1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2004

101 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là văn bản pháp luật quy định đầy đủ và có hệ thống các vấn đề về tố tụng dân sự TTDS như các nguyên tắc cơ bản trong TTDS; quyền và nghĩa vụ tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Huyền

HÀ NỘI - 2011

Trang 3

1.1.1.2 Khái niệm quyền khởi kiện và khởi kiện vụ án dân sự 7 1.1.2 Ý nghĩa của việc khởi kiện vụ án dân sự 10 1.2 Cơ sở của khởi kiện vụ án dân sự 13 1.3 Mối quan hê ̣ giữa quyền khởi kiê ̣n của công dân và trách

nhiê ̣m bảo đảm quyền khởi kiê ̣n của Tòa án và các cơ quan ,

tổ chức có liên quan

16

1.4 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân

sự Viê ̣t Nam về khởi kiê ̣n vu ̣ án dân sự

dân sự mô ̣t số nước

24

Chương 2: KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

29

Trang 4

2.1.1 Điều kiện về chủ thể khởi kiện 29 2.1.2 Điều kiện về thẩm quyền của tòa án 35 2.1.3 Điều kiện về hòa giải tiền tố tụng 41 2.1.4 Sự việc chưa được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm

quyền giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu

lực pháp luật

44

2.1.5 Điều kiện về thời hiệu khởi kiện 46 2.1.6 Điều kiện do pháp luật nội dung quy định 49 2.2 Điều kiện về hình thức đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ

gửi kèm theo đơn khởi kiện

51

2.3 Phạm vi khởi kiện vụ án dân sự 57 2.4 Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án và thủ tục nhận đơn khởi kiện 59 2.4.1 Yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện 60 2.4.2 Trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự 61 2.4.3 Chuyển đơn khởi kiện vụ án dân sự 67 2.4.4 Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án dân sự 68

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN

THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

3.2.2 Về hướng dẫn thi hành pháp luật 84

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật Dân sự

BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự

PLTTGQCVADS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế PLTTGQCTCLĐ : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động TAND : Tòa án nhân dân

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

TTDS : Tố tụng dân sự

UBND : Ủy ban nhân dân

VADS : Vụ án dân sự

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực kể

từ ngày 01/01/2005 BLTTDS được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển của ba Pháp lệnh trước đó, bao gồm: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân

sự năm 1989 (PLTTGQCVADS); Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh

tế năm 1994 (PLTTGQCVAKT); Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 (PLTTGQCTCLĐ) Đây là văn bản pháp luật quy định đầy

đủ và có hệ thống các vấn đề về tố tụng dân sự (TTDS) như các nguyên tắc cơ bản trong TTDS; quyền và nghĩa vụ tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; thẩm quyền của Tòa án nhân dân (TAND); trình tự, thủ tục khởi kiện và thụ lý các vụ việc dân sự… Trong quá trình triển khai, áp dụng BLTTDS, Tòa án các cấp đã có rất nhiều nỗ lực trong việc áp dụng các quy định pháp luật nói chung và quy định về khởi kiện vụ án dân sự (VADS) nói riêng Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết các VADS vẫn còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập và có nhiều ý kiến khác nhau trong việc thực hiện các quy định này và chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích một cách đầy đủ và thống nhất Chính vì vậy, tại Nghị quyết số 08-

NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị " về một số nhiệm vụ trọng tâm

công tác tư pháp trong thời gian tới"; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày

24/5/2005 của Bộ chính trị "về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống

pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng 2020" đều nhấn mạnh việc hoàn

thiện pháp luật tố tụng, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp, trọng tâm là xây dựng và hoàn thiện

tổ chức và hoạt động của TAND, bảo đảm các hoạt động tố tụng phải thực sự dân chủ, nghiêm minh, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân

Trang 7

Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi đã lựa chọn đề tài "Khởi kiện

vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004" làm đề

tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Sau khi BLTTDS được ban hành đã có một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về vấn đề khởi kiện VADS nhưng các công trình này chỉ nghiên cứu về các điều kiện khởi kiện trong mối quan hệ với vấn đề thụ lý VADS hoặc đi sâu nghiên cứu về quyền khởi kiện và các đảm bảo quyền

khởi kiện như luận văn thạc sĩ luật học "Thụ lý vụ án dân sự - Một số vấn đề

lý luận và thực tiễn" của tác giả Liễu Thị Hạnh (Trường Đại học Luật Hà

Nội, 2010); luận văn thạc sĩ luật học "Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền

khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam" của tác giả Trần Đức Thành

(Trường Đại học Luật Hà Nội, 2011)… Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về một nội dung nhất định của khởi kiện VADS

như bài viết "Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự" của tác giả Lê Thị

Bích Lan đăng trên Tạp chí Luật học năm 2005 số đặc san về BLTTDS; bài

viết "Bàn về điều kiện khởi kiện của các tổ chức tín dụng có tài sản thế chấp

bảo đảm tiền vay" của tác giả Trịnh Huy Tân (Tạp chí Kiểm sát, số 9/2008);

"Bàn về quyền khởi kiện của người đại diện hợp pháp của cá nhân, cơ quan,

tổ chức theo Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự" của tác giả Tào Thị Huệ (Tạp

chí TAND, số 5/2010); "Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia

tố tụng" của tác giả Trần Anh Tuấn (Tạp chí TAND, số 23/2008)… Tuy

nhiên, mỗi công trình nghiên cứu nhìn nhận, giải quyết vấn đề này ở một góc độ khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và riêng biệt về vấn đề khởi kiện VADS, đặc biệt theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004 vừa được Quốc hội thông qua ngày 29/3/2011

Trang 8

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về khởi kiện VADS tại Tòa án, nêu và phân tích những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về khởi kiện VADS, đồng thời mạnh dạn đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về chế định này

Nội dung nghiên cứu đề tài tập trung vào việc giải quyết nhiều vấn đề khác nhau của khởi kiện VADS như khái niệm VADS, khái niệm khởi kiện VADS, điều kiện khởi kiện VADS, trình tự, thủ tục nhận đơn khởi kiện và một số vấn đề khác có liên quan đến khởi kiện VADS Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ luật học, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản nhất về khởi kiện VADS như khái niệm khởi kiện VADS, ý nghĩa của khởi kiện VADS, các quy định của BLTTDS về khởi kiện VADS, thực tiễn thực hiện và phương hướng hoàn thiện pháp luật về khởi kiện VADS

4 Phương pháp nghiên cứu

Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong qua trình đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và vấn đề cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng thực tiễn kiểm chứng lý luận Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp thống kê cũng được sử dụng để hoàn thành luận văn

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Ngoài ý nghĩa là một công trình nghiên cứu riêng của bản thân về khởi kiện VADS để hoàn thành chương trình học tập và báo cáo tốt nghiệp lớp Cao học Luật dân sự khóa XIV của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà

Trang 9

Nội, việc nghiên cứu đề tài còn có ý nghĩa đi sâu phân tích khái niệm, ý nghĩa

và cơ sở của khởi kiện VADS, điều kiện khởi kiện VADS, kết hợp với việc nghiên cứu, so sánh pháp luật về khởi kiện VADS của một số nước trên thế giới để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện pháp luật

Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về khởi kiện VADS trong pháp luật TTDS hiện hành Bên cạnh đó, luận văn còn đi sâu phân tích những hạn chế, bất cập của pháp luật TTDS hiện hành về khởi kiện VADS và đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật TTDS về khởi kiện VADS

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án dân sự

Chương 2: Khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt

Nam hiện hành

Chương 3: Thực tiễn thực hiện và phương hướng hoàn thiện pháp luật

Việt Nam về khởi kiện vụ án dân sự

Trang 10

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự

1.1.1.1 Khái niệm vụ án dân sự

"Khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp

luật tố tụng dân sự" [53, tr 230] Khởi kiện trước hết là quyền dân sự của các

chủ thể, là phương thức mà các chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nước hoặc người khác và là cơ sở để Tòa án xem xét thụ

lý, giải quyết "Việc xem xét, thụ lý yêu cầu khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức chính là sự bảo đảm của nhà nước đối với việc thực hiện các quyền dân sự của các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận" [2, tr 20] Khi yêu cầu khởi kiê ̣n của cá nhân , cơ quan, tổ chức đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nội dung, về hình thức khởi kiện, tạm ứng án phí thì Tòa án thụ lý và vụ án dân sự được hình thành Do đó, khi nghiên cứu, xem xét khái niê ̣m khởi kiê ̣n

vụ án dân sự thì phải đặt trong mối liên hệ với khái niệm vụ án dân sự

Trước khi BLTTDS ra đời, theo quy định của PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT và PLTTGQCTCLĐ tồn tại ba khái niệm VADS, vụ án kinh tế, vụ án lao động Theo đó vụ án kinh tế bao gồm các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công

ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật Vụ án lao động bao gồm các tranh chấp lao động giữa cá nhân giữa người lao động

Trang 11

và người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; về thực hiện hợp đồng lao động và trong quá trình học nghề; tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động về thực hiện thoả ước lao động tập thể; về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn VADS bao gồm những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình như: Tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác; việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết

Năm 2004, BLTTDS ra đời, khái niệm VADS đã có sự thay đổi VADS bao gồm các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là VADS) thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án và có đương sự yêu cầu Toà án giải quyết Theo BLTTDS khái niệm VADS được mở rộng hơn rất nhiều xét theo phạm vi loại việc, bởi ngoài những tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình còn bao gồm các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại và lao động Tuy vậy, BLTTDS lại thu hẹp về nội dung loại việc bởi VADS chỉ bao gồm những loại việc có tranh chấp

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng "Vụ là việc, sự việc không hay,

rắc rối cần phải giải quyết" [56, tr 1279]; "Dân sự (civil administration) thuộc việc của dân để phân biệt với việc của quan" [56, tr 36] Theo Đại từ

điển Tiếng Việt "Án là vụ việc phải đưa ra xét xử ở Toà" [64, tr 34] "Dân sự

là việc liên quan đến dân nói chung" [64, tr 520] Những việc liên quan đến

dân gồm những quan hệ nhân thân, tài sản, những vấn đề về hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động Trong các mối quan hệ này khi các bên trong quan hệ

có mâu thuẫn, rắc rối, không thống nhất được ý kiến với nhau về quyền và lợi ích được gọi là xảy ra tranh chấp Tranh chấp là sự giành giật, mâu thuẫn, bất đồng ý kiến về quyền và lợi ích giữa các chủ thể Như vậy có thể hiểu VADS

là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ liên quan đến dân và phải đưa ra

Trang 12

xét xử ở Toà án Dưới góc độ pháp luật, vụ án dân sự là các tranh chấp giữa

các cá nhân, cơ quan, tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được đưa ra Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS Trong luận

văn tác giả đề cập đến khái niệm VADS theo nghĩa này

Đặc trưng của VADS là có sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên hay nhiều bên đương sự trong mối quan hệ pháp luật Trong quan hệ

đó một bên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình, yêu cầu bên kia phải thực hiện nghĩa vụ là làm một việc hoặc không được làm một việc Nghĩa vụ này phát sinh từ những quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, được pháp luật bảo

vệ Yếu tố tranh chấp được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu để xác định có

là VADS hay không Và đây cũng chính là yếu tổ để phân biệt giữa VADS và việc dân sự "Trong vụ án dân sự ta có thể xác định được các bên là nguyên đơn (người có đơn khởi kiện); bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng trong việc dân sự vì không có tranh chấp nên chỉ xác định được bên yêu cầu còn bên kia có thể xác định hoặc không xác định" [52, tr 5] Thời hiệu khởi kiện VADS là 2 năm trong khi thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân

sự là một năm và thời hạn chuẩn bị xét xử VADS dài hơn thời hạn giải quyết việc dân sự Do thủ tục giải quyết VADS và thủ tục giải quyết việc dân sự có những khác nhau cơ bản nên khi nhận đơn khởi kiện Toà án phải xác định ngay đó là VADS hay việc dân sự để thụ lý giải quyết đúng thủ tục

1.1.1.2 Khái niệm quyền khởi kiện và khởi kiện vụ án dân sự

Trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng pháp luật của nhà nước và được bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập Theo đó, quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân đã được pháp luật ghi nhận và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm

Trang 13

phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Ở Việt Nam, Điều 50 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Ở nước Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật" [18] Trong đó, quyền dân sự có ý

nghĩa rất quan trọng, cá nhân, tổ chức được thực hiện các hành vi theo quy định của pháp luật nhằm thoả mãn lợi ích của mình như lao động, sản xuất kinh doanh để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân và xã hội tham gia vào các giao dịch dân sự v.v Điều 9 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định, tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: Công nhận quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành

vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại

Như vậy, quyền khởi kiện trước hết là một quyền dân sự Khi quyền

và lợi ích dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm hay tranh chấp thì

họ có quyền thực hiện những biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo vệ và một trong những biện pháp đó chính là khởi kiện vụ án Pháp luật TTDS quy định điều kiện, phương thức khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức và trong trường hợp này quyền khởi kiện VADS được xem xét như một quyền tố tụng

Do đó, dưới góc độ tố tụng quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật TTDS yêu cầu Toà án bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác khi có tranh chấp

về quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động

Để cụ thể quy định của Hiến pháp, Điều 4 và Điều 5 BLTTDS quy

định, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện VADS tại Toà án có thẩm

Trang 14

quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác Việc thực hiện quyền khởi kiện của đương sự phải tuân theo quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, năng lực chủ thể, thẩm quyền của Toà án Khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm phạm có quyền tự định đoạt khởi kiện hoặc không khởi kiện đến Toà án yêu cầu bảo vệ Việc khởi kiện được thực hiện bằng hình thức nộp đơn khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền Về nguyên tắc chỉ có cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có lợi ích bị xâm phạm mới có quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của mình Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong một số trường hợp đặc biệt Điều 162 BLTTDS nước ta quy định:

Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có quyền khởi kiện

vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân

và gia đình quy định Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách [24] Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam các đương sự hoàn toàn tự do lựa chọn các biện pháp để bảo vệ quyền lợi của mình Nhà nước chính thức xác nhận quyền khởi kiện VADS của các cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Pháp luật cũng ghi nhận các chủ thể khác như Hội liên hiệp phụ nữ, tổ chức công đoàn có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích của người khác Viê ̣c thực hiê ̣n quyền này của các chủ thể được go ̣i là khởi kiê ̣n vu ̣ án dân sự Theo nghĩa hẹp, khởi kiện được hiểu là việc nguyên đơn hoặc người đại diện của

Trang 15

nguyên đơn, cơ quan, tổ chức gửi đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết VADS để bảo vê ̣ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước Theo nghĩa rộng, khởi kiện còn bao gồm cả việc bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền và nghĩa

vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập, bởi yêu cầu phản tố chính là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn về một quan hệ pháp luật khác với quan hệ pháp luật mà nguyên đơn đã kiện bị đơn và yêu cầu độc lập chính là việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kiện nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ lợi ích của mình Luận văn nghiên cứu về khởi kiện theo nghĩa rộng

Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, khởi kiê ̣n vụ án dân sự là viê ̣c cá

nhân, cơ quan, tổ chư ́ c hoặc các chủ thể khác theo quy đi ̣nh của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầ u Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự

để bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của mình , của người khác hay bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước

1.1.2 Ý nghĩa của việc khởi kiện vụ án dân sự

Khởi kiện là phương thức bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích dân sự trên cơ

sở quyền tự đi ̣nh đoa ̣t của các chủ thể Theo đó, khởi kiê ̣n là phương thức để các chủ thể có thể hành động ngay tức khắc để tự bảo vệ các quyền dân sự của mình, tránh nguy cơ bị x âm pha ̣m như đòi bồi thường thiê ̣t ha ̣i về tài sản , sức khỏe, khởi kiê ̣n yêu cầu thực hiê ̣n đúng hợp đồng , khởi kiê ̣n để yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luâ ̣t đối với viê ̣c thực hiê ̣n quyền dân sự Để ngăn chă ̣n ki ̣p thời hâ ̣u quả của hành vi vi pha ̣m , người khởi kiê ̣n còn có quyền yêu cầu Tòa án áp du ̣ng ngay biê ̣n pháp khẩn cấp ta ̣m thời cùng lúc với viê ̣c nô ̣p đơn khởi kiê ̣n Từ việc khởi kiê ̣n, các cơ quan tố tụng sẽ có hành

đô ̣ng can thiê ̣p ki ̣p thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, thiê ̣t ha ̣i sớm được khắc phu ̣c , ngăn chă ̣n và chấm dứt hành vi trái pháp luâ ̣t

và sớm khôi phục lại mối quan hệ thiện chí , cởi mở, giao hòa giữa các bên trong đờ i sống dân sự

Trang 16

để Tòa án nhõn danh nhà nước giải quyờ́t các vu ̣ án dõn sự Cỏc phỏn quyết của Tũa ỏn buộc cỏc cỏ nhõn , cơ quan, tổ chức cú liờn quan tụn trọng và triệt

để thi hành nờn viờ ̣c thực hiờ ̣n quyờ̀n khởi kiờ ̣n sẽ bảo đảm cho việc bảo vệ cú hiệu quả quyờ̀n và lợi ích hợp pháp của cỏc chủ thờ̉

Bằng hoạt động xét xử, tòa án góp phần bảo vệ và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời nâng cao hiệu quả xét xử, xác lập chế độ trách nhiệm cao đối với nhân dân và một môi tr-ờng pháp lý an toàn, trong đó các quyền công dân đ-ợc bảo vệ và củng cố lòng tin của nhân dân đối với chế độ Khi hoạt động xét xử kết thúc bằng một bản án của tòa án thì bản án phải đ-ợc

Trang 17

mọi ng-ời tôn trọng, những ng-ời có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành

Có nh- vậy kỷ c-ơng phép n-ớc mới đ-ợc tôn trọng và đề cao Đồng thời, thông qua phiên tòa công khai và bản án có căn cứ thuyết phục không những có tác dụng tốt đối với bản thân đ-ơng sự mà còn có giá trị giáo dục rộng rãi trong xã hội Với ng-ời thật, việc thật đ-ợc bản án kết luận chính xác, khách quan, nó dễ

đi vào lòng ng-ời và dễ đ-ợc nhân dân chấp nhận hơn là việc thuyết giáo suông về pháp luật Khi nhân dân đã tin t-ởng vào pháp luật thì pháp luật là chỗ dựa cho họ đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và chính pháp luật

đi vào lòng ng-ời nh- vậy nó trở thành sức mạnh bảo đảm cho pháp luật đ-ợc tôn trọng, pháp chế xã hội chủ nghĩa ngày càng đ-ợc củng cố và tăng c-ờng

Khởi kiờ ̣n vu ̣ án dõn sự cũn là cơ sở để Tũa ỏn tớnh thời hiệu khởi kiện của chủ thể cũn hay đó hết Quyờ̀n khởi kiờ ̣n mă ̣c dù là mụ ̣t quyờ̀n dõn sự được pháp luõ ̣t ghi nhõ ̣n và đảm bảo thực hiờ ̣n cho cỏ nhõn, cơ quan, tổ chức nhưng khụng phải họ cú quyền thực hiện quyền này bất kỳ khi nào Đối với mụ̃i loa ̣i tranh chṍp , phỏp luật quy định cụ thể thời hiệu khởi kiện mà hết khoảng thời gian đú , chủ thể khụng thực hiện quyền thỡ sẽ bị hết thời hiệu khởi kiờ ̣n Và khoảng thời gian này được tớnh kể từ khi quyền và lợi ớch bị xõm pha ̣m cho đờ́n khi khởi kiờ ̣n có thờ̉ là hai năm , ba năm… tùy thuụ ̣c vào tớnh chất của mỗi loại tranh chấp khỏc nhau Với mụ́c thời gian chủ thờ̉ nụ ̣p đơn khởi kiờ ̣n, Tũa ỏn sẽ cú căn cứ để xỏc định việc khởi kiện đú cú đảm bảo vờ̀ thời hiờ ̣u khởi kiờ ̣n hay khụng

Việc ghi nhận quyền khởi kiện yờu cầu Tũa ỏn bảo vệ quyền, lợi ớch hợp phỏp của cỏc chủ thể và sự bảo đảm của Nhà nước trong việc thực hiện quyền khởi kiện gúp phần nõng cao ý thức phỏp luật của người dõn Thụng qua cỏc quy định của phỏp luật về quyền khởi kiện và khởi kiện VADS sẽ gúp phần nõng cao ý thức tuõn thủ phỏp luật của cỏc chủ thể tham gia quan hệ dõn

sự, hụn nhõn gia đỡnh, kinh doanh, thương mại, lao động đồng thời cú ý nghĩa răn đe, ngăn chặn cỏc hành vi xõm phạm quyền lợi của cỏc chủ thể, đảm bảo

sự ổn định của cỏc quan hệ xó hội

Trang 18

1.2 Cơ sở của khởi kiện vụ ỏn dõn sự

Quyền và lợi ích của các chủ thể là một vấn đề quan trọng, là động lực để các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội Trong lĩnh vực dõn sự, lợi ớch của cỏc bờn được xem như là tiền đề dẫn đến tranh chấp dõn sự "Tranh chấp phỏp lý sẽ khụng thể xuất hiện, nếu khụng cú yờu cầu khởi kiện của cỏc bờn" [65, tr 70] Như vậy, quyền và lợi ớch hợp phỏp của cỏ nhõn, cơ quan, tổ chức là cơ sở để cỏc chủ thể khởi kiện Cỏc quyền và lợi ớch này cú thể là cỏc quyền về tài sản hoặc nhõn thõn Khởi kiờ ̣n vu ̣ án dõn sự chính là cụng cu ̣ phỏp lý hữu hiệu để bảo vệ cỏc quyền dõn sự của cụng dõn Cơ sở đờ̉ pháp luõ ̣t quy đi ̣nh khởi kiờ ̣n vu ̣ án dõn sự xuṍt phát từ nguyờn tắc quyờ̀n dõn sự của cụng dõn được tụn trọng và bảo vệ

Ở Việt Nam, chương V Hiờ́n pháp năm 1992 về quyờ̀n và nghĩa vụ cơ bản của cụng dõn đó quy định: "Ở nước Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam, cỏc quyền con người về chớnh trị , dõn sự, kinh tờ́, văn hóa và xã hụ ̣i được tụn trọng, thờ̉ hiờ ̣n ở các quyờ̀n cụng dõn và được quy đi ̣nh trong Hi ến phỏp và luõ ̣t" [18, Điờ̀u 50] Tại Điều 9 Bụ ̣ luõ ̣t Dõn sự năm 2005 quy đi ̣nh nguyờn tắc tụn tro ̣ng, bảo vệ quyền dõn sự:

1 Tṍt cả các quyờ̀n dõn sự của cá nhõn , phỏp nhõn, chủ thể khỏc được tụn trọng và được phỏp luật bảo vờ ̣ 2 Khi quyờ̀n dõn sự của một chủ thể bị xõm phạm thỡ chủ thể đú cú quyền tự bảo vệ theo quy đi ̣nh của Bụ ̣ luõ ̣t này hoă ̣c yờu cõ̀u cơ quan , tụ̉ chứ c có thõ̉m quyờ̀n : Cụng nhõ ̣n quyờ̀n dõn sự của mình ; Buụ ̣c chṍm dứt hành vi vi pha ̣m; Buụ ̣c xin lụ̃i, cải chớnh cụng khai; Buụ ̣c thực hiờ ̣n nghĩa vụ dõn sự; Buụ ̣c bụ̀i thường thiờ ̣t ha ̣i [26]

Vỡ vọ̃y, khởi kiờ ̣n vu ̣ án dõn sự chính là cụng cu ̣ pháp lý hữu hiờ ̣u đờ̉ bảo vệ cỏc quyền quyền dõn sự của cụng dõn trong Bụ ̣ luõ ̣t dõn sự và các văn bản phỏp luật cú liờn quan Cú thể núi khởi kiện là "phương thức luật định mở rộng cho hết thảy những ai muốn cầu cứu đến cụng lý, để xin che chở quyền

lợi bị lõm nguy" [7, tr 43]

Trang 19

Song, để khởi kiện VADS, người khởi kiện phải chứng minh giữa nguyờn đơn và người bị kiện trước đú đó tồn tại một quan hệ phỏp luật dõn sự

mà theo quan hệ phỏp luật này nguyờn đơn bị ảnh hưởng, xõm phạm về quyền

và lợi ớch Việc chứng minh được thể hiện ở chỗ người khởi kiện phải xuất trỡnh cho Tũa ỏn tài liệu, chứng cứ để chứng minh giữa nguyờn đơn và bị đơn

đó tồn tại một quan hệ phỏp luật dõn sự thuộc thẩm quyền về dõn sự của Tũa

ỏn Chẳng hạn, đối với tranh chấp về hợp đồng, đương sự phải xuất trỡnh bản hợp đồng do các bên ký kết hoặc giấy tờ xác nhận các bên đã giao kết hợp

đồng; các chứng cứ, tài liệu phản ánh quá trình thực hiện hợp đồng của các

bên; các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác Đối với các việc về hôn nhân và

gia đình, đương sự phải xuất trỡnh giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; giấy khai sinh của các con; giấy tờ chứng nhận sở hữu tài sản chung của vợ chồng hoặc

sở hữu riêng của từng ng-ời; các chứng cứ, tài liệu khác có liên quan

Người khởi kiện khụng những cú quyền, lợi ớch bị xõm phạm hay tranh chấp mà họ cũn phải cú tư cỏch phỏp lý Tư cỏch phỏp lý cho phộp người khởi kiện đứng đơn khởi kiện Thụng thường người khởi kiện chớnh

là nguyờn đơn - người cú quyền, lợi ớch hợp phỏp bị xõm phạm hay tranh chấp, nếu họ là người cú đủ năng lực hành vi TTDS Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đ-ơng sự là khả năng bằng hành vi của mình thực hiện các

quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự của

đ-ơng sự là cá nhân đ-ợc xác định bởi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ và bởi tính chất, yêu cầu của việc tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Thông th-ờng cá nhân chỉ đ-ợc coi là có năng lực hành

vi tố tụng dân sự khi đã từ đủ m-ời tám tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự Đối với những ng-ời ch-a đủ m-ời tám tuổi, bị mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đ-ơng sự này tr-ớc toà án phải do ng-ời đại diện hợp pháp của họ thực hiện Tuy vậy, thực tiễn xét xử của các toà án và pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam cũng có quy định tr-ờng hợp ngoại lệ nh-

Trang 20

tr-ờng hợp ng-ời vợ từ đủ m-ời bảy tuổi đến ch-a đủ m-ời tám tuổi trong việc ly hôn hoặc trong tr-ờng hợp đ-ơng sự là ng-ời từ đủ m-ời lăm tuổi đến ch-a đủ m-ời tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản của mình v.v Đối với những tr-ờng hợp này, ng-ời vợ từ đủ m-ời bảy tuổi đến ch-a đủ m-ời tám tuổi, ng-ời từ đủ m-ời lăm tuổi đến ch-a đủ m-ời tám tuổi vẫn đ-ợc coi là có năng lực hành vi tố tụng dân sự về việc ly hôn, việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan

hệ dân sự đó

Trong trường hợp này nếu nguyờn đơn khụng muốn trực tiếp khởi kiện thỡ họ cú thể ủy quyền cho người khỏc khởi kiện thay Việc ủy quyền phải được thực hiện bằng văn bản, trong đú nờu rừ nội dung và thời hạn ủy quyền Tuy nhiờn, nguyờn đơn chỉ được ủy quyền khởi kiện đối với cỏc tranh chấp về tài sản Đối với cỏ nhõn khụng cú năng lực hành vi TTDS, thỡ người khởi kiện sẽ là người đại diện theo phỏp luật Đú là, cha, mẹ đối với con chưa thành niờn; người giỏm hộ đối với người được giỏm hộ; người được Toà ỏn chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dõn sự Đối với cơ quan, tổ chức thỡ người khởi kiện phải là người đại diện theo phỏp luật của cơ quan tổ chức đú Đú là, người đứng đầu phỏp nhõn theo quy định của điều lệ phỏp nhõn hoặc quyết định của cơ quan nhà nước cú thẩm quyền; chủ hộ gia đỡnh đối với hộ gia đỡnh; tổ trưởng tổ hợp tỏc đối với tổ hợp tỏc

Ngoài ra yờu cầu, vụ việc được khởi kiện chưa được giải quyết bằng một bản ỏn hay quyết định của Tũa ỏn hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước

cú thẩm quyền đó cú hiệu lực phỏp luật, trừ cỏc trường hợp đặc biệt; việc khởi kiện của cỏc chủ thể phải được thực hiện đỳng thẩm quyền xột xử về dõn sự của Tũa ỏn; đối với một số loại việc trước khi khởi kiện, yờu cầu Tũa ỏn giải quyết người khởi kiện, yờu cầu phải yờu cầu cỏc cơ quan, liờn quan, xem xột, giải quyết trước; thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yờu cầu cũn và tuõn thủ cỏc yờu cầu về hỡnh thức khởi kiện

Trang 21

1.3 Mối quan hê ̣ giƣ̃a quyền khởi kiê ̣n của công dân và trách nhiê ̣m bảo đảm q uyền khởi kiê ̣n của T òa án và các cơ quan , tổ chức có liên quan

Theo qui định của Hiến pháp, Nhà nước bảo vệ tất cả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Mỗi khi các quyền và lợi ích bị xâm hại, các công dân đều có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ Khởi kiện tại Tòa án là một trong những phương thức yêu cầu nhà nước bảo vệ quyền dân sự mang tính khả thi cao và được nhiều người lựa chọn Theo quy định tại Điều 161 BLTTDS, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mỗi khi bị xâm hại hoặc có tranh chấp Song, việc khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ được Tòa án thụ lý khi đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định Như vậy, khởi kiện VADS

là một quyền được pháp luật ghi nhận và bảo hộ Tuy nhiên, để quyền này được thực thi có hiệu quả trên thực tế thì một yêu cầu đặt ra là pháp luật phải quy định các điều kiện khởi kiện phù hợp với trình độ nhận thức nói chung và trình độ nhận thức pháp luật nói riêng của công dân thì họ mới có thể thực hiện được

Tòa án nhân dân là cơ quan được giao nhiệm vụ giải quyết và xét xử các VADS, là nơi công dân thực hiện quyền khởi kiện trên thực tế theo các quy định của pháp luật Pháp luật quy định quyền khởi kiện của công dân nhưng để quyền này thực sự có ý nghĩa và được bảo đảm thực thi thì phải tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt quyền này tại Tòa án Nếu các Tòa án coi trọng quyền này và thực hiện nhiệm vụ có trách nhiệm thì công dân sẽ phát huy quyền khởi kiện của mình một cách tối đa và không cảm thấy bị phiền hà, khó

dễ khi đến Tòa án thực hiện quyền khởi kiện Tòa án, với chức năng nhiệm vụ được giao, sẽ phải bố trí con người, thời gian và địa điểm để tiếp nhận đơn, hồ

sơ khởi kiện của công dân, niêm yết các thủ tục khởi kiện đầy đủ, rõ ràng, hướng dẫn cụ thể, nhiệt tình, có trách nhiệm cho công dân khi họ đến liên hệ khởi kiện VADS Bên cạnh đó, trong thời hạn pháp luật quy định, thẩm phán được phân công nghiên cứu hồ sơ khởi kiện của công dân cần kiểm tra các điều kiện

Trang 22

khởi kiện, đối chiếu với quy định của pháp luật nếu thấy đáp ứng đầy đủ thì phải hướng dẫn họ nộp tiền tạm ứng án phí và thụ lý vụ án ngay Ngược lại, nếu Tòa án không coi trọng quyền khởi kiện của công dân thì sẽ gây khó dễ cho họ, khiến cho họ phải đi lại nhiều lần, tốn thời gian và chi phí đi lại cho việc khởi kiện, và như vậy quyền khởi kiện không được đảm bảo trên thực tế

Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo đảm cho cá nhân, tổ chức được thực hiện quyền khởi kiện VADS yêu cầu Toà án bảo vệ khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm Toà án có trách nhiệm xem xét thụ lý giải quyết hồ sơ khởi kiện của công dân Thụ lý VADS là một bước quan trọng trong quá trình Toà án giải quyết các tranh chấp dân sự và chính là một sự bảo đảm quyền khởi kiện của công dân trên thực tế Sau khi thụ lý Toà án sẽ phải thực hiện các bước để giải quyết vụ án đúng thời hạn, đúng pháp luật; các đương sự sẽ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền lợi của mình Thực hiện tốt hoạt động nhận đơn khởi kiện và thụ lý sẽ góp phần rất lớn để việc giải quyết VADS được nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật Việc Toà án nhận trách nhiệm giải quyết vụ án góp phần tạo niềm tin của quần chúng nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật

Trong lĩnh vực dân sự, đương sự khi đưa ra yêu cầu, khởi kiện, bác bỏ yêu cầu của người khác có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp hay bác bỏ yêu cầu của người khác Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Như vậy, trong TTDS, ai là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự thì người đó phải có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, bởi khi giải quyết vụ việc dân

sự Tòa án đã giải quyết các tranh chấp, yêu cầu liên quan đến lợi ích và mối quan hệ giữa các đương sự Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự được thể hiện trong toàn bộ quá trình TTDS Khi khởi kiện, người

Trang 23

khởi kiện phải đáp ứng các điều kiện khởi kiện do pháp luật quy định và để đảm bảo cho việc khởi kiện, yêu cầu của các cá nhân, tổ chức là có căn cứ thì khi khởi kiện, yêu cầu người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Tức là, ngoài các điều kiện khởi kiện khác, ngay khi nộp đơn khởi kiện, yêu cầu, người khởi kiện, yêu cầu phải xuất trình cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ để chứng minh mình có quyền khởi kiện đối với một người về một quan hệ pháp luật nhất định Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp chứng cứ của

vụ việc dân sự lại do các cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý Do đó, để tạo điều kiện cho đương sự có thể thực hiện quyền khởi kiện của mình thì việc thực hiện tốt trách nhiệm cung cấp thông tin của các cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý thông tin là vấn đề rất quan trọng Hiện nay, tình trạng các cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp những giấy tờ, tài liệu đang lưu giữ cho đương sự làm chứng cứ nhưng lại thường từ chối không trả lời bằng văn bản về việc này mà chỉ trả lời miệng diễn ra khá phổ biến Chính từ điều này mà các đương sự không có tài liệu xuất trình cho Tòa án nên đơn khởi kiện của họ không được Tòa án thụ lý Do đó, để bảo đảm quyền khởi kiện của các đương sự, cần phải nhanh chóng hiện đại hóa và minh bạch hóa hệ thống đăng ký, quản lý tài sản trong phạm vi toàn quốc để tiện lợi cho việc tra cứu, tìm kiếm thông tin Đồng thời, cần quy định cụ thể chế tài áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp tài liệu, chứng cứ khi đương sự

có yêu cầu

1.4 Lươ ̣c sử hình thành và phát triển của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự Viê ̣t Nam về khởi kiê ̣n vu ̣ án dân sự

1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển đất nước Ngày 02/09/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam

Trang 24

dân chủ cộng hoà Bản tuyên ngôn không chỉ khẳng định độc lập dân tộc cơ bản của con người Từ đó, bộ máy nhà nước cách mạng cũng được khẩn trương xây dựng Ngày 13/09/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 33C/SL về việc thành lập các Toà án quân sự cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 quy định về tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chỉ rõ ngoài các việc hình Toà án còn giải quyết các việc về dân sự và thương sự (Điều 17) Do thời kỳ này đất nước mới thành lập tình hình thù trong giặc ngoài rất nguy cấp nên mọi việc tập trung chủ yếu để trấn áp bọn phản cách mạng bảo vệ sự an nguy của đất nước, chưa có điều kiện để soạn thảo các văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật về TTDS nói riêng nên ngày 10 tháng 10 năm 1945 Nhà nước đã ban hành sắc lệnh số 47/SL cho phép áp dụng luật lệ cũ để xét xử nhưng "không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hoà" trong đó có Điều 11 quy định về thủ tục tố tụng cho giữ tạm thời thủ tục tố tụng của chế độ cũ Trong điều kiện đất nước còn non trẻ, chưa thể ban hành tất cả văn bản điều chỉnh mọi lĩnh vực, việc áp dụng luật lệ cũ là cần thiết với thời điểm lúc bấy giờ Ngày 17/4/1946 Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 51-SL có quy định về việc kiện, khởi tố và thụ lý vụ án tuy nhiên không quy định thụ lý như thế nào Tiếp đó Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/05/1950 được ban hành bãi bỏ việc áp dụng luật lệ của chế độ cũ; Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/05/1950 cải cách bộ máy tư pháp

và tố tụng, từ Điều 15 đến Điều 18 quy định về thủ tục tố tụng nhưng không

có điều luật nào quy định về thủ tục khở i kiê ̣n vu ̣ án dân sự Từ năm 1945 đến năm 1954 không có văn bản pháp luật quy định riêng về thủ tục TTDS cũng như khở i kiê ̣n VADS Thời kỳ này cuộc kháng chiến chống Pháp đang bước vào giai đoạn quyết liệt, các Toà án chỉ tập trung xét xử các vụ án hình sự, ít giải quyết các tranh chấp dân sự

Thậm chí theo Thông tư số 12-NV-CT ngày 29/12/1946 của Bộ Tư pháp về tổ chức tư pháp trong tình hình đặc biệt:

Trang 25

Từ năm 1955 đến năm 1960 Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tố tụng như Thông tư số 141/HCTP ngày 05/02/1957, Thông tư số 1607/HCTP ngày 24/08/1956 của Bộ Tư pháp và Thông tư số 69/TC ngày 31/12/1958 của Bộ Tư pháp và TANDTC sửa đổi thẩm quyền của các TAND nhưng các văn bản pháp luật tố tụng này chủ yếu chỉ quy định về nguyên tắc giải quyết VADS mà chưa quy định cụ thể về khởi kiê ̣n VADS

1.4.2 Từ năm 1960 đến năm 1989

Sau khi Luật hôn nhân và gia định năm 1959 và Luật tổ chức TAND năm 1960 ra đời đã có một khối lượng đáng kể các văn bản hướng dẫn thủ tục giải quyết các tranh chấp về dân sự, đặc biệt là thủ tục giải quyết ly hôn Theo

đó, " đương sự có quyền đưa đơn trực tiếp đến Toà án, mặc dù việc bất hoà trong gia đình chưa được tổ hoà giải hoặc Ủy ban hành chính xã giải quyết Khi nhận đơn Toà án phải thụ lý để giải quyết " [38] Bên cạnh đó Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng có Thông tư số 613/V5 ngày 04/06/1969 hướng dẫn về khởi tố vụ kiện dân sự: " Khi có đơn khởi kiện của nhân dân hoặc có quyết định khởi tố của Viện kiểm sát thì Toà án có trách nhiệm thụ lý

và giải quyết"

Trong giai đoạn này đáng chú ý nhất phải kể đến Thông tư số 39-NCPL ngày 21/01/1972 của TANDTC hướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân và gia đình, tranh chấp về dân sự Trong Thông

tư này TANDTC hướng dẫn rất cụ thể việc thụ lý VADS:

Khi nghiên cứu một đơn kiện, thẩm phán cần xem xét nội dung của đơn kiện có rõ ràng không, vụ kiện có thuộc thẩm quyền xét xử

Trang 26

của Toà án không, nguyên đơn có đủ tư cách đi kiện không Nếu nhận thấy nội dung đơn kiện đã rõ ràng, vụ kiện thuộc thẩm quyền của Toà án mình và nguyên đơn có đủ tư cách đi kiện, thẩm phán

phải thụ lý vụ kiện Việc đó phải được vào sổ thụ lý ngay [39, tr 33]

Tóm lại, trong giai đoạn này các văn bản pháp luật quy định về TTDS

và hướng dẫn về việc khở i kiê ̣n VADS rất ít Tuy vậy, bước đầu các văn bản pháp luật TTDS được ban hành trong thời gian từ năm 1960 trở đi cũng đã có những quy định về khởi kiê ̣n VADS

1.4.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2003

Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, kế thừa và phát triển các quy định về thủ tục TTDS trước đó, thời gian từ năm 1989 đến năm 2003 Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật TTDS như: PLTTGQCVADS ngày 29/11/1989; PLTTGQCVAKT ngày 16/03/1994; PLTTGQCTCLĐ ngày 11/04/1996 Đây là những văn bản pháp luật quan trọng có ý nghĩa rất lớn về thủ tục giải quyết các VADS trong thời kỳ này Đặc biệt vấn đề khởi kiê ̣n vụ án cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật này tạo cơ sở pháp lý cho quá trình giải quyết VADS

Về điều kiện khởi kiê ̣n vụ án được quy định tại Điều 36 PLTTGQCVADS, Điều 32 PLTTGQCVAKT, Điều 34 PLTTGQCTCLĐ Đó là các điều kiê ̣n như: người khởi kiện có quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện vụ án còn, sự việc chưa được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật,

sự việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án Ngoài ra, theo Điều 11 PLTTGQCTCLĐ, còn có một điều kiện là các tranh chấp lao động đã qua hoà giải ở cơ sở hoặc đã được Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết trừ những tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; tranh chấp về bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động thì mới được khởi kiện tại tòa án

Trang 27

Về trình tự thủ tục nhâ ̣n đơn khởi kiê ̣n: Các văn bản pháp luật này quy định sau khi nhận đơn kiện và các tài liệu kèm theo, nếu đơn kiện không thuộc một trong các trường hợp trả lại đơn khởi kiện thì Toà án cần xem xét

vụ án có thuộc thẩm quyền của mình hay không (thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền của cấp Toà án, thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn) Tại Mục 4 Phần I Thông tư liên ngành số 04/TTLN ngày 07/01/1995 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của PLTTGQCVAKT cũng nêu:

Sau khi nhận được đơn và các tài liệu kèm theo, nếu đơn kiện không thuộc một trong những trường hợp trả lại đơn theo quy định tại Điều 32 Pháp lệnh thì Toà án cần xem xét vụ án có thuộc thẩm quyền của mình thì phải cho nguyên đơn biết và trong thời hạn bẩy ngày kể từ ngày nhận được thông báo nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí Toà án chỉ vào sổ thụ lý vụ án kể từ ngày xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí [49]

Như vậy các văn bản pháp luật TTDS được ban hành trong thời gian này đã quy định về thủ tục khở i kiê ̣n VADS, vụ án kinh tế và vụ án lao động Tuy nhiên các quy định còn mang tính chất chung chung, thiếu cụ thể, chưa quy định rõ thời hạn Toà án phải xem xét giải quyết đơn nên chưa đề cao được trách nhiệm của Toà án Mặt khác, về bản chất, tranh chấp kinh tế, tranh chấp lao động đều bắt nguồn từ tranh chấp dân sự nhưng thủ tục giải quyết được quy định bởi ba pháp lệnh khác nhau, việc phân biệt thủ tục giải quyết đôi khi gặp phải không ít khó khăn và nhầm lẫn

1.4.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế, đòi hỏi pháp luật TTDS Việt Nam phải tương thích với pháp luật quốc tế Hơn nữa các quan hệ pháp luật trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,

Trang 28

lao động là những vấn đề liên quan mật thiết đến đời sống hàng ngày của người dân nên áp dụng các thủ tục khác nhau để giải quyết tranh chấp là rất phức tạp Đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, đồng thời cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992, ngày 15 tháng 6 năm 2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua BLTTDS gồm 36 chương với

418 điều BLTTDS đã quy định thống nhất một thủ tục giải quyết các VADS, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Trong đó Chương 12 quy định về thủ tục khởi kiện VADS với 9 điều, từ Điều 161 đến Điều 170

BLTTDS là văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất về TTDS

từ trước tới nay BLTTDS xác định rõ các chủ thể có quyền khởi kiện VADS, đồng thời không quy định quyền khởi tố VADS cho Viện kiểm sát nữa Quy định này phù hợp vì nó thể hiện tốt các nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc toả thuận trong việc giải quyết các VADS Về phạm vi khởi kiện nhiều người hoặc nhiều người khởi kiện một người về cùng một quan hệ pháp luật như quy định tại Điều 34 PLTTGQCVADS Điều 163 BLTTDS quy định được giải quyết trong cùng một vụ án các trường hợp: cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hay nhiều quan hệ pháp luật có liên quan; nhiều

cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện một cá nhân, cơ quan, tổ chức khác

về cùng một quan hệ pháp luật hay nhiều quan hệ pháp luật có liên quan

BLTTDS năm 2004 bổ sung thêm 3 trường hợp trả lại đơn khởi kiện là: người khởi kiện không nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn pháp luật quy định; không bổ sung đơn theo yêu cầu của Toà án và chưa đủ điều kiện khởi kiện Ngoài ra, BLTTDS còn quy định về quyền khiếu nại của người khởi kiện khi nhận lại đơn khởi kiện BLTTDS đã làm thay đổi cơ bản các quy định về thủ tục TTDS nói chung và các quy định về khở i kiê ̣n VADS nói riêng, tạo nền tảng quan trọng để các Toà án giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời và chính xác

Trang 29

TANDTC đó phối hợp với cỏc cơ quan hữu quan xõy dựng, ban hành cỏc văn bản hướng dẫn cỏc quy định của BLTTDS núi chung và vấn đề khởi kiện VADS núi riờng Cụ thể là Nghị quyết số 01/2005/NQ- HĐTP ngày 31-3-2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất "Những quy định chung" của BLTTDS trong đú cú nội dung hướng dẫn cỏc quy định về thẩm quyền giải quyết VADS của Tũa ỏn, về thời hiệu khởi kiện VADS ; Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 hướng dẫn thi hành cỏc quy định trong phần thứ hai " Thủ tục giải quyết vụ ỏn tại Tũa ỏn cấp sơ thẩm" của BLTTDS, tại mục I của Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về quyền khởi kiện, chủ thể khởi kiện, phạm vi khởi kiện, đơn khởi kiện, trỡnh tự thủ tục nhận đơn khởi kiện, cỏc trường hợp trả lại đơn khởi kiện ; Thụng tư liờn tịch số 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 1/9/2005 của Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao, TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về kiểm sỏt việc tuõn theo phỏp luật trong TTDS và sự tham gia của kiểm sỏt viờn trong việc giải quyết cỏc VADS; Cụng văn số 109/KHXX ngày 30-6-2006 về việc xử lý cỏc trường hợp khụng biết địa chỉ của nguời bị kiện

1.5 Khái quát vờ̀ khơ ̉ i kiờ ̣n vu ̣ việc dõn sự theo pháp luõ ̣t tụ́ tu ̣ng dõn sự mụ ̣t sụ́ nước

Trên thế giới tồn tại hai hệ thống pháp luật chủ yếu là hệ thống luật án lệ (comman law) và hệ thống pháp luật châu âu lục địa (continental law hoặc civil law) Điểm khác biệt lớn nhất của hai hệ thống pháp luật này ở vai trò của Thẩm phán và các bên đ-ơng sự trong việc chứng minh sự việc Song, về cơ bản pháp luật của các n-ớc đều quy định việc khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng những điều kiện nhất định về nội dung và hình thức khởi kiện

- Khởi kiện vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của Cộng

hòa Pháp

Điều 53 BLTTDS quy định các đ-ơng sự khởi kiện ra tòa án bằng đơn khởi kiện Đơn khởi kiện phải tuân theo đúng các điều kiện về nội dung khởi

Trang 30

kiện Mặc dù BLTTDS không có điều luật quy định cụ thể về nội dung khởi kiện nh-ng vào Điều 117 về hành vi tố tụng vô hiệu do khiếm khuyết và Điều 122 về yêu cầu bác đơn, có thể thấy việc khởi kiện phải tuân thủ các điều kiện về nội dung nh- ng-ời khởi kiện phải có đủ t- cách để khởi kiện (nguyên đơn có năng lực tham gia tố tụng, ng-ời đại diện của thể nhân, pháp nhân có quyền đại diện),

có lợi ích liên quan, còn thời hiệu khởi kiện và vụ kiện chưa đ-ợc giải quyết bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật Bên cạnh đó, việc khởi kiện còn phải tuân thủ điều kiện về hình thức đ-ợc quy định tại Điều 57 BLTTDS Pháp nh-:

Đối với thể nhân phải ghi rõ họ, tên, nghề nghiệp, nơi c- trú, quốc tịch, ngày sinh và nơi sinh của từng ng-ời khởi kiện; đối với pháp nhân phải ghi rõ hình thức, tên gọi, trụ sở và cơ quan đại diện hợp pháp của pháp nhân; ghi rõ Tòa án nơi đ-a đơn khởi kiện; trong tr-ờng hợp cần thiết, còn phải ghi rõ thêm những

điều liên quan đến bất động sản; tài liệu làm căn cứ khởi kiện Trong tr-ờng hợp đơn khởi kiện không tuân thủ các quy định này, Tòa án sẽ không thụ lý

Bên cạnh quyền khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có quyền đ-a đơn yêu cầu phản tố, các đ-ơng sự có quyền đ-a đơn yêu cầu bổ sung và ng-ời thứ

ba (ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) có quyền đ-a ra yêu cầu can thiệp

dự sự

Ngoài ra, Viện Công tố còn có quyền khởi kiện vụ việc dân sự để bảo

vệ trật tự công khi có những hành vi xâm hại trật tự công (Điều 423)

- Khởi kiện vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga

Công dân, tổ chức có quyền tự do và lợi ích bị xâm phạm có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án Viện kiểm sát có quyền khởi kiện vụ việc dân sự để bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập hợp ng-ời không xác định, lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga Theo các điều 4, 45, 46 BLTTDS Liên bang Nga thì các cơ quan nhà n-ớc, cơ quan chính quyền tự quản địa ph-ơng có quyền khởi kiện vụ việc dân sự để bảo

Trang 31

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ng-ời khác Ng-ời khởi kiện gửi đơn khởi kiện lập thành văn bản và theo đúng quy định tại Điều 131 BLTTDS Liên bang Nga cho Tòa án, trong đó nêu rõ họ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn; quyền, tự do và lợi ích hợp pháp nào của nguyên đơn bị xâm phạm hoặc bị đe dọa vi phạm, yêu cầu của họ là gì; những tình tiết mà dựa vào đó nguyên đơn đ-a

ra yêu cầu, những chứng cứ làm cơ sở cho những tình tiết đó; giá trị vụ kiện cũng nh- khoản tiền yêu cầu hoặc tranh chấp; thủ tục áp dụng tr-ớc khi khởi kiện; danh mục tài liệu kèm theo Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, thẩm phán có nghĩa vụ xem xét việc thụ lý vụ việc dân sự hoặc quyết định trả lại đơn khởi kiện

- Khởi kiện vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của Nhật Bản

Cá nhân, pháp nhân và các cơ quan, tổ chức khác có quyền khởi kiện

vụ việc dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ng-ời khởi kiện phải gửi đơn khởi kiện cho tòa án có thẩm quyền Đơn khởi kiện phải lập thành văn bản và theo đúng quy định tại Điều 133 BLTTDS Nhật Bản Khi nhận đ-ợc đơn khởi kiện thẩm phán phải nghiên cứu đơn khởi kiện nếu thấy đơn khởi kiện không đầy đủ các nội dung theo quy định của điều luật này thì thẩm phán sẽ thông báo cho ng-ời khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn nhất định do thẩm phán ấn định Nếu đơn khởi kiện thoả mãn đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định thì tòa án phải tống đạt đơn khởi kiện cho bị đơn và xem xét việc chuẩn bị tranh tụng bằng lời

- Khởi kiện vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của Anh

Các đ-ơng sự có quyền khởi kiện vụ việc dân sự tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi khởi kiện, nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện do luật s- của nguyên đơn soạn thảo cho tòa án và Tòa án chính thức công bố Sau khi nhận đ-ợc đơn khởi kiện nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình tòa án sẽ thụ lý vụ việc Nếu Tòa án thụ lý đơn kiện thì đơn khởi kiện của nguyên đơn đ-ợc tòa án

Trang 32

tống đạt đến cho bị đơn Trong khoảng thời gian nhất định bên bị đơn có nghĩa vụ trả lời các yêu cầu của nguyên đơn Nếu bị đơn phản đối yêu cầu của nguyên đơn, hai bên sẽ trao đổi các biên bản bào chữa Thông qua các biên bản bào chữa, các tình tiết cụ thể của vụ việc dân sự sẽ đ-ợc làm sáng tỏ

- Khởi kiện vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự của Hoa Kỳ

Cá nhân, pháp nhân và các cơ quan, tổ chức khác có quyền khởi kiện vụ việc dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích chung của xã hội nh- trong tr-ờng hợp để bảo vệ môi tr-ờng Khi khởi kiện nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện lập thành văn bản và theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự cho Tòa án Trong quá trình nhận đơn khởi kiện nếu đơn khởi kiện không hợp lệ; vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án; việc giải quyết vụ việc đó ch-a đ-ợc quy định trong luật; thời hiệu khởi kiện đã hết thì tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc Nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì tòa án thụ lý vụ việc Sau khi thụ lý đơn kiện, tòa án có trách nhiệm thông báo với bị đơn về việc nguyên

đơn đã khởi kiện vụ việc ra tòa Trong thời hạn 20 ngày (đối với tòa án liên bang), 30 ngày hoặc có thể kéo dài đến 60 ngày (đối với tòa án bang) bị đơn có nghĩa vụ nộp cho tòa án văn bản trả lời của mình đối với yêu cầu của nguyên

đơn Nội dung trả lời của bị đơn bao gồm những ý kiến của bị đơn về những vấn đề nguyên đơn nêu trong đơn khởi kiện đó là những yêu cầu nào của nguyên đơn đ-ợc chấp nhận, những yêu nào không đ-ợc chấp nhận

Nh- vậy, có thấy các quy định về khởi kiện vụ việc dân sự của pháp luật TTDS Việt Nam có nhiều điểm t-ơng đồng với quy định của pháp luật nhiều n-ớc trên thế giới Đó là khởi kiện là quyền tố tụng của công dân nhằm bảo vệ quyền lợi ích dân sự Tuy nhiên, việc thực hiện quyền khởi kiện phải

đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định Ngoài ra theo pháp luật TTDS của Cộng hòa Pháp và liên bang Nga thì Viện kiểm sát còn có quyền khởi kiện vụ việc dân sự trong những tr-ờng hợp đặc biệt

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Việc nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận về khởi kiện VADS tại Chương 1 của luận văn có thể kết luận quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác khi có tranh chấp về quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Việc thực hiện quyền này của các chủ thể được gọi là khởi kiện VADS Theo nghĩa hẹp, khởi kiện được hiểu là việc nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn,

cơ quan, tổ chức gửi đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết VADS để bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của mình , của người khác hay bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước Theo nghĩa rộng, khởi kiện còn bao gồm cả việc bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đưa

ra yêu cầu độc lập, bởi yêu cầu phản tố chính là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn về một quan hệ pháp luật khác với quan hệ pháp luật mà nguyên đơn đã kiện bị đơn và yêu cầu độc lập chính là việc người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan kiện nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ lợi ích của mình Cơ sở của khởi kiện VADS dựa trên tính chất của quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp, trên nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong dân sự và nguyên tắc về quyền bình đẳng, quyền định đoạt của đương sự trong TTDS Khởi kiện VADS là phương thức bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích dân sự trên cơ

sở quyền tự đi ̣nh đoa ̣t của các chủ thể Mặt khác, khởi kiện VADS vừa là tiền

đề vừa là cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm khôi phục những quyền lợi hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm Việc cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án thụ lý và giải quyết VADS, là tiền đề để cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các giai đoạn

tố tụng tiếp theo

Trang 34

Chương 2

KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1 Điều kiện về nội dung khởi kiện vụ án dân sự

Khởi kiện VADS là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể, pháp luật ghi nhận và đảm bảo quyền khởi kiện cho các chủ thể, đồng thời quy định các điều kiện khởi kiện Khi các chủ thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện khởi kiện thì Tòa án có trách nhiệm thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật BLTTDS năm 2004 có 9 điều từ Điều 161 đến Điều 170 quy định về thủ tục khởi kiện và các điều kiện khởi kiện như về thời hiệu, thẩm quyền, quyền khởi kiện… Đó là các điều kiện về chủ thể, về thẩm quyền, về hòa giải tiền tố tụng, về thời hiệu và một số điều kiện khác do pháp luật nội dung quy định

2.1.1 Điều kiện về chủ thể khởi kiện

Để có đủ điều kiện khởi kiện thì chủ thể phải có quyền khởi kiện và tư cách pháp lý Chủ thể khởi kiện VADS bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định Trước hết, chủ thể khởi kiện phải là người được tham gia vào các quan hệ pháp luật TTDS Các chủ thể có quyền khởi kiện được quy định tại Điều 161 và Điều 162 BLTTDS Theo Điều 161 BLTTDS thì "cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình" [24] Theo Điều 162 BLTTDS thì "cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách" [24]

Khởi kiện VADS hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả việc khởi kiện của nguyên đơn, việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của

Trang 35

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS Để việc thực hiện quyền của các đương sự này không làm ảnh hưởng hoặc gây cản trở đến quyền của các đương sự khác, pháp luật đòi hỏi nguyên đơn khi khởi kiện VADS phải là

"người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm" [24, Điều 161], đồng thời pháp luật đã quy định những điều kiện nhất định về quyền khởi kiện, quyền phản tố, quyền đưa ra yêu cầu độc lập

* Chủ thể khởi kiện là nguyên đơn: Theo khoản 2 Điều 56 BLTTDS,

để trở thành nguyên đơn thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng những yêu cầu: phải là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; là người cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình đang bị tranh chấp hoặc bị xâm hại; có năng lực pháp luật và năng lực hành vi TTDS, trường hợp cá nhân không có năng lực hành vi TTDS thì việc khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của họ do người đại diện hợp pháp của

họ thực hiện

Nguyên đơn là người đầu tiên nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, chính họ

là người đệ đơn yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết VADS Đó có thể là cá nhân khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách

* Chủ thể có quyền đưa ra yêu cầu phản tố: Phản tố là quyền của bị

đơn trong VADS Thực chất việc phản tố của bị đơn là là việc bị đơn khởi kiện ngược lại nguyên đơn, nhưng được xem xét, giải quyết cùng với đơn khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên

có liên quan chặt chẽ với nhau Nếu yêu cầu của bị đơn là một việc hoàn toàn không liên quan đến đơn khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn phải khởi kiện thành một VADS mới

Bị đơn có quyền phản tố, tức là kiện ngược lại nguyên đơn nếu yêu cầu mới của mình có liên quan chặt chẽ đến việc giải quyết

Trang 36

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Cần lưu ý là yêu cầu mới của bị đơn có thể không cùng tính chất về quan hệ tranh chấp với yêu cầu của nguyên đơn nhưng phải có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu của nguyên đơn, nếu không bị đơn phải khởi kiện thành một vụ

vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

Việc xác định đúng có phải là yêu cầu phản tố của bị đơn hay không đòi hỏi người thẩm phán phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng yêu cầu của bị đơn cũng như các quy định tại khoản 2 Điều 176 BLTTDS Trên thực tế đã có thẩm phán xác định nhầm yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến việc giải quyết

vụ án trái quy định của pháp luật Đó là vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kiều A và anh Nguyễn Duy V do TAND huyện KC, tỉnh HY giải quyết

Hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 20/2/2009, chị A có đơn xin ly hôn anh V gửi TAND huyện KC Ngày 6/3/2009, Tòa thụ lý vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng như lấy lời khai của các đương sự, xác minh tại chính quyền địa phương, hòa giải…Ngày 25/8/2009 ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm vào ngày 20/9/2009 Tại phiên tòa ngày 20/9/2009, chị Kiều A có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện và đề nghị đình chỉ việc giải quyết vụ án, anh V vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa Đến ngày 8/11/2010, anh V nộp cho Tòa án KC đơn đề nghị phản tố với nội dung đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết cho anh được ly hôn chị A

Trang 37

Ngày 8/11/2010, Tòa án ban hành quyết định đình chỉ giải quyết VADS có nội dung đình chỉ yêu cầu xin ly hôn của chị A và tiếp tục giải quyết yêu cầu phản tố xin ly hôn của anh V [32]

BLTTDS năm 2004 không quy định cụ thể về thời điểm kết thúc thời hạn mà bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố nên ở mỗi Tòa án lại có sự giải quyết khác nhau Tuy nhiên, hiện nay vấn đề này đã được khắc phục Tại khoản 3 điều 176 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004 quy định: "Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố cho đến trước khi Tòa án

ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm" Điều này hoàn toàn phù hợp về mặt lý luận và thực tiễn, bảo đảm quyền của các đương sự trong TTDS đồng thời phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của TTDS

* Chủ thể có quyền đưa ra yêu cầu độc lập: Người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong trường hợp họ không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn thì theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 61 và Điều 177 BLTTDS, họ

có quyền đưa ra yêu cầu độc lập Yêu cầu độc lập được Tòa án chấp nhận khi

có đủ các điều kiện sau: 1) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; 2) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết; 3) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

Thực tiễn giải quyết các VADS, việc xác định có phải là yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hay không cũng là một việc khó đối với Tòa án Có khi cùng một chủ thể, một yêu cầu nhưng có quan điểm cho rằng không phải là yêu cầu độc lập và họ chỉ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Có quan điểm lại xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Chẳng hạn như vụ

án tranh chấp hụi họ giữa nguyên đơn bà Trần Thị Lan và bị đơn bà Nguyễn Thị Lý do TAND thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đang thụ lý giải quyết:

Trang 38

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, bà Lan trình bày từ năm 2004 đến năm 2007, giữa bà và một số người trong đó có bà Lý đã cùng nhau chơi họ có lãi do bà làm cái họ Do những người cùng chơi không có nhu cầu lĩnh họ nên bà Lý đã được sự đồng ý của những người chơi và của cái họ cho lĩnh họ, vay họ, mượn họ tổng số là 18 bát họ Sau khi họ bị vỡ, bà Lý đã chốt nợ với bà Lan tổng số tiền là 5.000.000.000đ vào tháng 9/2008

và hẹn đến tháng 5/2009 sẽ thanh toán trả cho bà Lan số nợ trên Đến hạn thanh toán, bà Lan đã nhiều lần đòi nhưng bà Lý khất lần không trả Tháng 6/2009 bà Lan khởi kiện yêu cầu bà Lý phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ Bị đơn bà Lý có quan điểm bà và con gái là Dương Thị Thu Hằng đã trả nợ thay bà Lan cho một số người cùng chơi họ số tiền là 2.000.000.000đ, đề nghị đối trừ khoản tiền này vào nghĩa vụ trả nợ Số nợ còn lại khi nào có bà sẽ thanh toán Chị Thu Hằng có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết số tiền chị đã trả nợ thay mẹ chị là 2.000.000.000đ được đối trừ vào số nợ của bà Lý [36] Sau khi nhận được yêu cầu của chị Hằng, TAND thành phố HY có hai quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng yêu cầu của chị Hằng không phải là yêu cầu độc lập và chỉ xác định tư cách tham gia tố tụng của chị Hằng

là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn và không phải nộp tiền tạm ứng án phí Có quan điểm cho rằng phải xác định là yêu cầu độc lập, chị Hằng tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và phải nộp tiền tạm ứng án phí thì mới được xem xét, giải quyết Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất, xác định chị Hằng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn Bởi lẽ,

bà Lý là bị đơn đã có đề nghị Tòa án giải quyết số tiền 2 tỷ đồng mà bà và con gái (chị Hằng) đã trả nợ thay bà Lan Chỉ khi nào bà Lý không có yêu cầu này và chị Hằng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết thì mới xác định là yêu cầu độc lập

Trang 39

Bên cạnh đó, BLTTDS cũng ghi nhận một số chủ thể có quyền khởi kiện vì lợi ích của người khác Đó chính là quyền khởi kiện của các chủ thể không có quyền lợi trong vụ kiện hay quyền khởi kiện của đại diện đương sự Theo Điều 56 BLTTDS thì "cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách cũng là nguyên đơn" [24]

Trong thực tiễn áp dụng các quy định về chủ thể khởi kiện, vẫn còn trường hợp người khởi kiện chưa xuất trình đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền khởi kiện hợp pháp của mình nhưng Tòa án đã thụ lý giải quyết yêu cầu của đương sự, tiến hành rất nhiều các thủ tục tố tụng khác nhau, sau

đó mới phát hiện ra họ không có quyền khởi kiện và đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án Ví dụ như vụ án kiện đòi quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn anh Nguyễn Văn Duy, chị Nguyễn Thị Dương và bị đơn bà Trần Thị Chanh tại xã Tân Việt, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên:

Theo các nguyên đơn trình bày, mẹ đẻ nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Luyến sống như vợ chồng với ông Nguyễn Văn Hóa vào tháng 8/1987 trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn vì ông Hóa là người đang có vợ hợp pháp là bà Trần Thị Chanh, chưa ly hôn Bà Luyến và ông Hóa đã sinh được hai người con là anh Duy (sinh năm 1988) và chị Dương (sinh năm 1990) Việc này đã được hai bên họ hàng và chính bà Chanh thừa nhận Khi bà Luyến về sống chung với ông Hóa thì gia đình ông Hóa đang xây ngôi nhà 2 tầng một tum trên diện tích đất của vợ chồng ông Hóa, bà Chanh Năm 2000, ông Hóa mất không để lại di chúc Năm 2009, bà Luyến và anh Duy, chị Dương mới biết bà Chanh đã bán toàn bộ nhà đất trên cho anh Trần Văn Mạnh ở thôn Hoan Ái,

xã Tân Việt, huyện Y Nay anh Duy, chị Dương khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận anh chị là người thừa kế của ông Hóa và chia di sản thừa kế của ông Hóa theo quy định của pháp luật Để chứng

Trang 40

minh quyền khởi kiện của mình, anh Duy, chị Dương nộp cho Tòa

án bản sao giấy đăng ký khai sinh (không xuất trình được bản chính) Tòa án đã thụ lý yêu cầu khởi kiện của anh Duy, chị Dương, tiến hành lấy lời khai, định giá tài sản, thẩm định tại chỗ… Người

có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn Mạnh đề nghị Tòa án trưng cầu giám định gien để xác định anh Duy và chị Dương có phải con của ông Hóa hay không? Đến ngày 30/11/2010, TAND huyện Yên Mỹ xác định nguyên đơn chưa có yêu cầu xác định cha mẹ cho con, chưa cung cấp được quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định ông Hóa là cha đẻ của anh chị nên chưa có quyền khởi kiện Và Tòa án đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án

do nguyên đơn không có quyền khởi kiện [35]

Xoay quanh vụ án này, cũng có quan điểm cho rằng, anh Duy và chị Dương có quyền khởi kiện chia di sản thừa kế của ông Hóa Vì hai người đã xuất trình được bản sao giấy khai sinh có chứng thực, mặt khác việc ông Hóa sống như vợ chồng với bà Luyến mẹ của nguyên đơn là có thật, được họ hàng hai bên chứng kiến Nên phải xác định anh Duy, chị Dương là con ngoài giá thú của ông Hóa và có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Hóa, không cần thiết phải có quyết định xác định cha mẹ cho con ngoài giá thú nữa Theo chúng tôi, trong trường hợp của anh Duy, chị Dương là phải có căn cứ chứng minh mình có quyền khởi kiện

2.1.2 Điều kiện về thẩm quyền của tòa án

Theo Điều 1 Luật Tổ chức TAND năm 2002 và Điều 1 BLTTDS thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các VADS, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động theo quy định của pháp luật TTDS Thẩm quyền của TAND bao gồm thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền của Toà án các cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ Thẩm quyền theo loại việc của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,

Ngày đăng: 17/03/2021, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w