Khái niệm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân Vận dụng tư tưởng của LêNin vào thực tiễn xây dựng tổ chức bộ máy Nhà nước, Đảng và Nhà nước t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG TIẾN MẠNH
KIÓM S¸T VIÖC GI¶I QUYÕT TIN B¸O, Tè GI¸c
TéI PH¹M trong luËt tè tông h×nh sù viÖt nam
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Dương Tiến Mạnh
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu 5
5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn 6
6 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 7
1.1 Các khái niệm về tin báo, tố giác về tội phạm và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 7
1.1.1 Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm 7
1.1.2 Khái niệm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 13
1.2 Các đặc điểm về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 19
1.2.1 Chủ thể có quyền kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 19 1.2.2 Về đối tượng và phạm vi của hoạt động kiểm sát giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 20
1.2.3 Về hình thức kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 21
Trang 41.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về kiểm
sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát 23
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1988 23
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 28
2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 28
2.1.1 Chủ thể và đối tượng của kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 28
2.1.2 Trình tự, thủ tục, thời hạn của kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 32
2.2 Thực tiễn thi hành công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 39
2.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 39
2.2.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 59
3.1 Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 59
3.1.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 60
3.1.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật khác 66
Trang 53.2 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm 67
3.2.1 Chú trọng công tác tổ chức, chỉ đạo điều hành và tổng kết rút kinh nghiệm về nghiệp vụ kiểm sát 67
3.2.2 Đổi mới công tác cán bộ, tăng cường bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ về chính trị, nghiệp vụ và trách nhiệm của cán bộ, Kiểm sát viên; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết 68
3.2.3 Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Số hiệu
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một trong những cơ quan thuộc hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, được ghi nhận tại Chương X Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 theo đó VKSND có chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Với tư cách là cơ quan kiểm sát các hoạt động tư pháp, một trong những chức năng quan trọng của VKSND là kiểm sát tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố của các cơ quan có thẩm quyền Việc tiếp nhận, giải quyết kịp thời và có hiệu quả tin báo, tố giác về tội phạm có ý nghĩa quyết định, then chốt đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm đạt hiệu quả cao
Là cơ quan đấu tranh phòng, chống tội phạm, trách nhiệm của VKSND phải tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm do cá nhân, cơ quan tổ chức chuyển đến, sau đó chuyển cho CQĐT có thẩm quyền giải quyết đồng thời trực tiếp kiểm sát việc giải quyết toàn bộ tin báo, tố giác về tội phạm của CQĐT Làm tốt công tác này là tiền đề để VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử được thuận lợi, hạn chế tối đa tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm, hạn chế được số vụ phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung cũng như số vụ Tòa án tuyên không phạm tội Trong những năm vừa qua, trên cơ sở quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của VKSND, công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của ngành kiểm sát đã đạt được những kết quả nhất định Tuy vậy trước sự thay
Trang 9chống tội phạm trong tình hình mới nên các quy định của pháp luật về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm đã bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế dẫn, tỷ lệ kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm thấp, tình hình tội phạm ẩn còn nhiều, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về "Một số nhiệm
vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới"; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020"; và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020" thì việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm để làm sáng tỏ về mặt khoa học, đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định trên thực tiễn có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng Từ
những lý do nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài "Kiểm sát việc giải
quyết tin báo, tố giác tội phạm trong luật TTHS Việt Nam" làm đề tài luận
văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tin báo, tố giác về tội phạm là một trong những cơ sở để xác định dấu hiện của tội phạm làm căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, do đó hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đặc biệt là các cán bộ làm công tác chuyên môn nhưng chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở những bài báo khoa học như: ThS Nguyễn Duy Giảng,
Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc giải
Trang 10quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo yêu cầu cải cách
tư pháp, Tạp chí Kiểm sát, số 18-20/2008; Nguyễn Tiến Sơn, Một số vướng mắc, bất cập và giải pháp nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố hiện nay, Tạp
chí kiểm sát, số 12/2009; Phạm Đình Sự, Những kinh nghiệm tổ chức, thực
hiện và biện pháp trong công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Tạp chí kiểm sát, số 12/2009; Lưu Trọng
Nguyên, Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm
sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Tạp chí
kiểm sát, số 12/2009; Vũ Việt Hùng, Quy định của pháp luật về kiểm sát việc
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố - Thực trạng và một số đề xuất kiến nghị, Tạp chí kiểm sát, số 12/2009; ThS Lê Ra, Cần thống nhất nhận thức về các khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và các nguồn thông tin về tội phạm, Tạp chí kiểm sát, số 20/2012,
ThS Lê Minh Long, Một số giải pháp tháo gỡ vướng mắc, bất cập trong giải
quyết và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm giết người, Tạp
chí kiểm sát số 4/2011; Nguyễn Quang Thành, Nâng cao chất lượng, hiệu quả
phối hợp giữa viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội với cục điều tra trong việc phát hiện và giải quyết tố giác, tin báo về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, Tạp chí kiểm sát số 11/2012;
Như vậy nhìn một cách tổng quan có thể khẳng định rằng, vấn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm chưa được khoa học luật TTHS Việt Nam quan tâm nghiên cứu đúng mức Những nghiên cứu
về vấn đề này chỉ dừng lại ở những bài báo khoa học luận bàn về những khía cạnh đơn lẻ chứ chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu có tính chất
Trang 11Với tình hình nghiên cứu trên, lại một lần nữa cho phép khẳng định
việc nghiên cứu đề tài "Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm
trong luật TTHS Việt Nam" là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý
luận, vừa có tính thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Từ cơ sở kết quả tổng hợp các quan điểm của các tác giả về chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND, luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề chung như: Khái niệm tin báo, tố giác
về tội phạm; khái niệm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm;
- Khái quát sự phát triển của chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm của VKSND từ năm 1960 đến nay để rút ra những nhận
Trang 12- Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong BLTTHS năm 2003 và các văn bản có liên quan, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong luật TTHS Việt Nam và những văn bản hướng dẫn khác có liên quan, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá thực tiễn thực hiện công tác trên của VKSND trên toàn quốc, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả thực hiện trong thực tiễn Luận văn không nghiên cứu về thực tiễn kiểm sát giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm của VKS quân sự các cấp
Về phạm vi nghiên cứu thực tiễn: Đề tài nghiên cứu thực tiễn thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong 05 năm 06 tháng (2010 – tháng 6/2015) trên địa bàn cả nước
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh,
Trang 13kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật TTHS và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn liên quan chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong luật TTHS Việt Nam Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong nước về công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND từ đó xây dựng khái niệm về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, tạo cơ sở áp dụng pháp luật thống nhất và có căn cứ Đồng thời luận văn chỉ ra những đặc điểm công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND;
- Qua nghiên cứu thực tiễn kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về tội phạm của VKSND, luận văn đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện công tác kiểm sát này
- Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, học viên và người làm thực tiễn
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố
giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về kiểm sát
việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân và thực tiễn thi hành
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1.1 Các khái niệm về tin báo, tố giác về tội phạm và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1 Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm
Tin báo, tố giác về tội phạm là nguồn thông tin quan trọng góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở, căn cứ để tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra các vụ án hình sự Quy định về tin báo, tố giác về tội phạm góp phần tăng cường trách nhiệm của người dân, cơ quan, tổ chức trong xã hội đối với việc đấu tranh phòng, chống tội phạm Đồng thời góp phần tạo sự rõ ràng và minh bạch cho các chủ thể này có thể tố cáo hành vi phạm tội hoặc thông tin về hành vi phạm tội của người khác đến cơ quan có thẩm quyền Hoạt động xử lý tin báo, tố giác về tội phạm là một hoạt động quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, qua đó CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự hoặc khởi tố vụ án hình sự và tiến hành điều tra
Điều 100 BLTTHS năm 2003 quy định: " Chỉ được khởi tố vụ án hình
sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây: 1 Tố giác của công dân; 2 Tin báo của cơ quan,
tổ chức; 3 Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; " Khởi tố vụ
án hình sự là giai đoạn đầu tiên trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự thể hiện sự phản ứng nhanh chóng từ phía nhà nước đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm góp phần điều tra, xử lý một cách có căn cứ và đúng pháp luật hành
vi phạm tội và người phạm tội Việc khởi tố vụ án đúng, kịp thời có ý nghĩa quan trọng, là tiền đề mở ra hàng loạt những hoạt động tố tụng sau này Căn
Trang 15trên năm cơ sở được quy định tại Điều 100 BLTTHS năm 2003, trong số đó là
tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
Dưới góc độ ngôn ngữ học, các thuật ngữ: Tố cáo, tin báo, tố giác được hiểu là:
Khái niệm “Tố cáo” được hiểu với hai nghĩa: Thứ nhất, tố cáo là báo
cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó Thứ hai, tố cáo là vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn [21, tr.1199]
Khái niệm “Tố giác” được hiểu là: báo cho cơ quan chính quyền biết
người hoặc hành động phạm pháp nào đó [21, tr.1200]
Khái niệm “Tin” cũng được hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất là, điều được
truyền đi, báo đi cho biết sự việc, tình hình xảy ra Thứ hai là, sự truyền đạt,
sự phản ánh dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh
và những quá trình xảy ra trong nó [21, tr.1183]
Khái niệm “Báo” được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất là, cho biết việc
gì đó đã xảy ra Thứ hai là, cho người có trách nhiệm nào đó biết về việc xảy
ra có thể hại đến trật tự an ninh chung…là dấu hiệu biết trước [21, tr.342]
Trên bình diện pháp lý, Luật Tố cáo năm 2011 quy định:
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (khoản 1 Điều 2) [26]
Tố cáo ở đây là khái niệm chung, là việc công dân thực hiện quyền của mình báo tin về tất cả các hành vi vi phạm pháp luật nói chung cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết Tùy theo lĩnh vực pháp luật bị vi phạm mà
Trang 16người ta phân biệt các loại tố cáo khác nhau Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về TTHS (khoản 3 Điều 31) Việc tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về TTHS (khoản 1 Điều 3) [26]
Như vậy, trong TTHS tố cáo hành vi phạm tội được gọi là tố giác về tội phạm Đây chính là việc thuộc nội dung khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm [39]
Tố cáo và tố giác về tội phạm có những điểm khác biệt nhất định Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm Còn tố giác về tội phạm chỉ bao gồm hành vi vi phạm pháp luật có thể cấu thành tội phạm đã được quy định trong BLHS Do đó, có thể nói khái niệm tố cáo rộng hơn và cơ bản đã bao hàm cả khái niệm tố giác về tội phạm theo luật TTHS Điểm khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm này là: Tố cáo là quyền của công dân, còn tố giác về tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân Quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm pháp luật chỉ phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quan hệ pháp luật tố giác về tội phạm thì phát sinh ngay sau khi công dân biết về tội phạm Công dân có quyền quyết định việc mình sẽ tố cáo hay không một hành vi vi phạm pháp luật nhưng bắt buộc phải tố giác nếu đã biết rõ về một số tội phạm quy định tại Điều 313 BLHS đang được chuẩn bị hoặc đã được thực hiện Công dân có thể
bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: “Không tố giác tội phạm” theo Điều
314 BLHS nếu biết mà không tố giác tội phạm
Ở phương diện phản ánh, những thông tin về tội phạm là kết quả phản ánh của những tội phạm đó trong hiện thực khách quan, tồn tại ở dạng vật chất, đó là tín hiệu thông tin Sự thay đổi trong môi trường do tội phạm gây ra
là nội dung, còn hình thức biểu hiện của những thông tin đó là tiếng nói và chữ viết của con người Trong hoạt động điều tra tội phạm, tín hiệu thông tin
Trang 17của tín hiệu thông tin này chính là sự đa dạng của những dấu vết do tội phạm
để lại trong môi trường xung quanh
Ở phương diện điều tra khám phá tội phạm tin báo, tố giác về tội phạm
là những thông tin ban đầu, có ý nghĩa rất lớn cho các cơ quan pháp luật xem xét tính chất nghiêm trọng hay không của sự việc đã được những chủ thể báo tin, tố giác đến; tính chính xác và độ tin cậy của các thông tin đến đâu; có dấu hiệu của tội phạm hay không… Tin báo, tố giác về tội phạm là căn cứ để CQĐT mở ra những hoạt động điều tra, xác minh theo luật định
Có nhiều cách hiểu về tin báo, tố giác về tội phạm Có quan điểm xác định: Chỉ có tin báo do nhân dân, đài báo, cơ quan, tổ chức cung cấp, kiến nghị mới là tin báo, tố giác về tội phạm; hoặc có quan điểm cho rằng mọi thông tin liên quan đến tội phạm đều là tin báo, tố giác Có quan điểm nêu:
Tố giác về tội phạm là việc công dân tố giác về hành vi tội phạm được quy định trong BLHS, còn tin báo về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú [50]
Quan điểm khác cho rằng:
Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện, tố cáo người phạm tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 100, Điều 101 và Điều 103 của BLTTHS năm 2003 Tin báo về tội phạm là việc các
cơ quan, tổ chức báo tin hoặc đăng tin có nội dung phản ánh về tội phạm xảy ra cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 100, Điều 101 và Điều 103 của BLTTHS năm
2003 [44]
Trang 18Trái lại, có quan điểm xác định rằng không thể phân biệt giữa tin báo
và tố giác về tội phạm Hiện nay, có quan điểm đưa ra khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm không rõ đối tượng; dựa theo sự phân loại tin báo, tố giác về tội phạm mà người báo tin, tố giác và kể cả CQĐT tiến hành xác minh nhưng không xác định rõ đối tượng gây ra Ví dụ, một người báo mất chiếc xe mô tô trị giá trên 30 triệu đồng nhưng không xác định ai là người đã trộm cắp chiếc
xe đó Cách hiểu này không đúng với bản chất của tin báo, tố giác về tội phạm Dù rõ hay không rõ đối tượng, đó vẫn là tin báo, tố giác về tội phạm Cách hiểu trên dẫn đến tình trạng các cơ quan có thẩm quyền không đưa vào giải quyết và kiểm sát việc giải quyết đối với tin báo, tố giác về tội phạm loại này, hệ quả của nó là việc đánh giá tình hình tội phạm chưa chính xác, làm hạn chế kết quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
Các quan điểm trên chưa nêu rõ, đầy đủ về khái niệm tin báo và tố giác
về tội phạm, chưa phân biệt rõ tố giác và tin báo, hoặc là nhấn mạnh tiêu chí không thuộc nội hàm của khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm
Tại Thông tư Liên ngành số 03/TT-LN ngày 15/5/1992 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) - Bộ Quốc phòng -
Bộ Lâm nghiệp - Tổng cục Hải quan về: “Hướng dẫn thi hành các quy định của luật TTHS về tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm” đã nêu định nghĩa:
Tin báo và tố giác về tội phạm là những thông tin về tội phạm được qui định trong BLHS do công dân, cơ quan Nhà nước,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (gọi tắt là người, cơ quan, tổ chức) cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú [43]
Trang 19Định nghĩa này đến nay có nhiều điểm chưa phù hợp Trong khi đó, BLTTHS năm 2003 không quy định thế nào là tin báo, tố giác về tội phạm
Do đó, năm 2013 liên ngành tư pháp trung ương đã ban hành thông tư mới hướng dẫn về giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố Theo Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-VKSTC-BCA-BNNPTNT-BTC-BQP ngày 02/8/2013 (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT) hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHS năm 2003 về tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì khái niệm tin báo, tố giác
về tội phạm được hiểu như sau:
Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết
Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết [51]
Như vậy, trong khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm đều có đã chỉ ra, tin báo, tố giác đều là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm, chỉ khác nhau ở chủ thể cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết Theo Điều 101 BLTTHS năm 2003, chúng ta thấy chủ thể của tố giác về tội phạm chỉ có thể là cá nhân; chủ thể của tin báo về tội phạm chỉ có thể là cơ quan, tổ chức Cơ quan, tổ chức ở đây được hiểu là bất cứ cơ quan, tổ chức nào Như vậy, theo chúng tôi có thể rút ra các khái niệm tin báo và tố giác
về tội phạm như sau:
Tin báo về tội phạm là việc các cơ quan, tổ chức báo tin hoặc đăng tin
có nội dung phản ánh về tội phạm xảy ra cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo qui định của BLTTHS
Trang 20Tố giác về tội phạm được hiểu là việc cá nhân phát hiện, tố cáo người phạm tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo qui định của BLTTHS
Và có thể nêu khái niệm chung về tin báo, tố giác về tội phạm như sau:
Tin báo, tố giác về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do công dân, cơ quan, tổ chức cung cấp bằng các hình thức thông tin khác nhau; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú để cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo qui định của BLTTHS
1.1.2 Khái niệm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Vận dụng tư tưởng của LêNin vào thực tiễn xây dựng tổ chức bộ máy Nhà nước, Đảng và Nhà nước ta đã nhận định rằng, để đảm bảo cho pháp luật
do Nhà nước ban hành được thực hiện một cách nghiêm minh và thống nhất thì việc tổ chức một cơ quan có chức năng kiểm tra và giám sát hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và công dân là đòi hỏi mang tính khách quan nên đã quyết định thành lập cơ quan VKS Quan điểm trên đã được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1959, năm 1992 (sửa đổi)
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) trong đó có sự điều chỉnh chức năng
của cơ quan VKS quy định "VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật" (Điều 137) [22] Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã cụ thể hóa
quy định trên với nội dung quy định rõ VKS thực hiện chủ yếu hai chức năng
đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Sự điều chỉnh đã đưa ra tiền đề cho việc nghiên cứu làm rõ chức năng kiểm sát các
Trang 21Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu, tranh luận trong suốt quá trình lập Hiến và lập pháp cũng như trong quá trình đổi mới cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp nước ta trong thời gian qua Việc đi sâu nghiên cứu làm rõ chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS giúp chúng ta nhận thức và phân biệt hình thức hoạt động của VKS với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác Đồng thời đưa đến nhận thức chung, thống nhất của toàn thể cán bộ ngành kiểm sát nhằm thực hiện tốt và có hiệu quả các quy định của Luật tổ chức VKSND trong thực tiễn, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
"Chức năng" theo định nghĩa chung nhất được hiểu là những phương
diện, hướng hoạt động của tổ chức, cá nhân thể hiện bản chất của hoạt động
đó Với quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Điều 1 Luật
tổ chức VKSND năm 2014 thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp được coi là vấn đề căn bản xuyên suốt toàn bộ hoạt động của hệ thống cơ quan VKS, đồng thời thể hiện bản chất trong hoạt động của VKS nước ta
Thuật ngữ "Kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các
văn kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức VKSND năm 2014, Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 Tuy nhiên các nhà lập pháp nước ta chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý
chung nhất của khái niệm "Kiểm sát các hoạt động tư pháp" dẫn đến nhiều
quan điểm nhận thức khác nhau về khái niệm này Thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng, trong suốt một thời gian dài chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến lĩnh vực tư pháp thể hiện ở việc trước khi có Văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX, thuật ngữ "quyền tư pháp" ít được sử dụng trong ngôn
ngữ chính trị, pháp luật và khoa học Điều đó đã không tạo ra được tiền đề
Trang 22cho việc nghiên cứu các vấn đề về tư pháp [52, tr.4,5], trong đó có vấn đề kiểm sát các hoạt động tư pháp Cho nên hiện nay, khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp đang còn có nhiều quan điểm khác nhau, tựu chung lại có
ba nhóm quan điểm sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng: "Kiểm sát các hoạt động tư pháp
chỉ bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án" [41]
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng: "Kiểm sát các hoạt động tư pháp
bao gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (cả các vụ
án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và phần tư pháp trong thi hành án" [41]
Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng:
Hoạt động tư pháp là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và cũng phải chịu sự giám sát từ bên ngoài cũng như
từ bên trong hệ thống tư pháp, chịu sự giám sát Nhà nước và giám sát xã hội Theo nghĩa rộng, kiểm sát tư pháp cũng được hiểu là giám sát tư pháp, là một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Còn theo nghĩa hẹp thì kiểm sát tư pháp được hiểu là chức năng của VKS Phạm vi kiểm sát tư pháp là việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (Điều 3 Luật tổ chức VKSND 2002) Mục đích của của kiểm sát tư pháp là bảo đảm cho pháp luật được áp dụng thống nhất trong giải quyết các vụ án trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định [11]
Trang 23Mỗi quan điểm trên đây đều có những lập luận đúng của mình về khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp Tuy nhiên, theo quan điểm chúng tôi trước hết cần phải khẳng định kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng Hiến định của VKS Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất Bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát Từ phân tích trên theo chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa về khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS như sau:
Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS là chức năng Hiến định của VKS, có nội dung là giám sát trực tiếp các hoạt động của các cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật TTHS được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất [13, tr.15]
Việc kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS có nhiều công tác khác nhau, trong các hoạt động tư pháp khác nhau điển hình như kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố; kiểm sát việc khởi tố, điều tra; kiểm sát việc xét xử; kiểm sát thi hành án hình sự; kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án dân sự, kiểm sát việc giải quyết các
vụ án hành chính Các hoạt động này cho thấy vai trò và nhiệm vụ của VKS trong quá trình thực hiện quyền giám sát trong hoạt động tư pháp, đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và chính xác
Từ khái niệm về kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung, chúng ta có thể xây dựng khái niệm kiểm sát việc giải quyết tố giác tin báo về tội phạm Trong
Trang 24khoa học luật TTHS Việt Nam hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về
khái niệm: "Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm" bởi lẽ,
chúng ta mới chỉ dừng lại nghiên cứu ở cấp độ kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung hoặc cụ thể là kiểm sát một giai đoạn nào đó trong quá trình TTHS như khái niệm kiểm sát khởi tố, kiểm sát điều tra Hiện nay tồn tại khá nhiều cách hiểu khác nhau về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm,
có quan điểm cho rằng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là việc VKS bằng quyền năng pháp lý theo luật định thực hiện việc kiểm tra, giám sát trực tiếp và liên tục hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKS chỉ giới hạn dưới góc độ kiểm tra, giám sát có hay không việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm của Cơ quan có thẩm quyền chứ không đi sâu vào kiểm sát nội dụng giải quyết Theo quan điểm của tác giả, cách hiểu thứ nhất là cách hiểu đầy đủ và toàn diện, thể hiện được rõ nhất ý nghĩa chức năng, hoạt động của VKS trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
"Kiểm sát" ở tầng nghĩa phổ thông theo định nghĩa của từ điển tiếng
Việt: "Là kiểm tra việc chấp hành pháp luật của nhà nước" [37] Theo đó, nội
dung của khái niệm "Kiểm sát" là hoạt động kiểm tra với đối tượng kiểm tra
là việc chấp hành pháp luật Như vậy định nghĩa này vẫn chưa chỉ ra được chủ thể của hoạt động kiểm sát Theo pháp luật thực định, chỉ có một loại chủ thể có chức năng kiểm sát việc giải quyết, tin báo tố giác tội phạm, đó là VKS Khoản 4 Điều 103 BLTTHS năm 2003 quy định: "VKS có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của CQĐT đối với tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố" Như vậy theo BLTTHS năm 2003, kiểm sát việc giải
Trang 25quyết tin báo, tố giác về tội phạm đối với VKS là một chức năng, một nhiệm
vụ luật định
Tham gia vào kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước nói chung, hay kiểm tra việc chấp hành pháp luật của CQĐT trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm nói riêng không chỉ có VKS mà còn có các chủ thể khác như người tham gia tố tụng, các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cá nhân công dân và toàn thể xã hội nói chung Quyền kiểm tra việc chấp hành pháp luật của CQĐT trong hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của các chủ thể khác xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước và quyền công dân Điều 28 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 khẳng định: "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội " [27] Điều 8 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định: Cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động điều tra của CQĐT [40] Tuy nhiên đối với các chủ thể này việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng không phải là chức năng hoạt động giống như VKS mà nó chỉ là quyền, nghĩa vụ phái sinh từ những chức năng, hoạt động của chủ thể đó Về bản chất, các hoạt động của những chủ thể này như: theo dõi, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng báo cáo tình hình hoạt động, yêu cầu trả lời lý do ra quyết định, yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm cũng hướng tới việc phát hiện kịp thời để loại trừ việc vi phạm pháp luật của cơ quan hoặc cá nhân trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm tuy nhiên đây chỉ là hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật Sự khác nhau cơ bản giữa hoạt động kiểm sát của VKS và hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là hình thức thực hiện, cụ thể là phương thức và các quyền năng mà pháp luật TTHS cho phép khi thực hiện [2]
Trang 26Từ các phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm như sau:
"Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là một nhóm quyền năng pháp lý của VKS, có nội dung là kiểm tra, giám sát trực tiếp và liên tục hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật"
1.2 Các đặc điểm về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
1.2.1 Chủ thể có quyền kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì chỉ duy nhất VKSND có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “VKSND thực hành quyền công
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Đồng thời Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm
2014 quy định: “VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [27] Điều 4 Luật
tổ chức VKSND năm 2014 quy định về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND như sau:
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [28] Như vậy, hiện nay ở Việt Nam chỉ có duy nhất VKSND là cơ quan được
Trang 27định này trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định cụ thể kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay
từ khi tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm Như vậy một lần nữa
có thể khẳng định chủ thể thực hiện quyền kiểm sát hoạt động tư pháp trong hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm chỉ có thể là VKSND Điều này cũng xuất phát từ chính bản chất của hoạt động kiểm sát của VKSND là đảm bảo tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp
1.2.2 Về đối tượng và phạm vi của hoạt động kiểm sát giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
Để xác định đối tượng, phạm vi kiểm sát cần làm rõ hai vấn đề: Thứ nhất chủ thể nào thực hiện giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm sẽ là đối tượng của hoạt động kiểm sát Thứ hai là hệ thống pháp luật được sử dụng trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm ở đây là toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung hay chỉ một lĩnh vực pháp luật cụ thể nào đó
Chủ thể thực hiện giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm bao gồm hệ thống các cơ quan: CQĐT trong Công an nhân dân, CQĐT trong Quân đội nhân dân; CQĐT của VKSND tối cao; CQĐT của VKS quân sự Trung ương;
Bộ đội Biên phòng, Cơ quan Hải quan, Cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý mà tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của cơ quan mình [63] Tương ứng với hệ thống các cơ quan trên
là hoạt động của người tiến hành tố tụng là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên
Trang 28Hệ thống pháp luật được sử dụng để giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trước hết là pháp luật TTHS, quy định về trình tự tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức cá nhân khác có liên quan đến việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm Ngoài pháp luật TTHS thì còn có các quy định của pháp luật về nội dung như BLHS cũng đóng vai trò quan trọng mà các chủ thể giải quyết cần phải tuân theo
Như vậy hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của những cơ quan nêu trên chính là đối tượng của hoạt kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, đảm bảo việc các chủ thể giải quyết phải tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục cũng như cách xử sự luật định
1.2.3 Về hình thức kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
Hình thức kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là cách thức thực hiện hoạt động kiểm sát, trong đó bao gồm: 1 Phương thức kiểm sát; 2 Các quyền năng pháp lý mà VKS được
sử dụng trong quá trình kiểm sát
Một là, về phương thức kiểm sát
Phương thức kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là sự kiểm tra, giám sát một cách trực tiếp, liên tục trong suốt quá trình giải quyết Phương thức này cho phép phân biệt hoạt động kiểm sát của VKS với hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng, cơ quan dân cử hay báo chí…Quyền giám sát của người tham gia tố tụng, cơ quan dân cử, báo chí chỉ là quyền phái sinh
từ các quyền tố tụng và quyền chủ thể của họ Như chúng ra biết giám sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS chủ yếu là những hoạt động được pháp luật
Trang 29sát (ngoài VKS) thì tùy vào vị trí, sự quan tâm của mỗi chủ thể mà họ sẽ sử dụng các quyền này ở những mức độ khác nhau (Ví dụ việc giám sát của cơ quan báo chí đối với quá trình giải quyết một tin báo hay tố giác về tội phạm nào đó chỉ được đặt ra khi có đơn thư khiếu nại trong quá trình giải quyết, hoặc cũng có thể đó là vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm…) Đối với VKS, chỉ có VKS mới có thể tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm một cách trực tiếp, liên tục do có đủ các cơ sở, điều kiện cần thiết (vị trí pháp lý đặc biệt với chức năng, nhiệm vụ, bộ máy được bố trí phù hợp ) Trong quá trình cơ quan có thẩm quyền giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm từ lúc tiếp nhận, phân loại, xác minh cho đến khi có kết quả giải quyết thì bất kỳ lúc nào VKS đều có quyền và nghĩa vụ áp dụng những biện pháp tác động trực tiếp đến đối tượng bị kiểm sát để đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất
Hai là về nhóm quyền năng pháp lý mà VKS được sử dụng trong quá
trình kiểm sát được thể hiện thông qua các quyền của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Có thể được phân loại thành những nhóm sau:
- Nhóm các quyền nhằm phát hiện vi phạm pháp luật đó là quyền kiểm tra, giám sát thường xuyên trong quá trình giải quyết Quyền kiểm sát tổng thể việc giải quyết theo định kỳ hằng tháng, quý, năm Quyền tiếp nhận trực tiếp các khiếu nại, tố cáo liên quan
- Nhóm các quyền nhằm khắc phục, xử lý vi phạm như: Quyền yêu cầu khắc phục vi phạm, quyền yêu cầu xử lý Điều tra viên và những người có thẩm quyền khác đã vi phạm pháp luật, quyền kiến nghị, kháng nghị nhằm khắc phục vi phạm, quyền yêu cầu ra văn bản giải quyết khiếu nại tố cáo, kiểm tra, trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trang 301.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1988
Năm 1958 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 29/4/1958, thực hiện việc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước nên Quốc hội đã quyết định thành lập cơ quan Viện công tố trung ương và hệ thống Viện công tố Từ thời điểm này Viện công tố tách khỏi hệ thống Toà
án và trực thuộc Hội đồng Chính phủ Sau đó Phủ Thủ tướng đã ban hành Nghị định 256/TTg ngày 1/7/1959 quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố, trong đó có quy định: "Nhiệm vụ của Viện công tố là điều tra
và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của CQĐT ” [5] Như vậy, ngoài chức năng truy tố theo luật hình sự những kẻ phạm pháp, Viện công tố còn
có chức năng trong việc giám sát việc chấp hành pháp luật trong điều tra vụ
án hình sự Từ giai đoạn này trở đi, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự trong đó có kiểm sát hoạt động xử lý tin báo, tố giác về tội phạm của Viện công tố bắt đầu được hình thành và thực hiện Đến năm 1959, Quốc hội ban hành bản Hiến pháp 1959 trong đó quy định tổ chức cơ quan VKSND thành một hệ thống độc lập với Chính phủ và chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật
tổ chức VKSND năm 1960 để cụ thể hóa chức năng của VKS trong đó có chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong giai đoạn khởi
tố, điều tra vụ án hình sự Với việc ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960 đã đánh dấu sự hình thành hệ thống cơ quan VKS từ trung ương đến địa phương, đồng thời khẳng định chức năng Hiến định là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Cũng
Trang 31liên bộ quy định trách nhiệm của hai ngành trong công tác phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm, cụ thể là Thông tư số 427-TTLB ngày 28/06/1963 đã quy định trách nhiệm của từng ngành đối với việc điều tra xử
lý tội phạm, thông tư quy định: Cơ quan Công an điều tra đảm nhiệm việc điều tra tất cả các vụ án phản cách mạng và những tội phạm phức tạp Còn VKS chủ yếu là làm nhiệm vụ kiểm sát điều tra, đồng thời trong phạm vi điều kiện và khả năng của mình sẽ trực tiếp và điều tra một số loại phạm pháp kinh tế và hành vi phạm pháp đã tương đối rõ
Ngày 18 tháng 12 năm 1980, Nhà nước ta đã ban hành bản Hiến pháp mới trong đó quy định chức năng của VKS như sau: "VKSND tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và các đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất,
Các VKSND địa phương, các VKS quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình" (Điều 138) Trên cơ sở đó Luật tổ chức VKSND năm 1981 đã quy định cụ thể chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra tại Chương II Tuy nhiên trong giai đoạn này chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về trình
tự thủ tục hoạt động điều tra, cũng như hoạt động kiểm sát việc xử lý tin báo, tố giác về tội phạm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ đó dẫn đến công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm còn gặp nhiều khó khăn [13, tr.26, 27]
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003
Ngày 28/06/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS đầu tiên của nước ta đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động lập pháp của Quốc hội BLTTHS năm 1988 đã quy định chặt chẽ trình tự, thủ
Trang 32tục khởi tố - điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, bên cạnh đó có quy định về hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKS với mục đích là nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Điều 23 BLTTHS năm 1988 quy định:
"VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật TTHS, thực hiện quyền công tố bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn của TTHS, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào" Với quy định đó VKS thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với toàn bộ hoạt động tố tụng của CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự [13, tr.27] Như vậy, từ giai đoạn này trở đi, hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKS được thực hiện theo quy định của một văn bản quy phạm pháp luật và trong suốt thời gian hơn 15 năm thực hiện BLTTHS năm 1988, chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKS đã góp phần quan trọng trong công cuộc phòng chống, đấu tranh các loại tội phạm, đảm bảo việc ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội để phát triển một nền kinh tế bền vững trong thời kỳ đổi mới của đất nước ta, đồng thời tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Năm 2001, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa X đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (sau đây được gọi là Hiến pháp năm 1992 sửa đổi), lần sửa đổi này đã điều chỉnh chức năng của VKS với quy định:" VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp
và pháp luật" (Điều 137), như vậy Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã quy định
Trang 33đó thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp nói chung và trong giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm nói riêng là chức năng quan trọng và chỉ giao cho cơ quan VKS thực hiện Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức VKSND năm 2002 được ban hành và tại các Điều 12,
14 Chương II quy định: "VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các CQĐT và các
cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra" Bên cạnh đó để đáp ứng những yêu cầu trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong thời kỳ mới là nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, vừa bảo đảm chống để lọt tội phạm vừa bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân không bị vi phạm đồng thời trải qua hơn 10 năm thực hiện BLTTHS năm
1988 đã nảy sinh những bất cập trong thực tiễn áp dụng, đòi hỏi cần phải được sửa đổi, bổ sung nên năm 2003, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI đã tiến hành thảo luận và thông qua BLTTHS năm 2003 thể hiện những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự, trong đó tại Điều 2 Chương II - Những nguyên tắc cơ bản
có quy định: " VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng,
áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này
VKS THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Ngoài ra bộ luật còn có quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm tại Điều 103
Trang 34Như vậy, trong suốt quá trình hình thành và phát triển hệ thống cơ quan VKS thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKSND ngày càng khẳng định được
vị trí, vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, nhằm mục đích là sự tuân thủ nghiêm minh và thống nhất các quy định pháp luật TTHS của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự [13, tr.28]
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND Với mục tiêu đó Chương 1 có phân tích về khái niệm và đặc điểm của tin báo, tố giác về tội phạm, khái niệm và đặc điểm của kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND Ngoài ra còn tìm hiểu về lịch sử các quy định của pháp luật về hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND trong suốt quá trình lịch sử từ khi thành lập vào năm 1960 cho đến trước khi ban hành BLTTHS năm 2003 Đây là những cơ sở lý luận quan trọng để xác định phạm vi, đối tượng của hoạt động này
Trang 35Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
2.1 Quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
2.1.1 Chủ thể và đối tượng của kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
2.1.1.1 Chủ thể kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
Một trong những nguồn thông tin quan trọng phản ánh về tội phạm đó
là các tin báo, tố giác của các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước và mọi công dân Thông tin về tội phạm là một dữ kiện không thể thiếu cho việc phát hiện, khám phá tội phạm, đóng góp quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Cho dù cơ quan bảo vệ pháp luật có lực lượng mạnh và
có các phương tiện kỹ thuật hiện đại đến đâu đi chăng nữa mà thiếu sự phối hợp cung cấp thông tin về tội phạm của các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước và của quần chúng nhân dân thì việc phát hiện và xử lý tội phạm khó đạt được kết quả cao [13, tr.40]
Công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm là cuộc đấu tranh mang tính chất xã hội, đòi hỏi sự tham gia tích cực của toàn xã hội, công tác này đạt được kết quả cao hay không phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm tham gia tích cực của các cơ quan, tổ chức xã hội và của quần chúng nhân dân nhằm cung cấp cho các cơ quan tiến hành tố tụng các thông tin về tội phạm Trách nhiệm tham gia cung cấp thông tin về tội phạm được quy định tại Điều 8 BLTTHS năm 1988 và tiếp tục được khẳng định và có sự sửa đổi, bổ sung trong BLTTHS năm 2003 về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia công tác đấu
Trang 36tranh phòng và chống tội phạm: "Quyền và nghĩa vụ các tổ chức và công dân
là phát hiện và tố giác hành vi phạm tội, tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, tổ chức" (Điều 25 BLTTHS năm 2003)
VKSND là hệ thống cơ quan nhà nước chính thức được thiết lập từ sau Hiến pháp năm 1959 và cụ thể hóa bằng Luật tổ chức VKSND năm 1960 Kể từ
đó đến nay, có những thay đổi khác nhau về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Tuy nhiên, về cơ bản VKSND vẫn được Hiến pháp qua các thời kỳ quy định hai chức năng chính là chức năng THQCT và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Hiện nay hai chức năng này vẫn tiếp tục được ghi nhận tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013: “VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”
Cụ thể hóa quy định về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định
về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp tại khoản 1 Điều 4 như sau:
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi
tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [27]
Như vậy, một trong những nội dung đầu tiên trong công tác kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND trong TTHS là việc VKS kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố Tiếp đó,
Trang 37VKSND kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm:
Việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật [28]
Theo quy định của Điều 103 BLTTHS năm 2003 quy định:
1 CQĐT, VKS có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tin báo,
tố giác về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi
tố do cơ quan nhà nước chuyển đến VKS có trách nhiệm chuyển ngay các tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền
về tội phạm Đây là chức năng đặc thù của VKS cùng với chức năng THQCT, tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để VKS thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Tin báo, tố giác về tội phạm là những cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm, làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, việc giao chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm cho VKSND thể hiện sự hợp lý về mặt
lý luận cũng như trong thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm Hệ thống VKSND hiện được xây dựng từ trung ương đến địa phương theo bốn cấp là
Trang 38VKSND cấp huyện, VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp cao và VKSND tối, các
cơ quan này theo thẩm quyền có chức năng thực hiện quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT và cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra tương ứng
2.1.1.2 Đối tượng của kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
Đối tượng của kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm chính
là hoạt động tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của luật TTHS
Theo quy định của Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT những
cơ quan có thẩm quyền giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm bao gồm: CQĐT trong Công an nhân dân, CQĐT trong Quân đội nhân dân; CQĐT của VKSND tối cao; CQĐT của VKS quân sự Trung ương; Bộ đội Biên phòng,
cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý mà tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của cơ quan mình thì tiến hành giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm đó Tương ứng với
hệ thống các cơ quan trên là hoạt động của người tiến hành tố tụng là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên [51] Theo quy định trên, cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm theo trình tự TTHS có thể được chia thành hai nhóm là hệ thống CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra
- Hệ thống CQĐT ở Việt Nam hiện nay theo quy định tại Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự thì gồm ba hệ thống là hệ thống CQĐT trong công an nhân dân, hệ thống CQĐT trong quân đội dân nhân và CQĐT của VKSND
Trang 39quyền hạn điều tra trong hầu hết các vụ án hình sự có dấu hiệu tội phạm Do
đó, các cơ quan này cũng là cơ quan tiến hành chủ yếu nhất hoạt động tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
- Các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra là hệ thống cơ quan nhà nước được quy định tại Điều 111 của BLTTHS năm 2003
và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự như Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Các cơ quan này là các cơ quan quản lý hành chính trong ngành, lĩnh vực được pháp luật cho phép tiến hành một số hoạt động điều tra các vụ án hình sự phát sinh từ lĩnh vực đó Hiện nay theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì các cơ quan này được tiến hành hoạt động điều tra từ khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm, khởi tố vụ án và ra kết luận điều tra đối với những vụ án đơn giản, bị can có lý lịch rõ ràng còn đối với những vụ án phức tạp thì sau thời hạn 07 ngày từ khi khởi tố phải chuyển ngay cho CQĐT chuyên trách Tuy nhiên, cho dù vụ án nào thì các cơ quan này cũng có quyền tiến hành hoạt động tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
2.1.2 Trình tự, thủ tục, thời hạn của kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm
2.1.2.1 Kiểm sát việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm
Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì CQĐT trong Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT trong Quân đội nhân dân và CQĐT của VKSND tối cao CQĐT trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự CQĐT của VKSND tối cao điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp
Trang 40Đồng thời Điều 111 BLTTHS năm 2003 cũng quy định khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của mình thì Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển có thẩm quyền: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, thì ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho VKS có thẩm quyền trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án; Đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án
Trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, ngoài các CQĐT đã phân tích ở trên, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm, thì có quyền khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án Các cơ quan này có thể là Cảnh sát giao
thông, Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Cảnh sát trại giam Như vậy, có thể
hiểu rằng, cơ quan nào có thẩm quyền tiến hành hoạt động điều tra thì có trách nhiệm tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm
Cụ thể hơn các quy định của BLTTHS năm 2003 về tiếp nhận tin báo,
tố giác về tội phạm, tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT quy định
Cơ quan điều tra sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình phải tiến hành kiểm tra, xác minh Những tin báo, tố giác về tội phạm không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan