nay, tục lệ này vẫn được duy trì và có phần được chú trọng ở NTBB
Trang 30Thứ ba, lễ hội với “văn hóa tâm linh” trong làng xã ở NTBB Lễ hội gồm có
phần lễ và phần hội Trong đó phần lễ bao gồm các dịp lễ Tết: Tết Nguyên Đán, tết Nguyên tiêu (Thượng nguyên), rằm tháng Giêng, Tết Trung Nguyên, Tết Trung thu, Tết Đoan Ngọ Phần hội gồm nhiều nội dung như lễ hội nông nghiệp với mục đích cầu mưa, chống hạn, lễ hội của các làng nghề đúc đồng, dệt, rèn, …; lễ hội kỷ niệm những anh hùng dựng nước như Hội Đền Hùng, giỗ tổ Hùng Vương, hội đền Hai
Bà Trưng, hội đền thờ những người có công với làng xã; hội liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng như lễ hội Phật giáo (lễ Phật Đản, lễ Vu Lan), lễ hội chùa Hương, hội chùa Tây Phương, chùa Keo, …; lễ hội tín ngưỡng dân gian như hội Chủ Đồng Tử, hội Phủ Giày, … Lễ Tết duy trì quan hệ tôn ty giữa các thành viên trong gia đình
Lễ hội củng cố quan hệ dân chủ (bình đẳng) giữa các thành viên trong làng
Thứ tư, hương ước làng Hương ước được coi là văn bản pháp lý của mỗi
làng Mỗi hương ước phải đảm bảo hai yếu tố luật nước và lệ làng Hương ước là một sự chấp nhận các tục lệ, các tập quán riêng của mỗi làng xã trên nguyên tắc không được trái với phép nước, không gây phương hại đến luật hiện hành Nội dung của hương ước quy định chặt chẽ về ranh giới làng, về an ninh trật tự, về tài sản ruộng đất, về sản xuất, buôn bán, về phong hóa, đạo lý, về học hành thi cử, về tế lễ
thần linh, về vệ sinh môi trường Có thể nói đây là một “bộ luật” riêng của làng và
là nội dung cơ bản tạo nên lệ làng góp phần nâng cao nhận thức, tình cảm và điều chỉnh hành vi, lối sống của tất cả mọi người, thể hiện sự hiểu biết, quan niệm và những nét văn hóa riêng Ngày nay, nhận thấy được nhiều vai trò tích cực của hương ước nên nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các làng xây dựng lại hương ước, tuy nhiên hương ước này cần được thông qua bởi cơ quan nhà nước trước khi áp dụng vào làng
Như vậy, các điều kiện tự nhiên, môi trường tiếp xúc xã hội ảnh hưởng tới
cơ cấu và hoạt động kinh tế, cách thức cư trú, lối sống, phong tục tập quán và tạo nên những đặc điểm riêng của làng xã ở NTBB Cho đến ngày nay, những đặc điểm này vẫn là các yếu tố để nhận diện một NTBB mang đậm truyền thống, văn hóa của người Việt
Trang 311.1.4 Sơ lược chế độ tự quản làng xã ở nông thôn Bắc Bộ qua các thời kỳ
Theo tài liệu viết lại, thời Hùng Vương – An Dương Vương dựng nước, bộ máy quản lý thời bấy giờ sử gia Đào Duy Anh căn cứ theo những ghi chép của thời Triệu và thời thuộc Hán sau này về việc các chính quyền người Hán vẫn duy trì chế
độ Lạc tướng của người Lạc Việt tự cai quản trong bộ lạc Bao gồm 02 cấp: bộ lạc
và dưới bộ lạc là cộng đồng nông thôn (kẻ, chạ, chiềng, mường) [22, tr.8] Người đứng đầu cộng đồng làng thời bấy giờ là bồ chính (già làng, trưởng bản) Con người được gắn kết với nhau bởi dòng tộc, láng giềng, họ cùng chung mục đích trị thủy và chống ngoại xâm Mọi vấn đề của làng thuộc toàn quyền quản lý của già làng, trưởng bản và sự thỏa thuận của dân làng, họ được toàn quyền quyết định các vấn
đề thuộc cộng đồng đó
Trong thời kỳ văn hoá Phùng Nguyên cách ngày nay khoảng 4000 năm, đất nước ta đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc và thay vào đó là quá trình hình thành công xã nông thôn Đây là sự đánh dấu cho quá trình hình thành làng Việt Về bộ máy quản lý làng lúc này là vẫn không có gì thay đổi so với thời kỳ Văn Lang của các vua Hùng Đơn vị hành chính vẫn là các (kẻ, chạ, chiềng, mường), đứng đầu làng vẫn là bồ chính Tuy nhiên thời kỳ này do mở rộng lãnh thổ
và phát triển kinh tế (với nền nông nghiệp trồng lúa nước chủ đạo) Từ công cụ thô
sơ dùng cuốc tiến lên dùng cày và sử dụng sức kéo là trâu, bò cùng các tiến bộ khác trong xã hội Người Việt cổ đã tiến lên hình thái kính tế- xã hội đầu tiên thuộc phạm trù của thời đại văn minh, của xã hội phân hóa giai cấp và có nhà nước Tuy nhiên, toàn bộ ruộng đất cày cấy thời kỳ này đều thuộc quyền sở hữu của làng, không thuộc về một dòng họ nhất định (có chung huyết thống) Ruộng đất của làng được phân chia cho các gia đình thành viên sử dụng theo quy ước của cộng đồng làng và
có thể điều chỉnh khi cần thiết Đơn vị sản xuất chủ yếu trong làng lúc này là gia đình nhỏ Công việc khai hoang, làm thuỷ lợi và các hình thức lao động công ích khác đều được tiến hành bằng lao động hợp tác của các thành viên trong làng Các quy ước cộng đồng thời bấy giờ chưa rõ ràng, chủ yếu là bằng hình thức truyền miệng Quỹ làng lúc này có được nhờ làng giữ một phần ruộng để sản xuất chung nhằm sử dụng hoa lợi thu hoạch vào những chi phí công cộng [32]
Trang 32Đến thời kỳ Bắc thuộc chính quyền phong kiến phương Bắc tìm cách quản
lý, cũng như đồng hóa người Việt khi xâm chiếm nước ta Thời điểm này đánh dấu
sự bắt đầu cho việc làng trở thành một đơn vị tự quản trong một thể chế hành chính Trung ương Chính quyền thuộc địa đã triệt để dùng chính sách “dĩ Di công Di” (lấy người Di đánh người Di – dùng người Việt đánh người Việt) Vì vậy, các lạc tướng/hào trưởng vẫn theo chế độ cha truyền con nối của người Việt, đẳng cấp quý tộc người Việt vẫn nắm giữ được quyền uy của tông tộc để cai quản dân Việt Nhưng về mặt sở hữu, chính quyền thuộc địa ra sức bóc lột thông qua các chính sách về tô thuế rất nặng, thậm chí kèm theo đó là hình thức cống nạp Không những vậy, chính quyền đô hộ còn nắm độc quyền sản xuất và mua bán muối và sắt Đây
là hai sản phẩm thiết yếu trong đời sống của người dân nên bị lệ thuộc chặt chẽ vào chính quyền đô hộ Mặc dù chính quyền đô hộ không thể xâm nhập vào bộ máy quản lý của làng nhưng với việc siết chặt kinh tế, bóc lột nặng nề làm cho đời sống người dân khốn khổ Nhiều nơi nông dân phá sản, dân lưu vong ngày càng đông đảo, nhiều người phải bán mình, bán vợ, con cho tầng lớp giàu có, thống trị để biến thành nô tì Song song với đó, đời sống văn hóa của người dân cũng ảnh hưởng rất nhiều bởi chính sách đồng hóa bằng các hành động của chính quyền thực dân: đưa người Hán sống cùng người Việt, quy định cách ăn mặc quần áo, quy định về việc học chữ Hán và đưa tư tưởng Nho giáo vào trong đời sống của người dân Xã hội làng xã thời bấy giờ hoàn toàn bị siết chặt mọi mặt đời sống, tuy nhiên lịch sử đã chứng minh rằng, người Việt cũng như văn hóa của người Việt không bị đồng hóa, đồng thời CĐTQ làng xã vẫn tồn tại bền bỉ [30]
Thời kỳ nhà nước Phong kiến tự chủ, từ thời kỳ chính quyền tự chủ của họ Khúc vào đầu thế kỷ X cho đến các triều đại sau này như Đinh, Lý, Trần, Lê và Nguyễn, mặc dù nhà nước tuyên bố quyền sở hữu toàn bộ ruộng đất và thi hành các chính sách cải cách hành chính để đưa làng xã trở thành chính quyền cấp cơ sở chịu
sự giám sát của Nhà nước trong bộ máy hành chính, nhưng trên thực tế thì làng xã vẫn có những quyền tự chủ nhất định Về địa vực, làng vẫn tồn tại nhưng được nhà nước thừa nhận và được coi là đơn vị hành chính cấp cơ sở Về bộ máy quản lý
Trang 33làng, vua Lê Thánh Tông đã tiến hành quy định việc bầu xã trưởng cũng như tư cách đạo đức, năng lực của xã trưởng rất chặt chẽ Bộ máy quản lý làng thời kỳ này chịu sự kiểm soát, chi phối bởi nhà nước Người đứng đầu xã trưởng phải qua kỳ thi
do nhà vua đặt ra không thuần túy là việc người dân tín nhiệm bầu như trước đây
Về quy phạm điều chỉnh, thời kỳ này nhà nước thừa nhận mỗi làng có hương ước riêng Tuy nhiên, đến thời kỳ nhà Hậu Lê và Trịnh Nguyễn phân tranh, nhà nước từ việc quy định chặt chẽ việc lựa chọn người đứng đầu làng xã, đến việc để làng xã tự quyết định [32] Giai đoạn này, CĐTQ làng xã phát huy sức mạnh tự trị của mình
Thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp đã chọn phương án giữ lại tổ chức xã thôn cổ truyền làm công cụ cho chính sách thống trị và khai thác thuộc địa Về lãnh thổ làng xã không thay đổi nhưng bộ máy làng xã và các quy phạm điều chỉnh các mối quan hệ trong làng xã thay đổi Về bộ máy TQLX thời bấy giờ lý trưởng, xã trưởng do công sứ Pháp – đại diện cho chính quyền cấp tỉnh chọn lựa theo giới thiệu của cấp xã Khác với cơ chế làng xã truyền thống, lý trưởng, xã trưởng chỉ có chức năng chấp hành thì ở thời kỳ này lý trưởng, xã trưởng có quyền bàn và quyết nghị các vấn đề của làng xã Nhiệm vụ của lý trưởng, xã trưởng được quy định cụ
thể như: thực hiện việc thu thuế và giao nộp cho chính quyền cấp trên; thi hành luật
pháp, quy chế, quyết định của chính quyền cấp trên; thay mặt cho xã trước luật pháp; cung cấp tài liệu theo yêu cầu của cấp trên; có trách nhiệm báo cáo cấp trên (huyện, phủ, tỉnh) tình hình của xã về mọi mặt Chính quyền cấp tỉnh giám sát và
kiểm soát mọi hoạt động nội bộ của xã thông qua việc quy định rõ chức năng nhiệm
vụ của từng chức danh thành viên trong ban quản trị xã: quy định rõ chức năng nhiệm vụ của những bộ phận cấu thành hội đồng tộc biểu Thực dân Pháp đã lồng ghép những quy định của mình vào hương ước làng và các làng đều phải lập hương ước cải lương theo mẫu quy định Các điều khoản cải lương hương chính trở thành
phần đầu của các hương ước và được gọi là “phần chính trị” Hương ước nào cũng phải ghi “Việc chính trị trong làng nhất nhất phải theo nghị định và pháp luật hiện
hành của chính phủ” Thực dân Pháp từng bước can thiệp vào lĩnh vực “công điền, công thổ” (do hội đồng kỳ mục quản lý) Quyền cho thuê, lĩnh canh hoặc nhượng
Trang 34bán tài sản đều do chính quyền cấp tỉnh hoặc cấp xứ quyết định Mọi khoản thu chi của làng xã đều do hội đồng kỳ mục lập thành chương mục và trình lên chính quyền
cấp trên phê duyệt theo đúng quy định về việc xây dựng “ngân sách” làng xã
Thông qua đội ngũ quan lại cấp tỉnh, cấp xã, chính quyền thuộc địa đã nắm mọi
hoạt động của chính quyền cấp xã về cả hành chính và tài chính [3]
CĐTQ làng xã sau Cách mạng Tháng tám thành công, chủ trương nhà nước lúc bấy giờ là xây dựng một nhà nước thống nhất từ trung ương tới địa phương một cách cực đoan, vì vậy dẫn đến quan điểm CĐTQ làng xã không còn phù hợp với nhà nước mới Điều đó đã dẫn đến một loạt các hệ lụy ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người dân cũng như CĐTQ làng xã ở NTBB Thứ nhất, cải cách ruộng
đất với định hướng tích cực là “người cày có ruộng”, nhưng quá nhiều đấu tố trong cải cách ruộng đất làm phá vỡ những mỗi quan hệ cộng đồng “tối lửa tắt đèn có
nhau” ở cuộc sống làng xã Những ngôi đình, những đền chùa, miếu mạo, từ đường
bị đập phá hoặc biến làm nhà kho, nhà chứa phân, trụ sở hợp tác, đã thực sự xúc phạm đến đời sống tâm linh, một phần sống thiêng liêng của người dân làng xã CĐTQ làng xã không còn tồn tại ở giai đoạn này, nhưng thực sự điều đó đã làm mất
đi những nét tính cách truyền thống của dân tộc vốn được nuôi dưỡng trong nền văn hóa, đạo lý dân tộc bao đời nay
Vì vậy, khi nhà nước thẳng thắn thừa nhận sai lầm cùng sự cởi mở trong cung cách làm ăn với cơ chế quản lý kinh tế mới TQLX được tái sinh lại Một nền sản xuất tiểu nông vẫn duy trì giúp người dân trở lại với những nét văn hóa, tính cách làng xã Đồng thời, nhà nước có xu hướng khuyến khích hình thành lại TQLX qua việc nhà nước thừa nhận và hỗ trợ kinh phí cho trưởng thôn, khuyến khích xây dựng hương ước riêng của làng cũng như những chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho các làng xã tu tạo đình chùa, miếu mạo, sửa sang từ đường, lập gia phả dòng họ, chấn hưng hội hè đình đám
Tóm lại, việc sơ lược quá trình phát triển của CĐTQ làng xã - đại diện điển hình chính là CĐTQ làng xã ở NTBB Việt Nam qua các thời kỳ, chúng ta thấy rằng CĐTQ làng xã đóng góp hết sức to lớn về mọi mặt đời sống của người dân trong
Trang 35tiến trình lịch sử đất nước, đồng thời cũng là đối tượng cần phải tiếp tục nghiên cứu đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Lý do, nhà nước đang nỗ lực tái phát triển các giá trị truyền thống, nỗ lực phát huy DCCS, phát huy sức mạnh của làng xã
1.2 Những vấn đề lý luận về mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và thực hiện pháp luật ở nông thôn Bắc Bộ Việt Nam
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã
và thực hiện pháp luật
Theo quan điểm triết học, trong phép biện chứng, mối liên hệ dùng để chỉ sự
quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới Tính chất cơ bản của các mối liên hệ gồm: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú Nên khi xem xét một sự vật, hiện tượng chúng ta cần có cái nhìn toàn diện; liên hệ trong không gian xem xét sự vật ở vị trí khác nhau dẫn đến có mối liên hệ khác nhau; liên hệ thời gian, xem xét mối liên hệ khi chúng ở nhiều thời điểm, quá trình khác nhau của sự phát triển
Từ quan điểm về mối liên hệ có thể hiểu mối liên hệ của CĐTQ làng xã và việc THPL dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau của CĐTQ
và THPL CĐTQ làng xã tác động, ảnh hưởng tới THPL và ngược lại THPL tác động, ảnh hưởng lại CĐTQ làng xã Chúng được chuyển hóa lẫn nhau hoàn toàn mang tính chất khách quan, phổ biến và đa dạng Mối liên hệ này tùy từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử việc tác động, ảnh hưởng và sự chuyển hóa lẫn nhau sẽ ở các mức
Mối liên hệ của CĐTQ làng xã và việc THPL tại NTBB luôn là tác động hai chiều và có những đặc điểm rất cơ bản
Trang 36- Đặc điểm thứ nhất, mối liên hệ của CĐTQ và THPL phụ thuộc vào truyền
thống của từng vùng miền khác nhau Như ở Nam Bộ, chế độ sở hữu tư nhân chiếm ưu thế trong các làng Nam Bộ vì vậy các quan hệ trong làng cũng mang tính bình đẳng, cá nhân nhiều hơn Các thành viên trong làng tương đối có quyết định độc lập trong công việc canh tác, sử dụng đất đai, mua bán, sang nhượng…
Vì vậy, cơ chế quản lý tại làng Nam Bộ ngay từ đầu đã lệ thuộc vào cơ chế quản
lý của Nhà nước, các thiết chế quản lý phi quan phương ở các làng không đóng vai trò quyết định trong quan hệ giữa các thành viên trong làng Chủ yếu bộ máy quản
lý của làng xã phục vụ việc tín ngưỡng Trong khi đó, làng xã ở NTBB vốn được hình thành từ rất lâu đời, xuất phát từ việc ruộng đất thuộc quyền quản lý của làng
xã, nên các quyết định của làng xã có vai trò rất lớn ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thành viên trong làng Người dân ở NTBB gắn kết với nhau bởi nhiều mối quan hệ (huyết thống nghề nghiệp, tín ngưỡng, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau,
…) nên thường hướng tới cộng đồng làng nhiều hơn và các quyết định thường đều dựa vào CĐTQ làng xã Từ khi ra đời, người dân đã quen với việc tín nhiệm để đề
cử người đại diện cho làng vào bộ máy quản lý của làng, thực hiện việc quyết định các vấn đề của làng, hỗ trợ người dân trong việc giải quyết các vấn đề trong làng
và với nhà nước Vì vậy, mối liên hệ của CĐTQ làng xã và THPL ở NTBB cụ thể
là vùng đồng bằng Bắc Bộ có những đặc trưng của một làng truyền thống và mang bản sắc văn hóa của người Việt, chính vì vậy, mặc dù có sự khác nhau ở các vùng miền, nhưng bản chất các vùng khác ở Việt Nam mô hình làng và mối quan hệ của làng với xã hội đều được xuất phát từ vùng đồng bằng Bắc Bộ
- Đặc điểm thứ hai, mối liên hệ này phụ thuộc vào bản chất của CĐTQ ở
mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử là khác nhau và điều đó ảnh hưởng đến mối liên
hệ của CĐTQ và THPL Như thời kỳ đầu Pháp thuộc, CĐTQ mang tính tự trị rất cao Thực dân Pháp không thủ tiêu làng xã cổ truyền mà tìm cách duy trì, nuôi dưỡng thông qua địa chủ phong kiến và hội đồng kỳ mục, biến bộ máy quản lý làng thành công cụ hữu hiệu cho chính sách thống trị và khai thác thuộc địa Tuy nhiên, làng là nơi nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc nên CĐTQ làng xã lúc
Trang 37này là pháo đài, căn cứ chống lại thực dân Pháp Ở giai đoạn này, CĐTQ làng xã và THPL hoàn toàn mâu thuẫn nhau Đến giai đoạn sau, rõ nhất là giai đoạn sau cách mạng tháng tám 1945, trong công cuộc cải cách ruộng đất, giai đoạn hợp tác xã chuyển lên bậc cao với quy mô toàn xã thì CĐTQ làng xã hầu như không còn mà được hợp nhất vào bộ máy quản lý của nhà nước Toàn bộ các quyết định, chủ chương, chính sách đều theo sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước Trong những năm gần đây, nhà nước quyết tâm xây dựng NNPQ XHCN, hội nhập quốc tế vì vậy, Việt Nam cũng tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ của các nước phương Tây, trong đó có
tự quản địa phương Vì vậy, nhà nước khuyến khích việc xây dựng hương ước ở từng làng, đồng thời cũng chú trọng hơn tới bộ máy quản lý của làng là trưởng thôn Vai trò của CĐTQ làng xã được quan tâm và tìm hiểu để phát huy sức mạnh của làng cũng như văn hóa làng
- Đặc điểm thứ ba, mối liên hệ này phụ thuộc vào hiệu quả của việc THPL
Khi pháp luật phù hợp với ý chí, nguyện vọng của người dân đồng thời bộ máy quản lý nhà nước thực hiện tốt việc tuyên truyền, xử lý đúng người đúng tội, khách quan, dân chủ thì người dân hoàn toàn tin tưởng và sử dụng pháp luật Ngược lại, nếu pháp luật không được bộ máy quản lý thực hiện hiệu quả dẫn đến oan sai, lợi dụng pháp luật để mang lại lợi ích cá nhân không phải lợi ích của người dân, các xử
lý bất bình đẳng giữa cá nhân trong làng xã với cùng một vấn đề Từ đó, người dân
sẽ có tâm lý “kiện củ khoai” và hướng đến việc giải quyết các vấn đề của mình theo
kinh nghiệm, theo sự tin tưởng, tín nhiệm của bản thân vào bộ máy TQLX để làm kim chỉ nam cho các hành động của mình, hoặc tự giải quyết vấn đề mà không dùng, không tìm hiểu pháp luật của nhà nước
- Đặc điểm thứ tư, đây là đặc điểm đặc biệt tác động rất lớn đến mối quan hệ
của CĐTQ làng xã và THPL chính là việc phụ thuộc vào tính dân chủ làng xã Tính
dân chủ của làng ở đây không hiểu theo nghĩa truyền thống “là phương thức tổ chức
quyền lực mà ở đó người dân là chủ của quyền lực” nên được hiểu theo nghĩa phi
truyền thống, có nghĩa dân chủ làng là một dạng tổ chức có sự tham gia rộng rãi của các thành viên làng, có tính tự quản, tự trị cao trong đời sống vật chất, quản lý và
đời sống tinh thần, tâm linh “Dân chủ” ở đây còn được hiểu rộng ra là sự đánh giá
Trang 38cao vai trò của người dân, cộng đồng làng trong việc giải quyết các công việc quốc gia hệ trọng [15] Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau khi tính dân chủ làng cũng thể hiện khác nhau, việc nhà nước thừa nhận tính dân chủ hay không cũng ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa CĐTQ và việc THPL Nếu nhà nước thừa nhận tính dân chủ của làng thì người dân cũng thẳng thắn đưa ra ý kiến, quan điểm của mình với các vấn đề liên quan đến pháp luật từ đó việc THPL cũng sẽ được phát huy hiệu quả Ngược lại khi nhà nước không thừa nhận tính dân chủ, thiếu tính công khai, minh bạch, người dân không dám đưa ra ý kiến, sử dụng biện pháp cưỡng chế, ép buộc để người dân tuân theo thì việc THPL cũng khó đi vào được cuộc sống, đặc biệt là đời sống người dân làng ở NTBB
- Ngoài ra mối liên hệ giữa CĐTQ làng xã và việc THPL còn phụ thuộc vào cộng đồng dân cư Tại nông thôn Nam bộ, làng được hình thành bởi sự gắn kết của những con người cộng cư trên một vùng đất nhất định vì mục đích sinh tồn và phát triển nên tính cộng đồng và tính tự trị của Nam bộ uyển chuyển linh hoạt Nông thôn ở Nam bộ, tính cộng đồng được cân bằng bởi tính tự do cá nhân và tính tự trị của làng Từ đó đã tạo nên một phong cách văn hóa ứng xử của các thành viên làng Nam bộ Người dân Nam bộ coi trọng pháp lý, sự bình đẳng Trong khi người dân
NTBB được gắn kết với nhau bởi họ hàng, huyết thống, sống trọng chữ “tình” nên thường “chín bỏ làm mười”, ngại đem công việc hay các tranh chấp ra “pháp đình”
Chính vì điều này cũng ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa CĐTQ và việc THPL Thông thường, người dân sẽ có tâm lý nhờ đến người đứng đầu bộ máy quản lý làng
để được hòa giải trước khi nhờ cậy đến pháp luật của nhà nước Khi CĐTQ làng xã hoạt động tích cực, theo chiều hướng hỗ trợ nhà nước thì việc đó hoàn toàn giúp cho nhà nước và mang tính ổn định chính trị, đời sống cho người dân Ngược lại, khi bộ máy quản lý làng hoạt động không hiệu quả, lợi dụng quyền lực để bóc lột của cải người dân, khi đó đời sống người dân cơ cực, luật pháp không kiểm soát được dẫn đến mất ổn định về chính trị Người dân không tin vào bộ máy quản lý làng và không tin vào pháp luật sẽ có tâm lý tiêu cực đến hệ thống quản lý chung và ảnh hưởng đến việc quản lý của nhà nước
Trang 39Tóm lại, mối liên hệ giữa CĐTQ làng xã và việc THPL ở NTBB là sự tác động, ảnh hưởng hai chiều giữa CĐTQ và THPL Sự tác động, ảnh hưởng ấy tùy vào từng giai đoạn lịch sử mà mang tính tích cực hoặc tiêu cực khi đứng trên phương diện quản lý nhà nước Mối liên hệ giữa CĐTQ làng xã và việc THPL ở NTBB vừa có tính pháp lý vừa có tính văn hóa, truyền thống đặc trưng của làng Việt Nam Vì vậy, khi nghiên cứu mối liên hệ này, làm rõ sự vận động của mối liên
hệ trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn, theo thời gian góp phần phát huy những mặt tích cực của mối quan hệ trên trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Biểu hiện mối liên hệ của chế độ tự quản làng xã và thực hiện pháp luật
Mối liên hệ của CĐTQ làng xã và THPL ở NTBB Việt Nam được thể hiện qua
sự ảnh hưởng, tác động, chuyển hóa và quy định lẫn nhau của CĐTQ làng xã và THPL
Ảnh hưởng tích cực của CĐTQ làng xã tới việc THPL chính là việc giúp
tăng hiệu quả THPL đến người dân trong làng Thứ nhất, được thể hiện thông qua
hương ước, lệ làng của CĐTQ làng xã chính là sự bổ sung quan trọng cho luật của nhà nước ban hành Đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam là một làng cổ truyền vì vậy bên cạnh những đặc điểm có tính chất chung giống làng lại có các đặc điểm riêng của mình Mỗi làng đều cần đến các quy định cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hiện cho mọi thành viên trong làng, phản ánh được nhu cầu tổ chức và phát triển của mỗi làng xã Chính vì vậy, hương ước, quy ước, lệ làng của CĐTQ làng xã chính là công
cụ bổ sung quan trọng cho khả năng điều chỉnh của pháp luật Thứ hai, ảnh hưởng
tích cực còn được thể hiện qua tính cộng đồng của CĐTQ làng xã Khi mỗi cá nhân trong cộng đồng đều quan tâm tới sự đánh giá của dư luận làng đối với bản thân Từ
đó, người dân có khuynh hướng giữ gìn, bảo vệ những đánh giá tốt về mình và sửa chữa những sai sót để đáp ứng đòi hỏi của dư luận xã hội đối với bản thân Dư luận làng có thể khen, chê, động viên hay phê pháp những hành vi của cá nhân hoặc nhóm người, phỏng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật, buộc các cá nhân thực hiện hành vi trong khuôn khổ đạo đức, pháp luật Dưới tác động của dư luận làng, việc phổ biến, tuyên truyền các quy định pháp luật, cũng như việc thực hiện các quy
định pháp luật trở nên dễ dàng hơn Thứ ba, bộ máy hoạt động tự quản của CĐTQ
Trang 40làng xã phát huy vai trò trong nhiều lĩnh vực như sản xuất kinh doanh, đảm bảo an ninh trật tự địa bàn dân cư, giữ gìn, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ và phát triển giá trị văn hóa xã hội… từ đó góp phần phát triển kinh tế xã hội, ổn định an ninh chính trị và quản lý xã hội, tạo chuyển biến tích cực trong cộng đồng dân cư, mở rộng DCCS Hoạt động tự quản này cũng chủ yếu dựa trên hương ước, quy ước, lệ làng- văn bản điều chỉnh mọi mặt đời sống của làng, được mọi người dân trong làng thừa nhận và áp dụng CĐTQ làng xã có vai trò quan trọng trong tuyên truyền, phổ biến các quy định của địa phương, làng xã, vận động người dân thực hiện đúng các chính sách, quy định pháp luật của nhà nước Đồng thời với đó là việc phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi sai phạm, vi phạm quy định chung của làng, vi phạm quy định pháp luật CĐTQ làng xã trên cơ sở chức năng, lĩnh vực hoạt động của mình
lại phát huy những vài trò riêng trong việc nâng cao hiệu quả THPL Thứ tư, người
dân tự giác thực hiện các quy định chung của làng và các quy định pháp luật của nhà nước khi được bộ máy quản lý của CĐTQ triển khai Với vai trò là một thành viên trong cộng đồng làng, người dân luôn tích cực đóng góp công sức để xây dựng làng mình và hoàn thành nghĩa vụ với làng và với nhà nước Đặc biệt là các công việc, các hoạt động khi được bộ máy làng triển khai, không kể vấn đề đó là của làng
hay các quy định của nhà nước Thứ năm, khi nói đến ảnh hưởng tích cực của
CĐTQ làng xã không thể không kể đến việc người dân tích cực, tự giác tham gia vào hoạt động quản lý mọi mặt của làng Bản chất CĐTQ làng xã hoàn toàn dân chủ, do người dân tín nhiệm Vì vậy, người dân đều có mối quan hệ gắn bó với tập thể, hòa đồng với cuộc sống chung của làng, tinh thần đoàn kết, tinh thần tập thể cao Chính những yếu tố đó, người dân luôn có xu hướng tích cực, nhiệt tình tham gia vào các hoạt động của làng, từ các hoạt động quản lý của làng đến các hoạt động tập thể chung Tất cả đều do họ muốn đóng góp công sức cho sự phát triển của làng Người dân có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp Đối với việc trực tiếp tham gia quản lý chính là việc người dân tham gia vào các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội và tham gia vào hoạt động tự quản của làng như tổ tự quản về an ninh trật tự, tổ tự quản về vệ sinh môi trường, … Việc tham